Lược Sử về Điệp Viên (Bài 8)

Hoạt động Gián điệp Hiện đại từ Chiến tranh Lạnh đến Cuộc chiến Chống Khủng bố

PAUL SIMPSON

Trần Quang Nghĩa dịch

14 CUỘC CHIẾN CHỐNG KHỦNG BỐ

Thật dễ dàng để có cái nhìn sáng suốt sau sự kiện. Ai cũng có cái nhìn thấu đáo, và có lẽ đã có nhiều “cuộc bình luận sáng thứ hai” về công việc của các cơ quan tình báo trong những năm trước ngày 11 tháng 9 năm 2001 hơn bất kỳ sự kiện nào khác trong lịch sử gần đây.

Vào tháng 6 năm 2012, nhiều tài liệu quan trọng liên quan đến những gì CIA biết cuối cùng đã được công bố sau khi Cục Lưu trữ An ninh Quốc gia, một doanh nghiệp tư nhân, yêu cầu theo Đạo luật Tự do Thông tin. Những tài liệu này đã được tham chiếu, nhưng không được trích dẫn, trong Báo cáo của Ủy ban 11/9, và thậm chí dưới dạng biên tập lại rất nhiều, những tài liệu này cho thấy một loạt các cơ hội bị bỏ lỡ và những tranh cãi liên ngành có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc. Có lẽ đáng lo ngại nhất là báo cáo của Tổng Thanh tra CIA vào tháng 8 năm 2001, trong đó ca ngợi hiệu quả của Trung tâm Chống Khủng bố trong việc “phối hợp tình báo quốc gia, đưa ra cảnh báo và thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Cộng đồng Tình báo về các vấn đề khủng bố”, và thậm chí còn lưu ý rằng mối quan hệ với FBI đã tốt hơn so với năm 1994 – chỉ vài ngày trước khi điều đó bị chứng minh là sai sự thật.

Một trong những vấn đề lớn nhất mà CIA và các cơ quan tình báo khác phải đối mặt khi cố gắng đối phó với al-Qaeda là sự cuồng tín tôn giáo của các thành viên của nó, điều này có nghĩa là việc xâm nhập vào họ khó khăn hơn nhiều. Theo cựu nhân viên CIA Robert

Dannenberg giải thích, các đặc vụ al-Qaeda không giống như điệp viên Liên Xô, những người có thể bị thuyết phục rằng lối sống của người Mỹ tốt hơn bằng cách chỉ cho họ các siêu thị “vì họ cũng bị thúc đẩy bởi ham muốn nhiều điều tương tự như chúng ta: thành công trong sự nghiệp và chăm sóc gia đình”. Tuy nhiên, CIA cũng đã gặp may ngay từ sớm: Jamal Ahmed al-Fadl, được một số người mô tả là một trong những thành viên sáng lập al-Qaeda, đã bước vào Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Eritrea vào mùa xuân năm 1996. Hắn ta đã biển thủ 110.000 đô la từ al-Qaeda và rất muốn đào tẩu.

Sự việc này diễn ra ngay sau khi một đơn vị chuyên trách về bin Laden được thành lập trong CIA, đánh dấu lần đầu tiên CIA thành lập một nhóm chuyên nhắm vào một cá nhân hoặc tổ chức. “Trạm ảo” này hoạt động tại Langley, do Michael Scheuer, cựu giám đốc Chi nhánh Hồi giáo Cực đoan của CTC (Trung tâm Chống Khủng bố) , điều hành, với đội ngũ chủ yếu là nữ. Theo Thanh tra George Tenet, từ tháng 1 năm 1996 trở đi, mục tiêu của họ là “theo dõi bin Laden, thu thập thông tin tình báo về hắn, tiến hành các chiến dịch chống lại hắn, phá hoại tài chính của hắn và cảnh báo các nhà hoạch định chính sách về các hoạt động và ý định của hắn”. Thông tin của Al-Fadl đã cung cấp cho họ những manh mối quan trọng về kế hoạch và tham vọng của al-Qaeda. Các hoạt động SIGINT được triển khai; các đồng minh được tìm kiếm. Nhưng ngay cả khi đó, mọi thứ vẫn không suôn sẻ như mong đợi: NSA và CIA đã không hợp tác về các vấn đề pháp lý.

Sau vụ đánh bom đại sứ quán năm 1998, Tenet đã tăng cường đáng kể sự chú ý vào bin Laden. CТС đã tiến hành xem xét lại chiến lược, dẫn đến việc Scheers rời khỏi vị trí chỉ huy đơn vị và xây dựng một kế hoạch tấn công toàn diện chống lại al-Qaeda. Thật không may, như dù cái gọi là ‘Kế hoạch’ kêu gọi một chiến dịch hợp nhất giữa CIA, FBI, NSA và các cơ quan khác, nhưng điều này đã không xảy ra trên thực tế. Các đặc vụ FBI làm việc với đơn vị bin Laden của CIA không được phép chuyển thông tin liên quan trở lại FBI; NSA đã để lại các bản ghi âm cuộc gọi điện thoại cho FBI vì lo ngại vượt quá thẩm quyền của mình, nhưng FBI không lấy được hồ sơ cuộc gọi của những người được xác định là những kẻ không tặc tiềm năng cho đến sau vụ 11/9. Một cuộc họp báo của “Sa hoàng” Chống khủng bố Richard Clarke đã thông báo cho đại diện của nhiều cơ quan khác nhau về mối đe dọa al-Qaeda – nhưng những thông tin này đã không được chuyển lại đúng cách, và thực tế Clarke cho rằng mối đe dọa này không quá cấp bách vào đầu tháng 8. Trong nỗ lực đối phó với tất cả thông tin được chuyển đến Đơn vị, một Chi nhánh Đánh giá Chiến lược mới đã được thành lập nhưng giám đốc mới của chi nhánh này chỉ báo cáo nhiệm vụ vào ngày 10 tháng 9 năm 2011.

Báo cáo nội bộ của CIA, sau phán quyết của Ủy ban 9/11 rằng cộng đồng tình báo đã phụ lòng Tổng thống, đã lưu ý rằng:

Các quan chức của Cơ quan Tình báo từ trên xuống dưới đã làm việc rất chăm chỉ để chống lại các mục tiêu al-Qaeda và Usama Bin Ladin. Tuy nhiên, họ không phải lúc nào cũng làm việc hiệu quả và hợp tác… Nếu các quan chức Cộng đồng Tình báo có thể xem xét và phân tích toàn bộ thông tin có sẵn trước ngày 11 tháng 9 năm 2001, họ đã có thể xây dựng một bối cảnh sáng suốt hơn để đánh giá báo cáo về mối đe dọa trong mùa xuân và mùa hè năm đó. Việc rất nhiều cá nhân không hành động trong trường hợp này phản ánh một sự sụp đổ có hệ thống.

Các mối đe dọa chắc chắn đã được báo cáo lên cấp chỉ huy, nhưng không ai chắc chắn liệu cuộc tấn công sẽ diễn ra trong phạm vi Hoa Kỳ hay nhắm vào lợi ích của Mỹ ở nơi khác trên thế giới. Vào tháng 6, một chỉ dẫn cho biết “các đặc vụ có liên hệ với tổ chức của Usama Bin Laden tin rằng có họ đang lên kế hoạch cho một cuộc tấn công sắp tới sẽ gây ra hậu quả thảm khốc”. Một báo cáo gửi Tổng thống vào ngày 6 tháng 8 có tiêu đề “Bin Laden Quyết Tâm Tấn Công Hoa Kỳ”, nhưng không được xử lý một cách cấp bách như mong đợi, như Ủy viên Ủy ban Điều tra Vụ 11/9 Bob Kerrey sau đó đã nói với CNN. “Anh được các sĩ quan báo cáo một lần nữa nhắc lại vào tháng 8 rằng đó là một mối đe dọa khủng khiếp”, Kerrey nói về tuyên bố của Bush rằng ông ta sẽ lật tung cả thế giới nếu ông biết trước về mối đe dọa từ al-Qaeda. “Vậy anh đã làm gì? Không làm gì cả, theo những gì chúng tôi thấy ở Ủy ban Điều tra Vụ 11/9.”

Các cơ quan khác trên thế giới cũng nhận được thông tin tương tự, xác nhận bin Laden đang lên kế hoạch cho một chiến dịch rất lớn nhắm vào các mục tiêu của Hoa Kỳ. MI6 đã cảnh báo người Mỹ vào năm 1999 rằng al-Qaeda đang cân nhắc sử dụng máy bay thương mại theo ‘những cách phi truyền thống… có thể là bom bay’. Tổng thống Ai Cập Mubarak tuyên bố rằng cơ quan tình báo nước ông đã thâm nhập vào al-Qaeda và cảnh báo về một cuộc tấn công bằng ‘một chiếc máy bay chứa đầy thuốc nổ’, mặc dù mục tiêu dường như là các cuộc hội nghị G8 được tổ chức vào mùa xuân năm 2001. Một báo cáo của MI5 vào ngày 6 tháng 7 năm 2001 lưu ý rằng ‘UBL và những người chia sẻ chương trình nghị sự của hắn hiện đang tiến triển tốt trong việc lập kế hoạch hoạt động cho một số cuộc tấn công lớn vào các lợi ích của phương Tây’, mặc dù báo cáo cho rằng địa điểm có khả năng xảy ra nhất ‘là ở các quốc gia vùng Vịnh, hoặc Trung Đông rộng lớn hơn’. Mossad đã gửi cảnh báo tới các đối tác CIA của họ vào mùa hè năm 2001, trích dẫn ‘những thông tin đáng tin cậy’ mà các điệp viên của họ đã thu thập được ở Afghanistan, Pakistan và Yemen – CIA đã buộc một tờ báo đưa tin này phải in một bản rút lại tin này. Ngay cả Bộ trưởng Ngoại giao Taliban Wakil Ahmed Muttawakil cũng đã cố gắng truyền đạt một lời cảnh báo, mặc dù điều này không được coi trọng.

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, hai máy bay bị cướp đã đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York; chiếc thứ ba đâm vào Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Chiếc thứ tư bị cướp nhưng được hành khách khống chế; khiến máy bay rơi ở Pennsylvania, và tất cả hành khách trên máy bay đều thiệt mạng. Có 2.753 nạn nhân tại Trung tâm Thương mại Thế giới, bao gồm 411 nhân viên cứu hộ; 184 người thiệt mạng tại Lầu Năm Góc, và 40 người thiệt mạng trong vụ tai nạn ở Pennsylvania. Các cơ quan tình báo thế giới đã không kịp thời nhận ra các dấu hiệu. Mọi thứ sẽ phải thay đổi.

Giám đốc CIA George Tenet không chấp nhận CIA đã thất bại trong nhiệm vụ, đổ lỗi cho FBI về những thiếu sót đã tạo điều kiện cho bọn khủng bố xâm nhập vào Hoa Kỳ và chiếm quyền điều khiển máy bay. Đối với ông, việc ông có thể trình bày với Tổng thống Bush một kế hoạch trả đũa trong vòng bốn ngày cho thấy CIA đã kiểm soát được tình hình, ngay cả khi những bên khác thì không.

Ngay cả khi các cuộc tấn công vẫn tiếp diễn, CTC đã bắt đầu truy tìm thông tin từ tất cả các nguồn của họ, và chỉ trong vòng vài giờ, Tenet đã báo cáo với tổng thống rằng các cuộc tấn công “trông giống, ngửi thấy mùi và nếm thấy vị của bin Laden”. Bốn ngày sau, kế hoạch của Tenet, bao gồm “một cuộc tấn công bí mật toàn diện vào nền tảng tài chính của mạng lưới khủng bố, bao gồm cả việc giám sát máy tính bí mật, nghe lén điện tử để xác định vị trí tài sản của al-Qaeda và các nhóm khủng bố khác”, cùng với “Ma trận Tấn công Toàn cầu” của ông, một kế hoạch hành động bí mật tại 80 quốc gia, đã được trình lên tổng thống và các cố vấn của ông tại Trại David. Ngày 17 tháng 9, Bush đã ký Phán quyết của Tổng thống cho phép CIA truy lùng, và nếu cần, tiêu diệt các thủ lĩnh al-Qaeda: “Tôi muốn công lý”, ông nói với các phóng viên ngày hôm đó. “Và tôi nhớ có một tấm áp phích cũ ở miền Tây, ghi dòng chữ “Truy nã, dù sống hay chết”. (CIA đã yêu cầu thẩm quyền này vào tháng 7, nhưng không nhận được.) Ông cũng đã phê duyệt thêm 1 tỷ đô la tài trợ cho Cơ quan.

Tổng thống Bush đã tuyên bố cuộc Chiến tranh Chống Khủng bố trong bài phát biểu trước Quốc hội vào ngày 20 tháng 9, thẳng thắn tuyên bố: “Cuộc chiến chống khủng bố của chúng ta bắt đầu với al-Qaeda, nhưng không kết thúc ở đó. Nó sẽ không kết thúc cho đến khi mọi nhóm khủng bố có tầm ảnh hưởng toàn cầu bị tìm thấy, ngăn chặn và đánh bại.” Trong bài phát biểu hùng hồn, ông tuyên bố thành lập Bộ An ninh Nội địa, và nói thêm: “Chúng ta sẽ cùng nhau cung cấp cho lực lượng thực thi pháp luật những công cụ bổ sung cần thiết để truy lùng khủng bố ngay tại đất nước này. Chúng ta sẽ cùng nhau tăng cường năng lực tình báo của chúng ta để biết được kế hoạch của những kẻ khủng bố trước khi chúng hành động, và tìm ra chúng trước khi chúng ra tay’. Cụm từ ‘cuộc chiến chống khủng bố’ đã được sử dụng trên toàn thế giới, mặc dù người Anh đã ngừng sử dụng nó một phần, như cựu giám đốc MI5 Elizabeth Manningham-Buller đã chỉ ra, bởi vì các cuộc tấn công ngày 11/9 là ‘một tội ác, không phải là một hành động chiến tranh’.

Taliban từ chối giao nộp bin Laden và các thủ lĩnh al-Qaeda cho người Mỹ, dẫn đến Chiến dịch Tự do Bền vững, cuộc xâm lược Afghanistan vào tháng 10. Trong quá trình chuẩn bị cho chiến tranh, CIA đã hoạt động bên trong Afghanistan, cố gắng tạo ra rạn nứt giữa al-Qaeda và Taliban, thậm chí còn đề xuất hỗ trợ một cuộc đảo chính từ bên trong Taliban nếu điều đó có nghĩa là bọn al-Qaeda bị giao nộp. Khi những nỗ lực này thất bại, cuộc xâm lược được tiến hành và trong vòng vài tuần, bin Laden buộc phải chạy trốn đến Tora Bora, miền đông Afghanistan, từ đó (có lẽ nhờ sự hỗ trợ của tình báo Pakistan, mặc dù bề ngoài họ đang hỗ trợ người Mỹ), hắn đã trốn thoát sang Pakistan. Trong một thời gian dài, người ta tin rằng hắn đã chết cho đến khi một đoạn băng ghi hình được công bố vào cuối năm 2002.

Việc thẩm vấn tù nhân luôn là một nguồn thông tin tình báo hữu ích cho các điệp viên qua nhiều thế kỷ, nhưng nó đã được nâng lên một tầm cao mới sau vụ tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới. Những lập luận ủng hộ và phản đối việc thẩm vấn “nâng cao” bằng các kỹ thuật như tra tấn bằng nước (dội nước lên một tấm vải phủ lên mặt nghi phạm, khiến nghi phạm tin rằng mình đang chết đuối) và tước đoạt giác quan, đã được bàn luận nhiều lần: liệu bằng chứng được đưa ra theo cách đó có đáng tin cậy hay không, hay nghi phạm đã nói những gì anh ta nghĩ người thẩm vấn muốn nghe, những gì để ngăn chặn việc tra tấn tái diễn?

CIA được trao quyền rộng rãi trong việc truy lùng các nghi phạm khủng bố. José Rodriguez, người sau này trở thành nhân vật đứng đầu Cơ quan Mật vụ Quốc gia, phụ trách các cuộc thẩm vấn, đã biện hộ cho hành động của họ, chỉ ra rằng: “Chúng tôi đã làm điều đúng đắn vì lý do chính đáng. Và lý do chính đáng đó là bảo vệ tổ quốc và bảo vệ sinh mạng người Mỹ”. Đầu năm 2002, CIA tiếp quản việc thẩm vấn và bắt đầu “dẫn độ” các nghi phạm – bí mật đưa họ đến các “điểm đen” ở nước ngoài, những nơi mà CIA có thể kiểm soát việc thẩm vấn mà không bị giám sát bởi những nhân vật trong chính quyền Mỹ hoặc giới truyền thông. Abu Zubaida, lúc đó được cho là một trong những thành viên cấp cao của al-Qaeda, đã bị dẫn độ sang Thái Lan sau khi bị bắt tại Faisalabad, Pakistan, vào tháng 3 năm 2002. Tuy nhiên, cả George Tenet, trong cuốn sách của mình về thời gian làm giám đốc CIA, và Rodriguez đều khẳng định rằng họ đã cẩn thận kiểm tra tính hợp pháp các động thái của mình (điều mà Rodriguez gọi là ‘khiến mọi người trong chính phủ phải hành động và cung cấp những thẩm quyền mà chúng tôi cần’) trước khi tiến hành một loạt các kỹ thuật được phê duyệt trong cái được gọi là “Bản ghi nhớ Tra tấn”, một tài liệu dài 18 trang, ngày 1 tháng 8 năm 2002, do Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp gửi cho Luật sư của CIA. Tài liệu này nêu chi tiết đáng kể các phương pháp áp dụng các quy trình này, và việc sử dụng chúng không thể bị phân loại là tra tấn theo định nghĩa của Mục 2340A, tiêu đề 18 của Bộ luật Hoa Kỳ. (Điều này sẽ được làm rõ hơn bằng ba bản ghi nhớ năm 2005 dài tổng cộng 106 trang.) Phát biểu vào tháng 4 năm 2012, Rodriguez tuyên bố: ‘Chương trình này nhằm mục đích tiêm nhiễm cảm giác vô vọng và tuyệt vọng cho bọn khủng bố, cho những kẻ bị giam giữ, để chúng tự rút ra kết luận sẽ tốt hơn nếu hợp tác với chúng tôi.’

FBI đã tiến hành thẩm vấn Zubaida ban đầu, trong đó y xác định Khalid Sheikh the Mohammed (KSM) là kẻ chủ mưu vụ tấn công 11/9, và tiết lộ kế hoạch tấn công các căn hộ ở Mỹ bằng bom, cũng như một cuộc tấn công vào Cầu Brooklyn. Theo Ali H. Soufan, sĩ quan FBI phụ trách thẩm vấn Zubaida và các thành viên al-Qaeda khác, Zubaida không để lộ thêm bất kỳ thông tin nào hữu ích hơn trong quá trình thẩm vấn tăng cường – và thực ra là anh cùng các đồng nghiệp FBI đã từ chối sử dụng các thẩm vấn ấy.

Có lẽ đáng chú ý là Rodriguez đã cho phép tiêu hủy các băng ghi âm của CIA ghi lại quá trình thẩm vấn Zubaida, mặc dù ông ta tuyên bố rằng mình đã làm như vậy sau khi có vụ phanh phui việc quân đội tra tấn tù nhân Iraq tại Abu Ghraib sau cuộc xâm lược năm 2003. ‘Tôi lo ngại rằng việc phân biệt giữa một chương trình được cho phép hợp pháp như chương trình thẩm vấn tăng cường hợp pháp của chúng tôi và các hoạt động bất hợp pháp của một nhóm người tâm thần sẽ không được thực hiện,’ ông ta nói trong một bộ phim tài liệu của CBS vào tháng 4 năm 2012.

Các kỹ thuật thẩm vấn tăng cường đã được áp dụng cho KSM khi y bị bắt; một lần nữa, hiệu quả của chúng vẫn còn đáng ngờ. KSM bị cấm ngủ hơn bảy ngày; y bị tra tấn bằng nước 183 lần; chế độ ăn uống của y bị thao túng. Tuy nhiên, y vẫn có thể cố gắng đánh lạc hướng những thẩm vấn viên về người đưa tin đang phục vụ Osama.bin Laden và khai nhận nhiều trách nhiệm cho một số hoạt động của al-Qaeda hơn những gì y có thể đã làm trong một nỗ lực để thôi bị thẩm vấn.

MI5 đã vướng vào tranh cãi về việc dẫn độ và tra tấn khi chúng trở thành tiêu điểm trên các mặt báo vào năm 2010. Tờ Guardian đã đăng một bài báo có tựa đề “Lừa đảo, bất lương và đồng lõa trong tra tấn – việc xét xử hàng đầu của MI5”, dựa trên bản dự thảo phán quyết trong vụ án Binyan Mohamed, người đã bị bắt giữ tại Pakistan, dựa trên thông tin do Zubaida cung cấp trước khi thẩm vấn tăng cường và bị CIA thẩm vấn tại Maroc trong khuôn khổ Chiến tranh Chống Khủng bố. Mohamed tuyên bố rằng các sĩ quan Anh đã có mặt trong suốt cuộc thẩm vấn và chuyển câu hỏi cho những người thẩm vấn, hoàn toàn biết rằng y thực sự đang bị tra tấn. Năm 2006, M15 cho biết Mohamed chỉ bị thẩm vấn tại Pakistan, nơi y bị bắt giữ và viên chức liên quan không thấy bằng chứng nào về việc tra tấn – mặc dù họ không nhắm tìm kiếm sự đảm bảo từ phía người Mỹ về cách đối xử tương lai

Một vụ án dân sự năm 2009 đã vướng vào tranh cãi về việc những tài liệu nhạy cảm nào có thể được tiết lộ công khai, nhưng những gì tòa án thấy đã đủ để Tổng Chưởng lý đề nghị cảnh sát điều tra MI5. Cuối cùng, Keir Starmer, Giám đốc Cơ quan Công tố, đã tuyên bố vào tháng 1 năm 2012 rằng không có đủ bằng chứng chứng minh các cơ quan an ninh đã cung cấp thông tin về Mohamed khi họ biết anh ta có nguy cơ bị tra tấn, và trên thực tế đã minh oan cho họ.

Một trường hợp khác về việc các cơ quan tình báo Anh hỗ trợ việc dẫn độ không dễ dàng bị bác bỏ. Abdelhakim Belhadj, người sau này lãnh đạo Hội đồng Quân sự Tripoli trong thời kỳ nổi dậy chống Gaddafi, đã được CIA giao nộp cho Libya với sự hỗ trợ của Anh, sau đó bị giam giữ và tra tấn trong nhà tù khét tiếng Abu Selim ở phía nam Tripoli. Các tài liệu xác nhận điều này được phát hiện trong một tòa nhà chính phủ bị bỏ hoang sau khi chế độ Gaddafi sụp đổ, với bức thư của Sir Mark Allen thuộc MI6 gửi cho Moussa Koussa, giám đốc tình báo của Gaddafi, “Tôi xin chúc mừng ngài về sự trở về an toàn của Abu Abdullah al-Sadiq [tên mà Belhaj sử dụng]. Đây là điều tối thiểu chúng tôi có thể làm cho ngài và cho Libya để chứng minh mối quan hệ đáng chú ý mà chúng ta đã xây dựng trong nhiều năm qua.” Belhadj đang kiện chính phủ Anh và Sir Mark Allen về những thiệt hại gây ra cho ông, và Cảnh sát Thủ đô đang điều tra.

Cuộc săn lùng Osama bin Laden và các thành viên chủ chốt khác của al-Qaeda sẽ kéo dài trong thập kỷ tiếp theo, nhưng đó không còn là ưu tiên hàng đầu của chính quyền Bush. Cho dù có niềm tin thực sự rằng Iraq của Saddam Hussein là một bên liên quan đến vụ 11/9, hay liệu có những người trong chính phủ Mỹ, đặc biệt là Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, coi vụ tấn công khủng bố này là một cơ hội để đối phó với nhiều mối đe dọa cùng một lúc hay không, thì trọng tâm nhanh chóng chuyển sang Saddam. Trong khi CIA đang bận rộn truy lùng al-Qaeda, họ cũng được giao nhiệm vụ điều tra Iraq, và đặc biệt là liệu Saddam Hussein có đang phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt hay không.

Theo báo cáo do Ủy ban về Năng lực Tình báo của Hoa Kỳ liên quan đến Vũ khí Hủy diệt Hàng loạt lập ra sau cuộc xâm lược: ‘Hiệu suất của Cộng đồng Tình báo trong việc đánh giá các chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq trước chiến tranh là một thất bại tình báo nghiêm trọng. Thất bại này không chỉ đơn thuần là việc đánh giá sai lầm của Cộng đồng Tình báo. Còn có những thiếu sót nghiêm trọng trong cách thức thực hiện và truyền đạt những đánh giá này đến các nhà hoạch định chính sách. Cùng lúc đó, Báo cáo Butler, được lập tại Anh với cùng mục đích, lưu ý rằng phán quyết của Ủy ban Tình báo Liên hợp cho rằng Iraq đang “tiến hành nghiên cứu và phát triển liên quan đến hạt nhân để làm giàu uranium” dựa trên báo cáo của hai điệp viên mới, và “những báo cáo này được Ủy ban Tình báo Liên hợp (JIC) coi trọng hơn mức có thể chấp nhận được”. Báo cáo chỉ ra rằng phán quyết “đã đi đến (mặc dù không vượt quá) giới hạn ngoài của thông tin tình báo hiện có” nhưng “không có bằng chứng cố ý bóp méo hoặc của sự cẩu thả đáng trách’.

Cho dù bằng chứng có đủ để biện minh cho mong muốn thay đổi chế độ ở Iraq của các chính quyền khác nhau hay không, vẫn có những cáo buộc rằng hồ sơ thông tin đã bị “làm cho hấp dẫn” trước khi được công bố cho quốc hội và truyền thông Anh. Thiếu tướng Michael Laurie phát biểu trước Ủy ban Điều tra Chilcott về Iraq: “Lúc đó, chúng tôi biết mục đích của hồ sơ chính là để lập luận cho chiến tranh, chứ không phải trình bày thông tin tình báo hiện có, và để tận dụng tối đa những thông tin tình báo ít ỏi và không thuyết phục, chúng tôi đã xây dựng văn bản một cách cẩn thận.” Giám đốc truyền thông của Tony Blair, Alastair Campbell, đã liên tục phủ nhận cáo buộc này, tuyên bố rằng ông chỉ hỗ trợ về mặt trình bày của hồ sơ. Ông bảo Lord Chilcott nói:

Không lúc nào tôi từng yêu cầu Chủ tịch Ủy ban Tình báo Liên hợp, Ngài John Scarlett, tăng cường, bác bỏ bất kỳ phán quyết nào mà ông ấy đã đưa ra. Không lúc nào, có ai từ thủ tướng trở xuống, nói với bất kỳ ai trong cơ quan tình báo rằng: ‘Các anh phải điều chỉnh cho phù hợp với phán quyết này hay phán quyết kia.’ Điều đó chưa bao giờ xảy ra. Suốt cả quá trình, có thể mọi người đã không được biết  rõ, rằng không gì bác bỏ các phán quyết tình báo, và John Scarlett chính là người, nếu bạn muốn nói, nắm giữ cây bút duy nhất.

Có hai yếu tố chính trong cáo buộc chống lại Saddam: rằng ông ta đang khai thác uranium từ Niger, thứ có thể được làm giàu để sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt – thứ có khả năng được chuẩn bị để sử dụng trong vòng 45 phút, theo hồ sơ của Anh; và rằng ông ta cũng đang chuẩn bị vũ khí hủy diệt hàng loạt sinh học. “Chúng tôi có mô tả trực tiếp về các nhà máy vũ khí sinh học đang hoạt động”, Ngoại trưởng Colin Powell phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, khi họ đang thảo luận một nghị quyết về tương lai của Iraq. “Nguồn tin là một nhân chứng tận mắt, một kỹ sư hóa học Iraq đang giám sát một trong những cơ sở này. Anh ta thực sự đã có mặt trong quá trình sản xuất tác nhân sinh học. Anh cũng có mặt tại hiện trường khi một tai nạn xảy ra vào năm 1998. Mười hai kỹ thuật viên đã tử vong do phơi nhiễm với tác nhân sinh học.”

Vấn đề là anh ta không là như vậy. Bằng chứng cho việc nói trên dựa vào người Iraq cung cấp thông tin Rafid Ahmed Alwan al-Janabi, mật danh Curveball, đã được chứng minh toàn diện là kẻ nói dối và cuối cùng đã thừa nhận với tờ Guardian rằng y đã thao túng những người điều khiển mình trong cơ quan tình báo Đức, BND. “Tôi đã có cơ hội bịa đặt điều gì đó để lật đổ chế độ”, y nói vào năm 2011. “Tôi và các con trai tôi tự hào về điều đó và chúng tôi tự hào rằng mình là lý do để mang lại cho Iraq một nền dân chủ.”

Mặc dù không phải tất cả thông tin liên quan đến Curveball đều được công bố cho công chúng. Về lĩnh vực này, câu chuyện mới xuất hiện đã củng cố lời khẳng định của Ngài Richard Dearlove trong một cuộc họp tại Phố Downing vào ngày 23 tháng 7 năm 2002. Một bản ghi nhớ bị rò rỉ cho thấy ông đã báo cáo về các cuộc họp gần đây của mình tại Washington rằng “Bush muốn lật đổ Saddam, thông qua hành động quân sự, được biện minh bởi sự kết hợp giữa khủng bố và vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nhưng thông tin tình báo và các sự kiện đang được dàn dựng xung quanh chính sách này.”

Al-Janabi nhập cảnh vào Đức vào cuối năm 1999 bằng thị thực du lịch, sau đó xin tị nạn, với lý do đã biển thủ công quỹ của chính phủ Iraq và có nguy cơ bị bỏ tù hoặc tử hình nếu quay trở lại. Khi đã vào hệ thống tị nạn của Đức, y bắt đầu kể về công việc kỹ sư hóa học của mình, và điều này ngay lập tức thu hút sự chú ý của BND. (Trong cuộc phỏng vấn với tờ Guardian, Janabi sau đó khẳng định rằng y không hề đề cập đến công việc của mình cho đến khi được cấp tị nạn vào tháng 3 năm 2000; BND nói rằng thực ra y đã ngừng hợp tác tích cực sau khi được cấp tị nạn vào năm 2001.) Y tiết lộ rằng mình từng là thành viên của một nhóm trang bị xe tải để sản xuất vũ khí sinh học và nêu tên sáu địa điểm đã hoạt động. Từ chối nói chuyện trực tiếp với tình báo Mỹ, y được cho mật danh Curveball (và hóa ra là rất thích hợp – curveball có nghĩa là đường banh xoáy cong) đã cung cấp rất nhiều tài liệu cho BND, đủ cho BND gửi đến 95 báo cáo cho Langley (Trụ sở của CIA). Tại đó, các nhà phân tích đã đánh giá thông tin, các vệ tinh do thám đã kiểm tra các địa điểm được nêu tên và bản vẽ của những chiếc xe tải đã được chuẩn bị. Vấn đề, tất nhiên, là nếu không được tiếp cận trực tiếp với Curveball, không ai có thể hoàn toàn chắc chắn rằng họ đang diễn giải chính xác những gì y nói.

Thông tin của Curveball không hề cụ thể như cách Powell sử dụng nó để hậu thuẫn bài phát biểu của mình. ‘Thông tin của y với chúng tôi rất mơ hồ,’ một trong những cấp trên của y tại BND nói với tờ Los Angeles Times vào năm 2005. ‘Y không thể nói liệu những thứ này có hoạt động hay không, liệu chúng có hiệu quả hay không. . .  Y không biết . . . liệu đó có phải là bệnh than hay không. Y không liên quan gì đến việc sản xuất một tác nhân sinh học thực sự. Y đang trong giai đoạn thử nghiệm thiết bị. Và thiết bị đã hoạt động.’ Y thừa nhận rằng y chỉ đích thân đến thăm một địa điểm, nơi y nói rằng mình biết đã có một tai nạn xảy ra vào năm 1998 – nguồn tin lời kể của người được cho là ‘nhân chứng mắt thấy’ mà Powell nhắc đến.

Tại sao y lại được coi trọng đến vậy? Thông tin của Curveball trùng khớp với những gì các nhà phân tích CIA đã dự đoán, và tệ hơn nữa, dường như được củng cố bởi những thông tin khác. Khi những nguồn tin đó bị mất uy tín, Curveball vẫn không bị bỏ qua ngay lập tức. MI6 và BND đã gửi cảnh báo tới Washington về độ tin cậy của Curveball. ‘Các yếu tố trong hành vi của y khiến chúng tôi thấy điển hình ở những cá nhân mà chúng tôi thường đánh giá là kẻ bịa đặt’, MI6 lưu ý vào tháng 4 năm 2002. Nhưng đến tháng 9 năm 2002, Giám đốc George Tenet đã báo cáo rằng họ có ‘một kẻ đào tẩu đáng tin cậy đã làm việc trong chương trình’ vũ khí sinh hóa. Bất chấp sự dè dặt của một số người trong CIA (mà sau này Tenet kịch liệt phủ nhận là mình biết), thông tin và bản vẽ của Curveball đã được đưa vào bài phát biểu của Powell mặc dù, như một nhân viên đã chỉ ra vào thời điểm đó, ‘một bản vẽ không phải là chứng cớ – đó là tin đồn’. BND cho rằng CIA có các nguồn khác để xác nhận câu chuyện của Curveball, nhưng rõ ràng lời khai của y là mấu chốt mà vụ án được xây dựng xung quanh.

Bất chấp các cuộc tìm kiếm quy mô lớn của các thanh tra Liên Hiệp Quốc và chính người Iraq, không một dấu vết nào của những chiếc xe tải mà Curveball nói đến được tìm thấy trong những tuần giữa thời điểm bài phát biểu của Powell và cuộc xâm lược. Hans Blix, thanh tra trưởng, đã nói với Hội đồng Bảo an vào ngày 7 tháng 3 năm 2003 rằng họ “không tìm thấy chứng cớ nào”, nhưng tất nhiên nhiều người chỉ đơn giản nghĩ rằng Saddam đã che giấu chúng, như ông ta đã làm với các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác của mình.

Hậu quả của cuộc xâm lược Iraq và việc phát hiện ra rằng Saddam không sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến các cơ quan tình báo và chính phủ, với các cuộc điều tra chính thức vẫn đang được tiến hành.

Tuy nhiên, một khía cạnh đã trở nên rõ ràng như pha lê là Curveball đã nói dối trắng trợn. Gia đình y nói rằng y không có vấn đề gì với người Mỹ; y đứng gần chót lớp kỹ sư của mình, chứ không phải đứng đầu như y đã ba hoa. Y là một kỹ sư tập sự, chứ không phải người quản lý dự án như CIA đã khoác vai trò cho y. Tệ hơn nữa, y đã bị sa thải vào năm 1995, ba năm trước vụ tai nạn được cho là đã xảy ra, và đúng vào thời điểm y tuyên bố mình bắt đầu làm việc trên các tàu vận chuyển vũ khí hủy diệt hàng loạt. Một năm sau cuộc xâm lược, CIA cuối cùng đã được phép tiếp cận trực tiếp Curveball và mổ xẻ từng chi tiết câu chuyện của y.

Mặc dù vậy, al-Janabi vẫn ra sức giữ vững lập trường của mình, cho đến khi cuối cùng y thừa nhận sự thật với tờ Guardian vào tháng 2 năm 2011, mặc dù vẫn khẳng định mình chỉ có những giao dịch sơ sài với BND. Đáp lại, George Tenet đã đăng một tuyên bố trên trang web của mình, lưu ý rằng “báo cáo mới nhất về vấn đề này lặp lại và khuếch đại rất nhiều thông tin sai lệch về vụ án”. Giữa những nỗ lực tự biện minh tiếp theo, ông đã đưa ra một luận điểm chính: “Việc xử lý vấn đề này chắc chắn là một trường hợp có tính giáo khoa về cách làm thế nào để không xử lý tài liệu do kẻ đào tẩu cung cấp.’ Ít ai phản đối ý kiến này.

Những thất bại tình báo được nhận thức trước sự kiện 11/9 và trong quá trình chuẩn bị cho cuộc chiến ở Iraq đã dẫn đến một trong những cuộc cải tổ lớn nhất trong cộng đồng tình báo Mỹ trong nửa thế kỷ – hay ít nhất, đáng lẽ phải như vậy. Mục tiêu của những cải cách khác nhau là tạo ra một cộng đồng tình báo phù hợp với mục đích của thế kỷ 21. Theo trang web của Văn phòng Giám đốc Tình báo Quốc gia (ODNI):

Cộng đồng Tình báo Hoa Kỳ phải liên tục phấn đấu và thể hiện ba đặc điểm thiết yếu cho hiệu quả hoạt động của chúng ta. Cộng đồng phải được tích hợp: một đội ngũ làm cho tổng thể lớn hơn tổng các bộ phận của nó. Chúng ta cũng phải linh hoạt: một sự nghiệp có lực lượng tình báo thích ứng, đa dạng, liên tục học hỏi và hướng đến sứ mệnh, luôn đón nhận sự đổi mới và chủ động. Hơn nữa, cộng đồng phải thể hiện các giá trị của nước Mỹ: hoạt động theo pháp luật, nhất quán với kỳ vọng của người Mỹ về việc bảo vệ quyền riêng tư và quyền tự do dân sự, tôn trọng nhân quyền và theo cách duy trì chiếm được lòng tin của người dân Mỹ.

Giám đốc Tình báo Quốc gia George Tenet bất ngờ từ chức, rời khỏi CIA vào tháng 7 năm 2004, ngay trước khi Ủy ban 11/9 công bố báo cáo. Báo cáo này đề xuất thành lập một Giám đốc Tình báo Quốc gia, người không chỉ chịu trách nhiệm về an ninh của Hoa Kỳ mà còn có quyền lực thực sự để kiểm soát 17 cơ quan tình báo khác nhau. Điều này không được chính phủ, hoặc các cơ quan khác nhau bị ảnh hưởng, đón nhận, và điều mà nhiều người coi là một trò vớ vẩn từ Washington và tổn thương sẽ xảy ra. Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld không muốn các cơ quan tình báo và cơ quan khác của Lầu Năm Góc chịu trách nhiệm trước Giám đốc Tình báo Quốc gia; FBI muốn duy trì quyền tự chủ của mình. Vào thời điểm đó, nhà sử học và nhà báo Fred Kaplan đã mô tả dự luật cuối cùng là “không hề có cải cách nào đáng kể. Sẽ có một giám đốc tình báo quốc gia. Nhưng vị trí này có thể sẽ chỉ là một nhân vật bù nhìn, tốt nhất là một người như chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế, tệ nhất là một tầng lớp quan liêu mới mỏng manh, và trong mọi trường hợp, không hề giống với một trung tâm ra quyết định và chịu trách nhiệm mà ủy ban 11/9 đã hình dung.”

Người kế nhiệm Tenet tại CIA là Porter Goss, nhân vật sẽ là giám đốc CIA cuối cùng giữ chức vụ lãnh đạo cộng đồng tình báo; một trong nhiều điều khoản của Đạo luật Cải cách Tình báo và Phòng chống Khủng bố đã ngăn cản một Giám đốc Tình báo Quốc gia (DNI) kiêm nhiệm chức vụ giám đốc CIA hoặc bất kỳ cơ quan nào khác cùng lúc. Giám đốc DNI đầu tiên, được bổ nhiệm vào năm 2005, là cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc và Iraq, John D. Negroponte; người kế nhiệm ông vào năm 2007, Đô đốc Michael McConnell cũng phục vụ trong hai năm. Cả hai đều không đủ khả năng để thúc đẩy những thay đổi cần thiết trong cộng đồng tình báo. Đến cuối tháng 11 năm 2008, ngay cả Tổng Thanh tra của DNI cũng nhận định rằng cơ quan này không thể hiện được sự lãnh đạo hiệu quả, điều này “làm suy yếu uy tín của văn phòng DNI và củng cố những khẳng định rằng văn phòng DNI chỉ là một tầng lớp quan liêu khác”.

Goss có lẽ không ngờ mình sẽ trở thành DNI. Vài tháng trước khi Tenet bất ngờ từ chức, với tư cách Chủ tịch Tình báo Hạ viện Goss đã viết thư cho CIA, trong đó nêu rõ:

Sau nhiều năm cố gắng thuyết phục, gợi ý, thúc giục, dụ dỗ, nịnh hót và gây áp lực buộc CIA phải thực hiện những thay đổi sâu rộng trong cách thức tiến hành nhiệm vụ HUMINT (Tình báo Con người), CIA tiếp tục đi xuống một con đường dẫn qua một vách đá ai cũng nói tới. Thiệt hại cho nhiệm vụ HUMINT thông qua việc phân bổ và chuyển hướng nguồn lực sai lầm, chọn ưu tiên mục tiêu kém, quản lý vi mô các hoạt động thực địa và thái độ ác cảm tiếp tục đối với nguy cơ hoạt động, theo đánh giá của Ủy ban, là đáng kể và có thể kéo dài.

Điều này làm tổn hại đến mối quan hệ của ông với các nhân viên cấp cao tại Cơ quan, nhiều người trong số họ đã từ chức trong thời gian ông giữ chức.

Goss được kế nhiệm bởi cựu giám đốc NSA, kiêm Phó Giám đốc DNI, Michael Hayden, người đảm nhiệm chức vụ từ năm 2006 đến năm 2009. Trong thời gian đó, Cơ quan đã tích cực tham gia vào các nhiệm vụ (vẫn được giữ bí mật) tại Pakistan, hỗ trợ loại bỏ các thủ lĩnh al-Qaeda. “Chúng tôi đã trao cho Tổng thống Bush một danh sách những tên mà chúng tôi căm tức nhất, tại khu vực bộ lạc của Pakistan, vào tháng 7 năm 2008”, ông nói vào năm 2010. “Khi tôi rời nhiệm sở, hơn một chục người trong số họ đã bị tiêu diệt… Những gì Cơ quan đã làm để loại bỏ giới lãnh đạo al-Qaeda là điều tôi tự hào nhất.” CIA cũng đã giúp xác định một lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng ở Syria với sự hỗ trợ của Triều Tiên. Hayden là người ủng hộ việc xác nhận thông tin tình báo công khai sau sự kiện – chứ không phải sớm hơn, vì người Syria “có thể làm điều gì đó ngu ngốc nếu họ bị bẽ mặt trước công luận” – để đảm bảo mọi người biết về sự tham gia của Triều Tiên trong các cuộc thảo luận về phổ biến vũ khí hạt nhân.

Các cơ quan tình báo Anh cũng tích cực tham gia vào các hoạt động chống khủng bố sau sự kiện 11/9. Như vụ đánh bom ở London ngày 7 tháng 7 năm 2005 (còn gọi là 7/7) khiến 52 người thiệt mạng đã chứng minh, chúng không phải lúc nào cũng thành công như mong đợi, nhưng như các phiên tòa xét xử công khai các nghi phạm khủng bố đã bị bắt giữ cho thấy, MI5 và MI6 đã có trách nhiệm ngăn chặn những hành động tàn bạo tiếp theo. Tất nhiên đã có những sai sót xảy ra – chẳng hạn như vụ bắn chết một thợ điện người Brazil vô tội Jean Charles de Menezes vào ngày 22 tháng 7 năm 2005, sau một loạt vụ đánh bom thứ hai xảy ra vào ngày hôm trước.

Vụ Richard Reid cố gắng cho nổ tung một máy bay xuyên Đại Tây Dương ngay trước Giáng sinh năm 2001 là một dấu hiệu cho các cơ quan tình báo Anh thấy rằng hình thức khủng bố này có thể xuất phát từ trong nước. Trong thập kỷ tiếp theo, ngân sách và nhân sự của MI5 đã được tăng cường, và họ có thể theo dõi số lượng nghi phạm lớn hơn. Chiến dịch Crevice đã dẫn đến việc bắt giữ một nhóm khủng bố vào năm 2003, ngay trước khi chúng bắt đầu chiến dịch tấn công các hộp đêm, cửa hàng và quán rượu bằng bom amoni nitrat – mặc dù không may là hai người đàn ông mà chúng đã tiếp xúc trong thời gian ngắn đã không bị theo dõi. Chúng tiếp tục gây ra thảm sát ở London vào ngày 7/7. Chiến dịch Rhyme, diễn ra năm 2004, đã ngăn chặn Dhiren Barot thực hiện các vụ tấn công đã lên kế hoạch tại các bãi đậu xe ngầm ở London. Chiến dịch Hat đã ngăn chặn những kẻ đánh bom bất thành ngày 21 tháng 7 năm 2005 không thực hiện lại được âm mưu. Kazi Rahman bị bắt khi đang cố gắng mua vũ khí vào tháng 11 năm 2005 sau một chiến dịch gài bẫy của cảnh sát và M15 – tên của hắn đã được FBI chuyển cho MI5 sau khi họ thu phục được Mohamed Babar, một điệp viên al-Qaeda vào năm trước đó.

Chiến dịch Overt nhắm vào Abdullah Ahmed Ali, kẻ lên kế hoạch thực hiện một vụ tấn công tương tự vụ 11/9 bằng cách sử dụng những kẻ đánh bom tự sát trên nhiều máy bay khởi hành từ sân bay Heathrow. Hắn và đồng bọn đã bị bắt vào tháng 8 năm 2006, ngay trước khi chúng bắt đầu hoạt động; cách chúng định kích nổ các thiết bị nổ là lý do tại sao các biện pháp an ninh liên quan đến chất lỏng mang lên máy bay đã được thắt chặt đáng kể vào mùa hè năm đó. Chín thành viên của một âm mưu gây rối loạn vào Giáng sinh năm 2010, với các mục tiêu bao gồm Sở Giao dịch Chứng khoán, Tháp Big Ben, Tu viện Westminster, Cung điện Westminster và Vòng đu quay London Eye, đã bị bắt bốn ngày trước khi chúng lên kế hoạch kích nổ thiết bị đầu tiên. Vào ngày 1 tháng 7 năm 2012, một âm mưu của al-Qaeda ở Bán đảo Ả Rập nhằm đánh bom trong thời gian diễn ra Thế vận hội London đã bị phá vỡ; vài ngày sau, một nghi phạm khủng bố al-Qaeda đã bị bắt sau khi đến thăm địa điểm tổ chức Thế vận hội ở Đông London năm lần trong một ngày, vi phạm lệnh kiểm soát mà hắn ta phải tuân theo.

Như Eliza Manningham-Buller đã chỉ ra trong một bộ phim tài liệu truyền hình về cuộc chiến chống khủng bố, không bao giờ chỉ có một âm mưu bị điều tra. Cùng một lúc, có hàng chục âm mưu khác đang bị điều tra.

Chắc chắn hoạt động tình báo gây chú ý nhất trong vài năm qua là cuộc truy lùng và cuối cùng là tiêu diệt thủ lĩnh al-Qaeda Osama bin Laden. Mặc dù Khalid Sheikh Mohammed (KSM) có thể là người chỉ đạo chi tiết vụ 11/9, nhưng bin Laden mới là kẻ chủ mưu và ra phương án, khiến hắn trở thành mục tiêu tối hậu của tất cả các hoạt động tình báo Mỹ trong thập kỷ sau vụ tấn công Tòa Tháp Đôi ở New York.

Đội SEAL 6 của Hải quân Hoa Kỳ đã đột nhập vào khu nhà ở Abbottabad, Pakistan, và thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt bin Laden vào tháng 5 năm 2011, nhưng họ không đơn độc – các thành viên của Trung đoàn Không quân Tác chiến Đặc biệt số 160 (Nhảy dù) của Lục quân Hoa Kỳ và CIA đã ở bên cạnh họ. Có vẻ ngạc nhiên, ngay cả vào ngày Tổng thống Barack Obama bật đèn xanh cho phép nhiệm vụ được tiến hành, không ai từng chụp được ảnh bin Laden tại khu nhà đó hoặc có thể ghi âm được nhân vật người bí ẩn ở hai tầng trên cùng của tòa nhà.

Hàng tỷ đô la đã được Hoa Kỳ chi tiêu trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 cho hoạt động giám sát điện tử. Nhưng chính nhờ thông tin thu thập được thông qua các phương pháp truyền thống – thẩm vấn tù nhân – , bin Laden cuối cùng đã bị truy lùng và phát hiện. Chìa khóa để tìm ra hắn hóa ra lại là người đưa tin đáng tin cậy của hắn, Abu Ahmed al-Kuwaiti, tức Ibrahim Saeed Ahmed. Nhiều manh mối đã được lần theo kể từ khi bin Laden biến mất khỏi Tora Bora vào năm 2002, sau cuộc xâm lược của Mỹ. Tất cả đều đi vào ngõ cụt. Nhiều thành viên cấp cao của al-Qaeda đã bị truy lùng và tiêu diệt, khi CIA đã ra đòn bằng máy bay không người lái Predator và Reaper, nhưng không giết được bản thân bin Laden trốn ở đâu. Mọi khía cạnh của các cuộn băng mà hắn công bố đều được phân tích, dù là hình dạng của những tảng đá phía sau hay tiếng chim hót vang lên trong giây lát. Phần thưởng lớn được treo cho thông tin nào truy ra được hắn, nhưng vị thế gần như là đấng cứu thế của bin Laden, được coi là vị cứu tinh của Hồi giáo chân chính, đồng nghĩa với việc không ai muốn nhận thưởng.

Tên Al-Kuwaiti nằm trong số những cái tên được Mohammed al-Qahtani, một thành viên al-Qaeda, người ban đầu được đào tạo để trở thành tên không tặc thứ 20 trong vụ tấn công 11/9, nhắc đến. Bị Pakistan bắt giữ vào tháng 12 năm 2001, y bị thẩm vấn tại căn cứ Mỹ ở Vịnh Guantanamo, Cuba. Tại đây, sau nhiều tuần bị tra tấn, y thừa nhận rằng KSM đã giới thiệu mình với al-Kuwaiti, người đã chỉ thị cho y liên lạc bí mật. Khi KSM bị bắt, ông ta khai với các thẩm vấn viên Pakistan rằng al-Kuwaiti đã giúp bin Laden trốn thoát khỏi Tora Bora, mặc dù sau đó ông ta nói với các thẩm vấn viên Mỹ rằng al-Kuwaiti đã nghỉ hưu. Thông tin này được tiết lộ sau những cuộc thẩm vấn cực đoan, và dường như là một nỗ lực cố ý nhằm đánh lạc hướng người Mỹ; hành động bất chấp của ông ta thường được những người phản đối các phương pháp cực đoan trích dẫn như một bằng chứng cho thấy những biện pháp như vậy không phải lúc nào cũng hiệu quả.

Tuy nhiên,  một người đưa tin khác của Al-Qaeda, Hassan Ghul, thì khai khác. Al-Kuwaiti là một phần tử thân cận đáng tin cậy của bin Laden, và đang làm việc với Abu Faraj al-Libi, người kế nhiệm KSM. Khi al-Libi bị bắt vào tháng 5 năm 2005, gã cũng cố gắng đánh lạc hướng sự chú ý khỏi al-Kuwaiti, bằng cách bịa ra tên của một người đưa tin mà gã cho là nhân vật chủ chốt. Sự chú ý tập trung vào mạng lưới chuyển phát nhanh, nhưng nguồn khách hàng tiềm năng lại khan hiếm.

Khi lên nắm quyền vào tháng 1 năm 2009, Tổng thống Obama đã đưa việc bắt giữ bin Laden trở thành một trong những ưu tiên của CIA, và vào ngày 2 tháng 6 năm 2009, ông đã ra lệnh cho tân Giám đốc CIA Leon Panetta ‘cung cấp cho tôi trong vòng 30 ngày một kế hoạch hoạt động chi tiết để định vị và đưa bin Laden ra trước công lý’. Hy vọng được đặt vào một kẻ đào tẩu khỏi al-Qaeda rõ ràng là bác sĩ người Jordan Humam al-Balawi, nhưng hy vọng đã biến thành thảm kịch khi al-Balawi cho nổ tung chính mình cùng bảy nhân viên CIA vào ngày 30 tháng 12 năm 2009. Al-Qaeda vẫn tiếp tục các hoạt động, ngay cả khi CIA tăng cường sức ép chống lại chúng, một nỗ lực bắn hạ một máy bay thương mại đã bị ngăn chặn, và Faisal Shahzad, một người Mỹ gốc Pakistan được Taliban huấn luyện, đã tìm cách cho nổ tung chiếc SUV của mình tại Quảng trường Thời đại vào ngày 1 tháng 5 năm 2010.

Việc giám sát các đặc vụ của al-Qaeda trên khắp thế giới đã đem lại kết quả vào mùa hè năm 2010 khi một trong số họ liên lạc với al-Kuwaiti, tên này tiết lộ rằng mình “đã trở lại với những người tôi từng ở cùng trước đây”. Điều này được hiểu là gã đã trở lại vòng tròn thân cận của bin Laden. Tình báo nhân sự giờ đây đã được chú ý, khi một điệp viên Pakistan làm việc cho CIA đã lần theo dấu vết của al-Kuwaiti đến Peshawar ở Pakistan, sau đó theo gã trở lại thị trấn Abbottabad, cách đó hai giờ lái xe về phía đông. Al-Kuwaiti sống trong một khu nhà khiến CIA cảm thấy kỳ lạ, vì nó không có điện thoại hay dịch vụ internet.

Khi Panetta nghe nói về “pháo đài” này, ông đã ra lệnh cho CIA điều tra mọi con đường để vào bên trong khu nhà. Rõ ràng là có khả năng đây chính là nơi ẩn náu của bin Laden, nhưng sau vụ bê bối vũ khí hủy diệt hàng loạt Curveball bảy năm trước, họ đã quyết định phải đảm bảo bất kỳ thông tin tình báo nào được sử dụng trước khi triển khai một nhiệm vụ hoàn toàn chính xác. Số lượng các gia đình trong khu nhà có vẻ kỳ lạ, cũng như việc cơ quan tình báo Pakistan hoàn toàn không biết gì về nó. Như Phó Giám đốc Michael Morell đã chỉ ra ở một giai đoạn, ‘Trường hợp khả năng Iraq sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt thực sự mạnh hơn trường hợp khả năng bin Laden đang sống trong khu nhà ở Abbottabad.’ CIA đã thiết lập một ngôi nhà an toàn ở Abbottabad, và suy luận từ các hoạt động di chuyển khác nhau đến và đi khỏi khu nhà, cũng như quan sát lượng quần áo phơi ngoài sân, rằng có ba gia đình trong khu nhà chứ không phải hai gia đình như thoạt nhìn. Thành phần của gia đình thứ ba dường như trùng khớp với gia đình trực hệ của bin Laden. Dường như cuộc săn lùng có thể đã đến hồi kết thúc.

Mối quan hệ giữa người Mỹ và người Pakistan đã bị chỉ trích vào đầu năm 2011 khi Raymond Davis, một nhà thầu của CIA, sát hại hai công dân Pakistan ở Lahore. Vốn đã có rất ít sự tin tưởng giữa hai quốc gia và các cơ quan tình báo hai nước: kẻ đánh bom Quảng trường Thời đại không phải là kẻ khủng bố chống Mỹ duy nhất đến từ Pakistan, và có cảm giác rằng cơ quan tình báo Pakistan có thể đã không trung thực với CIA. Do đó, CIA quyết định không thông báo với người Pakistan về mối nghi ngờ của CIA đối với khu nhà Abbottabad.

Khi các kế hoạch được vạch ra, thông tin mà CIA dày công thu thập được lại một lần nữa được đưa cho “Đội Đỏ” đánh giá, lần này là bởi các chuyên gia bên ngoài CIA. Điều này có nghĩa là mọi bằng chứng đều được kiểm tra để xem liệu có lời giải thích nào khác có khả năng đưa ra một giả thuyết khả thi nhất hay không.

Lời giải thích này giống như lời giải thích của CIA. Một tuần trước khi cuộc đột kích diễn ra, Đội Đỏ kết luận rằng không có giả thuyết nào khả thi hơn giả thuyết bin Laden có mặt ở đó.

Giám đốc Tình báo Quốc gia (DNI) của Obama, James Clapper, là một trong những người cảm thấy đây là “vụ án thuyết phục nhất mà chúng ta có được trong mười năm” săn lùng bin Laden. Còn Leon Panetta cảm thấy rằng họ “có lẽ đã đến thời điểm mà chúng ta có được thông tin tình báo tốt nhất có thể”. Cả Phó Tổng thống Joe Biden và Bộ trưởng Quốc phòng (và cựu Giám đốc CIA) Robert Gates đều phản đối một cuộc đột kích; Ngoại trưởng Hillary Clinton thì ủng hộ. Vậy nên, sau khi cân nhắc mọi thứ, tổng thống cũng ủng hộ.

Cuộc đột kích diễn ra vào ngày 1 tháng 5 vào lúc 11 giờ 35 tối, Tổng thống Obama thông báo với người dân Mỹ rằng ‘Hoa Kỳ đã tiến hành một chiến dịch tiêu diệt Osama bin Laden, thủ lĩnh của al-Qaeda và là một tên khủng bố chịu trách nhiệm cho vụ sát hại hàng ngàn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em vô tội.

Leon Panetta nhớ lại một trong những sự kiện bất thường nhất đêm đó. Khi lái xe rời Nhà Trắng, ông nghe thấy tiếng hô vang từ Công viên Lafayette. ‘CIA! CIA! CIA!’ Có lẽ một số thất bại trong quá khứ giờ đã được tha thứ.

Bình luận về bài viết này