
Hồ Bạch Thảo
Tháng giêng năm Tân Vị Cảnh Hưng thứ 12 [26/2-26/3/1751], (Thanh, năm Càn Long thứ 16); Phạm Đình Trọng bắt được Nguyễn Hữu Cầu ở Nghệ An. Hữu Cầu lúc còn nhỏ là hạng trộm cắp, sau theo Nguyễn Cừ, tướng giặc vùng Ninh Xá, Cừ gã con gái cho. Khi Cừ bị bại, Hữu Cầu lại hô hào tụ họp đồ đảng cướp bóc. Hữu Cầu là người mạnh khỏe, nhanh nhẹn, chiến đấu hăng, trí mưu quỷ quyệt trăm đường, nhiều lần bị vây mấy vòng, chỉ một mình một ngựa vượt vây xông ra, rồi vài hôm sau lại có quân chúng hàng vạn. Khi ra trận, một mình cưỡi ngựa, cầm siêu đao, đi lại như bay, quân sĩ không ai là không sợ hãi chạy giạt, đến các tướng cũng phải tránh uy phong của y; chỉ một mình Đình Trọng quyết chí giết cho bằng được, nên triều đình vững lòng dựa vào Đình Trọng. Đình Trọng cầm quân có kỷ luật, hễ trận nào Hữu Cầu gặp Đình Trọng liền bị thua. Các tướng lúc bấy giờ, Hữu Cầu chỉ sợ có Đình Trọng mà thôi.
Từ khi bị thua trận Bồ Đề [Bắc Ninh], Hữu Cầu hợp lực với Hoàng Công Chất, đánh phá cướp bóc các huyện Thần Khê [huyện Hưng Hà, Thái Bình], Thanh Quan [huyện Thái Thụy, Thái Bình]. Đình Trọng cùng Ngũ Phúc đốc suất binh sĩ đi đánh, sang đò Hoàng Giang qua huyện Nam Xang [huyện Lý Nhân, Hà Nam], đến huyện Bình Lục [Hà Nam], đánh nhau với Hữu Cầu ở các sông Mã Não [huyện Bình Lục] và Hương Nhi [huyện Bình Lục], quân Cầu bị thua. Lại đuổi đến xã Quang Dực và Lộng Khê [huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình], đánh luôn mấy trận đều phá tan được. Công Chất chạy vào Thanh Hóa, Hữu Cầu cũng trốn vào Nghệ An nương nhờ Nguyễn Diên. Diên giúp cho binh lính, lương thực, Hữu Cầu nương thân ở Nguyên Lãm. Ít lâu sau, Đình Trọng đem đại binh đuổi theo đến nơi, quân của Hữu Cầu bèn tan vỡ. Hữu Cầu bị khốn quẫn bức bách, liền vượt ra biển. Vì gặp gió bão thình lình nổi lên, Hữu Cầu bèn cùng mấy chục thủ hạ lên bộ, tranh cướp lấy đường mà chạy, ẩn trốn trong núi Hoàng Mai [huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An], bị Phạm Đình Sĩ, thuộc tướng của Đình Trọng, bắt được, liền đóng cũi đưa về quân thứ Trịnh Doanh.
Tháng 2 [26/2-26/3/1751], sau khi Nguyễn Danh Phương bị bắt, Nguyễn Hữu Cầu bị nhốt vào cũi cũng giải đến quân thứ. Trịnh Doanh bèn mở tiệc lớn ở quân thứ Xuân Hi [huyện Sóc Sơn, Hà Nội] để khao tướng sĩ. Trong khi yến ẩm, Trịnh Doanh sai Hữu Cầu thổi sáo, Danh Phương rót rượu, ba quân xúm quanh lại xem, tiếng vui mừng nổi lên như sấm, bèn kéo quân về kinh sư. Khi về kinh sư, đến cửa khuyết dâng công thắng trận, bèn làm lễ dâng tù binh ở Thái Miếu. Sau đó Hữu Cầu lập mưu vượt ngục, bị lộ chuyện; liền đem giết cùng với Danh Phương.
Sai Nguyễn Quai và Dương Công Chú đi yên ủi dân các lộ Sơn Tây, Bắc Ninh và Thái Nguyên. Bọn Nguyễn Quai bái từ ra đi, Trịnh Doanh bảo:
“Dân gặp giặc cướp làm cay đắng đã lâu, nay nên để ý hỏi han yên ủi, các ngươi đi đến đâu cần tuyên truyền đức ý triều đình và đề đạt nguyện vọng người dưới; những việc ăn uống đưa đón, nhất thiết chớ làm phiền đến dân“.
Bèn ban cho bọn Quai 300 quan tiền hành lý.
Tháng 3 [27/3-25/4/1751] thi lại Cống sĩ mới đỗ ở lầu Ngũ Long. Từ lúc có thể lệ nộp tiền để đi thi, học trò quen thói đua nhau chạy chọt, quan trường lại coi thường kỷ luật, trường thi gửi gấm công khai, người thi đỗ phần nhiều không có thực học, vì thế lời bàn tán bên ngoài rất xôn xao. Trịnh Doanh nổi giận, bèn bắt thi lại, đánh hỏng hơn 200 người; quan trường đều bị biếm chức hoặc bãi chức, duy Vũ Công Trấn, giữ chức Đề điệu trường thi Kinh Bắc, được miễn nghị.
Tháng 6 [22/7-20/8/1751], chấn chỉnh các quan giữ việc chính trị. Trịnh Doanh lấy cớ rằng trong nước gần được được bình định, cần phải chấn chỉnh chức trách các viên quan giữ việc chính trị. Bèn hạ lệnh cho Tham tụng Nhữ Đình Toản châm chước điển lệ các triều, xếp đặt quan chức, phẩm trật thành từng loại, gọi là “Tấn thân thực lục“. Lại ban hành 9 điều nói rõ chức trách công việc các quan trong kinh, ngoài trấn:
- Giúp đỡ Vua, làm cho Vua nghĩ được ngay thẳng.
- Phân biệt, kén chọn quan lại.
- Bàn định chính sách đối với dân.
4.Định kỹ luật quân ngũ.
5.Xếp đặt việc chi dùng trong nước.
- Sách tỏ về thể lệ kiện tụng.
- Bàn định việc tính toán chi thu.
- Việc thưởng, việc phạt phải cho đúng lẽ.
- Hiệu lệnh phải tin thật.
Ngoài ra lại cho ban bố giáo điều đời Cảnh Trị thứ nhất [Vua Lê Huyền Tông,1663]. Bấy giờ Phạm Công Trứ giữ công việc trong chính phủ, phụng mệnh làm Giáo điều gồm 47 mục, mỗi xã đặt một viên quan, cứ ngày đầu năm và ngày xã điền (1) đem giáo điều đọc cho dân nghe. Từ khi trong nước nhiều việc, bỏ trễ nãi không nhắc đến. Đến nay hạ lệnh cho làm lại, nhưng nhân dân có ý lơ là, coi như việc không đáng để ý đến.
Về phía nhà Thanh, vào năm trước tại đồn Ngạnh Hán châu Qui Thuận có có một tên lính địa phương, vượt qua sông đến vùng biên giới Đô Long nước ta lấy củi, bị quân lính giết lầm. Vua Thanh giải quyết bằng cách chuyển giao tội phạm cho viên Thổ mục Đô Long nước ta, cho tự quyết việc xử trị:
“Ngày 22 Kỷ Sửu tháng 4 năm Càn Long thứ 16 [17/5/1751]. Bộ hình bàn và phúc tấu:
‘Tổng đốc Vân Nam, Quí Châu Thạc Sắc tâu lính người Giao Nguyễn Thế Khôi, giết lầm Thổ luyện Hỉ Niệm; xin định tội giảo giam hậu (2).’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Lính Di tại Ðô Long (3) Nguyễn Thế Khôi giết Thổ luyện nội địa, đáng phải chiếu theo luật thi hành. Nhưng xét kỹ vụ án, Nguyễn Thế Khôi truy đuổi bọn giặc Sa, cũng chưa dám vào biên giới; thực nhân Hỉ Niệm vượt qua sông hái củi, ăn mặc sắc phục giống như bọn giặc Sa, nên bị giết lầm; sự tình có thể châm chước. Viên Thổ mục Hoàng Văn Kỳ bắt hiến hung thủ, thẩm tra rõ ràng, xét cũng có công. Nay khoan giảm cho Nguyễn Thế Khôi miễn tội chết, giao cho viên Thổ mục tự quyết việc xử trị.” (Thanh Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 387 trang 14-15)
Năm ngoái viên cựu Tuần phủ Quảng Tây Thư Lộ tâu rằng dân Trung Quốc vào sinh sống trong lãnh thổ An Nam, cách quan ải sâu đến 2,3 chục lý [10-15 km]. Với tham vọng bành trướng, y ra lệnh trồng tre làm biên giới mới tại vùng đất dân Trung Quốc ở, mưu lấn chiếm. Dân An Nam tại biên giới đồng loạt phản ứng, nhổ hàng rào tre, dời bảng ghi giới hạn ruộng đất; khiến triều đình nhà Thanh vô cùng bối rối:
“Ngày 26 Tân Dậu tháng 6 năm Càn Long thứ 16 [17/8/1751]. Lại dụ các Quân Cơ đại thần:
‘Theo lời báo của Tuần phủ Ðịnh Trường về vụ án trồng tre tại duyên biên Quảng Tây, qua lời bẩm trước sau của Hộ lý trấn Tả Giang Phạm Vinh, Tri phủ Thái Bình Bình Trị, có những lời: Bọn Di nhổ hàng rào tre, dời bảng ghi giới hạn ruộng đất, hiện đang nghiêm sức điều tra liệu biện.
Trẫm đã minh bạch phê rằng, việc phủ ngự Di bên ngoài cần trung hòa giữa khoan và nghiêm, để sau đó được yên ỗn vô sự; bởi vậy không thể tỏ ra yếu với ngoại Di, cũng không thể tạo mối lo gây lắm chuyện, viên Tuần phủ cần thỏa hiệp liệu biện.
Việc này bắt đầu từ Thư Lộ, bảo rằng cẩn thận thông sức việc biên phòng, rồi một mặt tâu lên, một mặt thực hiện. Ðịnh Trường kế tiếp nhậm chức, tra rõ việc đang thực hiện; các viên chức giữ biên giới cũng nhân đó báo lên. Hoặc do binh dân giáp biên giới thừa cơ vượt chiếm đất Di, khiến cho người Di không phục; hoặc chính bọn y thấy việc làm khó, nên cầu an không muốn trồng tre rồi đổ cho bọn Di, để mong công việc nữa chừng bỏ dở; giữa 2 con đường đều chưa thấy định rõ, nhưng cái việc không để yên ỗn vô sự thì đã thấy khái quát.
Yên biên thùy là nhiệm vụ trọng yếu của Ðại thần được phong đất, việc này chỉ một người lo không xuể; nếu không nhân lúc này trù hoạch cho tận thiện, tương lai di lụy cho địa phương thực bất tiện. Công việc thời Thư Lộ tại chức chưa làm xong, đến việc Di nước ngoài không tuân, không thể để đó không xét. Nay viên Tổng đốc Trần Ðại Thụ trông coi Lưỡng Quảng đã 2 hai năm, nhưng chưa đến Quảng Tây; trước mắt công việc tại Quảng Ðông đã vào nền nếp, hoặc nhân lúc rảnh đích thân đến Quảng Tây, xem duyệt việc biên giới, cùng với Tuần phủ và các trưởng quan giáp mặt bàn luận, tất có thể thấy được con đường ninh tĩnh lâu dài. Nếu như chưa tiện đến đó, thì cứ tâu lên sự thực. Hãy thực lực trù biện án này, không để đình trệ, nhưng cũng không quá khẩn trương, xử trí hợp cách việc sắp xếp biên thùy; cùng đem tình hình hiện tại nhất nhất tâu lên đầy đủ.’
Rồi Tổng đốc Trần Ðại Thụ tâu:
‘Di Giao Chỉ vốn được coi là cung thuận, Thư Lộ bàn xin trồng tre, nguyên do muốn phòng việc lén vượt biên giới; tuy không phải là việc gấp nhưng đã cho khởi hành. Dân Di bèn cho nhổ đi, lại phá hủy hàng rào cũ cùng bảng hiệu chỉ ruộng đất nội địa; xét về việc liên quan đến thể chế không tiện để yên. Theo kế hoạch hiện nay, việc trồng tre không nên dừng nữa chừng, mốc biên giới không thể không rõ ràng. Hiện nay thần đã hội bàn với Tuần phủ Ðịnh Trường, đợi đến ngày các ty, đạo khám đích xác; thì một mặt đem nguyên do việc trồng tre, nói minh bạch với các quan nước Di; một mặt ra lệnh các châu huyện Hán, Thổ biên giới, y theo những điều đã bàn định, trừ núi cao vách dốc không trồng được; kỳ dư chiếu theo biên giới mà trồng; không phạm đến biên giới Di một chút nào, mà cũng không thoái nhường một tấc đất.Việc Thổ dân Bằng Tường trồng gian dối, xét theo luật trừng phạt, các viên chức quân lính làm điều trái sẽ phân biệt đối xử; nhưng phải báo cho Quốc vương, lệnh tìm ra những người nhổ tre, phá hàng rào và bảng hiệu để trừng trị đến cùng.
Tái bút: Việc này nguyên do dân nội địa trồng gian dối sinh gây hấn, còn người Di sau khi phá tan bảng hiệu, lại không gây sự thêm, chắc trong lòng đã biết sợ. Nếu bây giờ thần đến đất này, sợ dân vô tri sinh ra nghi và lo, có thể đưa điều oán cho Thổ dân, rồi sinh tranh dành, gây ra chuyện lớn. Thần xin tâu rõ rằng mùa đông năm nay sẽ tuần duyệt quân ngũ tại tỉnh Quảng Ðông, năm sau đến Quảng Tây duyệt binh, đợi đến lúc đó đến tuần tra duyệt xét các đồn ải biên giới.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Việc liệu biện rất ỗn.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 393, trang 14-15)
Nhắm giữ quốc thể, viên Tổng đốc Tổng đốc Lưỡng Quảng Trần Ðại Thụ xin tiếp tục việc trồng tre, nhưng chiếu theo biên giới cũ mà trồng; không phạm đến biên giới An Nam; nhưng ý Vua Càn Long không bằng lòng:
“Ngày 7 Tân Mùi tháng 7 năm Càn Long thứ 16 [27/8/1751]. Lại dụ:
‘Trước đây Tuần phủ Ðịnh Trường tâu về vụ án trồng tre lại biên giới Quảng Tây, Trẫm đã truyền dụ cho viên Tổng đốc Trần Ðại Thụ, lệnh thừa lúc rảnh đích thân đến tỉnh Quảng Tây xem xét, cùng với Tuần phủ Ðịnh Trường họp mặt lo liệu. Nay nhận được lời tâu của Trần Ðại Thụ, Trẫm nghĩ từ trước tới nay đặt hàng rào tường đá, nhờ vào đó để ngăn cách, nguyên đã có định giới, việc này không cần phải làm nữa. Nhưng Thư Lộ đã tâu xin làm rõ biên giới bằng việc trồng tre; nếu chỉ y theo biên giới cũ, không nhũng nhiễu đến dân Di, sao đến nỗi dân Di tự tiện phá hàng rào tre? Như vây chắc binh dân duyên biên mượn việc trồng tre thừa cơ xâm chiếm, để đến nỗi đám đông Di có hành động ngang ngược. Vì phương pháp chế ngự Di không thể tỏ ra yếu, nhưng cũng không được mượn việc xâm lăng để gây ra chuyện. Nay lại truyền dụ viên Tổng đốc, hãy tuân theo chỉ dụ trước, hội đồng với viên Tuần phủ, lấy sự công chánh mà tra xét, không thể chuyên bao che ý kiến của binh dân, khiến cho lòng dân Di không phục. Nhắm để binh, dân đừng vượt biên giới xâm chiếm, dân Di cũng không có hành động làm càn; vĩnh viễn tuyệt mối gây hấn, biên cảnh được yên ỗn.” (THANH THỰC LỤC, CAO TÔNG THỰC LỤC quyển 394, trang 13)
Tiếp đến viên quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng Tô Xương, cùng Tuần phủ Quảng Tây Định Trường chê viên viên cựu Tuần phủ Thư Lộ, trù hoạch việc trồng tre chưa ỗn thỏa; nhân đó các viên Thổ mục Trung Quốc tại biên giới thừa cơ xâm chiếm, khiến dân An Nam không chịu được:
“Ngày 30 Quí Tỵ tháng 9 năm Càn Long thứ 16 [17/11/1751]. Dụ các Quân cơ đại thần:
‘Bọn Tô Xương, Ðịnh Trường tâu về việc ủy viên tra khám vùng duyên biên thổ châu Tư Lăng tỉnh Quảng Tây bị người Di nhổ tre, chiếm đất như sau: Tỉnh Quảng Tây và An Nam tiếp giáp, từ trước tới nay biên cảnh yên ỗn. Năm ngoái cựu Tuần phủ Thư Lộ tâu xin trồng tre tại biên giới, để ngăn chặn việc ngầm vượt; một mặt tâu, một mặt giao cho các quan địa phương thực hiện. Cách thức làm, chưa được trù hoạch tường tất, cũng không giao cho các viên chức phụ trách thanh tra ỗn thỏa; nhân đó các viên Thổ mục Bằng Tường, Tư Lăng thừa cơ xâm chiếm đất Giao, khiến dân Giao không chịu được. Rồi Thổ mục đưa việc nhổ tre, hủy tường a dua bẩm báo kể tội nước Phiên chống sự giáo hóa, không tuân sự ước thúc.
“ Hiện cứ theo các viên Tuần phủ, Tri đạo tra xét rõ và kết luận, điều này trước hết do Thư Lộ khinh suất xướng xuất ra, rồi sau đó thực hành không tốt, nên gây ra chuyện. Các Tổng đốc, Tuần phủ nơi biên cương cần thận trọng chu đáo, để mưu đồ vĩnh viễn ninh thiếp; há lại tự ý hành động sai trái? Nay ra lệnh bộ xét bàn rồi tâu đầy đủ.” (THANH THỰC LỤC, CAO TÔNG THỰC LỤC quyển 399, trang 24-25)
Vua Càn Long quyết định vãn hồi bình yên vô sự, không cho trồng tre, cũng không sai Tuần phủ đích thân khám xét biên phòng, gây sự nghi ngờ:
“Ngày 28 Tân Dậu tháng 10 năm Càn Long thứ 16 [15/12/1751]. Dụ các Quân cơ đại thần:
‘Tiếp được chỉ dụ về việc trồng tre tại biên giới, Ðịnh Trường [Tuần phủ Quảng Tây] xin vào đầu tháng 12 đích thân đến những địa phương quan ải khẩn yếu để tra khám; việc đi này thực không nên. An Nam là nước vốn cung thuận đã hơn một trăm năm, biên giới hai bên vốn đã có sẵn, hà tất lại đặt hàng rào, lắm phiền nhiễu; việc trồng tre không đáng làm. Nếu viên Tuần phủ đích thân khám việc biên phòng, nước Phiên nghe tin, không khỏi gây khủng hoảng, mà các Thổ ty trong nước cũng không khỏi nghi sợ. Không bằng để yên vô sự, là hợp cách. Huống chi lời tâu của Ðịnh Trường, nhân bởi nhận được dụ truyền, miễn cưỡng tuân theo, không phải ý thành tự trong lòng. Sự hiểu biết của Ðịnh Trường còn ít, phải biết học hỏi thêm để khuyếch sung.” ( THANH THỰC LỤC, CAO TÔNG THỰC LỤC quyển 401, trang 19-20 )
Ngoài việc dẹp bỏ trồng tre, triều đình nhà Thanh còn muốn chấm dứt rắc rối về sau; bèn quyết định đem phạm nhân tranh chấp đất tại các châu Bằng Tường, Tư Lăng đày đến châu huyện xa xôi:
“Ngày 7 Canh Ngọ tháng 11 năm Càn Long thứ 16 [24/12/1751]. Các Ðại học sĩ phúc tấu:
‘Quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng Tuần phủ Quảng Ðông Tô Xương tâu rằng: Thổ Tri châu Bằng Tường Lý Chương tuổi nhỏ, chú của y là Lý Tư Khôn quản lý việc trong châu, không ràng buộc được Thổ dân, để bọn thổ mục Trương Thượng Trung vượt biên giới trồng tre; khiến cho dân Di nhổ tre, phá hàng rào. Ðịnh đem bọn Lý Tư Khôn, Trương Thượng Trung phạt đóng gông; đem bọn Ải mục, đầu nhóm, thổ binh, doanh binh phạt đánh trượng có sai biệt; lại khu hoạch rõ ràng biên giới, cấm thổ dân chiếm để canh tác. Về việc những người Di tự tiện nhổ tre, hội ý với nước này tra cứu.
Tra xét án này nếu so sánh bọn Thổ mục Tư Lăng hùa nhau kết tội người Di phá tường chiếm đất thì tội trạng tương đối nhẹ, nhưng việc Lý Tư Khôn, Trương Thượng Trung gây hấn một cách sai trái; điều mà viên Tổng đốc nghĩ định trách phạt chưa đủ nói hết tội. Bọn Thổ mục này vốn tính ngang ngạnh, nếu vẫn cho lưu lại nguyên quán, sẽ mưu đồ phục thù gây sự. Nên đưa 2 phạm nhân đến châu huyện xa xôi an sáp, những điều khác nên y theo lời tâu. Riêng An Nam tương đối cung thuận, biên giới phân hoạch đã yên ỗn từ lâu, nên đình chỉ ngay chuyện mượn việc trồng tre để làm vững rào giậu.’
Thiên tử chấp thuận.” (THANH THỰC LỤC, CAO TÔNG THỰC LỤC quyển 402, trang 5-6)
Tại miền Nam, vào tháng 10 [18/11-17/12/1751], Tuần phủ Nguyễn Cư Trinh dâng thư nói về tình trạng đau khổ của dân gian. Cho rằng: Dân là gốc của nước, gốc không bền vững thì nước không yên. Nay có ba việc sinh tệ cho dân là nuôi lính, nuôi voi và nộp tiền án. Ngoài ra còn nhiều sự nhũng phí khác kể không xiết được. Lại trình bày thêm bốn thói tệ là:
- Phủ huyện là chức quan cai trị dân mà gần đây không giao trách nhiệm làm việc, chỉ lo khám hỏi kiện tụng. Xin từ nay trở đi, các thứ thuế ruộng và thuế sai, hết thảy giao cho tri huyện biên thu rồi chuyển nộp cho quan Quảng Nam, để bớt phiền nhiễu.
- Từ trước đến nay, phủ huyện chỉ trông vào sự bắt bớ tra hỏi mà kiếm lộc, khiến của dân càng hao, tục dân càng bạc. Nay xin định cấp cho lương bổng và căn cứ liêm tham siêng lười mà thăng hay truất.
- Dân lậu có hai hạng, có hạng trốn thuế mà đi lang thang, có hạng vì cơ hàn thiết thân mà xiêu dạt nơi khác. Xin xét những dân lậu còn có cách sinh nhai thì thu thuế như lệ thường, còn người nào đói rét khốn cùng thì cho miễn và tùy phương chăm nuôi, để cứu sống dân nghèo.
- Dân nên để cho tĩnh, không nên làm cho động, vì động thì dễ loạn, tĩnh thì dễ trị. Nay sai người đi săn bắn ở núi rừng, tìm gà đòi ngựa, bọn ấy không theo được ý tốt của bề trên mà quấy rối dân địa phương, khiến mọi người đều than oán. Xin từ nay kẻ nào nhiễu dân thì xét trị, ngõ hầu lòng dân được yên tĩnh, khỏi hoang mang.
Hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá ở phía trên nước Nam Bàn (4), thôn xóm có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy Xá ở phía đông núi, vua Hỏa Xá ở phía tây núi. Lúc Chúa Nguyễn mới mở nước, vì cớ họ giáp giới với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ. Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa phẩm vật địa phương kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực để hiến. Tới đây sai sứ sang cống, Chúa ban thưởng hậu rồi cho về.
Tháng giêng năm Nhâm Thân, Cảnh Hưng thứ 13 [15/2-15/3/1752], (Thanh, năm Càn Long thứ 17); Chúa Trịnh Doanh sai bọn Vũ Công Trấn và Đỗ Duy Kỳ chiêu tập phủ dụ dân các lộ Tây và Nam. Lúc nổi cơn binh lửa, dân ở các nơi bị điêu tàn, các huyện Chương Đức [huyện Ứng Hòa, Hà Tây], Mĩ Lương [huyện Quốc Oai, Hà Tây], Yên Sơn [huyện Quốc Oai] và Thạch Thất [Hà Tây] bị phiêu tán nhiều hơn cả. Triều đình bèn sai sứ thần chia nhau đi yên ủi chiêu tập nhân dân.
Sai bọn Đàm Xuân Vực đánh giặc là tên Tương ở Sơn Tây, phá tan được. Trước đây, Tương cùng Lê Duy Mật chiếm cứ xã Ngọc Lâu [huyện Nho Quan, Ninh Bình] và Vĩnh Đồng [huyện Quốc Oai, Sơn Tây], khi nào quan quân kéo đến thì chúng phân tán chạy ngay, khi quan quân đi rồi quay lại cướp bóc. Đến nay, bọn Xuân Vực và Nguyễn Nghiễm đánh phá được. Tương thua trận, rồi chết, Duy Mật trốn biệt. Trịnh Doanh rất khen ngợi bọn Xuân Vực, sai Nguyễn Hoàn đến quân thứ, tuyên dương yên ủi tướng sĩ, thưởng cho 20 lạng bạc và 2000 quan tiền.
Tháng 7 [9/8-7/9/1752], định thể lệ đánh thuế bảy họ người Nùng ở Tuyên Quang. Bảy họ người Nùng gồm: Sơn Trang bạch tộc, Sơn Trang hắc tộc, Sơn Tử bạch tộc, Sơn Tử hắc tộc, Đại Tiểu bản tộc, Bát Tiên tộc và Cao Lan tộc. Qui định người Nùng hàng năm mỗi suất đinh nộp 6 tiền, mỗi nhà nộp 7 quan. Lại có lệ đánh thuế nóc nhà hiện tại [kiến ốc chính thuế] cứ 3 năm nộp một kỳ, mỗi nhà hai lạng bạc.
Tại miền Nam vào tháng 2 [16/3-13/4/1752], Chúa Nguyễn sai Cai cơ kiêm Hình bộ Hân đức hầu Nguyễn Hữu Bác, Tri bạ Chính Dinh Thức lượng hầu Trần Đình Hý làm Khâm sai tuần sát kinh kỳ và các châu huyện thuộc miền bắc. Ban sắc rằng :
“Hiện nay khí xuân nhuần thấm, ta thiết tha nghĩ việc chăm dân, nhưng còn lo các quan dinh trấn trái phép vỗ về, các quan phủ huyện ít người giỏi giang, dân tình hoặc vì đó chưa thấu đến trên, ơn Chúa chưa thấm đến dưới. Tuyên bố được ý của ta là trông cậy ở bọn trung thần các ngươi. Vậy đặc mệnh các ngươi đi tuần sát ba huyện trong kinh kỳ và các châu huyện Vũ Xương [huyện Triệu Phong, Quảng Trị], Hải Lăng [Quảng Trị], Minh Linh [huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị], Lệ Thủy [Quảng Bình], Khang Lộc [huyện Quảng Ninh, Quảng Bình], Bố Chính [các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa; Quảng Bình]. Phàm quan lại bị người thưa kiện, đều được xét hỏi; võ từ cai đội, văn từ ký lục trở lên thì tâu lên để định đoạt; đội trưởng, cai án, phủ huyện trở xuống thì chiếu phép xử tội, cốt làm sao cho quan lại trong sạch, xứng với lòng ủy thác của ta”.
Năm ấy đói, một phương gạo trị giá hơn 3 quan, dân nhiều người chết đói.
Tháng giêng năm Quí Dậu, Cảnh Hưng thứ 14 [3/2-4/3/17531753], (Thanh, năm Càn Long thứ 18); triều đình nhà Lê bàn định về việc mở đồn điền. Các lộ vùng Đông, Nam từng bị binh lửa, ruộng đất phần nhiều bỏ hoang. Trước đây, đã hạ lệnh cho quan sở tại đặt thêm lính đồn điền để khai khẩn. Đến nay bàn định lấy quân lính đi đánh giặc đã được rút về, phân phối đi cày cấy ở các lộ, tích trử thóc lúa, để việc phòng bị nơi biên giới.
Bổ dụng Mai Thế Chuẩn làm Đốc trấn Lạng Sơn. Thế Chuẩn đắp rộng thêm thành Lạng Sơn, chu vi 577 trượng [1 trượng=4.7 mét].
Khởi phục Nguyễn Công Thái giữ chức Tham tụng. Trước đây, Công Thái về kinh giữ chức trong triều, bị bọn Đỗ Thế Giai ghen ghét; Công Thái nhân lấy cớ tuổi già xin thôi việc. Đến nay Trịnh Doanh lại khởi phục Công Thái để bổ dụng. Công Thái xin bỏ thể lệ nộp “tiền thông kinh” trong khoa thi Hương, Trịnh Doanh y theo. Sau lại hạ lệnh kiêm giữ công việc Quốc Tử giám.
Tháng 4 [3/5-1/6/1753], miễn thuế thủy sản ở các đạo. Thuế thủy sản ở các đạo phần nhiều không theo ngạch cũ, có nơi sản vật không có thường xuyên, mà quan sở tại cứ đốc thúc thu thuế, làm cho dân đau khổ không sao kể xiết! Triều đình biết tệ ấy, nên hạ lệnh tha cho.
Tháng 7 [30/7-27/8/1753], mùa thu. Trấn Ninh xưa gọi là Bồn Man thuộc Lào, đến dâng sản vật địa phương.
Bãi bỏ trường đúc tiền ở các trấn. Triều đình lấy cớ rằng các trấn đúc tiền phần nhiều quá lạm, lại mỏng mảnh, nên hạ lệnh bãi bỏ, duy trong kinh kỳ vẫn để hai trường đúc ở Nhật Chiêu [Nhật Tân, Hà Nội] và Cầu Giền [phường Bạch Mai, Hà Nội], giao cho đại thần trông coi.
Tháng 10 [26/10-24/11/1753], gió to; 3 xứ Đông, Nam và Bắc gió thổi mạnh, nước dâng lên, thóc lúa mất, nhân dân bị đói. Triều đình hạ lệnh miễn tiền tô thu thêm trước đó; gọi là “gia tô” mỗi mẫu 30 đồng.
Chúa Trịnh Doanh hạ lệnh cho Phạm Đình Trọng, đốc suất Nghệ An, trình bày việc cốt yếu thay đổi điều tệ hại, để cứu dân trong vùng. Nhân đấy, Đình Trọng trình bày bốn việc nên bỏ, được Trịnh Doanh y theo:
- Đốc thúc bắt lính trốn làm phiền phí cho dân;
- Thu tiền phạt chuộc tội làm nhủng nhiễu dân.
3.Con cháu công thần đã được miễn mọi khoản, khiến dân vẫn phải chịu khống.
4.Miễn cho thợ đóng thuyền địa phương khỏi phải về kinh sư.
Tháng 12 [24/12/1753-22/1/1754] Trịnh Doanh phong cho con là Sâm làm Thế tử, bổ dụng Nguyễn Công Thái giữ chức Sư phó để dạy Sâm.
Về phía nhà Thanh Tổng đốc và Tuần phủ Vân Nam cùng tâu quân An Nam hiện đang truy kích Sa phỉ, tại vùng Đô Long giáp biên giới; nên đã sai Tổng binh phủ Khai Hóa phái quân lính ra sức tuần phòng, để bọn phỉ không chạy trốn vào nội địa:
“Ngày 30 Bính Thìn tháng 2 năm Càn Long thứ 18 [3/4/1753]. Tổng đốc Vân Nam, Quí Châu Thạc Sắc, Tuần phủ Vân Nam Viên Tất Ðạt tâu:
‘Duyên biên phủ Khai Hóa tiếp giáp với An Nam; các đồn trấn Bạch Mã, Bát Trại (5) [八寨], Bá Sái cùng với Mường Khương, Hồng Thủy, nơi Sa phỉ chiếm cứ giáp giới. Nay được tin nước này đánh dẹp Sa phỉ; sợ bọn chúng cùng quẫn chạy trốn vượt biên. Ngoài ra lính Giao từ xa tới, sợ không am tường địa giới, truy đuổi vào nội địa. Thần đã cấp tốc thông sức cho Tổng binh phủ Khai Hóa, sai phái quân lính, đôn đốc các đồn trấn hiệp lực tuần phòng.’
Báo cho biết đã nghe hiểu.” (THANH THỰC LỤC, CAO TÔNG THỰC LỤC quyển 433, trang 24-25)
Tiếp đó Tổng đốc Vân Quí lại tâu rằng giặc phỉ người Dao là Bàn Ðạo Kiềm chạy trốn vào An Nam, xin yêu cầu nước này đánh bắt; được Vua Càn Long chấp thuận:
“Ngày 23 Ðinh Mùi tháng 6 năm Càn Long thứ 18 [23/7/1753]. Lại dụ:
‘Thạc Sắc [Tổng đốc Vân Quí] tâu rằng bọn giặc phỉ Hà Thánh Liệt với bọn giặc phỉ người Dao là Bàn Ðạo Kiềm cấu kết với nhau làm việc phi pháp. Trong đó có những lời rằng: Bọn phỉ người Dao hiện bỏ trốn, nếu như An Nam bắt và giết đi thì thôi; nếu chưa bắt được thì cũng nên tìm cơ hội để làm việc này.
Xét dân Di tại nội địa xuất cảnh để trợ giúp giặc phỉ, đáng phải nghiêm trị. Bọn Phỉ người Dao bỏ trốn, tuy tại đất Phiên, nhưng nếu để yên không hỏi đến, thì cũng sai về thể chế. Nên gửi văn thư cho Quốc vương An Nam rằng bọn phỉ người Dao Bàn Ðạo Kiềm, tụ đám đông làm điều phi pháp tại nước này, lại có mối liên quan cấu kết với bọn phỉ trong nội địa. Hiện đã bắt được bọn giúp cho đảng phỉ là Hà Thánh Hiến, lập tức phân biệt trị tội; riêng Dao phỉ Bàn Ðạo Kiềm thì vẫn đang trốn tránh, nếu nội địa mang quân đánh bắt, không thể không gây tao động đến nước ngươi. Bởi vậy viên Quốc vương nên cấp tốc cho người truy bắt, hẹn kỳ tiêu diệt sạch, không để cho bọn hung đồ gây sự.”
Nay truyền dụ cho Thạc Sắc hay biết.” (THANH THỰC LỤC, CAO TÔNG THỰC LỤC quyển 441, trang 10)
Vào năm sau An Nam bắt được Bàn Đạo Kiềm, giải giao đến quan ải, nhà Thanh bèn ra lệnh xử tử:
“Ngày 20 Canh Ngọ tháng 3 năm Càn Long thứ 19 [12/4/1754]. Bộ hình bàn và phúc tấu:
‘Bọn Tổng đốc Vân Quí Thạc Sắc tâu: Bọn phỉ người Dao, An Nam là Bàn Ðạo Kiềm, cấu kết với người nội địa; đã hành quyết bọn Hà Thánh Liệt, chiêu hồi bọn không tuân pháp luật, cùng tuân chỉ báo cho Quốc vương An Nam biết để truy bắt diệt trừ. Nay cứ theo bọn Di mục Binh Tam, thuộc Bát Bảo, An Nam cho biết đã dụ bắt được bọn Bàn Ðạo Kiềm, Trịnh Thịnh Ngọc, rồi giải tống đến. Ðiều tra rõ được biết chúng tại Giao Chỉ xưng Vương, cấu kết với dân Di tại nội địa, phát tán truyền đơn kêu gọi.’ Ðáng theo lời xin, đem 2 phạm nhân phân biệt hành quyết.’
Chiếu chỉ chấp thuận.” (THANH THỰC LỤC, CAO TÔNG THỰC LỤC quyển 459, trang 7)
Riêng tại Lưỡng Quảng, viên quyền Tổng đốc tâu rằng Quốc vương An Nam xin giải tên cướp Lương Hành Tu người tỉnh Quảng Đông đến ải Nam Quan. Vì hành động tên này phương hại đến An Nam, nhắm chứng tỏ sự công bằng Vua Càn Long cũng cho đem tên này đến nơi biên giới hai nước hành quyết:
“Ngày 20 Nhâm Dần tháng 8 năm Càn Long thứ 18 [16/9/1753]. Dụ các Quân cơ đại thần:
‘Bọn Ban Ðệ [quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng ] tâu những lời rằng: Chấp nhận cho Quốc vương An Nam xin giải tên cướp Lương Hành Tu, người gốc huyện Tăng Thành, tỉnh Quảng Ðông. Ðợi khi đến ải Nam Quan điều tra rõ ràng, rồi chuyển giải đến tỉnh Quảng Ðông xét xử.
An Nam vốn là nước cung thuận, nay có dân nội địa ngầm vào nước này, trợ giúp bọn phản nghịch; viên Quốc vương không tự tiện giết, lại đem đến nội địa để xét xử. Khi bọn tội phạm như vậy giải đến nơi, đáng cho hành quyết ngay, để biểu thị chính lệnh của Thiên triều. Nếu cứ theo lệ giải đến Quảng Ðông, chiếu theo luật xử; người nước này chưa hiểu rõ luật lệ, lại không biết sâu về việc làm của Trung Quốc, nên sẽ không thỏa hiệp. Nên truyền dụ cho viên Tổng đốc rằng hãy đem tên Lương Hành Tu đến nơi biên giới hai nước hành quyết. Làm như vậy thì nước này càng nhớ đức, mà dân nội địa cũng không dám vượt biên giới gây sự, lại làm sáng tỏ được ý nghĩa của việc trừng trị kẻ gian và chính sách nhu viễn.” (THANH THỰC LỤC, CAO TÔNG THỰC LỤC quyển 445, trang 6)
Tại miền Nam vào tháng 3 [4/4-2/5/1753], Chúa Nguyễn Phúc Khoát cử Nguyễn Cư Trinh làm Ký lục dinh Bố Chính [Quảng Bình]. Bấy giờ hoàng tử nhà Lê là Duy Mật giận họ Trịnh lấn tiếm, chiếm giữ thành Trình Quang thuộc Trấn Ninh [Lào], mưu diệt họ Trịnh. Trịnh Doanh sai quân các đạo đi đánh không được, bèn đưa thư xin mượn đường Bố Chính để tiến đánh Trấn Ninh; Chúa sai Cư Trinh làm thư khước từ.
Định lệ kế toán hằng năm, sai quan Chưởng thái giám Mai Văn Hoan kiểm tra số vàng bạc và tiền xuất nhập từ năm Bính Dần [1746] đến năm Nhâm Thân[1752]. Về tiền, có năm thu hơn 338.100 quan, số chi hơn 364.400 quan. Cũng có năm thu hơn 423.300 quan, chi mới có hơn 369.400 quan. Lượng số thu mà chi, nếu tiền không đủ thì cho dùng bạc để thay thế. Về vàng bạc, tính chung trong 7 năm số vàng cộng là 5.768 lạng 4 đồng 8 phân 7 ly, giáp ngân [bạc tốt] 9.978 lạng, dung ngân [bạc loại thường] 14.276 lạng 5 tiền, kê ngân [bạc có hình con gà] 21.150 đồng). Từ đó cứ đến hết năm phải kiểm tra làm thành sổ, đến mồng 3 tháng giêng năm sau thì tâu lên, làm lệ vĩnh viễn.
Tháng 11[25/11-23/12/1753], chuẩn bị đánh Chân Lạp, sai Cai đội Thiện Chính làm Thống suất, Ký lục Nguyễn Cư Trinh làm Tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, sang đánh Chân Lạp. Tiến đóng quân ở Ngưu Chử [Bến Nghé], dựng dinh trại gọi là dinh Đồn, tức nay là chợ Điều Khiển, thuộc huyện Bình Dương, Gia Định [Sài Gòn]; kén quân lính, chứa nhiều lương thực để làm kế lâu dài.
Chú thích:
1.Ngày xã điền: Ngày trong xã tế ông tổ sinh ra việc làm ruộng. Tiết lập xuân, ngày “mậu” thứ năm là ngày xuân xã; tiết lập thu, ngày “mậu” thứ năm là ngày thu xã.
- Theo chế độ nhà Thanh, một số tử tù không bị hành quyết ngay, chờ đến mùa thu xử lại; loại này nếu tội chém gọi là trảm giam hậu, tội thắt cổ gọi là giảo giam hậu.
3.Ðô Long:vùng đất trước đây thuộc Việt Nam, được gọi là Tụ Long; qua hiệp ước Thiên Tân, thực dân Pháp đã nhường cho Trung Quốc, hiện nay còn địa danh trấn Ðô Long, thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam, trấn này giáp với tỉnh Hà Giang, Việt Nam.
4.Nam Bàn: khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, bèn chia thành 3 nước: Chiêm Thành, Hòa Anh, và Nam Bàn. Nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía tây.
5.Bát Trại [八寨]: thời bấy giờ thuộc nước ta, ngày nay là một trấn thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Quảng Tây.
Vua Lê Hiển Tông là Lê Duy Diêu là vị Hoàng đế áp chót của nhà Lê; ngài làm vua được 47 năm, thọ 70 tuổi là vị vua ở ngôi lâu nhất và thọ nhất của nhà Lê. Ông lên ngôi từ tháng 5 năm 1740, đến ngày 17 tháng 7 năm [10/8/1786], trong suốt thời gian trị vì ông chỉ dùng một niên hiệu là Cảnh Hưng.
Thân thế
Ông là đích trưởng tử của vua Lê Thuần Tông, làm vua được 46 năm, thọ 69 tuổi, là vị vua ở ngôi lâu nhất và là vua thọ nhất của nhà Hậu Lê