Các Cuộc Chiến Tranh Vĩ Đại Nhất trong Lịch Sử (Bài 8)

NHỮNG XUNG ĐỘT HOÀNH TRÁNG TẠO NÊN DIỆN MẠO THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

Joseph Cummins

 Trần Quang Nghĩa dịch

14 CÁCH MẠNG MỸ  1775-83

CUỘC NỔI LOẠN CỦA DÂN THUỘC ĐỊA BẮC MỸ CHỐNG LẠI CHÍNH PHỦ ANH, ĐÃ TẠO NÊN HOA KỲ VÀ XUẤT KHẨU CÁC Ý TƯỞNG VỀ TỰ DO VÀ BÌNH ĐẲNG TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

TỔNG QUAN: LÀ MỘT TRONG NHỮNG CUỘC CÁCH MẠNG THÀNH CÔNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI, MỸ ĐÃ VỨT BỎ SỰ CAI TRỊ CỦA ANH VÀ TRỞ THÀNH MỘT NƯỚC ĐỘC LẬP

Sau khi Chiến tranh Bảy năm kết thúc, chính phủ Anh đã cố gắng thu hồi một số chi phí tài chính khổng lồ từ chiến thắng của mình bằng cách tăng thuế đối với những cư dân Bắc Mỹ; từ năm 1764 đến năm 1767, Quốc hội Anh đã thông qua các đạo luật Đường, Tem và Townshend, tất cả đều áp dụng mức thuế quan cao hoặc thuế trực tiếp đối với hàng hóa của Mỹ. Điều này đã gây ra rất nhiều bất mãn trong dân cư thuộc địa mong muốn có thêm các quyền hạn. Ban đầu, hầu hết người dân thuộc địa không tìm kiếm sự độc lập khỏi Anh, mà chỉ đơn giản mong mỏi những quyền lợi mà công dân Anh có, đặc biệt là quyền tự quản thông qua các hội đồng lập pháp của riêng họ. Nhưng thái độ của họ bắt đầu cứng rắn hơn sau các sự cố như Thảm sát Boston năm 1770, trong đó quân đội Anh nổ súng vào những người Mỹ phản đối việc quân đội Anh chiếm đóng Boston, giết chết ba người, và Tiệc trà Boston năm 1773, trong đó những người Mỹ nổi loạn đã ném trà xuống biển từ các tàu của Anh ở Cảng Boston để phản đối sự đối xử ưu đãi dành cho các thương gia bán trà Anh. Quốc hội Lục địa đầu tiên, cuộc họp của các nhà lãnh đạo của 12 trong số 13 thuộc địa, diễn ra vào tháng 9 năm 1774. Các nhóm dân quân thuộc địa được gọi là Minutemen bắt đầu thành lập bên ngoài Boston và các kho vũ khí và thuốc súng được giấu trong các trang trại và hầm rượu.

Vào tháng 4 năm 1775, cuộc chiến tranh sát thương bắt đầu. Quân đội Anh do Tướng Thomas Gage cử đến để chiếm một kho vũ khí như vậy đã đụng độ với Dân quân ở Lexington và Concord, vốn đã được quân nổi dậy Paul Revere và William Dawes báo động. Cả hai bên đều chịu thương vong nặng nề. Vào tháng 5, một nhóm quân nổi dậy dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh dân quân Vermont Ethan Allen và đội trưởng dân quân Connecticut Benedict Arnold đã chiếm được các cứ điểm quan trọng của Anh tại Hồ Champlain là Ticonderoga và Crown Point. Vào tháng 6, quân nổi dậy đã giao tranh với quân đội Anh tại Đồi Bunker gần Boston, gây ra nhiều tổn thất hơn, mặc dù cuối cùng họ đã buộc phải từ bỏ ngọn đồi.

Trong khi đó, Quốc hội Lục địa lần thứ hai đã họp và bổ nhiệm George Washington làm tổng tư lệnh quân đội Lục địa. Người Mỹ, phấn khích vì cuộc chiến ở Massachusetts và lời lẽ hùng biện của các nhà lãnh đạo phiến quân như Tom Paine và John Adams cùng anh họ Samuel, đã đổ xô đến để gia nhập quân đội. Mặc dù vậy, vẫn có sự chia rẽ rõ ràng ở Mỹ giữa hai nhóm; những người theo Đảng Tory, hay những người Trung thành, có cảm tình với người Anh và Vua George III – mà chính sách của họ đối với quân phiến loạn Mỹ, vào thời điểm này, là khắc nghiệt và không khoan nhượng – và những cư dân thuộc địa Mỹ đang ngày càng tìm kiếm sự độc lập.

BỨC TRANH SƠN DẦU VỀ CUỘC GIAO CHIẾN ĐẦU TIÊN GIỮA QUÂN ĐỘI ANH VÀ MỸ NĂM 1775

Vào mùa thu năm 1775, quân nổi loạn Mỹ đã xâm nhập Canada trong nỗ lực mở ra một cuộc chiến tranh hai mặt trận nhằm làm cạn kiệt tài nguyên của Anh. Tuy nhiên, một lực lượng chiến binh thuộc địa dưới quyền Benedict Arnold, lúc này là một đại tá, đã bị đánh bại bên ngoài Quebec và buộc phải rút lui trở lại các thuộc địa Mỹ. Vào tháng 6 năm 1776, quân Anh, sau khi rút khỏi Boston, đã đổ bộ 32.000 quân lên New York, đội quân lớn nhất từng thấy cho đến nay trên lục địa Bắc Mỹ. Dưới quyền Tướng William Howe, lực lượng này tìm cách cắt đứt các thuộc địa phía bắc – mà Vua George và các bộ trưởng của ông coi là gây nhiều rắc rối hơn – ra khỏi các thuộc địa phía nam.

Mặc dù di chuyển chậm, Howe vẫn có thể đánh bại lực lượng Hoa Kỳ dưới quyền George Washington tại các trận chiến ở Brooklyn, Long Island, White Plains và Morristown, đẩy lực lượng của Washington về phía nam qua New Jersey và băng qua Sông Delaware vào Pennsylvania. Tuy nhiên, một mũi tấn công khác của Anh – quân Anh dưới quyền Tướng Guy Carleton di chuyển về phía nam từ Canada để tấn công New York ở phía tây qua Hồ Champlain và Hồ George – đã bị chặn lại vào tháng 10 khi Tướng Benedict Arnold thách thức họ bằng một hạm đội Hoa Kỳ được xây dựng vội vã gần Đảo Valcour trên Hồ Champlain. Mặc dù người Mỹ cuối cùng đã bị đánh bại, họ đã trì hoãn Carleton đủ lâu để ông buộc phải quay trở lại Canada để trú đông.

Vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã ban hành Tuyên ngôn Độc lập, một lời kêu gọi cao cả về việc cắt đứt mọi mối quan hệ với Vương quốc Anh. Và năm đó đã kết thúc với một tin tức đầy phấn khích cho người nổi dậy: cuộc tấn công bất ngờ thắng lợi của George Washington chống lại quân đội Anh và Hessian tại Trenton vào ngày sau lễ Giáng sinh, bắt đầu bằng cuộc vượt sông Delaware đóng băng nổi tiếng của ông vào ban đêm. Điều này đã mang lại cho phe nổi dậy một tác động tâm lý to lớn vì nó cho thấy rằng họ có thể giành chiến thắng trước các lực lượng dường như bất khả chiến bại của Howe.

Năm 1777 là một năm then chốt. Người Anh một lần nữa cố gắng chia đôi các thuộc địa của Mỹ bằng cách cử quân đội dưới quyền Tướng John Burgoyne từ Canada về phía nam vào mùa hè để gặp Tướng Howe, người sẽ di chuyển lên Sông Hudson từ Albany, New York. Nhưng Howe, bị cám dỗ bởi thành tích chiếm được thủ đô Philadelphia của quân nổi dậy, thay vào đó lại di chuyển về phía nam, chiếm thành phố đó vào tháng 9. Burgoyne, sau những thành công ban đầu, thấy mình bị cô lập và cuối cùng bị đánh bại trong trận Saratoga vào tháng 10.

Người Pháp tham chiến ở phía Mỹ vào năm sau, và người Anh rút lui khỏi Philadelphia về New York, với quân đội của George Washington bám sát họ. Hoạt động bây giờ chuyển sang các thuộc địa phía nam. Năm 1780, quân đội Anh dưới quyền Sir Henry Clinton đã chiếm được Charleston, Nam Carolina, cảng lớn nhất miền nam; vào tháng 8 năm đó, Tướng Lord Cornwallis đã đánh bại lực lượng của Tướng Horatio Gates tại Camden và bắt đầu một chiến dịch để khuất phục miền nam. Nhưng hai chiến thắng liên tiếp của quân nổi dậy tại King’s Mountain vào tháng 10 và trận Cowpens vào tháng 11 đã gây tổn thất nặng nề cho quân Anh.

Bị cả người Mỹ và người Pháp dưới quyền Hầu tước de Lafayette quấy nhiễu, Cornwallis rút lui về Yorktown, Virginia, vào tháng 10 năm 1782. Bị lực lượng Pháp-Mỹ do George Washington chỉ huy trên bộ và hạm đội Pháp trên biển bao vây, ông buộc phải đầu hàng vào ngày 19 tháng 10, chấm dứt trận chiến lớn cuối cùng của cuộc xung đột. Theo Hiệp ước Paris năm 1783, Vương quốc Anh công nhận nền độc lập của Hoa Kỳ.

TRẬN CHIẾN GIÚP NGƯỜI MỸ KHÔNG BỊ THUA TRONG CUỘC CHIẾN – VÀ KHIẾN BENEDICT ARNOLD TRỞ THÀNH ANH HÙNG

 

Trận chiến Saratoga, 1777

Chỉ huy người Anh “Quý ông Johnny” Burgoyne được gọi như vậy không chỉ vì ông đối xử tốt với binh lính của mình, mà còn vì ông “dành quá nhiều thời giờ cho việc vệ sinh cá nhân đến nỗi trông ông giống một người hợp thời trang hơn là một chiến binh” – hành quân qua vùng hoang dã của Mỹ ở phía nam Hồ Champlain vào cuối mùa hè năm 1777 như thể ông đang đi du ngoạn. Những đoàn tàu tiếp tế dài chở nệm lông vũ, những chiếc rương nặng đầy quần áo và đồ ăn ngon. Vợ của các sĩ quan cũng đi cùng trong chuyến đi, cũng như những nhân viên hậu cần cho binh lính. Lực lượng bao gồm 4.000 quân chính quy Anh, 500 lính pháo binh (mang theo 130 khẩu súng bằng đồng thau), một lực lượng dân quân trung thành gồm 500 người Mỹ và Canada, 3.000 lính đánh thuê Đức hoặc Hesse, và 400 người da đỏ, những người có khuôn mặt xăm trổ (chưa kể đến da đầu lủng lẳng trên thắt lưng) khiến các quý cô sợ hãi.

Burgoyne, bắt đầu hành quân về phía nam từ Canada vào mùa xuân, tỏ ra thoải mái và tự tin, vì ông có lẽ đánh giá thấp về binh lính Mỹ chống lại ông, đồng tình với một cựu chỉ huy người Anh, James Wolfe, người cho rằng những chiến binh thuộc địa Mỹ là “những con chó hèn nhát đáng khinh nhất mà bạn có thể hình dung ra”. Bất chấp vị thế của người Mỹ tại Bunker Hill và chiến thắng dũng cảm của George Washington cùng những người lính của ông trong trận Trenton, Burgoyne vẫn tin chắc rằng mình có thể quét sạch quân Mỹ, liên kết với Tướng William Howe tại Albany, người sẽ điều quân lên thượng nguồn sông Hudson để gặp ông từ New York, và cắt đôi các thuộc địa, cắt đứt New England và New York khỏi phía nam.

Vào tháng 7, Burgoyne đã chiếm lại Pháo đài Ticonderoga dễ dàng đến nỗi khi Vua George III nghe tin, có lẽ là một tháng sau đó, ông đã nhảy chân sáo vào phòng ngủ của hoàng hậu, vỗ tay và hét lên sung sướng, “Ta đã đánh bại chúng! Đánh bại tất cả bọn Mỹ!” Nhưng mọi chuyện không đơn giản như vậy.

Một loạt sai lầm

Sau chiến thắng nhanh chóng tại Ticonderoga, Burgoyne đã mắc một số sai lầm. Ông cần phải đến Sông Hudson, để đi thuyền xuống Albany, nhưng ông đã chọn dẫn quân đội của mình đi 23 dặm (37 km) trên bộ từ Hồ Champlain, thay vì tiếp tục đi thuyền xuống Hồ George rồi chỉ cần đi bộ 10 dặm (16 km) đến sông. Quân đội của ông bị sa lầy trong vùng hoang dã và liên tục bị quân Mỹ phục kích, kết quả là họ chỉ đi được trung bình 1 dặm (1,6 km) một ngày – họ mất 23 ngày để đến được Hudson.

Một sai lầm khác là không kiểm soát được lực lượng da đỏ. Ngay trước khi quân đội đến Hudson, một số chiến binh này đã giết một phụ nữ trẻ tên là Jane McCrea, người đã đính hôn với một sĩ quan đảng Tory trong lực lượng dân quân của Burgoyne. Sự kiện này gây ra sự rúng động nhanh chóng lan ra khắp toàn bộ khu vực – cả người Tory và người yêu nước đều đổ lỗi cho Burgoyne về sự xúc phạm này, và lính tình nguyện đổ xô đến các trại lính Mỹ xa hơn phía thượng nguồn Hudson.

Và vào ngày 3 tháng 8, khi cuối cùng ông cũng đến được Hudson, Burgoyne nhận được tin gây sốc: Tướng Howe không liên kết với ông ở Albany như dự tính, mà thực tế là đang trên đường đến bao vây Philadelphia. Mệnh lệnh của Howe có chút nới lỏng, ông tin tưởng Burgoyne sẽ thành công mà không gặp vấn đề gì, và ông muốn giành lấy trọn vẹn vinh quang cho riêng mình trước khi viên sĩ quan trẻ hơn chiếm được tất cả. Ông đã để lại 7.000 người ở New York dưới quyền Sir Henry Clinton, nhưng lực lượng này thậm chí còn chưa bắt đầu tiến lên thượng nguồn sông..

Tệ hơn nữa, chuyến đi quá dài của Burgoyne từ Hồ Champlain đã khiến ông mất đi nguồn cung cấp rất cần thiết; một đoàn viễn chinh đột kích được gửi đến Bennington, Vermont, đã bị đẩy lui đẫm máu; và một đoàn quân Anh khác di chuyển qua Thung lũng Mohawk đã bị đánh chặn và phải rút lui về Canada. Trong hoàn cảnh này, có lẽ Burgoyne cũng nên rút về, nhưng ông đã mơ về vinh quang. Vì vậy, ông băng qua Sông Hudson đến bờ trái của nó, và tiếp tục đi về phía nam để gặp quân Mỹ cách khu định cư khoảng 9 dặm (14,5 km) về phía nam, sau này được gọi là Saratoga, và tên này sẽ được đặt cho cuộc giao tranh tiếp theo.

Ở bờ trái sông Hudson, một lực lượng Mỹ gồm khoảng 7.000 người – với nhiều tân binh đổ về hàng ngày – đã cố thủ tại một vách đá gọi là Bemis Heights, cao hơn 100 feet (30 m) ở gần mép sông. Chỉ huy của quân Mỹ là Tướng Horatio Gates, một quân nhân kém cỏi, có tư tưởng phòng thủ nhưng vẫn có hai cấp dưới tài giỏi: Tướng Benedict Arnold và Tướng Daniel Morgan. Vị trí của Gates trên Bemis Heights khá vững chắc, nhưng không củng cố được hai dãy núi cao hơn phía sau mình. Vào sáng ngày 19 tháng 9, khi “mặt trời đốt cháy sương mù và làm tan lớp sương giá nhẹ thành sương”, Burgoyne đã cử khoảng 4.000 người, chia thành ba đội hình, để cố gắng chiếm giữ vùng đất này.

Họ không bao giờ đến đó được. Mặc dù Tướng Gates muốn ở lại sau các công sự của mình và chờ đợi quân Anh, Arnold thúc giục ông đến gặp lực lượng Burgoyne ở phía trước các phòng tuyến của Lục địa, trong rừng, nơi quân Anh sẽ không thể phát huy hỏa lực dữ dội. Gates miễn cưỡng đồng ý. Khi các đoàn quân Anh tiến vào một khoảng đất trống rộng 350 yard (320 m) được gọi là Nông trại Freeman, Gates ra lệnh cho đội lính súng trường của Daniel Morgan vào vị trí trong rừng. Những xạ thủ này, với tài thiện xạ nổi bật, trang bị súng trường dài, trèo lên cây hoặc ẩn núp trong bụi rậm, giao tiếp với nhau bằng tiếng gọi gà tây. Sau đó, họ bắt đầu nổ súng hạ gục từng sĩ quan Anh mà họ gọi là “chim thụy hồng” vì phơi cái bụng trắng hếu bên dưới lớp áo khoác đỏ của họ.

Ngay sau đó, quân Mỹ tấn công. Một cuộc chiến dữ dội diễn ra trong ba giờ, mỗi bên thay phiên nhau đẩy lùi bên kia, trận chiến dao động “như sóng biển dữ dội”, theo một người quan sát đã viết. Chỉ huy cánh trái, Arnold lao về phía trước trong một cuộc tấn công điên cuồng, cố gắng phá vỡ cánh phải của quân Anh, và chỉ buộc phải rút lui dưới một cuộc tấn công dữ dội từ bên sườn của 500 lính Hess (lính đánh thuê Đức.)

Cuối cùng, quân Mỹ rút lui, để lại chiến trường cho Burgoyne, nhưng đó là một chiến thắng đắt giá cho quân Anh. Họ đã mất hơn 600 người, bị giết, bị thương hoặc bị bắt làm tù binh, so với khoảng 380 thương vong của quân Mỹ. Người chết nằm “chồng chất như những đống đá nằm trên một cánh đồng”, một người lính Mỹ đã mô tả với gia đình mình. Quân Anh đã chiến thắng, nhưng như một sĩ quan trong ban tham mưu của Burgoyne đã nói, “không có lợi thế lớn nào, ngoại trừ danh dự, đạt được vào ngày đó”.

BẢN ĐỒ VỀ ĐỊA ĐIỂM DIỄN RA TRẬN SARATOGA, CÓ HÌNH ẢNH MINH HỌA NGÔI NHÀ NÔNG TRẠI ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM TRẠM CHỈ HUY CỦA QUÂN NỔI DẬY.

Trận chiến giành Bemis Heights

Trong ba tuần tiếp theo, cả hai bên đều củng cố vị trí của mình tại Bemis Heights. Burgoyne đang chờ tin Sir Henry Clinton đang di chuyển về phía bắc để gặp ông, nhưng mặc dù Clinton đã bắt đầu di chuyển về phía bắc dọc theo sông Hudson vào ngày 5 tháng 10, ông không thể truyền đạt được tin tức cho Burgoyne, mặc dù đã cố gắng rất nhiều. Trong mọi trường hợp, ông đã dừng lại trước Albany, di chuyển quá thận trọng vì sợ bị tấn công, và cho rằng, giống như Howe, Burgoyne có thể dễ dàng đánh bại quân Lục địa.

Trong khi đó, Gates chào đón hàng ngàn tân binh vào hàng ngũ của mình, những chàng trai đổ về từ khắp New York, Vermont và Connecticut. Tuy nhiên, người Mỹ cũng gặp vấn đề của họ. Arnold, người luôn khó chịu khi gặp vấn đề về danh dự, đã nổi giận với Gates vì ​​không đề cập đến vai trò của mình trong trận chiến tại Trang trại Freeman trong các công văn gửi đến Quốc hội; thực tế, ông trở nên quá bất tuân đến nỗi Gates ra lệnh giam ông trong lều của mình và chọn một sĩ quan khác để chỉ huy cánh phải của quân Mỹ.

Vào ngày 7 tháng 10, Burgoyne, ngày càng tuyệt vọng, quyết định mạo hiểm và cử một đoàn khoảng 1.700 người đi trinh sát, dưới quyền Tướng Simon Fraser, hướng về phía sườn phải của quân Mỹ, tìm kiếm một mũi đột phá. Quân Mỹ phản ứng gần như ngay lập tức, với binh lính của Daniel Morgan bắn tỉa vào kẻ thù và giết chết Fraser.

Trong khi đó, Arnold, bị giam trong trại, giống như một con sư tử bị nhốt trong lồng, tuyệt vọng muốn lao vào chiến đấu. Một người quan sát đã viết, “Ông ta cưỡi ngựa quanh trại, thể hiện sự kích động và phẫn nộ, và người ta thấy ông uống rượu say sưa.” Cuối cùng, cãi lệnh, ông ta lao vào trận chiến.

Sự xuất hiện của Arnold đã thay đổi thế trận đang giằng co. Đầu tiên, ông giúp tập hợp lực lượng của tướng Mỹ Ebenezer Learned, dẫn đầu họ trong một cuộc tấn công đẩy quân Anh trở lại các đồn lũy của họ. Một người lính sau đó đã mô tả cách Arnold chỉ huy từ phía trước, “Ông ấy vô cùng hăng máu… không ngừng hét to ‘Tiến lên, các chàng trai! Tiến lên!’”

Sau đó, hội quân của Learned cùng với quân của Daniel Morgan, Arnold, chiến đấu trong cơn điên cuồng, dẫn đầu một cuộc tấn công khác trực tiếp vào các vị trí của quân Anh. Lúc này, ông bị thương nghiêm trọng ở chân; nhưng ông vẫn thúc giục quân của mình tiếp tục chiếm các công sự của quân Anh, và họ đã làm được như vậy.

Khi bóng tối bao trùm chiến trường, quân Mỹ đã ở vị trí thượng phong. Quân Anh đã mất 600 người, quân Mỹ mất khoảng 130 người. Burgoyne không còn cách nào khác ngoài việc rút lui, và ông đã làm như vậy, đến nơi hiện là Saratoga. Ngày hôm sau, ông đầu hàng toàn bộ lực lượng của mình cho Horatio Gates. Ông và các sĩ quan của mình được ân xá trở về Anh. Binh lính của ông bị đưa đến một trại tù.

SỰ THAM GIA MUỘN CỦA BENEDICT ARNOLD VÀO TRẬN ĐẤNH Ở BEMIS HEIGHTS ĐÃ LÀM NGHIÊNG CÁN CÂN CHIẾN THẮNG VỀ PHÍA MỸ.

Lên tận các vì sao”

Tin tức về thất bại của Burgoyne, John Adams đã viết cho một người bạn, “đã đưa chúng ta lên tận các vì sao”, đặc biệt là sau khi mất Philadelphia vào tay người Anh. Thật vậy, trận chiến Saratoga sẽ có những hậu quả sâu rộng. Không chỉ là làm tăng nhuệ khí phi thường cho lực lượng Mỹ, mà còn khuyến khích Pháp tham chiến về phe mình vào tháng 2 năm 1778, giúp ích rất nhiều cho sự nghiệp yêu nước. Tuy nhiên, một hậu quả  tiêu cực là tác động của nó đối với Benedict Arnold. Cách đối xử của Gates với ông và những nỗ lực tiếp theo của vị tướng này nhằm tước đi mọi công lao của ông đối với kỳ tích quả cảm của mình ngày hôm đó chắc chắn đã đẩy Arnold tiến xa hơn đến hành động phản quốc khiến tên tuổi ông trở nên tai tiếng trong lịch sử Hoa Kỳ.

GEORGE WASHINGTON: MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO KHÔNG THỂ THIẾU

Khi tay súng bắn tỉa người Anh Patrick Ferguson nhắm vào George Washington nhưng quyết định không bắn ông, không ngoa khi nói rằng đó là sự kiện làm thay đổi tiến trình của lịch sử Hoa Kỳ. Bởi vì Washington là người duy nhất mà nếu không có ông, lực lượng nổi dậy Hoa Kỳ không thể thành công.

CORNWALLIS ĐẦU HÀNG TẠI YORKTOWN, NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 1781.

Washington sinh ra trong một gia đình Virginia lịch thiệp vào năm 1732, và được giáo dục bài bản về toán học và kinh điển. Ông theo đuổi nghề khảo sát. Ông trở thành thiếu tá dân quân và năm 1753 được Thống đốc Virginia cử đi cảnh báo người Pháp về việc xâm phạm đất đai ở thung lũng Ohio. Sau đó, ông được phong hàm trung tá trong Trung đoàn Virginia mới thành lập, nhưng đã phải chịu thất bại thảm hại khi bị quân Pháp áp đảo trong trận chiến kéo dài cả ngày tại Fort Necessity, phía tây nam Pennsylvania. Ông đã chuộc lỗi trong Chiến tranh Pháp và Người Da đỏ, trước khi kết hôn và trở lại cuộc sống thường dân với tư cách là một người trồng trọt và chính trị gia. Chẳng bao lâu sau, ông trở thành thủ lĩnh của một nhóm dân thuộc địa phản đối sự cai trị của Anh và là đại biểu của cả Quốc hội Lục địa lần thứ nhất và lần thứ hai. Năm 1775, ông được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh quân đội Lục địa.

Cao 6 feet 2 inch (188 cm) – cao hơn, như John Adams nhỏ bé đã nói một cách đố kị, so với tất cả mọi người khác trong phòng – Washington là sự lựa chọn hoàn hảo. Ông không phải lúc nào cũng thành công trong trận chiến – thực tế, ông đã bị quân Anh đánh bại thảm hại trong hầu hết năm 1776.

Trên thực tế, một số thành viên của Quốc hội đã tìm cách thay thế ông. Nhưng mặc dù đôi khi ông cảm thấy tuyệt vọng trong riêng tư, trước công chúng, ông là một trụ cột mạnh mẽ, và ông có thể sử dụng nguồn dự trữ phong phú về tính gan lì và sức chịu đựng. Chuyến vượt sông Delaware nổi tiếng của ông để phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào lực lượng đánh thuê người Đức tại Trenton vào ngày 26 tháng 12 năm 1776 đã giúp xoay chuyển cuộc chiến, và sự điều động tài tình của ông cùng với quân Pháp tại Yorktown đã thực sự chấm dứt cuộc chiến. Hơn nữa, tính chính trực của Washington là không thể nghi ngờ. Sau khi thăng tiến nhanh chóng về mặt địa vị trong suốt cuộc chiến, ông có thể trở thành vua; nhưng mặc dù ông chỉ trích Quốc hội vì không cung cấp đủ người và vật tư, ông luôn tuân theo thẩm quyền dân sự.

Là vị tổng thống đầu tiên miễn cưỡng sau chiến tranh (“Việc tôi chuyển sang làm tổng thống sẽ đi kèm với những cảm xúc không khác gì cảm xúc của một tội nhân sắp bị hành quyết”, ông nói với một người bạn), tuy nhiên ông đã phục vụ đất nước một cách xuất sắc trong hai nhiệm kỳ và qua đời ở tuổi 67 vào năm 1799.

QUÂN ĐỘI ANH Ở BẮC MỸ: NHỮNG BÀI HỌC KHÔNG ĐƯỢC RÚT RA, VỚI CÁI GIÁ RẤT LỚN

Những bài học mà người Anh rút ra trong Chiến tranh Pháp và Người Da đỏ về việc khai thác địa hình cây  cối tự nhiên đã không được áp dụng trong Cách mạng Hoa Kỳ, nơi mà về cơ bản, quân đội Anh vẫn trung thành với đội hình cứng nhắc được sử dụng trên các chiến trường ở châu Âu: những hàng người cùng nổ súng từ khoảng cách 50 đến 75 yard (45 đến 70 m), được yếm trợ bởi pháo bình.

Tại Saratoga, Burgoyne bị xạ thủ súng trường của Morgan quấy rối và bị quân Lục địa sử dụng ngụy trang đánh bại. Ở phía nam, Đại tá Banastre Tarleton đã bị Tướng Daniel Morgan đánh bại tại Cowpens vì Morgan lợi dụng thành kiến trước đây của người Anh cho rằng lực lượng Mỹ là yếu kém không đủ sức chống lại họ: Morgan biết rằng người Anh tin chắc binh sĩ Mỹ sẽ bỏ chạy, vì vậy ông đã ra lệnh cho đội tiên phong của mình giả vờ bỏ chạy và cử một lực lượng khác nằm phục kích quân Anh đang truy đuổi – một cái bẫy đã đánh bại Tarleton một cách dễ dàng.

Lính Anh mang theo khẩu súng hỏa mai Brown Bess nổi tiếng, một loại súng hỏa mai cỡ nòng .75, được đặt tên theo lớp vecni màu nâu (brown) được phủ lên nòng súng để chống gỉ, và họ sử dụng lưỡi lê thành thạo hơn nhiều so với người Mỹ.

Khoảng 30.000 quân lính mà người Anh sử dụng chống lại người Mỹ trong chiến tranh là lính đánh thuê người Đức, chủ yếu là những người đàn ông từ vùng Hesse-Kassel và do đó được gọi là quân Hesse. Người Mỹ sợ hãi và khinh bỉ họ vì họ được cho là tàn bạo và vì họ là lính đánh thuê – người Mỹ coi việc sử dụng những chiến binh được trả lương từ phía Vua George như vậy là không công bằng. Tuy nhiên, sau chiến tranh, nhiều người Hesse đã định cư tại Hoa Kỳ.

SÚNG TRƯỜNG: VŨ KHÍ CHẾT NGƯỜI NHẤT CỦA CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG

Hầu hết các cuộc chiến trong Cách mạng Hoa Kỳ đều được thực hiện bằng súng hỏa mai, có tầm bắn ngắn và hiệu quả phụ thuộc vào số lượng phát bắn được tạo ra bởi loạt đạn liên tiếp. Nhưng một loại súng khác cũng được người Mỹ sử dụng, đặc biệt là những người dân vùng hẻo lánh từ Kentucky và Pennsylvania: cái gọi là súng trường.

Thường được chế tạo bởi thợ súng người Đức ở Pennsylvania, súng trường có nòng dài hơn 4 feet (1,2 m), thường được khảm bằng các họa tiết khắc bạc tinh xảo. Các rãnh ở bên trong nòng, được gọi là “khương tuyến” và được chạm khắc thủ công, là thứ mang lại cho khẩu súng độ chính xác đáng kinh ngạc. Trong khi một khẩu súng hỏa mai có thể chính xác ở khoảng cách lên đến 75 yard (70 m), một xạ thủ súng trường được đào tạo có thể bắn trúng mục tiêu ở khoảng cách 500 yard (460 m), và có những trường hợp được báo cáo về những lính bắn tỉa của Tướng Daniel Morgan thực hiện những phát bắn giết người từ khoảng cách 1.000 yard (900 m).

Tuy nhiên, súng trường có nhược điểm của chúng. Chúng nạp đạn chậm hơn vì những viên đạn chì phải được lắp chặt vào rãnh xoắn ở bên trong nòng súng, đôi khi có nghĩa là phải dùng búa đập chúng vào nòng súng. Và chu vi hẹp của nòng súng không thể lắp vừa vặn một vòng lưỡi lê, do đó, những người lính súng trường không thể thực hiện một đợt tấn công bằng lưỡi lê hoặc chịu được một đợt tấn công như vậy.

Nhưng với tư cách là vũ khí bắn tỉa, chúng cực kỳ hiệu quả. Trong trận chiến Saratoga, Daniel Morgan đã tập hợp những xạ thủ giỏi nhất của mình và chỉ vào vị tướng Anh Simon Fraser, người đang tập hợp quân lính

. “Các anh có thấy viên sĩ quan dũng cảm đó cưỡi trên một con ngựa chiến không?” Morgan nói. “Đó là Tướng Fraser – tôi kính trọng và tôn vinh ông ấy, nhưng ông ấy cần phải chết.” Những lính súng trường cao lớn giơ vũ khí lên và trong chốc lát Fraser ngã xuống, bị thương nặng.

George Washington tại Dorchester Heights, Massachusetts

15  CÁC CUỘC CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG CỦA PHÁP 1792-1802

CUỘC XUNG ĐỘT DÀI MỘT THẬP KỶ NÀY ĐÃ TÁI ĐỊNH HÌNH NƯỚC PHÁP SAU CUỘC CÁCH MẠNG VÀ TẠO TIỀN ĐỀ CHO CUỘC ĐẤU TRANH QUYỀN LỰC QUYẾT LIỆT Ở CHÂU ÂU VÀO THẾ KỶ XIX.

TỔNG QUAN: CÁC CUỘC CHIẾN VÌ TỰ DO ĐÃ LẬT ĐỔ TRẬT TỰ CŨ Ở PHÁP VÀ BIẾN ĐỔI TOÀN BỘ CHÂU ÂU

Năm 1789, lịch sử nước Pháp đã thay đổi mãi mãi. Gánh nặng với dân số đông nhất Tây Âu, nền kinh tế trì trệ và thuế khóa cao, đất nước chứng kiến ​​một lượng lớn người thất nghiệp di cư đến các khu vực thành thị, nơi những người cấp tiến gây ra tình trạng bất ổn vì chế độ đàn áp và không đáp ứng của Vua Louis XVI.

Được cổ vũ  bởi cuộc Cách mạng Mỹ thành công, nhân dân Pháp đã nổi dậy, thành lập một cơ quan lập pháp quốc gia. Vào tháng 9 năm 1791, Louis buộc phải phê chuẩn một hiến pháp mới cho nước Pháp; một năm sau, chế độ quân chủ bị bãi bỏ. Vào tháng 1 năm 1793, Louis XVI bị chặt đầu. (Hoàng hậu của ông, Marie Antoinette, đã nối gót theo  ông đến máy chém vào tháng 10.)

Các nước châu Âu khác, đặc biệt là Anh, Áo và Phổ, lo ngại về những diễn biến ở Pháp. Vào tháng 8 năm 1791, Hoàng đế La Mã Thần thánh Leopold II (anh trai của Marie Antoinette) và Vua Frederick William II của Phổ đã ban hành Tuyên bố Pillnitz, trong đó họ đe dọa những hậu quả không xác định nếu có bất cứ điều gì xảy ra với Louis XVI và Marie. Tuyên bố Pillnitz, về cơ bản, là một lập trường, bởi vì hầu như không ai cảm thấy Triều đại Bourbon có thể được khôi phục, nhưng trong một nước Pháp bị chia rẽ bởi tình trạng thiếu lương thực và đầy rẫy những tin đồn về kẻ thù, thì Tuyên bố đó được coi trọng.

Các chính trị gia Pháp, dưới hình thức Công ước Quốc gia, cơ quan cầm quyền mới của Pháp, cũng coi đây là cơ hội để đẩy biên giới của Pháp trở lại đường biên giới truyền thống của họ, nghĩa là tiến về phía bắc vào Hà Lan thuộc Áo (Bỉ và Luxembourg ngày nay) và về phía tây đến sông Rhine. Vào tháng 4 năm 1792, Pháp tuyên chiến với Áo và xâm lược Bỉ. Lo sợ, Anh, Áo, Tây Ban Nha, Phổ, Nga và Hà Lan đã thành lập một tổ chức gọi là Liên minh Thứ nhất. Quân đội Pháp thiếu tổ chức dễ dàng bị đẩy lùi, và một lực lượng xâm lược chủ yếu là Phổ được bộ binh Áo và những người Pháp bảo hoàng di cư hỗ trợ hiện đang tiến vào đất Pháp.

Tình hình có vẻ rất tồi tệ đối với nền Cộng hòa mới, nhưng quân Phổ đã bị chặn lại gần ngôi làng Valmy của Bỉ vào tháng 9 năm 1792 bởi một đội quân Pháp mới được truyền cảm hứng.

Sau khi quân Phổ rút lui, quân Pháp đã đạt được một loạt thành công về mặt quân sự khi quân đội Cách mạng tiến về phía nam vào Ý, về phía tây vào Đức tới tận Frankfurt và cuối cùng là về phía bắc vào Bỉ, nơi quân Pháp đã giành chiến thắng trước quân Áo trong Trận Jemappes vào tháng 11, qua đó chiếm đóng toàn bộ đất nước.

Vào tháng 1 năm 1793, vụ hành quyết Louis XVI đã gây tác động đến phần lớn châu Âu, và Liên minh đã tấn công với một năng lượng mới. Lúc đầu, phe đồng minh đã đẩy lùi quân Pháp trên mọi mặt trận, giành lại hầu như mọi thứ họ đã mất vào năm trước, nhưng với lệnh cưỡng bức tòng quân hàng loạt, quân Pháp đã có thể triển khai một đội quân lớn, có động lực vào mùa thu năm 1793. Năm 1794, lực lượng cách mạng đã giành được những chiến thắng quan trọng, đẩy quân Phổ qua sông Rhine và giành chiến thắng trong Trận Fleurus, giúp họ giành lại Hà Lan thuộc Áo.

Người Pháp tiếp tục chiếm đóng Hà Lan, vùng Rhineland và một số vùng của Ý (những chiến thắng sau này là nhờ vào tài năng của viên chỉ huy trẻ đầy sức lôi cuốn Napoleon Bonaparte). Sau khi Hà Lan bị chinh phục, Tây Ban Nha và Phổ đã cầu hòa vào năm 1795. Giai đoạn Liên minh Thứ nhất của Chiến tranh Cách mạng Pháp sau đó kết thúc vào năm 1797 khi Áo ký Hiệp ước Campo Formio vào tháng 10, công nhận những lợi ích về lãnh thổ của Pháp.

Tuy nhiên, Vương quốc Anh, một mình trong số các cường quốc Liên minh, vẫn ở lại trong cuộc chiến, trông cậy đặc biệt vào lực lượng hải quân hùng mạnh của mình, khiến Pháp bị phong tỏa. Một phần để đe dọa lợi ích của Anh ở Ấn Độ, Napoleon đã tấn công Ai Cập, tiêu diệt lực lượng Mamluk tại Trận chiến Kim tự tháp vào tháng 7 năm 1798. Tuy nhiên, vào tháng sau, đô đốc kiệt xuất Anh Horatio Nelson đã phá hủy hạm đội Pháp tại Aboukir trong Trận chiến sông Nile, qua đó chấm dứt hy vọng chinh phục đất nước Ai Cập của Napoleon.

Được truyền cảm hứng từ chiến thắng này, và khi các lực lượng Pháp khác tiến xa hơn về phía nam vào Ý, chiếm được các Lãnh thổ Giáo hoàng, Liên minh Thứ hai của các cường quốc đồng minh đã được thành lập, bao gồm Nga, Anh, Áo, Bồ Đào Nha, Anh và Đế chế Ottoman. Các lực lượng Nga và Áo đã giành được những chiến thắng quan trọng ở miền bắc nước Ý vào đầu năm 1799, nhưng sự bất đồng giữa người Áo và người Nga, và tình trạng bất ổn ngày càng gia tăng ở Ba Lan đã buộc Nga phải rút khỏi cuộc chiến.

Người Pháp dưới thời Napoleon (người đã trở thành Tổng tài đầu tiên của Pháp trong một cuộc đảo chính) đã đánh bại người Áo tại Trận Marengo vào tháng 6 năm 1800 và tái chiếm miền bắc nước Ý. Người Áo đã ký một hiệp ước hòa bình riêng với Pháp vào tháng 2 năm 1801, trong Hiệp ước Lunéville.

Một lực lượng kết hợp giữa Anh và Ottoman cuối cùng đã đánh bại Quân đoàn Phương Đông của Pháp tại Ai Cập vào tháng 9 năm đó. Nhưng, mệt mỏi vì chiến tranh và chiến đấu gần như đơn độc, người Anh cuối cùng đã ký Hiệp ước Amiens vào tháng 3 năm 1802, qua đó chấm dứt Chiến tranh Cách mạng Pháp. Tuy nhiên, hòa bình sẽ không kéo dài lâu, vì Hoàng đế Napoleon Bonaparte mới lên ngôi sẽ sớm đưa ý chí và quân đội của mình chống lại toàn bộ châu Âu.

MỘT ĐOÀN BINH SĨ CÔNG DÂN RÁCH RƯỚI ĐÃ NGĂN CHẬN ĐỘI QUÂN MẠNH NHẤT CHÂU ÂU, GIẢI CỨU CUỘC CÁCH MẠNG

Trận chiến Valmy: Ngày 20 tháng 9 năm 1792

Sương mù bao phủ mặt đất, không phải sương mù nhẹ của mùa xuân và mùa hè, mà là sương mù dày, thấp của mùa thu, một loại sương mù bám vào bụi cây và cây cối như lông cừu. Vào ban đêm, sương mù đã trôi qua đồng bằng cao do quân Pháp chiếm đóng, tụ lại ở các khe núi và những nơi trũng, khiến tầm nhìn trở nên bất khả thi. Hầu như không ai trong đội quân Cách mạng rách rưới gồm khoảng 36.000 người này có thể ngủ được; vì không được phép đốt lửa trại, binh lính co cụm lại với nhau để giữ ấm và tăng sức mạnh.

Trong khoảng cách tối tăm, họ có thể nghe thấy tiếng quân đội Phổ đang tập hợp, tiếng vó ngựa của kỵ binh cừ khôi, tiếng bước chân như sấm sét của bộ binh hùng mạnh và tiếng xe tiếp tế kẽo kẹt. Có 30.000 quân Phổ ở Rừng Argonne, nơi hiện là Bỉ ngày nay, cùng với một đội khinh binh của Áo và một trung đoàn lính Pháp vẫn trung thành với Vua Louis XVI và tìm cách khôi phục ngai vàng cho ông.

Những người lính Cách mạng Pháp trên sườn núi gần ngôi làng nhỏ Valmy biết rằng con đường đến Paris, cách đó một trăm dặm, đang mở ra cho lực lượng Liên minh đáng gờm này –  thực ra, quân Phổ đang nằm giữa họ và nhà cửa của họ. Vào buổi sáng, quân Phổ có ý định nghiền nát mối đe dọa này ở phía sau họ, giống như cách họ đã nghiền nát quân đội Pháp trong suốt mùa hè định mệnh năm 1792.

Sau đó, họ sẽ tiến về Paris và giải quyết dứt điểm cuộc Cách mạng.

Năm tháng trước, vào ngày 20 tháng 4, sau nhiều cuộc tranh luận, Quốc hội Pháp đã tuyên chiến với Áo và ngay sau đó là Phổ. Một phần là để đáp lại Tuyên bố Pillnitz, đe dọa sự ổn định của Cộng hòa Pháp còn non trẻ, và một phần là vì nhiều nhà tư tưởng cấp tiến Pháp nghĩ rằng bây giờ là lúc truyền bá lý tưởng Cách mạng và cũng để giành lại các phần lãnh thổ đã mất trong các cuộc chiến tranh trước đây, đặc biệt là Hà Lan thuộc Áo (nay là Bỉ).

“Cuộc chiến này sẽ là cuộc chiến cuối cùng”, Bộ trưởng Ngoại giao Charles François Dumouriez tuyên bố, có nghĩa là sau cuộc xung đột này, châu Âu sẽ hiểu được sức mạnh của lối sống mới của nước Pháp Cách mạng. Tháng sau, Dumouriez, được bổ nhiệm làm tướng chỉ huy Quân đội Cách mạng Pháp, đã cử quân xâm lược Bỉ.

Dumouriez và các chính trị gia Pháp khác sớm nhận ra rằng họ chẳng có lý do gì để lạc quan. Quân đội Pháp đã mất hơn một nửa số sĩ quan vì đào ngũ sang Áo và Phổ. Lệnh cưỡng bách nhập ngũ của năm sau vẫn chưa được triển khai, vì vậy Dumouriez và các tướng lĩnh của ông phải tạm bằng lòng với một đám đông tình nguyện trong một đội quân cũng đầy rẫy gián điệp cho kẻ thù chính trị của Dumouriez ở Paris. Ít nhất thì đó cũng là một đội quân ô hợp, được huấn luyện kém và đầy rẫy sư bất đồng. .

Đối đầu với các chiến binh được huấn luyện bài bản của Áo và Phổ, những người có kỹ năng được tôi luyện trong Chiến tranh Bảy năm, kết quả có thể dự đoán được. Đoàn quân đầu tiên của Pháp, gồm khoảng 1.000 binh lính, đã vượt biên giới vào Bỉ vào tháng 6, chạm trán với một lực lượng Áo nhỏ hơn nhiều tại thành phố Tournai, và ngay lập tức bỏ chạy trong hoảng loạn, kêu lên “Chúng ta đã bị phản bội!” Họ không dừng chạy cho đến khi trở lại Lille, nơi họ đã giết chết vị tướng của mình, người mà trong cơn hoảng loạn, họ nghĩ rằng đã nộp mạng họ cho quân Áo.

Những cảnh tượng tương tự đã diễn ra ở những nơi khác dọc theo biên giới phía bắc của Pháp vào mùa hè năm đó – 10.000 quân kỵ binh đã vội vã rút lui sau khi trao đổi một loạt đạn với lực lượng Áo yếu hơn nhiều ở Bỉ, trong khi một sư đoàn Pháp khác đã bỏ chạy khi có tin đồn lan truyền trong hàng ngũ rằng thuốc súng của họ bị lỗi. Ở Paris, các chính trị gia đổ lỗi cho các vị tướng trên chiến trường, những người theo chủ nghĩa bảo hoàng cũ như Hầu tước de Lafayette nổi tiếng. Trên thực tế, Quốc hội tuyên bố ông là kẻ phản quốc, và ông buộc phải chạy trốn để bảo toàn mạng sống đến Liège, nơi ông bị quân Áo bắt làm tù binh.

Quan sát tất cả những điều này từ dọc theo sông Rhine, Tướng Karl Wilhelm Ferdinand, Công tước xứ Brunswick và là chỉ huy của Quân đội Phổ, thấy rằng một cơ hội tuyệt vời đã mở ra cho sự tan rã nhanh chóng của lực lượng Pháp. Với đội quân được huấn luyện bài bản của mình, ông có thể tấn công thẳng vào trung tâm nước Pháp, hướng về phía đông nam. Không có gì cản đường ông ngoài ba pháo đài được củng cố kém ở Sedan, Longwy và Verdun, cùng hai đội quân nhỏ. Một trong số này do François Kellerman, một vị tướng tạm được chỉ huy; đội quân còn lại không có người chỉ huy kể từ khi Lafayette chạy trốn.

Dạo chơi đến Paris

Việc thu hoạch có vẻ dễ dàng đối với quân đội Phổ đến nỗi các sĩ quan của họ vui vẻ nói về một “cuộc dạo chơi đến Paris”, một chiến thắng như chẻ tre đối với một đám quân ô hợp nhát gan gọi là Quân đội Cách mạng Pháp. Cuộc xâm lược của Phổ, được phát động vào cuối tháng 7, được coi là một chuyến du ngoạn đến nỗi nhiều người tò mò đã tháp tùng cùng với quân đội, bao gồm cả nhà thơ trẻ người Đức Johann Wolfgang von Goethe, người đã rất ấn tượng trước tính kỷ luật của quân chính quy Phổ, mặc dù ông thú nhận rằng mình rất thất vọng trước một số quý tộc Pháp đã tham gia chiến đấu chống lại những người đồng hương cũ của họ và tỏ ra không thể chịu đựng được.

Lúc đầu, quân Phổ chỉ đơn giản là đánh bại quân Pháp, giống như cách xe tăng Đức phá tan hệ thống phòng thủ của Pháp vào năm 1940. Pháo đài Longwy bị thất thủ vào ngày 21 tháng 8; Verdun thất thủ vào ngày 2 tháng 9.

“Tiến lên một cách oai nghiêm, với sự cân nhắc ung dung”, như sử gia Edward Creasy đã viết, đoàn quân Phổ hùng mạnh đã tự đặt mình vào giữa hai đội quân Pháp và đang chuẩn bị tiêu diệt từng đội quân một trước khi tấn công Paris, khi Tướng Dumouriez đến từ Paris để nắm quyền kiểm soát các lực lượng không có ai chỉ huy. Thấy rằng, như sau này ông đã viết, “Nước Pháp chỉ còn cách sự hủy diệt trong gang tấc”, ông đã ra sức tập hợp những người tản mác và mất tinh thần của đội quân trước đây của Lafayette và tạo ra một thế trận sáng chói ở Rừng Argonne, một vùng rừng rậm rạp của Bỉ và những ngọn đồi đá cũng là bối cảnh của rất nhiều cuộc giao tranh trong Thế chiến thứ hai. Buộc các đoàn quân của Công tước xứ Brunswick tiến xa hơn về phía nam, ông đã đẩy họ trực tiếp vào lực lượng của François Kellerman, đang đóng quân trên cao nguyên gần Valmy, và chờ đợi trong sương mù.

Nước Pháp Muôn Năm!

Quân đội Cách mạng Pháp, vào giai đoạn này của cuộc chiến, vẫn chưa phải là những chiến binh công dân như nó sẽ trở thành, nhưng gần như là những công dân theo nghĩa đen. Có những đầu bếp, nghệ sĩ, thợ đóng giày, thợ thuộc da, nông dân, nhà văn, chính trị gia, những người đàn ông từ mọi tầng lớp xã hội. Và không chỉ có đàn ông. Cách mạng đã trở nên nổi tiếng với những nữ chiến binh, lừng lẫy nhất là Reine Chapuy, Rose Bouillon, Catherine Pocheta và những chị em nhà Fernig trẻ tuổi. Những đàn ông và phụ nữ này không có quân phục, và vũ khí của họ bao gồm. từ súng hỏa mai tiêu chuẩn của Pháp đến súng bắn chim, giáo, mác và kiếm.

Nhưng họ có một số lợi thế mà quân Phổ tiến công ít biết đến. Đầu tiên, những cấp dưới của họ, tức là tầng lớp hạ sĩ quan của quân đội, đã không chạy trốn cùng với các sĩ quan bảo hoàng và ở lại làm xương sống cho đám binh lính thô sơ này. Đúng là quân đội đã hoạt động kém trong suốt mùa hè, nhưng tại Valmy vào sáng hôm đó, những hạ sĩ quan đã lặng lẽ di chuyển giữa các đội ngũ, ổn định binh lính khi sương mù tan dần và quân phục trắng của quân Phổ xuất hiện.

Một lợi thế khác của Pháp là lực lượng pháo binh, gồm 40 khẩu pháo. Quân Phổ có nhiều pháo hơn quân đội Cách mạng khoảng 14 khẩu, nhưng pháo của Pháp là loại de Gribeauval đạn 12 cân với tầm ngắm chính xác và khả năng nâng và bắn nhanh.

Và lợi thế cuối cùng và quyết định của Pháp trong ngày đó được dẫn dắt bởi Tướng François Kellerman, đã 57 tuổi, người đã chiến đấu trong Chiến tranh Bảy năm. Là đối tượng bị một số chính trị gia cấp tiến của Pháp nghi ngờ vì mối quan hệ lâu dài của ông với quân đội hoàng gia, cho đến nay ông đã thoát khỏi các cuộc thanh trừng đã giáng xuống các sĩ quan nổi tiếng hơn, chủ yếu là vì địa vị khiêm tốn của mình.

Ông không được coi là một vị tướng tài giỏi, chỉ là một người biết tuân theo mệnh lệnh. Tuy nhiên, sáng hôm đó, ông đã được truyền cảm hứng. Khi nhìn thấy kỵ binh Phổ di chuyển ra khỏi đội hình bộ binh chính định  bao vây các phòng tuyến của ông, nhìn thấy sự bồn chồn trong hàng ngũ binh sĩ mình, vốn rất sợ bọn kỵ binh, ông phí ngựa qua các tuyến quân Pháp và hét lên “Nước Pháp Muôn Năm!” Nước Pháp Muôn Năm!” liên tục. Dần dần, binh lính Pháp bắt đầu hô theo, để tiếng hét có thể được  người Phổ đang tiến đến nghe thấy.

Nhưng tất nhiên, những tiếng kêu yêu nước chẳng có ý nghĩa gì với Công tước xứ Brunswick, ông ta chỉ đơn giản là đưa pháo binh của mình đến gần vị trí phòng thủ của Pháp trong vòng 1.200 m và khai hỏa với tiếng gầm rú chói tai.

Một Loại Màu Đỏ Máu

Brunswick và các sĩ quan Liên minh khác dự kiến ​​quân Pháp sẽ bỏ chạy khi nghe thấy tiếng súng đầu tiên, rồi bị kỵ binh đuổi theo và tàn sát. Xét cho cùng, những người lính này đã không đứng vững kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Nhưng điều bất ngờ đã xảy ra: Với tiếng gầm đáp trả, pháo binh Pháp khai hỏa, và Trận Valmy bắt đầu.

Trận chiến Valmy, ngày 20 tháng 9 năm 1792, (sơn dầu bởi Mauzaisse, Jean Baptiste (1784-1864)

Binh lính Pháp liên tục bắn từng phát một, đổ mồ hôi ngay cả trong ngày mát mẻ, và reo hò khi họ bắn trúng mục tiêu giữa đám quân Phổ. Và những viên pháo đại bác của Phổ đã phát huy tác dụng giữa quân Pháp, tuy vậy do mặt đất ướt – khiến viên đạn tròn dính chặt vào bùn, thay vì nảy lên một cách chết người vút qua hàng ngũ địch, nên thương vong ở cả hai phe ít hơn so với dự kiến.

Valmy được coi là một trong những trận chiến lớn kỳ lạ nhất trong lịch sử thế giới. Về cơ bản, đây là một trận chiến đấu pháo, kéo dài trong nhiều giờ. Bản thân Goethe, cưỡi ngựa qua trận pháo kích với sự tò mò ngớ ngẩn của một chàng trai trẻ, đã so sánh âm thanh của hàng nghìn phát súng bắn ra với “tiếng vo ve của những con quay, tiếng nước chảy róc rách và tiếng chim hót”. Khi tiếng pháo tiếp tục, Goethe tuyên bố rằng mình bắt đầu nhìn thế giới xung quanh như thể qua “một loại màu đỏ máu”, một quan sát có vẻ kỳ lạ, nhưng những người lính khác bị kẹt trong hỏa lực pháo binh dữ dội đã lặp lại điều đó. Cuối cùng, vào đầu buổi chiều, Brunswick quyết định tấn công, nhưng binh lính của ông ngay lập tức gặp phải một trận địa chết người dưới hỏa lực chính xác của pháo binh và phải rút lui. Vào thời điểm này, nghĩ rằng hỏa lực của quân Phổ đang yếu dần, Kellerman đích thân chỉ huy một cuộc xung phong chống lại kẻ thù. Khi chạy qua làn khói của trận địa ra phần đất trống trải của cao nguyên, đội quân mà ông chỉ huy đã bị một khẩu đội pháo Phổ ẩn núp tàn phá; Ngựa của Kellerman bị bắn ra văng khỏi người ông, và ông phải được người của mình khiêng trở lại phòng tuyến của quân Pháp. Khi điều này xảy ra, quân Phổ tập trung tấn công, nghĩ rằng quân Pháp cuối cùng sẽ tan rã, nhưng Kellerman, lúc này đang đi bộ, đã kêu gọi binh lính mình rằng đây là cơ hội mà họ đã chờ đợi để cho kẻ thù đến gần và sau đó đâm lưỡi lê vào chúng.

Tiếng reo hò “Nước Pháp Muôn Năm” lại vang lên khắp khu rừng, khiến quân Phổ đang tiến lên bỗng do dự. Họ sẽ phải tấn công lên đồi, chống lại một đội quân Pháp dường như lần đầu tiên không biết sợ hãi và tràn đầy sinh lực. Công tước Brunswick dừng lại – một trong những lần dừng lại quan trọng nhất trong lịch sử và quyết định rằng việc hy sinh đội quân tinh nhuệ của mình là không đáng.

Một Kỷ nguyên mới

Số thương vong ngày hôm đó – 300 lính Pháp, có lẽ 200 lính Phổ và Áo – không đáng kể trong toàn bộ kế hoạch, nhưng chiến thắng tại Valmy không thể quan trọng hơn. Đêm đó, quân Pháp mệt mỏi, nhiều người trong số họ thậm chí còn chưa bắn một phát súng hoặc nhìn thấy một người Phổ nào ở gần, nhận ra rằng quân Phổ không còn tấn công nữa. Thật vậy, sau mười ngày chờ đợi, Công tước xứ Brunswick đã đưa quân đội của mình trở lại qua sông Rhine, quyết định sẽ chiến đấu vào một ngày khác.

Sẽ còn nhiều ngày khác và nhiều trận chiến khác trong   20 năm tiếp theo của cuộc chiến giữa Pháp và phần còn lại của châu Âu, nhưng quân đội Pháp đã chứng minh rằng họ có thể bảo vệ nền tự do mới của đất nước. Một ngày sau trận chiến, Quốc hội Pháp tuyên bố Pháp là một nước Cộng hòa; bốn tháng sau, Vua Louis XVI bị hành quyết.

Có thể vẽ một đường thẳng từ Trận Valmy cho đến tận Trận Waterloo vì nếu không có chiến thắng ở Valmy thì sẽ không có xung đột Cách mạng Pháp, không có Chiến tranh Napoleon. Tầm quan trọng của một số sự kiện trong lịch sử phải mất một thời gian mới nhận ra, nhưng không phải trường hợp của Valmy. Những người tham gia biết ngay rằng có điều gì đó quan trọng đã xảy ra. Đêm diễn ra trận chiến, người Pháp reo hò và nhảy múa quanh đống lửa trại của họ, trong khi doanh trại Phổ thì u ám. Goethe, thấy mình đang ngồi quanh đống lửa trại cùng với các sĩ quan Phổ, hầu hết đều im lặng buồn bã nhìn ngọn lửa nổ lách tách, liền  nói với họ: “Từ nơi này và từ ngày này trở đi, một kỷ nguyên mới trong lịch sử thế giới bắt đầu, và tất cả các bạn có thể nói rằng mình đã có mặt khi nó ra đời.”

Ông ấy đã đúng, nhưng người ta không nghĩ rằng người Phổ cảm thấy thoải mái với điều này.

NAPOLEON TRẺ: MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG XUẤT HIỆN ĐỂ CỨU NƯỚC PHÁP

Mặc dù sau này ông là người đánh dấu sự kết thúc của Cách mạng Pháp khi lên ngôi hoàng đế vào năm 1804, Napoleon Bonaparte đã hiện thân cho tinh thần bình đẳng trong những ngày đầu của nền Cộng hòa. Sinh năm 1769 trong một gia đình nghèo ở Corse, ông thậm chí còn không nói được tiếng Pháp cho đến khi lên chín tuổi và đã đến Trường Quân sự Hoàng gia gần Troyes để được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh. Thấp bé, nhiệt huyết, dễ lên cơn nóng nảy gần như động kinh khi không đạt được điều mình muốn, Napoleon, như một trong những giáo viên của ông đã viết: “thất thường, kiêu ngạo và vô cùng ích kỷ… [nhưng] kiêu hãnh, tham vọng và khao khát mọi thứ”.

Bonaparte là người có tài năng xuất chúng, nhưng chính cuộc Cách mạng đã tạo nên ông, bởi vì người Corse lập dị này sẽ không bao giờ thăng tiến trong hàng ngũ quân đội hoàng gia Pháp. Nhưng với hàng ngàn sĩ quan đào ngũ, ông đã tìm thấy cơ hội của mình. Được biết đến là người ủng hộ nhiệt thành cho sự nghiệp của Đảng Cộng hòa, ông được giao làm đại úy pháo binh trong cuộc bao vây thành phố cảng phía nam Toulon vào tháng 9 năm 1793. Lực lượng bảo hoàng, được người Tây Ban Nha hỗ trợ, đã chiếm giữ thành phố trong khi hải quân Anh tuần tra ngoài khơi một cách đe dọa. Napoleon, lúc đó 24 tuổi, đã nắm bắt thời cơ, tìm ra vị trí hoàn hảo để án ngữ pháo binh, buộc các tàu Anh phải rút lui. Sau đó, ông bị thương do lưỡi lê đâm vào đùi khi chỉ huy cuộc tấn công giải phóng thành phố. Trong vòng tám tuần, ông được thăng lên hàm chuẩn tướng, và sự thăng tiến ngoạn mục của ông bắt đầu.

NAPOLEON VƯỢT QUA DÃY ALPS TRONG BỨC TRANH NỔI TIẾNG CỦA JACQUES LOUIS DAVID, NGAY SAU KHI ĐƯỢC GIAO QUYỀN CHỈ HUY QUÂN ĐỘI PHÁP Ở Ý, NAPOLEON ĐÃ SÁNG TẠO CÁC ĐÒN ĐÁNH SẤM SÉT LÀM RẠNG DANH ÔNG.

Năm 1794, Bonaparte phục vụ tại Ý với tư cách là tham mưu trưởng của quân đội Pháp tại đó, mất chức vụ này sau khi Maximilien de Robespierre và Ủy ban An toàn Công cộng của ông bị thanh trừng, nhưng đã trở lại chính trường nhờ mối quan hệ với những người thành lập Hội đồng Đốc chính Thứ nhất. Luôn có biệt tài ở đúng nơi vào đúng thời điểm, Napoleon thấy mình, vào tháng 10 năm 1795, phụ trách một khẩu đội pháo binh đối mặt với một đám đông phản cách mạng và bảo hoàng trên đường phố Paris. Ông ra lệnh bắn thẳng vào đám đông, giết chết 1.400 người.

Chính nhà văn người Anh Thomas Carlyle, chứ không phải Bonaparte, đã đặt vào miệng Napoleon câu tuyên bố lạnh lùng nổi tiếng là đã cho đám đông “một luồng đạn chùm”. Những gì Napoleon thực sự viết cho anh em của mình cũng tỉnh bơ như vậy: “Kẻ thù đã tấn công chúng tôi ở Tuilleries. Chúng tôi đã giết rất nhiều kẻ thù. Như thường lệ, tôi không bị một vết xước nào. Tôi không thể hạnh phúc hơn”.

Không lâu sau đó, Napoleon được trao quyền chỉ huy quân đội Pháp tại Ý. Chính tại đây, ông đã thiết kế những đòn đánh sấm sét làm nên danh tiếng của mình. Napoleon tin rằng một đội quân luôn phải tấn công và mục tiêu duy nhất của họ là tiêu diệt hoàn toàn kẻ thù. Trong vòng ba tuần, ông đã quét sạch quân đội Piedmontese, chiếm Milan và Naples, và chuyển sự chú ý của mình sang Áo. Ông đã giành chiến thắng trong trận Rivoli vào ngày 14 tháng 1 năm 1797; trận Tagliamento vào ngày 16 tháng 3; và trận Arcola vào ngày 15-17 tháng 11. Đây không phải là những chiến thắng dễ dàng trên địa hình đồi núi, chống lại kẻ thù được trang bị và huấn luyện tốt hơn – nhưng Napoleon đã chiến thắng. Bản thân Napoleon đã chỉ huy từ phía trước tại Arcola, ông đã nổi tiếng với việc cầm cờ và lao ra phía trước hàng lính của mình qua một cây cầu, cứu vãn ngày hôm đó cho quân Pháp. Gần như một mình buộc người Áo phải ký Hiệp ước Campo Formio, Napoleon đã trở về Paris trong cuộc khải hoàn. Khi ông rời khỏi nước Pháp một lần nữa với tư cách là người đứng đầu Quân đoàn Phương Đông vào năm 1798 – chuẩn bị xâm lược Ai Cập, những dấu hiệu của sự vĩ đại luôn ẩn chứa bên trong chàng trai trẻ người Corse đã xuất hiện. Một người quan sát đã lưu ý rằng “tất cả đều cúi đầu trước vinh quang của những chiến thắng và sự kiêu ngạo trong thái độ của ông. Ông không còn là vị tướng của một nền Cộng hòa chiến thắng nữa, mà là một kẻ chinh phục vì chính bản thân mình….”

BINH SĨ-CÔNG DÂN PHÁP: MỘT CHIẾN BINH TÌNH NGUYỆN GAN LÌ VÀ CÓ ĐỘNG LỰC

“Từ thời điểm này cho đến khi mọi kẻ thù bị đánh đuổi khỏi đất nước Cộng hòa, tất cả người Pháp đều phải phục vụ lâu dài cho quân đội. Những thanh niên sẽ chiến đấu, những người đàn ông có gia đình sẽ rèn vũ khí và vận chuyển lương thực; những phụ nữ sẽ dựng lều và may quần áo và phục vụ trong bệnh viện; trẻ em sẽ biến vải lanh thành xơ vải; những người già sẽ ra quảng trường để khơi dậy lòng dũng cảm của các chiến binh…” Tuyên bố đầy nhiệt huyết này, được Ủy ban An toàn Công cộng ban hành vào ngày 23 tháng 8 năm 1793, đã tạo nên một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất của Chiến tranh Cách mạng Pháp. Lần đầu tiên, như nhà triết học quân sự Clausewitz sau này đã nói, đã có “sự tham gia của nhân dân vào công việc lớn lao của nhà nước này”.

Vào đầu cuộc Chiến tranh Cách mạng, hơn một nửa số sĩ quan quân đội trung thành với nhà vua đã đào ngũ sang phe địch, và sự đáng tin cậy của những người ở lại là điều đáng ngờ. Bản thân quân đội thì thiếu kỷ luật và thiếu tiếp tế. Nhưng, tuyên bố rằng “tổ quốc đang lâm nguy”, Ủy ban đã bắt tất cả nam giới từ 18 đến 25 tuổi phải nhập ngũ trong cái gọi là cưỡng bách động viên; cũng như trưng thu mọi nguồn lực vật chất.

Từ khắp mọi miền nước Pháp không chỉ tràn về đàn ông và phụ nữ tình nguyện mà còn có cả vũ khí, quần áo, thực phẩm, đạn dược và gia súc. Một năm sau, quân đội Pháp đã tăng lên khoảng 750.000 người, binh lính được trang bị vũ khí và được huấn luyện khá tốt. Mặc dù không thể nói rằng chế độ nghĩa vụ quân sự như vậy được ưa chuộng trên toàn thế giới, nhưng người Pháp đã đạt được rất nhiều thành công với chế độ nghĩa vụ quân sự của họ vì một số lý do. Người bị bắt đi lính điển hình có thể được ví như một chiến binh tình nguyện có động lực của Cách mạng Hoa Kỳ vào thời điểm đó, thường tự cung cấp vũ khí và động vật của mình, để lại phía sau gia đình hỗ trợ mình và mang theo bạn bè từ xóm giềng hoặc làng mạc lân cận. Quy mô của chế độ nghĩa vụ quân sự đã áp đảo quân đội của Liên minh Thứ Nhất, những người trước đó đã ở bên bờ vực chiến thắng.

Những tân binh non nớt này được huấn luyện dưới sự bảo trợ của Lazare Carnot, người từng là đại úy kỹ sư, nhưng giờ đã trở thành một người quản lý nguồn nhân lực cho Pháp, đưa khối lượng lớn tân binh này vào khuôn khổ, sử dụng một lực lượng nhỏ gồm các hạ sĩ quan trẻ và hiếu chiến, và các sĩ quan đi lên từ hàng ngũ cấp thấp. Đó là thời kỳ huy hoàng cho bất kỳ chiến binh Pháp nào có trí tuệ, động lực và lòng dũng cảm, những người sẵn sàng, như Carnot thúc giục, “giao chiến trên quy mô lớn và truy đuổi kẻ thù cho đến khi chúng bị tiêu diệt”. Một người mới nổi như vậy từ hàng ngũ, một đại úy tên là Napoleon, đã tạo hình cho lực lượng tổng động viên này thành lực lượng chiến đấu đáng gờm nhất thời đại.

TUYÊN BỐ RẰNG “TỔ QUỐC LÂM NGUY”, ỦY BAN AN TOÀN CÔNG CỘNG ĐÃ CƯỠNG BÁCH ĐỘNG VIÊN TẤT CẢ NAM GIỚI TỪ 18 ĐẾN 25 TUỔI . MỘT NĂM SAU, QUÂN ĐỘI PHÁP ĐÃ TĂNG LÊN KHOẢNG 750.000.

CHỊ EM FERNIG – “RẤT CÓ KHẢ NĂNG GIẾT NGƯỜI”

Cách mạng Pháp phá hủy chế độ quân chủ đã cai trị nước Pháp trong nhiều thế kỷ, và đã nới lỏng quan niệm của mọi người về vai trò của phụ nữ trong chiến tranh. Cũng giống như nhiều phụ nữ đã tham gia vào bạo lực của Cách mạng và hậu quả của nó (Maximilien de Robespierre có một đội cận vệ toàn là phụ nữ, một phần để bảo vệ ông khỏi một người phụ nữ khác, theo chủ nghĩa bảo hoàng, đang tìm cách ám sát ông), có những chiến binh nữ dũng cảm trong quân đội Pháp.

Đứng đầu trong số này là hai chị em nhà Fernig là Félicité, 22 tuổi, và Théophile, 17 tuổi. Sinh ra ở Flanders, họ lớn lên trong cuộc sống ngoài thiên nhiên với người cha thợ săn và trở thành những tay bắn tỉa và cung thủ xuất sắc. Khi Chiến tranh Cách mạng nổ ra, họ đã chiến đấu với dân quân địa phương chống lại người Áo, bôi đen khuôn mặt, mặc quần áo nam giới và sử dụng vốn am hiểu địa hình vùng nông thôn để dàn dựng các cuộc phục kích ban đêm. Những chiến công của họ được biết đến và họ đã được giới thiệu với Tướng Charles François Dumouriez, ông  rất ấn tượng với hai chị em nhà Fernig đến nỗi đã tặng họ ngựa và quân phục. Hai chị em đã chiến đấu tại Valmy và Jemappes; trong trận chiến sau, Félicité đã giết chết hai người Áo đang định đâm chết một sĩ quan trẻ người Bỉ bằng lưỡi lê. Cả hai người phụ nữ, như một hội đồng của Pháp sau này đánh giá, đã viết, “rất có khả năng giết chết kẻ thù”.

Khi Dumouriez chống lại chính quyền cấp tiến của Pháp và đào tẩu vào năm 1794, những chị em trung thành nhà Fernig đã đi theo ông. Mặc dù hiện nay có một tượng đài tưởng niệm họ tại địa điểm diễn ra trận chiến Jemappes, chính quyền cách mạng Pháp lúc bấy giờ không bao giờ tha thứ cho họ, và họ vẫn là những kẻ bị ruồng bỏ trong suốt quãng đời còn lại.

NHỮNG NỮ ANH HÙNG FELICITÉ VÀ THEOPHILE FERNIG, MÔ TẢ TRÊN ĐÂY, CHỈ LÀ MỘT CẶP TRONG SỐ NHIỀU PHỤ NỮ SÁT CÁNH CÙNG QUÂN ĐỘI PHÁP CHỐNG LẠI ÁO.

 

 

 

Bình luận về bài viết này