
James H. Willbanks
Trần Quang Nghĩa dịch
5 Lam Sơn 719
NỖ LỰC CỦA BẮC QUÂN TRÊN ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH
Cuộc tấn công của Campuchia có thể đã kéo dài thời gian cho quân đồng minh, nhưng nó đã có một hậu quả không lường trước được. Bị tước mất các nơi ẩn náu và căn cứ tại Campuchia, Hà Nội đã phải chuyển hoàn toàn sang các tuyến đường xuyên quốc gia qua Lào từ miền Bắc để tiếp tế cho lực lượng của mình ở miền Nam. Để bù đắp cho việc mất tuyến đường bộ Sihanoukville và số lượng lớn vật tư bị quân đội Hoa Kỳ và miền Nam tịch thu trong cuộc tấn công vào Campuchia, người Cộng sản đã khởi xướng một chương trình rộng lớn nhằm tăng cường năng suất của Đường mòn Hồ Chí Minh. Đến năm 1971, mạng lưới đường mòn phức tạp đã trải dài từ Bắc Việt qua các đèo Mụ Giạ, Ban Karai và Ban Raving ở Dãy núi Trường Sơn đến Tchepone và Mường Nông ở Lào, ngay bên kia biên giới là Khe Sanh ở Tỉnh Quảng Trị. Từ Tchepone và Mường Nong, bộ đội và vật tư di chuyển đến hai căn cứ chính của Quân BV, 604 và 611 (xem bản đồ 6). Từ các căn cứ này, Đường mòn Hồ Chí Minh chạy về phía nam hướng đến các căn cứ khác dọc theo biên giới dài 1.300 km của miền Nam với Lào và Campuchia.
Sau chiến tranh, Bắc Việt khoe khoang rằng họ đã xây dựng hơn 13.000 km đường mòn và đường bộ như một phần của hệ thống, được xây dựng, bảo trì và bảo vệ bởi Nhóm vận tải 559 bằng cách sử dụng ước tính 100.000 bộ đội và dân tình nguyện và lao động cưỡng bức Lào. Tình báo Hoa Kỳ ước tính rằng từ năm 1966 đến năm 1971, 630.000 quân Bắc Việt, 100.000 tấn thực phẩm, 400.000 vũ khí và 50.000 tấn đạn dược đã được chuyển từ Bắc Việt xuống Đường mòn Hồ Chí Minh.
Sau cuộc xâm lược Campuchia của quân đồng minh, Bắc Việt đã thực hiện thêm các bước không chỉ để cải thiện đường mòn mà còn củng cố nó để cho phép sử dụng mà không bị can thiệp từ lực lượng Hoa Kỳ hoặc miền Nam. Vào mùa thu năm 1970, 20 tiểu đoàn phòng không đã được điều động vào Lào để bảo vệ đường mòn chống lại máy bay đồng minh. Các đơn vị mới này được trang bị nhiều loại vũ khí tinh vi, bao gồm súng máy 12,7 mm và 14,5 mm, pháo 23 mm và hơn 200 khẩu pháo phòng không (37 mm, 57 mm, 85 mm và 100 mm). Những vũ khí này đã cải thiện đáng kể khả năng phòng không trên Đường mòn Hồ Chí Minh. Ngoài các đơn vị phòng không, các đơn vị chiến đấu khác của Bắc Việt đã được chuyển đến Lào để bảo vệ tuyến tiếp tế quan trọng, đưa tổng số bộ đội ở đó lên tới 22.000 (7.000 quân chiến đấu, 10.000 quân trong các đơn vị hậu cần và hỗ trợ, và 5.000 quân Pathet Lào Cộng sản), tất cả đều nằm dưới quyền chỉ huy của một quân đoàn mới, Quân đoàn 70B, tiếp quản quyền kiểm soát hoạt động của các sư đoàn 304, 308 và 320 của Bắc Việt. Các báo cáo tình báo ước tính rằng đến cuối năm 1970, nhờ được các lực lượng này bảo vệ Bắc Việt đã xâm nhập 6.000 quân chiến đấu mỗi tháng theo đường mòn qua Lào vào miền Nam. Ngoài các báo cáo về sự xâm nhập gia tăng, tình báo Hoa Kỳ cũng đã thu thập được các dấu hiệu cho thấy một lượng lớn vũ khí, đạn dược và thiết bị đã được tích trữ tại Căn cứ 604 gần Tchepone. Các thông tin tình báo tiếp theo tiết lộ rằng Bắc Việt có ý định xây dựng lại các nơi ẩn náu của họ ở Campuchia.

Bản đồ 6. Các nơi ẩn náu náu và vùng căn cứ địa cộng sản tại Lào, năm 1971.
Tổng thống Nixon và các cố vấn quân sự của ông đã lo ngại về sự gia tăng quân số tại Lào và hoạt động trở lại của kẻ thù tại Campuchia. Nếu không có hành động gì, Bắc Việt sẽ sớm ở vị trí đe dọa trực tiếp đến Quảng Trị, tỉnh cực bắc của miền Nam, và dễ dàng tấn công cố đô Huế, chỉ cách Căn cứ 611 một đoạn đường ngắn qua Thung lũng A Shau. Các nhà phân tích tình báo tin rằng sự đổ bộ của quân đội và vũ khí mới vào Lào và Campuchia có thể là để chuẩn bị cho một cuộc tấn công của Cộng sản vào hai tỉnh phía bắc ở miền Nam, hoặc vào đầu năm 1971 hoặc, có nhiều khả năng hơn, vào năm bầu cử của Hoa Kỳ là 1972, khi đó quân số Hoa Kỳ ở lại miền Nam chưa đến 50.000 và Nixon đang bận bịu tái tranh cử. Tổng thống phải đối mặt với cùng một vấn đề khi Cộng sản đe dọa Phnom Penh. Ông phải làm gì đó với quân Bắc Việt ở Lào trước khi sự gia tăng của kẻ thù ở đó có tác động tàn phá đến việc Việt Nam hóa và các kế hoạch rút quân của Hoa Kỳ khỏi Đông Nam Á. Nixon không thể chờ đợi, vì sức mạnh và sức tác chiến của Hoa Kỳ trong vùng đang suy yếu hàng ngày, và ông không nghĩ rằng miền Nam có thể chấm dứt hoạt động tăng cường này của địch chỉ bằng lực lượng của chính mình. Các căn cứ của địch trên đất Lào được phòng thủ nghiêm ngặt và nằm trên một địa hình khó khăn. Cuộc chiến trên bộ sẽ phải do miền Nam thực hiện; liệu họ có thể tự mình chống lại Quân đội Bắc Việt hay không vẫn còn là một dấu hỏi. Tuy nhiên, nếu Nixon cứ mãi chờ đợi, quân BV sẽ tiếp tục tăng cường cho đến lúc phát động một cuộc tấn công vào thời điểm họ chọn. Sau khi xem xét một loạt các nghiên cứu được giao vào tháng 11 năm 1970, Nixon đã đi đến kết luận rằng lựa chọn duy nhất của ông là tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu vào lực lượng Cộng sản. Câu hỏi đặt ra là tập trung mũi tấn công vào đâu. Một mũi tấn công đổ bộ vào Bắc Việt, nhắm vào Vinh, ban đầu đã được cân nhắc, nhưng Kissinger đã phản bác bằng một khuyến nghị lặp lại cuộc tấn công vào Campuchia để tận dụng những lợi thế từ chiến dịch trước đó. Trong số các địa điểm được đề xuất cho một cuộc tấn công của đồng minh có địa điểm do Đô đốc McCain, CINCPAC, đề xuất, ông đã gửi điện cho Tướng Abrams vào tháng 10 để xem xét một chiến dịch chống lại hành lang hậu cần của Cộng sản ở Lào.
Đầu tháng 12, Tham mưu trưởng Liên quân đã ủy quyền cho Tướng Abrams “liên lạc với Tướng Viên và thực hiện các kế hoạch và phối hợp mà ông ta cho là phù hợp để chuẩn bị cho kế hoạch Lào”. Một thông điệp tiếp theo chỉ đạo Abrams chuẩn bị các kế hoạch dự phòng cho một chiến dịch xuyên biên giới của miền Nam vào Lào qua Đường 9, ngay phía nam DMZ, được lực lượng không quân Hoa Kỳ hỗ trợ, và cho một cuộc tấn công đồng thời của miền Nam vào Campuchia nhằm phá hủy một khu vực căn cứ địa lớn của địch đang được phát triển tại đồn điền cao su Chup.
Vào ngày 10 tháng 12, Đô đốc Moorer, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, đã gửi điện tín cho Abrams, chuyển tiếp một thông điệp từ tổng thống. Trong thông điệp đó, tổng thống giao cho Abrams “phối hợp với các lực lượng vũ trang của miền Nam và Campuchia, một nỗ lực lập kế hoạch chuyên sâu… để đưa trận chiến đến với kẻ thù ở mức độ cao nhất có thể.” Ngoài ra, ông thông báo với Abrams rằng ông sẽ gửi Tướng Haig đến Sài Gòn để thảo luận về kế hoạch. Haig đến Sài Gòn vào ngày 13 tháng 12. Ông đã gặp Abrams và Đại sứ Bunker. Tất cả họ đều đồng ý với đánh giá của Kissinger về nhu cầu cho một cuộc tấn công mới của đồng minh, nhưng Tướng Abrams đã đề xuất một kế hoạch mà mình đã phát triển để đáp lại hướng dẫn trước đó của Đô đốc McCain. Kế hoạch của Abrams bao gồm một cuộc tấn công chính vào Lào của lực lượng miền Nam để cắt Đường mòn Hồ Chí Minh. Lực lượng Hoa Kỳ sẽ thiết lập các vị trí chặn dọc theo DMZ ở miền Nam và thiết lập một căn cứ hỗ trợ tiền phương giáp biên giới Lào để hỗ trợ nỗ lực của Quân miền Nam nhằm chiếm Tchepone. Tiếp theo trận tấn công ban đầu là các hoạt động tìm kiếm và san bằng các căn cứ của Cộng sản và ngăn chặn tuyến giao thông dọc theo Đường mòn Hồ Chí Minh bên trong Lào. Một cuộc tấn công yểm trợ nhỏ hơn của miền Nam vào Campuchia sẽ tìm cách phá hủy một khu vực căn cứ mới của kẻ thù đang được xây dựng gần đồn điền cao su Chup gần Quân khu III.
Abrams lập luận rằng nếu các tuyến đường tiếp tế của Cộng sản có thể bị chặn ở Lào và Campuchia chỉ trong một mùa khô, khả năng phát động một cuộc tấn công quy mô lớn ở miền Nam của họ sẽ bị “suy giảm đáng kể, nếu không muốn nói là bị loại bỏ, trong một tương lai vô thời hạn.”
Haig trở về Washington và kể lại kế hoạch của Abrams cho Kissinger và tổng thống. Theo Kissinger, Nixon thích kế hoạch này ngay lập tức, nhưng “quyết tâm không đứng yên trần trụi trước những người chỉ trích mình như ông đã làm vào năm trước ở Campuchia.” Do đó, ông bắt đầu xây dựng sự đồng thuận tích cực cho cuộc tấn công trong số các cố vấn của mình. Để làm như vậy, ông đã thiết lập một loạt các cuộc phúc trình cho các thành viên nội các và các cố vấn chủ chốt khác, trong đó ông có thể tiếp xúc với từng người một. Trước tiên, ông nhắm vào Laird. Vào ngày 23 tháng 12, Haig báo cáo cho Nixon lần nữa , nhưng lần này có sự hiện diện của Laird. Sau cuộc họp, Nixon nói với Laird rằng mình ủng hộ chiến dịch được đề xuất và muốn Laird xem xét kế hoạch khi ông ta đến thăm Sài Gòn vào đầu tháng 1. Theo Kissinger, Laird ủng hộ khái niệm về một chiến dịch xuyên biên giới nhằm cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh, lập luận rằng điều đó sẽ kéo dài ít nhất một năm và một chiến dịch tấn công lớn thành công của miền Nam mà không có sự hỗ trợ trên bộ của Hoa Kỳ sẽ là bằng chứng rõ ràng về sự thành công của chiến dịch Việt Nam hóa. Vào ngày 21 tháng 12 năm 1970, Nixon đã chấp thuận về nguyên tắc chiến dịch Lào, tùy thuộc vào việc xem xét cuối cùng trước khi thực hiện.
Do phiên bản sửa đổi của Tu chính án Cooper-Church, được thông qua sau cuộc xâm lược Campuchia, quân đội Mỹ đã bị Quốc hội cấm vượt biên giới. Ngoài ra, không có cố vấn nào được phép đi cùng các đơn vị Quân miền Nam vào Lào. Sự hỗ trợ của Hoa Kỳ chỉ giới hạn ở không quân chiến thuật, trực thăng và pháo binh tầm xa (hoạt động từ các căn cứ hỏa lực của miền Nam trên biên giới). Tuy nhiên, tổng thống tin rằng Quân miền Nam có khả năng thực hiện các cuộc tấn công này cùng với lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ vẫn ở lại miền Nam vào đầu năm 1971. Đô đốc Moorer đảm bảo với ông rằng miền Nam có thể hoàn thành nhiệm vụ nếu được không quân Hoa Kỳ bảo vệ.
Trong khi MACV làm việc trên các kế hoạch dự phòng, Nixon và các cố vấn của ông tiếp tục thảo luận về các hoạt động được đề xuất. Sau khi Laird trở về từ Sài Gòn, tổng thống đã tổ chức một cuộc họp tại Phòng Bầu dục vào ngày 18 tháng 1 năm 1971, có sự tham dự của Kissinger, Laird, Rogers, Helms, Moorer và Haig. Laird đã báo cáo về chuyến đi và các cuộc trò chuyện của mình với Abrams, Bunker và Thiệu. Trong một cuộc họp kéo dài gần ba giờ, Laird đã xem xét tình hình quân sự và chính trị ở miền Nam và sau đó thảo luận về các hoạt động được đề xuất tại Lào và Campuchia. Trong cuộc thảo luận mọi người đều đồng thuận là nếu thành công, chiến dịch sẽ ngăn chặn sự tập kết quân của Bắc Việt, trì hoãn bất kỳ cuộc tổng tấn công nào của Cộng sản, có thêm ít nhất sáu tháng nữa để chương trình Việt Nam hóa được tiến hành, cho phép các cuộc rút quân của Hoa Kỳ tiếp tục theo đúng lịch trình và ngăn cản quân địch khỏi các “cuộc phiêu lưu” tiếp theo. Nixon cảm thấy rằng một chiến dịch thành công có thể thuyết phục Bắc Việt đàm phán một cách thiện chí và nhấn mạnh thêm rằng các hoạt động này có thể “có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ quá trình tiến hành chiến tranh”. Cuộc thảo luận cũng tập trung vào một vấn đề quan trọng khác, một vấn đề mà Đô đốc Moorer đã quan sát thấy trong một bản ghi nhớ trước đó gửi cho Laird: hoạt động này là cơ hội cuối cùng để miền Nam tiến hành một hoạt động lớn chống lại các nơi ẩn náu của kẻ thù trong khi lực lượng Hoa Kỳ còn đủ mạnh để hỗ trợ. Haig sau đó đã viết rằng những người đã đúc kết cho tổng thống về kế hoạch này rất lạc quan về thành công của nó, nhưng tất cả đều đồng ý rằng “yếu tố chính là sự yểm trợ quân sự toàn diện của Hoa Kỳ cho Quân miền Nam.” Đây là một bình luận khá bộc lộ về lối suy nghĩ phổ biến đối với tình trạng của quá trình Việt Nam hóa, nhưng như Tướng Haig chỉ ra trong hồi ký của mình, thành công của Việt Nam hóa “không liên quan nhiều đến hiệu quả quân sự của nó. Việt Nam hóa là một thành công không phải ở Việt Nam mà là ở Hoa Kỳ, trong khi như Bộ trưởng Quốc phòng [Laird] và phe của ông đã hy vọng và mong muốn, nó đã làm giảm thái độ phản đối chiến tranh trong Quốc hội và các phương tiện truyền thông bằng cách đưa ra một chương trình hứa hẹn chấm dứt hoàn toàn thương vong của người Mỹ. . . . Nhưng số thương vong của người Mỹ giảm không liên quan nhiều đến hiệu quả quân sự của lực lượng vũ trang miền Nam.” Tuy nhiên, Nixon đã chấp thuận tạm thời để tiến hành lập kế hoạch chi tiết cho hoạt động xuyên biên giới vào Lào, có mật danh là Lam Sơn 719.
Khi quá trình lập kế hoạch quân sự tiếp tục, Kissinger bắt đầu nghi ngờ về hoạt động này. Vào ngày 25 tháng 1, ông đã gặp Đô đốc Moorer. Kissinger lý luận rằng nếu khu vực Tchepone rõ ràng rất quan trọng đối với nỗ lực tiếp tế của Bắc Việt như vậy, thì chắc chắn Cộng sản sẽ chiến đấu hết mình để giữ lại khu vực này. Lo ngại về khả năng thương vong cao của miền Nam, ông đặt câu hỏi về khả năng tự hoạt động của lực lượng QLVNCH mà không có nhóm cố vấn và kiểm soát viên không quân Hoa Kỳ đi kèm bên họ trên trận địa. Moorer đảm bảo với ông rằng miền Nam có khả năng xử lý cuộc tấn công và rằng không quân Hoa Kỳ có thể cô lập chiến trường để duy trì tỷ lệ lực lượng ở mức có thể kiểm soát được. Kissinger báo cáo các cuộc trò chuyện của mình với Moorer trong một bản ghi nhớ gửi cho tổng thống và sắp xếp để Moorer nói chuyện với Nixon vào ngày hôm sau. Khi họ gặp nhau, Moorer “khẳng định” với tổng thống rằng chiến dịch này là hợp lý, nói rằng kết quả “có tính quyết định” là có thể xảy ra.
Mặc dù tổng thống bị thuyết phục bởi những dự đoán như vậy, nhưng Ngoại trưởng Rogers thì không. Trong một cuộc họp vào ngày 29 tháng 1, ông đã thúc giục tổng thống xem xét lại quyết định của mình, khẳng định rằng chiến dịch này quá rủi ro. Ông chỉ ra rằng khi còn nhậm chức chỉ huy MACV, Tướng Westmoreland cũng đã xem xét một chiến dịch tương tự, và ông đã ước tính rằng cần đến 4 sư đoàn Hoa Kỳ để hoàn thành nhiệm vụ. Kế hoạch hiện tại đang được xem xét liên quan đến việc sử dụng quân số miền Nam ít hơn nhiều. Do đó, đối với Rogers, một thất bại của Quân miền Nam gần như chắc chắn, và ông cảm thấy rằng thiệt hại đối với nỗ lực Việt Nam hóa có thể là không thể khắc phục được. Ngoài ra, ông tin rằng những người phản đối Nixon tại Quốc hội sẽ cáo buộc rằng hoạt động này trái với tinh thần, nếu không muốn nói là văn bản, của Tu chính án Cooper-Church. Theo Kissinger, Nixon đã xem xét hầu hết những phản đối của Rogers và nghĩ rằng vị ngoại trưởng “đơn giản là không biết mình đang nói gì”. Tổng thống đã ra lệnh phát động chiến dịch, và chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đã chính thức chấp thuận vào ngày 4 tháng 2 năm 1971.
KẾ HOẠCH
Lam Sơn 719 là một hoạt động kết hợp giữa QLVNCH và Hoa Kỳ được tiến hành theo nhiều ràng buộc. Không có lệnh chung nào được thiết lập để kiểm soát hoạt động. Tổng chỉ huy mặt đất của chiến dịch tại Lào là Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân đoàn I của QLVNCH. Người đồng cấp Hoa Kỳ của ông, Trung tướng James W. Sutherland, tư lệnh Quân đoàn XXIV, sẽ chỉ huy tất cả các lực lượng Lục quân Hoa Kỳ tham gia và điều phối hỗ trợ của Hoa Kỳ cho hoạt động. Tướng Lucius D. Clay Jr., tư lệnh Không quân số 7, sẽ chỉ huy và điều phối tất cả các nguồn lực của Không quân Hoa Kỳ hỗ trợ hoạt động.
Chiến dịch này sẽ là một cuộc tấn công phá hoại, được thiết kế không phải để chiếm và giữ các mục tiêu địa hình mà là để phá vỡ các kế hoạch của kẻ thù và ngăn chặn một cuộc tấn công mới. Mục tiêu chính của Chiến dịch Lam Sơn 719 là chiếm Căn cứ 604 ở khu vực Tchepone, nằm tại ngã ba chiến lược của các tuyến đường tiếp tế dọc theo Đường mòn Hồ Chí Minh, cách biên giới với miền Nam khoảng 50 km. Sau khi chiếm được Tchepone, quân miền Nam sẽ chặn đường mòn và phá hủy các cơ sở hậu cần trong khu vực này trong suốt thời gian còn lại của mùa khô. Cuộc xâm lược thực sự vào Lào sẽ bắt đầu vào ngày 8 tháng 2 và kéo dài 90 ngày cho đến khi mưa gió mùa buộc phải cắt giảm các hoạt động. Trận tấn công sẽ được thực hiện bởi một lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân miền Nam, bao gồm Sư đoàn 1, Lữ đoàn Thiết giáp 1, ba tiểu đoàn biệt động từ Quân đoàn I và hầu hết các sư đoàn Dù và Thủy quân Lục chiến cừ khôi, lực lượng dự bị chiến lược của Bộ Tổng tham mưu. Ban đầu, 16.000 quân miền Nam sẽ được tung ra khi chiến dịch được phát động; sau đó, quân tiếp viện sẽ tăng con số này lên 20.000. Khoảng 10.000 quân tác chiến, kỹ thuật viên và các binh sĩ khác của Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ chiến dịch từ Tỉnh Quảng Trị bên trong miền Nam.
Kế hoạch phức tạp này bao gồm bốn giai đoạn. Trong Giai đoạn I, Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Bộ binh 5 Hoa Kỳ sẽ dọn sạch và bảo vệ Tuyến đường 9 từ Đông Hà đến biên giới Lào. Ngoài ra, lữ đoàn sẽ bảo vệ Căn cứ hỗ trợ hỏa lực Vandegrift, một căn cứ hỏa lực của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã bị bỏ hoang, và Khe Sanh, nơi một sở chỉ huy sẽ được thành lập để điều phối tất cả các cuộc tấn công bằng trực thăng, hỗ trợ trên không, hỏa lực pháo binh tầm xa và hỗ trợ hậu cần. Nhóm Công binh 45 của Hoa Kỳ sẽ sửa chữa sân bay tại Khe Sanh và chuẩn bị cho hoạt động vận tải C-130. Các công binh cũng sẽ sửa chữa Tuyến đường 9 đến biên giới Lào. Đồng thời với hoạt động của Lữ đoàn 1, Sư đoàn Bộ binh 5, Sư đoàn Không vận 101 của Hoa Kỳ sẽ tiếp quản trách nhiệm cho khu vực hoạt động của Sư đoàn Bộ binh 1 của Quân miền Nam ở các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên khi Quân miền Nam tiến vào Lào. Các lực lượng khác của Hoa Kỳ sẽ bảo vệ khu vực phía nam của DMZ và vùng tiếp giáp với biên giới Việt Nam – Lào. Một lực lượng đặc nhiệm Quân miền Nam từ Lữ đoàn Thiết giáp số 1 sẽ theo Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Bộ binh số 5 và sau khi Khe Sanh được bảo vệ, sẽ di chuyển về phía tây bắc để bảo vệ sườn phía bắc. Phần của Hoa Kỳ trong Giai đoạn I có mật danh là Dewey Canyon II.
Một khía cạnh khác của Giai đoạn I là việc bố trí trước 6.500 quân từ Sư đoàn Nhảy dù và 3.000 lính Thủy quân Lục chiến. Máy bay chở hàng của Không quân Hoa Kỳ sẽ di chuyển những lực lượng này đến các sân bay tại Quảng Trị và Đông Hà. Giai đoạn I dự kiến sẽ kéo dài từ năm đến tám ngày.
Sau khi Đường 9 được bảo vệ, Giai đoạn II sẽ bắt đầu bằng một cuộc tấn công ba mũi của Quân miền Nam về phía tây dọc theo xa lộ đến Tchepone, được hỗ trợ bởi lực lượng không quân chiến thuật số 7 của Không quân Hoa Kỳ và trực thăng cùng pháo binh tầm xa của Quân đoàn XXIV Hoa Kỳ. Sư đoàn Nhảy dù miền Nam, được tăng cường bởi Lữ đoàn Thiết giáp số 1, sẽ thực hiện cuộc tấn công chính dọc theo xa lộ; chuyển quân trên bộ và các cuộc tấn công bằng trực thăng liên tiếp cuối cùng nhằm mục đích chiếm giữ A Lưới, giao lộ của Đường 9 và 92. Sau khi chiếm được mục tiêu ban đầu, Sư đoàn Nhảy dù sẽ được không vận xuống Tchepone trong khi lực lượng thiết giáp tiếp tục tấn công bằng đường bộ để liên kết với lực lượng nhảy dù tại Tchepone. Các bên sườn của cuộc tấn công chính sẽ được bảo vệ ở phía nam bằng một cuộc tấn công song song do Sư đoàn Bộ binh số 1 của miền Nam tiến hành, lực lượng này sẽ thiết lập các căn cứ hỏa lực trên vùng đất cao phía nam Đường 9 giữa A Lưới và Tchepone. Ở phía bắc, sườn của miền Nam sẽ được bảo vệ bởi Nhóm Biệt động số 1, đơn vị này sẽ tiến hành các cuộc tấn công bằng trực thăng để thiết lập các vị trí chặn nhằm ngăn kẻ thù di chuyển về phía nam cản trở cuộc tấn công chính dọc theo xa lộ. Các trực thăng tấn công của Phi đội 2 Hoa Kỳ, Trung đoàn Kỵ binh số 17 (Không quân), sẽ định vị và phá hủy vũ khí phòng không, tìm nơi tập kết của kẻ thù và thực hiện các nhiệm vụ trinh sát và an ninh, bao gồm giải cứu phi hành đoàn bị bắn rơi ở Lào. Một lữ đoàn Thủy quân Lục chiến Việt Nam sẽ được giữ làm lực lượng dự bị tại Khe Sanh. Hai ngày trước khi bắt đầu Giai đoạn II, lực lượng hỗ trợ không quân chiến thuật của Hoa Kỳ sẽ bắt đầu một chiến dịch ném bom tập trung (kéo dài từ ba đến bảy ngày) để ức chế hệ thống phòng không của kẻ thù.
Giai đoạn III, sẽ bắt đầu sau khi chiếm được Tchepone, kêu gọi Quân đội miền Nam tiến hành các nhiệm vụ tìm kiếm và tiêu diệt tại Khu vực căn cứ 604 và khắp khu vực phía nam Tchepone. Sư đoàn Nhảy dù sẽ thiết lập các vị trí chặn ở phía tây bắc Tchepone dọc theo Tuyến đường 91 và phía đông nam Tchepone dọc theo Tuyến đường 9 để cô lập khu vực này. Đồng thời, Sư đoàn Bộ binh số 1 sẽ tiến hành các hoạt động tìm kiếm và tiêu diệt tại khu vực được giao phó ngay phía nam Sông Xe Pon, trong khi Nhóm Biệt động số 1 sẽ tiếp tục các vị trí chặn và sàng lọc ở sườn phía bắc. Lực lượng miền Nam sẽ bị giới hạn trong một hành lang không rộng hơn 15 dặm ở cả hai bên Đường 9 và không được thâm nhập sâu hơn Tchepone.
Giai đoạn IV, giai đoạn cuối cùng, giải quyết việc rút quân của lực lượng miền Nam khỏi Lào. Việc rút quân sẽ được thực hiện theo một trong hai cách, tùy thuộc vào tình hình tại thời điểm đó. Theo phương án đầu tiên, Sư đoàn Nhảy dù sẽ rút trực tiếp về phía đông dọc theo Đường 9 để yểm trợ cho một cuộc tấn công về phía đông nam vào Khu vực Căn cứ 611 của Sư đoàn Bộ binh 1 khi nó tiến về miền Nam. Phương án thứ hai là cả hai sư đoàn tấn công vào Khu vực Căn cứ 611. Cả hai phương án đều bao gồm các điều khoản cho phép cài các lực lượng QLVNCH ở lại phía sau và quấy rối kẻ thù ở Khu vực Căn cứ 604 và 611 sau khi lực lượng chính của quân đội miền Nam đã rút lui.
Kế hoạch cũng bao gồm một giai đoạn đánh nghi binh. Trong một nỗ lực đánh lạc hướng Bắc Việt về cuộc tấn công chính, một lực lượng đặc nhiệm hải quân, chở theo Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ từ Đơn vị đổ bộ Thủy quân lục chiến số 31 và bao gồm hai tàu sân bay, sẽ tiến vào Vịnh Bắc Bộ, cách thành phố cảng Vinh ở Bắc Việt bảy mươi km. Nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm này là giả vờ tấn công đổ bộ vào Vinh để thu hút sự chú ý của Bắc Việt khi lực lượng miền Nam tiến vào Lào. Phần này của kế hoạch dường như đã thành công: lực lượng đặc nhiệm đổ bộ ở Vịnh Bắc Bộ thực sự đã thu hút được sự chú ý của bộ tư lệnh cấp cao Bắc Việt, giúp lực lượng tấn công miền Nam có một vài ngày nghỉ ngơi sau một nỗ lực tăng viện lớn của Quân đội Nhân dân tại Lào.
Vì người ta tin rằng các ổ gián điệp Cộng sản đang hoạt động trong bộ tư lệnh cấp cao QLVNCH, Abrams đã chỉ đạo số lượng nhân sự tham gia vào kế hoạch tác chiến chung phải được giữ ở mức tối thiểu. Các đơn vị sẽ tham gia vào chiến dịch này không được thông báo cho đến ngày 17 tháng 1, và Sư đoàn Nhảy dù, đơn vị được lên lịch chỉ huy cuộc tấn công, không được cung cấp kế hoạch chi tiết cho đến ngày 2 tháng 2, ít hơn một tuần trước Ngày D theo lịch trình là 8 tháng 2. Trong nỗ lực ngăn chặn việc đưa tin sớm về chiến dịch này trên báo chí, MACV đã thông báo tóm tắt cho các phóng viên Hoa Kỳ về chiến dịch sắp diễn ra và sau đó áp đặt lệnh cấm vận ngắn hạn đối với việc đưa tin về các hoạt động di chuyển quân cho đến khi chiến dịch thực sự được triển khai. Điều này chứng tỏ là một động thái tồi tệ, vì việc áp đặt lệnh cấm vận tự nó là dấu hiệu của một chiến dịch sắp diễn ra. Mặc dù lệnh cấm vận đã được dỡ bỏ vào ngày 4 tháng 2, nhưng thông tin đã bị rò rỉ và những câu chuyện suy đoán về một cuộc tấn công sắp xảy ra của đồng minh vào Lào đã xuất hiện trên các tờ báo Hoa Kỳ và quốc tế.
Mặc dù gặp khó khăn trong việc giữ bí mật về chiến dịch này, Hoa Kỳ và các chỉ huy miền Nam rất lạc quan về kết quả tiềm năng của kế hoạch đầy tham vọng này. Đại tá Arthur W. Pence, cố vấn cấp cao của Sư đoàn Nhảy dù, đã báo cáo sau chiến dịch: “Rõ ràng là vào thời điểm này . . .Tình báo cảm thấy rằng chiến dịch này sẽ bị chống đối yếu ớt và việc chuẩn bị trận địa trong hai ngày trước Ngày D bằng không quân chiến thuật sẽ vô hiệu hóa hiệu quả khả năng phòng không của đối phương, mặc dù đối phương được cho là có đến 170 đến 200 vũ khí phòng không có cỡ nòng khác nhau trong khu vực hoạt động. Mối đe dọa từ xe tăng được coi là tối thiểu và khả năng tăng viện được tính là 14 ngày cho hai sư đoàn từ phía bắc DMZ.”
Các chỉ huy và nhà lập kế hoạch của Hoa Kỳ và miền Nam dường như táo bạo hơn sau thắng lợi khiêm tốn của cuộc xâm nhập Campuchia. Tuy nhiên, ba điểm khác biệt đáng kể giữa cuộc tấn công vào Lào và cuộc xâm nhập Campuchia đã ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng của Lam Sơn 719. Mặc dù đây là một chiến dịch kết hợp và Quân đoàn XXIV của Hoa Kỳ sẽ cung cấp hỗ trợ hậu cần, pháo binh tầm xa và trực thăng, nhưng quân nhân Hoa Kỳ bị cấm hoạt động trên bộ tại Lào. Không chỉ không có quân tác chiến Hoa Kỳ đi cùng lực lượng miền Nam, như ở Campuchia, mà còn không có cố vấn Hoa Kỳ nào đi cùng quân đội miền Nam khi họ tiến vào Lào. Lần đầu tiên, hầu hết quân đội miền Nam sẽ tham chiến mà không có các đối tác Hoa Kỳ, những người mà họ vốn đã quen dựa dẫm vào để phối hợp không quân, trực thăng tấn công, pháo binh tầm xa và hỗ trợ hậu cần của Hoa Kỳ. Tại Lam Sơn, một khi họ vượt biên qua Lào, lực lượng miền Nam sẽ phải một mình chống lại quân BV. Sự khác biệt thứ hai giữa chiến dịch Lào và cuộc thâm nhập Campuchia là địa hình và, ở một mức độ lớn, thời tiết sẽ đóng vai trò chính trong kết quả của trận chiến. Trong khi địa hình ở Campuchia tương đối dễ qua lại, thì địa hình mục tiêu của Lam Sơn 719 lại gồ ghề, bao phủ dày đặc cây bụi rậm rạp và dọc theo Sông Xe Pon, song song với Tuyến đường 9 về phía nam, là rừng rậm hai tán. Bản thân Tuyến đường 9 là một con đường chưa được cải thiện, nhiều chỗ không tốt hơn đường xe ngựa bao nhiêu. Địa hình cao khiến cho lực lượng phòng thủ địch chiếm được ưu thế trên đường cao tốc ở cả hai bên. Thời tiết cũng là một yếu tố quan trọng. Vào thời điểm diễn ra chiến dịch, gió mùa đông bắc vừa kết thúc và thời tiết phi hành sẽ rất kém, thường hạn chế các hoạt động bay của trực thăng và máy bay cánh cố định. Ngoài ra, khu vực này thường chịu lượng mưa không liên tục, đôi khi có thể rất cao và cản trở xe bọc thép đi qua. Do đó, địa hình và thời tiết sẽ gây bất lợi cho phe tấn công trong chiến dịch này.
Sự khác biệt chính thứ ba giữa Chiến dịch Lam Sơn 719 và chiến dịch Campuchia là lần này, mặc dù tình báo ước tính ngược lại, nhưng kẻ thù sẽ ở lại và chiến đấu. Sau trận chiến, người ta biết rằng QĐNDVN từ lâu đã nghi ngờ một cuộc tấn công của QLVNCH vào Lào giáp với Quân khu I và đã bắt đầu chuẩn bị để chống lại động thái như vậy ngay từ tháng 10 năm 1970, khi lực lượng của họ đã bắt đầu xây dựng các công sự phòng thủ, chuẩn bị các địa điểm phục kích, tính toán trước các tọa độ pháo vào các khu vực đổ bộ tiềm năng của quân đồng minh và tái bố trí nguồn cung cấp và đạn dược. Vào thời điểm quân miền Nam phát động chiến dịch, hơn 22.000 bộ đội BV đã có mặt ở khu vực xung quanh Tchepone, và Hà Nội, sau khi ra lệnh giữ vững Căn cứ 604, đã gửi thêm quân tiếp viện, đưa tổng số quân địch lên hơn 36.000. Đến cuối chiến dịch, Bắc Việt đã tung các đơn vị của 5 sư đoàn có thiết giáp và pháo binh hỗ trợ vào trận chiến.
Theo Tướng Bruce Palmer, Abrams nhận thức rõ về những nguy hiểm tiềm tàng do sự khác biệt giữa cuộc tấn công Campuchia và Lam Sơn 719 gây ra. Chiến dịch này có thể trông rất giống “cử một cậu bé đi làm công việc của một người lớn” trong một môi trường cực kỳ thù địch, nhưng vị chỉ huy Hoa Kỳ đã trông cậy rất nhiều vào các cuộc không kích B-52 của Hoa Kỳ, hỏa lực càn quét của không quân chiến thuật Hoa Kỳ và khả năng cơ động chiến thuật do trực thăng tấn công của Hoa Kỳ cùng với trực thăng hộ tống vũ trang được cung cấp để “cân bằng tỷ lệ cược” cho miền Nam. Sau đó, Palmer mô tả tình hình là “một canh bạc lớn. Thất bại sẽ đặt Việt Nam hóa vào một câu hỏi nghiêm trọng và có thể dẫn đến việc giữ quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam lâu hơn, hoặc tạo ra áp lực trong nước mạnh đến nỗi Hoa Kỳ phải bỏ rơi đồng minh bất hạnh của mình.”
Nếu kế hoạch thành công, nó sẽ là một khích lệ cho miền Nam và xác nhận quá trình Việt Nam hóa, nhưng nếu có bất cứ điều gì không ổn, thì đó sẽ là một thảm họa cho cả miền Nam và Hoa Kỳ.
LAM SƠN 719
Giai đoạn I của chiến dịch đã được quân đội Hoa Kỳ phát động lúc 04:00, ngày 29 tháng 1. Trong chiến dịch này, Lữ đoàn 1, Sư đoàn Bộ binh Cơ giới số 5 Hoa Kỳ, bắt đầu dọn sạch miền Nam từ Đường 9 về phía bắc đến DMZ. Các lực lượng Hoa Kỳ bổ sung đã tái chiếm căn cứ hỏa lực tại Khe Sanh, và Trung đoàn Công binh số 45 bắt đầu cải tạo lại đường băng bị hư hại. Cùng lúc đó, nhiều binh sĩ Hoa Kỳ hơn giữ được Tuyến đường 9 đến biên giới và bắt đầu sửa chữa con đường. Đến ngày 5 tháng 2, lực lượng Hoa Kỳ đã hoàn thành hầu hết các nhiệm vụ của họ và đã tiếp quản an ninh cho các khu vực tập kết quân miền Nam gần biên giới.
Lực lượng miền Nam dẫn đầu, bao gồm Lữ đoàn Thiết giáp số 1, với hai tiểu đoàn dù (tiểu đoàn 1 và 8) và các trung đoàn kỵ binh số 11 và 17, đã vượt qua tuyến xuất phát đúng lịch trình lúc 07 giờ sáng, ngày 8 tháng 2 năm 1971 (xem bản đồ 7). Thật không may, thời tiết đã trở nên xấu vào ngày 6 tháng 2, buộc phải hủy bỏ các cuộc không kích với mục đích vô hiệu hóa súng phòng không của Bắc Việt dọc theo Tuyến đường 9. Tuy nhiên, đoàn xe thiết giáp gồm 4.000 người đã tấn công về phía tây dọc theo con đường theo đúng kế hoạch. Dẫn đầu bởi xe tăng M-41 và xe bọc thép chở quân M-113, đoàn quân tiến 9 km vào trong ngày đầu tiên, nhưng bị chậm lại do rừng rậm và hố bom lớn gần tuyến đường đã hạn chế bước tiến của họ. Bản thân con đường đã xuống cấp, và Tiểu đoàn Công binh Chiến đấu 101 của quân miền Nam đã phải xây dựng các đường vòng nơi con đường đã bị phá hủy hoàn toàn, làm chậm thêm tiến độ của đoàn quân thiết giáp. Trong khi đó, các lực lượng nhảy dù được đưa vào sườn phía bắc đã đạt được mục tiêu đầu tiên của họ là chống lại sức kháng cự lẻ tẻ của kẻ thù.

Bản đồ 7. Chiến dịch Lam Sơn 719, tháng 2-tháng 3 năm 1971.
Sư đoàn Bộ binh 1 VNCH, ở sườn phía nam, cũng đã bảo đảm được mục tiêu ban đầu của họ với rất ít đụng độ với kẻ thù. Sau đó, người ta xác định được rằng Tướng Giáp và tư lệnh Quân đoàn 70B đã kiềm chế lực lượng của mình cho đến khi họ quyết định liệu cuộc tấn công của QLVNCH dọc theo Đường 9 là có thật hay chỉ là nghi binh để che đậy một cuộc tấn công chính ở nơi khác. Đến ngày 9 tháng 2, họ đã tin chắc rằng cuộc tấn công dọc theo đường cao tốc này thực sự là cuộc tấn công chính, và tư lệnh Quân đoàn 70B đã ra lệnh cho Sư đoàn (“Thép”) 308, đóng tại một khu vực tập kết gần DMZ, bắt đầu di chuyển về phía Đường 9 để tăng cường cho các đơn vị Bắc Việt đang có mặt ở đó. Ngoài ra, bộ tư lệnh cấp cao Bắc Việt đã ra lệnh cho Sư đoàn 2 di chuyển từ các vị trí xa hơn ở phía nam đến khu vực Tchepone để làm tê liệt đoàn xe thiết giáp của Quân miền Nam trên Đường 9.
Các trận mưa lớn đã biến Đường 9 thành một bãi lầy, cản trở thêm bước tiến của đoàn xe thiết giáp miền Nam. Tuy nhiên, đến ngày 10 tháng 2, phe tấn công đã đạt được mục tiêu đầu tiên của họ, A Lưới, và đã liên kết với một tiểu đoàn dù đã được trực thăng Hoa Kỳ đưa đến vào đầu ngày hôm đó. Cuộc tấn công chính của miền Nam dọc theo con đường đã đạt đến một điểm giữa đoạn đường đến Tchepone, chỉ bị hỏa lực bắn tỉa nhẹ của đối phương chống trả. Cùng lúc đó, lực lượng miền Nam ở cả hai bên sườn phía bắc và phía nam đã áp sát các vị trí tiếp giáp với A Lưới. Ở phía bắc, Lữ đoàn Nhảy dù số 3 đã thành lập hai căn cứ hỏa lực (30 và 31) trong khi các tiểu đoàn Biệt động 21 và 39 thành lập hai tiền đồn, Căn cứ Biệt động phía Nam và Căn cứ Biệt động phía Bắc, để cảnh báo sớm về bất kỳ lực lượng tăng viện nào của quân địch tiến về phía nam dọc theo Đường mòn Hồ Chí Minh; do đó, quân miền Nam về cơ bản có một mạng lưới gồm bốn căn cứ hỗ trợ lẫn nhau ở phía bắc. Đồng thời, Sư đoàn Bộ binh số 1 VNCH đã thành lập năm căn cứ hỏa lực (Hotel, Blue, Delta, Delta 1 và Don) ở phía nam Đường 9 để bảo vệ sườn đó khỏi cuộc tấn công của kẻ thù.
Cho đến giờ, quân miền Nam đã đạt được tiến triển tốt trước sự kháng cự tương đối yếu của Quân đội BV. Tuy nhiên, vào ngày 11 tháng 2, cuộc tấn công đã dừng lại. Vì những lý do không thể giải thích được vào thời điểm đó, lực lượng miền Nam đã ngừng tấn công, tạo cơ hội cho quân địch có thời gian gửi thêm lực lượng tăng viện. Với các đơn vị của ba trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn xe tăng và một trung đoàn pháo binh đã có mặt trong khu vực, bộ chỉ huy cấp cao của Bắc Việt đã ra lệnh cho bốn trung đoàn bộ binh nữa và các đơn vị của một trung đoàn xe tăng tham gia trận chiến. Khi các lực lượng này bắt đầu áp sát khu vực, quân miền Nam vẫn nằm yên.
Rõ ràng là quân miền Nam cần phải lấy lại đà tấn công trước khi sức mạnh chiến đấu của địch giành được thế chủ động, nhưng Tướng Lãm và các cấp chỉ huy dưới trướng của ông ta vẫn im lìm. Do không có lệnh lạc, lực lượng miền Nam ở Lào vẫn án binh bất động.
Nỗi giận, Tướng Abrams đã đến gặp Tướng Cao Văn Viên, chủ tịch Bộ Tổng tham mưu, tại Sài Gòn để thuyết phục ông tiếp thêm sức mạnh cho quân tấn công. Ngày 16 tháng 2, Abrams và Sutherland đã gặp Viên và Lãm tại sở chỉ huy tiền phương của Lãm ở Đông Hà. Tại cuộc họp này, quyết định được đưa ra là chuyển Sư đoàn 1 xa hơn về phía tây dọc theo bờ dốc phía nam để thiết lập căn cứ hỏa lực yểm trợ cho mũi tiến công của thiết giáp-nhảy dù được tiếp tục, thọc sâu về phía tây dọc theo Đường 9 đến Tchepone; lực lượng Sư đoàn 1 sẽ cần khoảng ba đến năm ngày để vào được vị trí. Lệnh đã đưa ra, nhưng không may, vào thời điểm này, quân BV đã bố trí quân tiếp viện để ngăn chặn cuộc tấn công tiếp theo của miền Nam. QLVNCH đã mất thế chủ động và không bao giờ khôi phục lại trong suốt. thời gian diễn ra trận chiến Sau chiến dịch, người ta phát hiện Tổng thống Thiệu đã nhúng tay vào việc ngăn chặn cuộc tấn công của quân mình. Vào ngày 12 tháng 2, ông ra lệnh cho Lãm phải cẩn thận khi chuyển quân về phía Tây và nếu Lãm phải chịu tổn thất hơn 3.000 thương vong, thì hãy hủy bỏ chiến dịch. Thiệu rõ ràng lo lắng về việc số thương vong cao ở Lào có thể sẽ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử quốc gia sắp tới vào mùa thu. Ngoài ra, ông còn lo tiêu hao lực lượng dự bị của QLVNCH (bao gồm Sư đoàn Nhảy Dù, Lữ đoàn Thiết giáp số 1 và TQLC ). Có thể quan trọng hơn, những lực lượng này thực sự là lực lượng bảo vệ định độc lập của Thiệu và lực lượng chống lại bất kỳ cuộc đảo chính tiềm năng nào; do đó, ông không.muốn họ phơi mình trước nguy cơ bị tiêu diệt nào.
Sau khi đánh mất đà, lực lượng miền Nam hiện phải đối mặt với lực lượng tăng cường mới của Bắc Việt. Vào ngày 18 tháng 2, Sư đoàn 308 BV đã được xác định có hành động đầu tiên ở sườn bắc. Sư đoàn 2 BV đã xuất hiện trước các đơn vị tiên phong miền Nam, và Trung đoàn 24B của Sư đoàn 305 BV đã được quân miền Nam xác định ở phía nam Đường 9. Đáng gờm hơn, lực lượng miền Nam bắt đầu phát hiện xe tăng địch, và một tù binh BV đã tuyên bố rằng một trung đoàn xe tăng BV đang có mặt trong khu vực. Đến đầu tháng 3, quân BV đã áp đảo quân đội miền Nam về quân số với tỷ lệ khoảng 2-1. Hỏa lực súng cối và đại pháo nã tới tấp vào tất cả các vị trí quân miền Nam. Phe tấn công căn cứ địch sớm bị tấn công bởi một kẻ thù mạnh hơn nhiều so với những gì họ mong đợi.
Để làm cho tình hình tồi tệ hơn đối với quân miền Nam, mưa rào và sương mù dày đặc liên tục khiến tất cả máy bay họ phải nằm yên trên mặt đất. Một số ít trực thăng có thể hoạt động được phải bay thấp, khiến họ rất dễ bị hỏa lực mặt đất của đối phương hạ gục. Hoạt động tiếp tế cho quân miền Nam trở nên đặc biệt khó khăn và nguy hiểm trong điều kiện thời tiết này.
Vào ngày 19 tháng 2, Lãm và các chỉ huy sư đoàn của ông đã gặp Tổng thống Thiệu. Lãm đã tóm tắt tình hình cho tổng thống, nhấn mạnh đến việc phát hiện ra các đơn vị Bắc Việt mới trong khu vực. Thiệu đã nói với Lãm “hãy dành thời gian và . . . mở rộng các hoạt động tìm kiếm về phía tây nam.” Mệnh lệnh vô nghĩa này về cơ bản bảo Lãm tiếp tục làm những gì ông ta đang làm, về cơ bản tức là không làm gì cả.
Đến ngày 20 tháng 2, miền Nam đã hoàn toàn mất thế chủ động. Được hỗ trợ bởi pháo hạng nặng và xe tăng T-54 và PT-76 do Liên Xô sản xuất, Bắc Việt tấn công dữ dội và trực diện liên tục vào các vị trí quân miền Nam, đặc biệt là sườn phía bắc của các đơn vị dù và biệt động. Chẳng mấy chốc, hầu như mọi đơn vị miền Nam đều phải giao tranh ác liệt với kẻ thù. Chiến thuật của Bắc Việt là bao vây các vị trí của địch và cắt đứt các tuyến tiếp tế trên không của họ bằng hỏa lực phòng không hạng nặng, trong khi liên tục pháo kích bằng súng cối, tên lửa và đại pháo. Tiếp theo, họ tiến đánh các vị trí, kết hợp bộ binh và thiết giáp khi có thể. Lực lượng miền Nam chống trả vất vả, vì thường bị áp đảo về quân số và làm tình hình càng thêm tồi tệ vì liên tục chứng tỏ mình không có khả năng phối hợp các cuộc chuyển quân cơ động với sự yểm trợ của hỏa lực pháo binh. Ngoài ra, pháo binh miền Nam có tầm bắn ngắn hơn nhiều so với các khẩu pháo 122 và 130 mm của Bắc Việt và không thể cung cấp hỏa lực phản pháo hiệu quả. Do đó, miền Nam phụ thuộc vào sự hỗ trợ trên không tầm gần của Hoa Kỳ và trực thăng tấn công để sinh tồn. Tuy nhiên, thật không may, sự hỗ trợ trên không của đồng minh kém hiệu quả hơn so với những gì các nhà hoạch định dự đoán vì một số lý do. Đầu tiên, như đã nói ở trên, thời tiết xấu thường làm cả trực thăng và máy bay hỗ trợ cánh cố định phải ngừng hoạt động hoặc làm giảm hiệu quả của chúng khi chúng có thể bay. Ngoài ra, việc không có cố vấn Hoa Kỳ có nghĩa là các cuộc không kích không được phối hợp chặt chẽ. Tệ hơn nữa, hệ thống phòng không của đối phương dày đặc và hiệu quả hơn nhiều so với những gì các nhà phân tích tình báo dự đoán. Bắc Việt cũng đã học được rằng họ có thể giảm thiểu tác động của hỏa lực hỗ trợ trên không chiến thuật của Hoa Kỳ bằng cách “ôm chặt” quân miền Nam để các máy bay ném bom chiến đấu và trực thăng tấn công của Hoa Kỳ không thể tấn công mình mà không gây nguy hiểm cho các đồng minh miền Nam của họ. Các nhiệm vụ ném bom “vòng cung ánh sáng” của B-52 chỉ phát huy hiệu quả khi Bắc Việt tập trung quân tấn công. Bắc Việt, với các thành phần gồm bốn sư đoàn, đã tăng cường cường độ các mũi tấn công vào các vị trí miền Nam. Quân Bắc Việt đã cô lập Tiểu đoàn Biệt động 39 tại Căn cứ Biệt động Bắc vào ngày 19 tháng 2, bao vây căn cứ với hơn 2.000 quân. Trong ba ngày, Bắc Việt đã tấn công vị trí và sau đó truy đuổi các biệt động khi họ tìm cách thoát ra. Trong tổng số 430 biệt động quân lúc bắt đầu trận chiến, 178 người đã tử trận hoặc mất tích và 148 người bị thương. Đơn vị 39 đã bị xoá sổ như một đơn vị tác chiến, sau khi đã gây ra tổn thất cho kẻ thù; các phân tích viên ảnh trinh sát đã đếm được 639 xác bộ đội trên trận địa xung quanh. Căn cứ Biệt động phía Bắc. Sau đó, Bắc Việt chuyển trọng tâm sang Căn cứ Biệt động phía Nam, do Tiểu đoàn 21 và tàn quân của Tiểu đoàn 39 chiếm giữ. Sau hai ngày giao tranh ác liệt, Tướng Lãm cho rằng vị trí của biệt động là không thể bảo vệ được và ra lệnh cho quân phòng thủ miền Nam rút lui về Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực 30. Hành động này khiến một tiểu đoàn biệt động khác không thể tiếp tục chiến đấu hiệu quả và làm lung lay nghiêm trọng niềm tin của những chiến sĩ sống sót.
Một khía cạnh của trận chiến tại Căn cứ Biệt động Bắc đã tạo nên giai điệu cho nhận thức lâu dài của công luận về Chiến dịch Lam Sơn 719. Mặc dù hầu hết các Biệt động ở đó đã chiến đấu rất anh dũng, một số ít binh lính không bị thương đã mất hết nhuệ khí và tìm cách bỏ trốn bằng cách trèo lên trực thăng để di tản cùng với các binh lính bị thương nặng. Các phi hành đoàn đã cố gắng ngăn cản bọn đào ngũ này, nhưng một số vẫn cố bám vào càng đáp của trực thăng để trở về miền Nam. Những bức ảnh chụp nhóm binh lính bám chặt vào trực thăng để bảo toàn mạng sống đã tạo nên hình ảnh sâu đậm về Chiến dịch Lam Sơn 719. Nhiều người Mỹ đã phản đối nhận thức này. Trung tá Robert F. Molinelli, chỉ huy Phi đội 2, Không đoàn 17, đã bay để hỗ trợ trận chiến tại Căn cứ Biệt động Bắc, cho biết, “Quân Biệt động VNCH bị áp đảo về số lượng gấp sáu hoặc tám lần. Trong ba ngày, chúng tôi đã không thể tiếp tế cho họ. Khi họ hết đạn, họ chạy liều ra ngoài và lấy súng trường bên xác địch và tiếp tục chiến đấu. Khi họ quyết định rời khỏi ngọn đồi, họ mở đường thẳng xuyên qua trung đoàn Bắc Việt đó, giết địch bằng súng và đạn của chính kẻ thù. . . . Mười bảy biệt động quân đã hoảng loạn và họ đã bỏ chạy trên càng đáp trực thăng. Nhưng vẫn còn rất nhiều chiến binh ở lại không hoảng loạn.” Bất chấp những nhận xét như vậy, ấn tượng ban đầu về những người lính miền Nam hoảng loạn trốn khỏi quân Cộng sản đã chứng tỏ là gần như không thể tẩy sạch được.
Khi những sự kiện này diễn ra, Tổng thống Thiệu ngày càng bực dọc với tính thiếu kiên quyết và chỉ huy kém cỏi của Tướng Lãm trong trận chiến. Ngày 23 tháng 2, ông triệu hồi Trung tướng Đỗ Cao Trí, vị chỉ huy năng nổ hơn, người hùng của chiến dịch xâm nhập Campuchia, từ bộ tư lệnh Quân đoàn III của mình đến Sài Gòn để chuyển giao cho ông quyền chỉ huy Lam Sơn 719. Rời Sài Gòn để tiếp quản vị trí mới, trực thăng của Trí bị rơi và ông đã tử nạn. Tướng Lãm vẫn giữ quyền chỉ huy chiến dịch ở Lào.
Áp lực của Bắc Việt không hề giảm bớt. Quân BV đã tràn ngập Lữ đoàn Nhảy dù số 3 tại Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực 31 vào ngày 25 tháng 2, bắt giữ Đại tá Nguyễn Văn Thọ, chỉ huy lữ đoàn, và toàn bộ ban tham mưu của ông ta. Một cuộc phản công của miền Nam đã thất bại, nhưng đã giết chết 250 bộ đội Bắc Việt và phá hủy 11 xe tăng PT-76 và T-54 trong quá trình này. Việc phòng thủ Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực 31 và cuộc phản công tiếp theo đã khiến lực lượng nhảy dù miền Nam thiệt hại 155 người và hơn 100 người bị bắt. Ngay sau đó, Bắc Việt đã tấn công Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực 30. Những gì đã trở thành một mô hình cho các cuộc tấn công của Bắc Việt đã lặp lại, mang lại kết quả tương tự. Trung tướng Sutherland đã mô tả tình hình đang diễn ra trong một thông điệp gửi cho Tướng Abrams:
Tôi rất lo ngại về kỷ luật và tinh thần của sư đoàn nhảy dù. Tướng Đống [chỉ huy sư đoàn] đã phát triển thái độ chủ bại và thái độ tương tự này cũng được phản ánh ở một số chỉ huy cấp dưới của ông. Ví dụ, một hoạt động đã được lên kế hoạch và thực hiện ngày hôm nay để tiếp tế cho CCHTHL 30, di tản những binh sĩ tử trận và bị thương và vận chuyển một số Biệt động 21 đến CCHTHL Biệt động. Những thương binh và bốn thi thể được di tản. 94 lính khỏe mạnh, nhưng không phải tất cả là biệt động quân, đã vội vã chạy đến trực thăng và leo lên. Chỉ huy bộ binh dù nằm trong số những người leo lên trực thăng. Tôi đã được thông báo, nhưng chưa được xác nhận, rằng chỉ huy lữ đoàn đã đến CCHTHL 30 vào khoảng 18 giờ để nắm quyền kiểm soát tình hình. Tôi ngờ rằng trước khi đêm nay kết thúc, lính dù có thể đã trốn đi và bỏ mặc CCHTHL 30.
Binh lính miền Nam đã không bỏ mặc căn cứ hỗ trợ hỏa lực ngay lập tức, nhưng căn cứ này chỉ tồn tại thêm được vài ngày nữa. Cuối cùng, tất cả các khẩu súng của căn cứ đều bị hư hại, và Tiểu đoàn Nhảy dù số 2 được lệnh di tản khỏi CCHTHL 30.
Vào ngày 28 tháng 2, Tổng thống Thiệu một lần nữa nhúng tay vào trận đánh. Ông quyết định nhiệm vụ của Lam Sơn 719 nên chuyển từ phá hủy khu vực căn cứ của quân BV sang “chiếm” Tchepone, bản thân nó không có giá trị quân sự thực sự. Việc tập trung vào Tchepone hoàn toàn là một chiêu trò quan hệ công chúng, nếu thành công, sẽ cho phép Thiệu tuyên bố chiến thắng và rút quân khỏi nơi nguy hiểm, qua đó giành được vốn chính trị cho cuộc bầu cử mùa thu sắp tới. Theo đó, ông ra lệnh thay thế Sư đoàn Nhảy dù bằng phần còn lại của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, đã được chuyển đến Khe Sanh. Lệnh của Thiệu thật nực cười. Sư đoàn Nhảy dù, mặc dù đang gặp khó khăn, vẫn ở trong tình trạng tương đối tốt; không có lý do chính đáng nào được đưa ra để thay thế họ. Hơn nữa, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, chưa bao giờ chiến đấu như một sư đoàn, là một ẩn số. Để làm vấn đề tồi tệ hơn nữa, việc thay thế một sư đoàn bằng một sư đoàn khác khi đang giao tranh dữ dội với kẻ thù là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất trong chiến tranh hiện đại.
Những yếu tố này không thoát khỏi mắt Tướng Lãm, ông đã lập tức bay đến Sài Gòn để đề xuất một kế hoạch thay thế cho Thiệu. Ông đề xuất một cuộc tấn công bằng trực thăng vào Tchepone của Sư đoàn Bộ binh 1 (được tăng cường thêm Trung đoàn 2, đã được chuyển từ vị trí trước đó gần DMZ). Sư đoàn Thủy quân Lục chiến sẽ theo sau Sư đoàn 1, và Sư đoàn Nhảy dù sẽ đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ sườn phía bắc. Thiệu đồng ý và vào ngày hôm sau, ngày 1 tháng 3, đã thông báo cho Abrams và Đại sứ Bunker về sự thay đổi trong kế hoạch ban đầu.
Abrams không hài lòng với diễn biến này. Mục tiêu đánh chiếm và phá hủy các căn cứ địa của kẻ thù ở Lào đã bị từ bỏ để theo đuổi những gì ông cho là một nỗ lực vô nghĩa nhằm đưa lực lượng miền Nam vào Tchepone vì mục đích chính trị, thay vì lý do quân sự chính đáng. Tuy nhiên, Abrams không thể làm gì khác ngoài việc chấp thuận.
Quân đội Bắc Việt đã giành được quyền kiểm soát vùng đất cao nhìn ra Đường 9 từ phía bắc, nhưng họ đã phải trả giá đắt. Các cuộc không kích B-52 liên tiếp đã gây ra thiệt hại khủng khiếp cho quân Bắc Việt, gây ra thương vong mà MACV ước tính là tương đương với một trung đoàn bộ đội Bắc Việt có khả năng tác chiến trong một tuần. Những tổn thất đáng kể có lẽ đã ngăn cản quân Bắc Việt tập hợp đủ lực lượng để hoàn toàn tiêu diệt các đơn vị miền Nam dọc theo xa lộ.
Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 3, các đơn vị của Sư đoàn 1 miền Nam đã thực hiện một loạt cuộc tấn công bằng trực thăng về phía tây dọc theo dãy núi phía nam, thiết lập ba căn cứ có tên là Lolo, Liz và Sophia. Quân đội Bắc Việt đã chống trả dữ dội: 11 máy bay trực thăng bị bắn hạ và 44 chiếc khác bị hư hại khi họ đưa quân vào Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực Lolo. Vào ngày 6 tháng 3, sau một đợt tấn công dữ dội vào các vị trí của quân BV bằng máy bay ném bom chiến đấu và B-52, hai tiểu đoàn bộ binh từ Trung đoàn 2 của Sư đoàn 1 đã được 120 trực thăng UH-1 Huey của Hoa Kỳ đưa từ Khe Sanh đến Khu vực đổ bộ Hope, cách Tchepone bốn km về phía đông bắc. Vào ngày 7 tháng 3, quân miền Nam đã tiến vào Tchepone. Họ đã đến được mục tiêu của mình, nhưng vào thời điểm này, lực lượng kẻ thù đã tăng đến 12 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn pháo binh và ít nhất 19 tiểu đoàn phòng không. Lực lượng miền Nam tại Lào ở trong tình thế bấp bênh.
Vào ngày 9 tháng 3, Lãm một lần nữa bay đến gặp Thiệu. Lần này, ông đến để trình bày lý do rút quân khỏi Lào. Sau khi nhấn mạnh vị trí bị lộ của quân ta, ông đề xuất ngừng đánh và rút lui bằng trực thăng, với Sư đoàn 1, đơn vị cực tây, rời đi đầu tiên, tiếp theo là Nhảy dù, và cuối cùng là TQLC. Tướng Viên đồng ý với Lãm. Abrams và Đại sứ Bunker, cũng có mặt, phản đối mạnh mẽ việc rút quân và thúc giục Tổng thống Thiệu tăng cường lực lượng đang bị bao vây của mình ở Lào bằng Sư đoàn Bộ binh 2, lúc đó ở Tỉnh Quảng Ngãi, và chiến đấu đến cùng với Cộng sản. Abrams và Bunker lập luận rằng cần phải cân nhắc đến quan hệ chính trị và công luận. Trong một thông điệp gửi đến chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Abrams đã liệt kê các lập luận phản đối việc rút quân: “Liệu lực lượng Việt Nam Cộng hòa có vẻ như bị buộc phải rút quân bất chấp thương vong nặng nề mà kẻ thù phải gánh chịu hay không; một động thái như vậy sẽ được báo chí miền Nam, Hoa Kỳ và quốc tế diễn giải như thế nào; tác động của điều này đối với tình hình chính trị ở Nam Việt Nam [nơi sẽ tổ chức bầu cử quốc gia vào mùa thu năm sau]. . . . ”
Tuy nhiên, Thiệu không muốn mạo hiểm thêm thương vong, cũng như khả năng bị hủy diệt của sư đoàn cừ nhất của mình (Sư đoàn Nhảy dù) và phần lớn lực lượng dự bị chiến lược của ông ta. Theo đó, ông đã ra lệnh chấm dứt chiến dịch và bắt đầu rút quân. Theo Tướng Bruce Palmer, Abrams tin rằng Thiệu đã mất bình tĩnh và không bao giờ tha thứ cho ông ta.
Vào ngày 12 tháng 3, Tướng Lãm bắt đầu rút quân, một động thái khó khăn đối với một lực lượng đang giao tranh và bị quân địch áp đảo về số lượng. Vào thời điểm này, quân BV đã điều động tổng cộng 5 sư đoàn vào khu vực này để gây ra càng nhiều thiệt hại càng tốt cho QLVNCH. Họ đã bố trí hỏa lực phòng không hạng nặng vào các trực thăng di tản, phục kích các đơn vị miền Nam đang di chuyển trên đường bộ và tiếp tục gây áp lực lên các căn cứ hỏa lực của họ. Cuộc rút lui kéo dài 12 ngày và gần như là một thảm họa. Quân Bắc Việt đã cố gắng bao vây và tiêu diệt các đơn vị miền Nam; chỉ có trực thăng tấn công và hỗ trợ trên không chiến thuật của Hoa Kỳ mới ngăn chặn được một cuộc tháo chạy hoàn toàn. Các lực lượng dù và thiết giáp đã rút lui dọc theo Đường 9 trong khi các trực thăng của Hoa Kỳ đã giải cứu các đơn vị ở hai bên sườn. Quân Bắc Việt sử dụng mọi phương án có sẵn để ngăn chặn quân miền Nam chạy thoát, truy đuổi bằng xe tăng và các loại xe bọc thép khác. Sự hoảng loạn sau đó ở một số đơn vị miền Nam gợi nhớ đến sự hoảng loạn trước đó của bọn đào ngũ tại Căn cứ Biệt động Bắc. Trung tá William N. Preachey, chỉ huy Tiểu đoàn Phi hành 158, đã thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ cho quân đội miền Nam trong suốt hầu hết Chiến dịch Lam Sơn 719, đã mô tả bản chất của cuộc rút lui:
Họ [quân đội miền Nam] sẽ làm bất cứ điều gì để thoát thân khỏi Lào. . . . Người còn khỏe sẽ chạy qua người đã chết và bị thương. Chúng tôi bay lơ lửng ở độ cao sáu hoặc bảy bộ (hơn 2m một chút) và trưởng phi hành đoàn và xạ thủ sẽ nằm sấp và kéo mọi người lên. Nếu bạn đáp xuống đất, họ sẽ xô đẩy và làm trực thăng lật nghiêng. Một chiến thuật sau đó là chạy và nhảy lên vai mọi người và đu lấy càng đáp. Trực thăng sẽ bay lên độ cao 1.000 hoặc 1.300 m, và sau năm hoặc mười phút, họ hết chịu nỗi và buông tay ra. Tôi vẫn có thể nhìn thấy những thân thể bay qua bầu trời.
Những người lính miền Nam cuối cùng đã quay trở lại xứ vào ngày 24 tháng 3, và hoạt động này chính thức kết thúc vào ngày 6 tháng 4 năm 1971, 45 ngày sau khi lực lượng miền Nam bắt đầu tiến quân vào Lào.
ĐÁNH GIÁ LAM SƠN 719 VÀ HIỆU SUẤT CỦA MIỀN NAM
Đánh giá Lam Sơn 719 là điều khó khăn. Vào ngày lực lượng của ông tiến đến Tchepone, Tổng thống Thiệu tuyên bố chiến dịch Lào là “chiến thắng lớn nhất từ trước đến nay… một Điện Biên Phủ về mặt đạo đức, chính trị và tâm lý”. Tương tự như vậy, chính quyền Nixon đã bắt đầu một chiến dịch thuyết phục công chúng Hoa Kỳ rằng, mặc dù có bằng chứng rõ ràng ngược lại, chiến dịch đã thành công. Tổng thống Nixon đã báo cáo vào tháng 2 rằng “chiến dịch đã diễn ra theo đúng kế hoạch” và rằng quân miền Nam đang “chiến đấu theo cách vượt trội”. Người phát ngôn của chính quyền mô tả việc miền Nam rút quân khỏi Lào chỉ là “cuộc điều binh cơ động”. Rõ ràng đây là sự thêu dệt, nhưng ngay cả sau chiến tranh Việt Nam, Nixon vẫn tiếp tục cho rằng chiến dịch đã đạt được mục tiêu của mình; ông đã viết trong hồi ký, “Kết quả [của Lam Sơn 719] là một thành công về mặt quân sự nhưng là một thất bại về mặt tâm lý,” do truyền hình đưa tin tiêu cực về cuộc rút quân.
Mặc dù đánh giá của Nixon về chiến dịch này rõ ràng là chủ đề gây tranh cãi, không còn nghi ngờ gì nữa, nhiều nhà bình luận trên các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ luôn phản đối dữ dội đối với các tuyên bố của chính quyền về thành tích của miền Nam và kết quả của chiến dịch. James McCartney đã viết trên tờ Philadelphia Inquirer: “miền Nam đã phát minh ra một loại chiến tranh mới ở Lào. Họ tránh chiến đấu bất cứ khi nào có thể, họ chạy trốn khỏi khu vực khi người Cộng sản bắt đầu xuất hiện trên chiến trường, và họ liên tục tuyên bố ‘chiến thắng’ hoặc ‘thắng lợi’ khi hoạt động liên quan kết thúc. . . . Nhiều quân nhân Mỹ từng chỉ trích người miền Nam vì có xu hướng ‘chạy trốn’ khi trận chiến sắp bùng phát ở Việt Nam. Bây giờ, khi người miền Nam chạy trốn, những phát ngôn viên của Lầu Năm Góc có xu hướng ca ngợi ‘tính cơ động’ của họ.
Tờ Cleveland Plain Dealer cũng thách thức chính quyền, viết rằng, “Thay vì thành công về mặt quân sự mà Tổng thống Nixon đã ca ngợi, thì có vẻ như cuộc tấn công vào Lào là một thất bại đã củng cố lòng tin của Hà Nội.” Một báo cáo tương đối cân bằng về chiến dịch này trên tờ Philadelphia Bulletin đã nhận xét, “Nếu không có sự yểm trợ trên không của chúng ta và không có 51 tiểu đoàn quân đội Hoa Kỳ giữ vững pháo đài… người ta không thể đoán được tình hình có thể tồi tệ đến mức nào.” Về cơ bản, đồng tình với những đánh giá tiêu cực nhất của phương tiện truyền thông Hoa Kỳ, Bắc Việt đã chế giễu chiến dịch này và gọi đó là thảm bại nặng nề nhất từ trước đến nay” đối với “Nixon và đồng bọn. . . . Quả là một bức tranh đẹp về Việt Nam hóa chiến tranh!”
Đánh giá khách quan về chiến dịch Lào nằm ở đâu đó giữa những tuyên bố công khai của Nixon về thành công của chiến dịch và cách phương tiện truyền thông Hoa Kỳ mô tả về thảm họa hoàn toàn. Xét về mặt quân sự thuần túy, kết quả của chiến dịch là lẫn lộn. Sài Gòn đưa tin rằng chiến dịch này đã khiến 1.160 quân chính phủ thiệt mạng, 4.271 người bị thương và 240 người mất tích. Nhiều người trong ngành truyền thông, bao gồm cả Associated Press và tạp chí Newsweek, đã thách thức những con số này và đưa ra con số thương vong thực tế là 3.800 người thiệt mạng, 5.200 người bị thương và 775 người mất tích. Theo số liệu chính thức của Quân đoàn XXIV, gần giống với số liệu do phương tiện truyền thông đưa tin, thương vong ở lực lượng Sài Gòn bao gồm 9.000 người chết hoặc bị thương và bị bắt, tỷ lệ thương vong gần 50 phần trăm. Thương vong của Hoa Kỳ bao gồm 253 người chết hoặc mất tích trong chiến đấu và 1.149 người bị thương. Về mặt trang thiết bị, Hoa Kỳ mất 108 trực thăng bị phá hủy và 618 trực thăng bị hư hại (20 phần trăm trong số đó dự kiến sẽ không bao giờ bay trở lại). Không quân Hoa Kỳ mất 7 máy bay ném bom chiến đấu và 4 phi công tử trận. Quân đội VNCH mất 211 xe tải, 87 xe chiến đấu, 54 xe tăng, 96 khẩu pháo và tất cả các thiết bị công binh chiến đấu (máy ủi, máy san, v.v.).
Phe đồng minh báo cáo 19.043 quân địch tử trận. Họ cũng báo cáo 1.963 vũ khí hạng nặng và 5.170 vũ khí cá nhân bị thu giữ và 106 xe tăng, 13 khẩu pháo, 2.001 xe, 170.346 tấn đạn dược và 1.250 tấn gạo bị phá hủy. Mặc dù những kết quả này rất ấn tượng, nhưng hầu hết chúng xảy ra ở giai đoạn đầu của chiến dịch trước khi miền Nam mất thế chủ động.
Bất chấp thương vong gây ra cho Bắc Việt và việc tịch thu hoặc phá hủy nguồn cung cấp của đối phương, hiệu suất chiến đấu của miền Nam tốt nhất là không đồng đều, và tệ nhất là rất kém cỏi. Tổng thống Nixon, cố gắng che đậy một chiến dịch mà ông biết gần như là một thảm họa, ghi nhận miền Nam đã làm một công việc đáng khen ngợi chống lại những lực lượng tốt nhất mà Bắc Việt có thể cung cấp. Ông tuyên bố: “Tướng Abrams . . . nói rằng một số đơn vị [Quân miền Nam] đã không làm tốt, nhưng 18 trong số 22 tiểu đoàn đã hành động với tinh thần chiến đấu cao, với lòng tự tin mãnh liệt, và họ có thể đủ sức một mình tự vệ chống lại kẻ thủ.” Đánh giá của Nixon tốt nhất là đáng ngờ. Một số đơn vị đã chiến đấu rất tốt, nhưng những đơn vị khác, bao gồm một số lực lượng có tiếng là tinh nhuệ, đã tan vỡ và bỏ chạy dưới áp lực nặng nề của quân BV.
Điểm yếu của miền Nam quá rõ ràng. Tướng Abrams đã tóm tắt tình hình xác đáng nhất khi ông buồn bã kết luận “Sài Gòn không thể duy trì các hoạt động xuyên biên giới quy mô lớn… nếu không có sự hỗ trợ từ bên ngoài”. Như trước đây, giới lãnh đạo cấp cao bị chính trị hóa đại diện cho một vấn đề nghiêm trọng. Mặc dù Trung tướng Lãm là tổng tư lệnh bộ binh, nhưng ông hầu như bị hai chỉ huy của các sư đoàn Nhảy dù và Thủy quân Lục chiến coi thường, bản thân các vị này là trung tướng, chỉ huy các lực lượng dự bị chiến lược quốc gia, đã quen nghe lệnh trực tiếp từ Sài Gòn thay vì nghe lệnh một tư lệnh quân đoàn. Họ phản đối các mệnh lệnh và chỉ thị của Lãm trong mọi cơ hội. Mặc dù Lãm đã kêu gọi Tổng thống Thiệu hỗ trợ, Thiệu vẫn từ chối khiển trách các chỉ huy cấp dưới của Lãm, ngay cả khi hành động của họ gần như là sự bất tuân thượng lệnh trong lúc trận chiến đang căng thẳng. Thiệu không dám làm mất lòng hai vị tướng, một người chỉ huy lực lượng chống đảo chính chính của mình (Lực lượng Nhảy dù) và người kia chỉ huy một phần lớn lực lượng dự bị chiến lược của mình. Một lần nữa, những cân nhắc chính trị tỏ ra quan trọng hơn so với nhu cầu quân sự.
Bản thân Lãm không phải là một ngôi sao sáng chói. Như Tướng Bruce Palmer đã viết sau chiến tranh, “danh tiếng của Lãm với tư cách là một chỉ huy chiến đấu chỉ ở mức trung bình, nhưng . . . ông ta được coi là một nhà quản lý trung thành, có năng lực.” Trước Lam Sơn 719, Lãm đã sống sót với tư cách là một chỉ huy quân đoàn nhờ vào các kỹ năng chính trị và sự ủng hộ của ông đối với Tổng thống Thiệu. Ông có rất ít kinh nghiệm trong việc chỉ đạo các chiến dịch quy ước gồm nhiều sư đoàn. Cường độ chiến đấu ở Lào và những yêu cầu của hoạt động này là quá sức đối với Lãm. Trung tá Darron của trụ sở Quân đoàn XXIV sau đó đã thảo luận về hành động của Lãm trong các hoạt động, kết luận: “Tôi nhớ đã nhìn thấy ông ấy vào một buổi sáng gần cuối chiến dịch khi mọi thứ đều tồi tệ ở Lào. . . . Ông ta nằm ngửa, trong tư thế bị đóng đinh, dựa lưng vào boongke của mình . . . nhìn lên bầu trời với đôi mắt nhắm nghiền, và rõ ràng là ông ta đang chịu một áp lực khủng khiếp, khủng khiếp. Thành thật mà nói, tôi nghĩ rằng ông ta đang kẹt trong một tính huống vượt quá sức mình.” Sự bất lực của Lãm đã thể hiện rõ trong suốt chiến dịch. Chuẩn tướng Sidney B. Berry, trợ lý chỉ huy của Sư đoàn Không vận 101, đã báo cáo sau hoạt động rằng “việc lập kế hoạch và phối hợp cho Lam Sơn 719, ở cấp Tư lệnh Quân đoàn, có chất lượng thấp không thể chấp nhận được.”
Lãm đã không chuẩn bị đầy đủ để tiến hành một chiến dịch có quy mô và độ phức tạp như Lam Sơn 719, nhưng ông ta không đơn độc; thật không may cho người miền Nam, sự thiếu hụt về mặt lập kế hoạch và phối hợp không chỉ giới hạn ở cấp chỉ huy quân đoàn. Các chỉ huy quân miền Nam ở mọi cấp bậc đều gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc chỉ huy và kiểm soát, đặc biệt là liên quan đến việc phối hợp các hoạt động vũ trang kết hợp, bao gồm khả năng sử dụng bộ binh, thiết giáp và pháo binh cùng lúc và sử dụng hợp lý lực lượng dự bị. Tướng Viên, chủ tịch Bộ Tổng tham mưu Liên quân QLVNCH, đã mô tả kết quả của những khó khăn này:
Được triển khai trên địa hình bất lợi, lực lượng thiết giáp 300 xe của chúng tôi bất lực trước xe tăng địch và không thể hỗ trợ Sư đoàn Nhảy dù phá vỡ vòng vây của địch hoặc giành lại thế chủ động. Ngược lại, thiết giáp địch tỏ ra hung hăng và nguy hiểm; chúng đã lợi dụng một địa hình quen thuộc mặc dù bất lợi để phục kích hoặc áp sát các điểm mạnh của chúng tôi và cuối cùng kết hợp với bộ binh để tấn công và tràn ngập chúng tôi. Các đơn vị bộ binh của chúng tôi không chịu điều động khi giao tranh và không sử dụng hỏa lực hữu cơ của mình để tiêu diệt kẻ thù, hoàn toàn dựa vào hỏa lực hỗ trợ. Quân đoàn I và các chỉ huy sư đoàn tham gia đều có lực lượng dự bị, nhưng họ không sử dụng chúng để vượt qua khó khăn và giành lại thế chủ động. Ngay cả hỏa lực sẵn có của chúng tôi cũng không được sử dụng đúng cách, đặc biệt là trong tháng đầu tiên của chiến dịch do sự phối hợp kém.
Sự vắng mặt của các cố vấn Hoa Kỳ dễ dàng được nhận thấy trong những lúng túng ngày càng tăng về sự phối hợp mà các lực lượng miền Nam đã liên tục thể hiện. Nhiều nhiệm vụ mà các cố vấn Hoa Kỳ thường xuyên hoàn thành cho các chỉ huy quân miền Nam đã không được thực hiện hoặc thực hiện kém. Tham mưu trưởng Lục quân William Westmoreland đã viết, “Đã quen làm việc lâu năm với các cố vấn Hoa Kỳ, các chỉ huy quân miền Nam cấp dưới gặp khó khăn khi không có họ trong việc sắp xếp hỏa lực hỗ trợ và tiếp tế. Cố vấn cấp cao của Mỹ và tổng tư lệnh quân miền Nam hoạt động từ các căn cứ khác nhau. Một số chỉ huy cấp cao của miền Nam đã bỏ cuộc, khiến Tổng thống Thiệu phải can thiệp và bắt đầu tự mình ban hành lệnh xuống tận trung đoàn, trong nhiều trường hợp Tướng Abrams cũng không biết.”
Có lẽ mối quan tâm lớn nhất đối với MACV là việc miền Nam không có khả năng phối hợp hỏa lực hỗ trợ của riêng họ, dẫn đến việc phụ thuộc quá mức vào các tài sản bên ngoài của Hoa Kỳ. Nhiều người trong cả MACV và Bộ Tổng tham mưu Liên quân nhận ra rằng chỉ có sự hỗ trợ của không quân Hoa Kỳ mới có thể tránh cho quân miền Nam một cuộc tháo chạy hoàn toàn ở Lào. Khi bay giữa hỏa lực phòng không và hỏa lực mặt đất dữ dội, các trực thăng của Quân đội Hoa Kỳ đã thực hiện hơn 160.000 phi vụ và máy bay chiến thuật và B-52 của Hoa Kỳ đã thực hiện hơn 10.000 cuộc không kích để hỗ trợ lực lượng miền Nam. Sự phụ thuộc của miền Nam vào sự hỗ trợ của không quân Hoa Kỳ thật đáng lo ngại, vì sự hỗ trợ này sẽ biến mất khi Hoa Kỳ hoàn tất việc rút quân. Một trong những hậu quả quan trọng và lâu dài nhất của Chiến dịch Lam Sơn 719 là tác động bất lợi của nó đối với tinh thần chiến đấu và tính đoàn kết của miền Nam. Bất chấp những tuyên bố khoa trương của Tổng thống Thiệu, lực lượng miền Nam rút lui khỏi Lào biết rằng mình đã bị đánh bại. Cố vấn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, Thiếu tá William Dabney, người đã bay qua Lào với tư cách là điều phối viên không quân, đã so sánh Thủy quân Lục chiến Việt Nam trước và sau chiến dịch, nói rằng, “Đây là những chàng trai dũng cảm, được chỉ huy tốt, được tiếp tế tốt, có một xung lực nhất định và một sự tự tin nhất định vào bản thân khi họ xông vào Lào. Khi họ thoát ra, họ đã bị đánh bại. Họ biết rằng mình đã bị đánh bại và họ xử sự như thể họ đã bị đánh bại.”
Trong quá trình rút lui khỏi Lào dưới áp lực nặng nề, quân đội miền Nam đã bỏ lại nhiều tử sĩ trên chiến trường. Một sĩ quan miền Nam sau đó đã mô tả tình hình như sau: “Đây là một chấn thương khủng khiếp đối với những gia đình kém may mắn đó, những người theo truyền thống thờ cúng thân nhân xấu số và gắn bó với linh hồn người đã khuất, giờ đây phải sống trong đau buồn và khắc khoải triền miên . . . Nỗi đau xót của người Việt sẽ không bao giờ nguôi ngoai.”
Mặc dù Thiệu tuyên bố chiến thắng, nhưng những người lính và gia đình họ không hề có ảo tưởng về kết quả của chiến dịch và tinh thần họ suy sụp vì nỗi bại trận rõ ràng dưới tay quân Bắc Việt. Thiệu đã thực hiện các bước để làm giảm vòng xoáy đi xuống của tinh thần binh sĩ. Ông đã cấm các tạp chí tin tức của Hoa Kỳ là Time và Newsweek và một số tờ báo đối lập loan báo ồn ào về những khía cạnh tiêu cực của chiến dịch ở Lào. Ngoài ra, ông còn giữ lại các sư đoàn Nhảy dù và Thủy quân Lục chiến bị ảnh hưởng nặng nề ở Quân đoàn I, thay vì đưa họ trở lại căn cứ của họ quanh Sài Gòn. Ông không muốn những người lính này lan truyền những câu chuyện về thảm họa ở Lào. Tuy nhiên, tinh thần và sự tự tin của miền Nam đã bị giáng một đòn nghiêm trọng.
Rõ ràng, Lam Sơn 719 là một thất bại của quân miền Nam và là một bước lùi đối với việc Việt Nam hóa; tuy nhiên, nó vẫn đạt được ít nhất một phần nhỏ mục tiêu ban đầu. Tướng Sutherland đã chuyển tiếp đánh giá sau đây cho Abrams vào cuối tháng 3: “Lamson 719 tốn kém về mặt chi phí hỗ trợ của Hoa Kỳ, nhưng thành tích của nó cho đến nay cho thấy rằng về mặt thiệt hại gây ra cho kẻ thù, sự gián đoạn các hoạt động tấn công dự kiến của chúng, bằng chứng về hiệu quả của chương trình Việt Nam hóa và những lợi ích sẽ tích lũy trong tương lai, không nghi ngờ gì nó là một chiến dịch có giá trị cao và hiệu quả.”
Đánh giá của Sutherland về chiến dịch này có thể hơi cường điệu và bình luận của ông về hiệu quả của Việt Nam hóa chắc chắn có thể gây tranh cãi, nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy Lam Sơn 719 ít nhất đã tạm thời làm gián đoạn quá trình tích lũy của Bắc Việt ở Lào. Mặc dù tổn thất của miền Nam là rất nghiêm trọng, nhưng lực lượng Bắc Việt cũng chịu tổn thất nặng nề, nếu không muốn nói là tệ hơn, khi mất đến một nửa số quân tham gia chiến dịch. Những ước tính này có thể cao, nhưng chắc chắn chiến dịch này đã khiến Cộng sản phải trả giá đắt về người và trang thiết bị, có lẽ sẽ được sử dụng trong một cuộc tấn công lớn của Bắc Việt vào Quân khu I sau này vào năm 1971. Lam Sơn 719 là một yếu tố quan trọng làm trì hoãn cuộc tấn công lớn tiếp theo của Cộng sản; Bắc Việt mất gần một năm để thay thế các nguồn lực đã mất trong nỗ lực tiêu diệt quân miền Nam dọc theo Đường 9. Do đó, miền Nam và nỗ lực Việt Nam hóa có được một khoảng thời gian ngắn nhưng cần thiết để thoát khỏi áp lực của Bắc Việt. Như Keith Nolan đã lưu ý trong cuốn Into Laos, “Việt Nam hóa đã được thử nghiệm, đã bị kéo căng nhưng chưa bị phá vỡ, và hiện vẫn còn nhiều chỗ để phát triển.”
Ngay sau khi kết thúc Chiến dịch Lam Sơn 719, Tổng thống Nixon tuyên bố, “Tối nay tôi có thể báo cáo rằng Việt Nam hóa đã thành công.” Sau đó, ông tuyên bố rằng mình đang đẩy nhanh tiến độ rút quân đội Hoa Kỳ. Thêm 100.000 quân sẽ được đưa về nước vào tháng 11 năm 1971. Ông hứa rằng “Sự tham gia của Hoa Kỳ vào Việt Nam sắp kết thúc,” nhưng từ chối ấn định ngày rút quân hoàn toàn, cho rằng làm như vậy sẽ đánh mất “biện pháp mặc cả chính của chúng ta để giành được quyền thả tù binh chiến tranh Hoa Kỳ . . . và sẽ loại bỏ động cơ mạnh mẽ nhất của kẻ thù để kết thúc chiến tranh sớm hơn bằng đàm phán.” Những đợt rút quân mới được công bố sẽ để lại 184.000 quân Mỹ ở miền Nam vào cuối năm 1971. Vào tháng 6 năm 1971, Bộ trưởng Quốc phòng Laird tuyên bố rằng 90 phần trăm trách nhiệm chiến đấu đã được chuyển giao cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa; hai tháng sau, ông tuyên bố rằng Giai đoạn I của Việt Nam hóa đã hoàn thành. Từ thời điểm đó trở đi, trách nhiệm chiến đấu trên bộ sẽ hoàn toàn do QĐVNCH đảm nhận.
Bất chấp những tuyên bố của chính quyền về thành công của Chiến dịch Lam Sơn 719, chiến dịch này đã đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về giai đoạn tiếp theo của Việt Nam hóa. Trong Giai đoạn II, miền Nam sẽ phát triển khả năng hỗ trợ trên không và trên biển và pháo binh, khả năng hậu cần và hệ thống bảo dưỡng để thay thế những vật tư đã được Hoa Kỳ cung cấp từ năm 1965. Không rõ điều này sẽ mất bao lâu, nhưng Lam Sơn 719 đã chứng minh rằng QĐ miền Nam vẫn còn nhiều việc phải làm để đạt được mục tiêu cuối cùng là tự lực được trên chiến trường. Trong khi miền Nam nỗ lực hướng tới mục tiêu này và lực lượng bộ binh còn lại của Hoa Kỳ dần rút lui, Hoa Kỳ vẫn cần duy trì mức độ hỗ trợ chiến đấu, đặc biệt là hỗ trợ trên không, vốn rất quan trọng ở Lào. Tướng Phillip Davidson đã mô tả tình hình năm 1971 như sau: “Lam Sơn 719 đã chứng minh rằng, trong khi Việt Nam hóa đã đạt được tiến triển, chính quyền miền Nam và lực lượng vũ trang của họ vẫn còn nhiều khiếm khuyết sâu sắc khiến thành công cuối cùng của chương trình này phải mất nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ nữa. Trên hết, chiến dịch này cho thấy sự phụ thuộc hoàn toàn của quân miền Nam vào lực lượng Hoa Kỳ.”
CỐ GẮNG KHẮC PHỤC NHỮNG ĐIỂM YẾU CỦA QUÂN ĐỘI MIỀN NAM
Ngay sau Chiến dịch Lam Sơn 719, Tướng Abrams đã lập ra các chương trình mới để khắc phục những điểm yếu và sai sót đã quá rõ ràng trong chiến dịch. Tại Lào, Bắc Việt chứng minh rõ ràng mình đã từ bỏ chiến thuật du kích để chuyển sang chiến tranh quy ước. Cách duy nhất để chống lại loại chiến tranh này là bằng các hoạt động vũ trang kết hợp tập trung vào sự đồng bộ của bộ binh, thiết giáp, pháo binh và hỗ trợ trên không. Abrams thúc giục Tướng Viên chỉ định một ủy ban để phát triển học thuyết vũ trang kết hợp phù hợp cho QLVNCH sử dụng; ủy ban đã biên soạn Cẩm nang Học thuyết Vũ trang Kết hợp được phê duyệt vào cuối năm 1971. Ngoài ra, các cuộc tập trận cho các đơn vị quân miền Nam đã được khởi xướng để dạy chiến thuật phối hợp không quân-lục quân và hoạt động kết hợp xe tăng-bộ binh. Tướng Abrams chỉ đạo các sĩ quan cấp cao của quân đoàn cố vấn thành lập các nhóm cố vấn và hỗ trợ lưu động để làm việc trực tiếp với các chỉ huy quân đoàn miền Nam nhằm cung cấp “hỗ trợ năng động cho việc sớm đưa vào sử dụng chế độ chiến thuật vũ khí kết hợp mới” trong quân lực. Sau đó, ông chỉ định thêm một sĩ quan cấp cao của Quân đội làm “cố vấn cơ động trên không” tại mỗi quân khu để giúp phối hợp hỗ trợ trực thăng của Hoa Kỳ cho các đơn vị dã chiến của Nam Việt Nam.
MACV cũng thực hiện các bước để cải thiện vũ khí cho đồng minh. Xe tăng T-54 và pháo hạng nặng mà quân BV sử dụng ở Lào đã vượt trội hơn xe tăng M-41 và pháo hạng nhẹ của quân miền Nam. Trong nỗ lực chống lại vũ khí hạng nặng của Cộng sản, MACV đã trang bị một tiểu đoàn xe tăng miền Nam bằng xe tăng chiến đấu chủ lực M-48 nặng hơn của Hoa Kỳ. Ngoài ra, một tiểu đoàn pháo binh đã nhận được pháo tự hành 175 mm để chống lại pháo tầm xa 130 mm của Liên Xô mà BV sở hữu. Thiết bị mới là một bước đi đúng hướng, nhưng số lượng được cung cấp quá ít nên không có nhiều tác động đáng kể. Như Tướng Davidson đã viết, những nỗ lực này cuối cùng đã chứng minh là một phần của câu chuyện liên tục về “quá ít, quá muộn”.
Thiết bị không phải là phương tiện chính để cải thiện khả năng chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Tướng Abrams đã lưu ý vào tháng 7 năm 1971 rằng khả năng lãnh đạo kém vẫn là điểm yếu quan trọng nhất của miền Nam. Điều này chỉ quá rõ ràng trong Chiến dịch Lam Sơn 719. Abrams và các tướng lĩnh cấp cao của ông đã bắt đầu một chiến dịch để thuyết phục Thiệu thay thế các chỉ huy yếu kém ở cấp cao nhất của chuỗi chỉ huy QĐVNCH. Mặc dù tổng thống miền Nam đã thực hiện một vài thay đổi, tiêu chí cho chỉ huy cấp cao trong QĐVNCH vẫn là lòng trung thành về chính trị, thay vì năng lực chỉ huy chiến đấu. Một đánh giá năm 1971 về tập thể sĩ quan QLVNCH lưu ý rằng quân đội chưa bao giờ có thể tách mình khỏi chính trị và rằng các mối quan hệ gia đình, lòng trung thành cá nhân, và các mối quan hệ quê quán, bạn học và kinh doanh quyết định việc được leo lên các cấp bặc cao hơn. Ngay cả các tướng lĩnh cao cấp của miền Nam cũng nhận ra rằng cần phải làm điều gì đó. Tướng Viên đã viết sau chiến tranh rằng “vấn đề lãnh đạo cần được xem xét đặc biệt là ở cấp quân đoàn và sư đoàn. Việc bổ nhiệm các sĩ quan cấp tướng vào những chức vụ chỉ huy quan trọng này cần phải tránh những mưu tính chính trị và hoàn toàn dựa trên tính chuyên nghiệp và năng lực quân sự. . . . Kỷ luật quân sự cần phải được thực thi nghiêm ngặt ngay cả với các sĩ quan cấp tướng, đặc biệt là khi việc tiến hành một hoạt động lớn và mang tính quyết định đang bị đe dọa.”
Tổng thống Thiệu, rõ ràng là quan tâm nhiều hơn đến sự ủng hộ chính trị, đã không dám cách chức những sĩ quan không đủ năng lực nhưng trung thành với ông. Tài chỉ huy khiếm khuyết, lâu nay vẫn thịnh hành trong QLVNCH, đã gây ra hậu quả nghiêm trọng ở Lào; nếu không được khắc phục, cũng sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng trong các trận chiến sắp tới. Một khía cạnh khác của cuộc khủng hoảng lãnh đạo là nhu cầu phát triển đủ các nhà lãnh đạo cho các lực lượng mở rộng. Để giải quyết vấn đề này, Abrams đã thúc giục miền Nam chú trọng hơn vào việc xác định sớm những người có tiềm năng lãnh đạo, mở rộng số lượng và thời lượng các khóa đào tạo lãnh đạo, và nâng cao tiêu chuẩn của các trường đào tạo lãnh đạo, bao gồm Học viện Quân sự Việt Nam, Cao đẳng Chỉ huy và Tham mưu, và Cao đẳng Quốc phòng. Đây là những biện pháp khắc phục phù hợp, nhưng chỉ có thời gian mới có thể trả lời liệu chúng có tác động đáng kể đến tình hình hay không. Quân đội miền Nam không phải là đối tượng duy nhất mà MACV quan tâm. Không quân miền Nam không đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hỗ trợ không quân tầm gần trong Chiến dịch Lam Sơn 719. Theo một cựu tướng lĩnh miền Nam, sự tham gia và đóng góp của họ khá khiêm tốn ngay cả theo tiêu chuẩn của QLVNCH “. Mặc dù Hoa Kỳ đã nỗ lực đáng kể để cải thiện năng lực của Không quân Việt Nam, họ vẫn gặp phải những khó khăn nghiêm trọng trong huấn luyện, trang bị và bảo dưỡng và không hề sẵn sàng để lấp đầy khoảng trống do Không quân Hoa Kỳ nhanh chóng rời đi để lại. Việc thiếu năng lực của KQVN là điềm báo chẳng lành cho các lực lượng mặt đất vốn phụ thuộc rất nhiều vào hỗ trợ không quân.
Tình hình Việt Nam hóa liên quan đến Hải quân Việt Nam có phần tích cực hơn. Vào tháng 9 năm 1970, HQVN đã đảm nhận hoàn toàn trách nhiệm cho Chiến dịch Market Time, sứ mạng ngăn chặn ven biển, trong khi Hải quân Hoa Kỳ tiếp tục chịu trách nhiệm ngăn chặn trên biển. Vào giữa năm 1971, HQVN đã đảm nhận toàn bộ trách nhiệm cho cả hai nhiệm vụ. Ngoài ra, lực lượng giang thuyền đảm nhiệm trách nhiệm hộ tống và bảo vệ các đoàn xe tiếp tế trên sông Cửu Long lên đến Neak Luong và Phnom Penh. Đến cuối năm 1970, họ được trang bị hơn 800 giang thuyền và đảm nhận trách nhiệm hoạt động trên toàn bộ hệ thống sông rạch miền Nam trước đây do “hải quân nước nâu” của Hoa Kỳ tuần tra.
Khi hải quân đạt được những thành tựu to lớn trong giai đoạn này, Hoa Kỳ tiếp tục tập trung vào các lực lượng không quân và lục quân, những lực lượng cuối cùng phải gánh chịu gánh nặng của cuộc chiến chống lại Bắc Việt. Mặc dù Lam Sơn đã bộc lộ nhiều vấn đề, một báo cáo cuối năm 1971 đã đưa ra đánh giá lạc quan sau đây:
“Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã dần cải thiện một phần là do phải đảm nhận phần lớn trách nhiệm chiến đấu khi các lực lượng Hoa Kỳ tái triển khai. Kinh nghiệm thu được trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động xuyên biên giới phức tạp, quy mô lớn, bắt đầu với Lam Sơn 719 vào đầu năm 1971, là vô giá. Trong khi hệ thống chỉ huy và kiểm soát của quân miền Nam còn một chặng đường dài phải đi, nó chứng tỏ có thể và sẽ hoạt động trong điều kiện chiến đấu khắc nghiệt.
Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, Tướng Abrams vẫn khá hài lòng với tiến trình Việt Nam hóa. Vào đầu năm 1972, ông tuyên bố rằng “tình trạng sẵn sàng, cảnh giác và hoạt động của lực lượng vũ trang ở đây tại quốc gia này [miền Nam] là cao nhất mà tôi từng thấy, mặc dù một số vẫn còn ngủ quên trên chiến trường”. Việc rút quân của Hoa Kỳ vẫn tiếp tục, và Abrams cùng các cố vấn của ông tại chiến trường chắc chắn đã nhận ra rằng thời gian không còn nhiều để chuẩn bị cho miền Nam tiếp quản khi tất cả người Mỹ đã rời đi. Tuy nhiên, Nhà Trắng tiếp tục rêu rao về những “thành công” của Việt Nam hóa khi ngày càng có nhiều quân đội Hoa Kỳ rời đi. Bài kiểm tra cuối cùng đối với người miền Nam sẽ diễn ra chưa đầy một năm sau đó trong Chiến dịch Phục sinh của Quân BV năm 1972.
TRÊN MẶT TRẬN NỘI ĐỊA
Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, Chiến dịch Lam Sơn 719, giống như cuộc xâm nhập Campuchia năm trước, đã tập hợp lực lượng phe bất đồng chính kiến phản chiến. Số lượng của họ dường như tăng lên hàng ngày. Việc đưa tin trên phương tiện truyền thông về cuộc rút lui của miền Nam khỏi Lào đã gây ra tác động tàn phá đối với nhiều người Mỹ, hầu hết trong số họ đã chán ngấy bản chất không có hồi kết của một cuộc chiến dường như không bao giờ kết thúc. Sự ủng hộ của người dân đối với Tổng thống Nixon và các chính sách của ông ở miền Nam đã giảm xuống mức thấp nhất mọi thời điểm. Một cuộc thăm dò của Gallup vào ngày 7 tháng 3 năm 1971 chỉ ra rằng 7 trong số 10 người Mỹ nghi ngờ tổng thống đã giấu giếm họ tất cả những gì họ cần biết về các sự kiện ở Lào và miền Nam. Một cuộc thăm dò của Harris được công bố vào ngày hôm sau cho thấy chỉ có 39 phần trăm dân số ủng hộ cách Nixon xử lý cuộc chiến. 41 phần trăm lo ngại rằng cuộc giao tranh ở Lào sẽ làm chậm trễ việc di tản quân đội Hoa Kỳ khỏi miền Nam, và 51 phần trăm cho biết họ sẽ ủng hộ một nghị quyết của quốc hội yêu cầu rút toàn bộ quân đội Hoa Kỳ vào cuối năm. Tháng 4 và tháng 5 chứng kiến sáu tuần biểu tình phản đối việc Hoa Kỳ tiếp tục tham gia vào cuộc chiến. Vào ngày 24 tháng 4, 150.000 người đã biểu tình tại San Francisco; cùng ngày, 200.000 người biểu tình, bao gồm một nhóm lớn cựu chiến binh phản đối chiến tranh Việt Nam, đã xuống đường ở Washington, yêu cầu rút toàn bộ quân đội Hoa Kỳ ngay lập tức. Trong tuần trước Ngày Quốc tế Lao động năm 1971, người biểu tình đã đe dọa sẽ đóng cửa chính quyền liên bang, nhưng thị trưởng của Quận Columbia đã yêu cầu liên bang giúp đỡ. Vệ binh Quốc gia đã được triệu tập và 12.000 người biểu tình đã bị bắt, và về cơ bản đã dập tắt cuộc biểu tình. Tuy nhiên, tình cảm vẫn tiếp tục không suy giảm đối với cuộc chiến và cách chính quyền xử lý cuộc chiến.
Những đối thủ Dân chủ của Nixon tại Quốc hội đã nắm bắt thời cơ. Từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 1 tháng 7 năm 1971, 17 phiếu bầu tại Hạ viện và Thượng viện đã tìm cách hạn chế thẩm quyền của Nixon trong việc tiến hành chiến tranh và/hoặc ấn định ngày đơn phương rút quân. Vào cuối tháng 3 năm 1971, các đảng viên Dân chủ tại Hạ viện đã thông qua một nghị quyết kêu gọi chấm dứt sự tham gia của Hoa Kỳ vào Đông Dương trước ngày 1 tháng 1 năm 1973. Khi Nixon tán thành thêm các cuộc ném bom vào Bắc Việt trong Chiến dịch Lam Sơn 719, Thượng nghị sĩ George McGovern đã cáo buộc rằng vụ ném bom mới là “hành động man rợ nhất mà bất kỳ quốc gia hiện đại nào đã thực hiện kể từ sau cái chết của Adolph Hitler”. McGovern sau đó đã đề xuất với Ủy ban Đối ngoại Thượng viện một dự luật sẽ buộc Nixon phải rút quân đội Hoa Kỳ khỏi Đông Nam Á trước ngày 31 tháng 12 1971. Trong các phiên điều trần về đề xuất do chủ tịch ủy ban William Fulbright tiến hành, những người ủng hộ dự luật của McGovern đã kêu gọi Hoa Kỳ đơn phương rút quân bất kể sự đáp trả của Bắc Việt. Dự luật của McGovern cuối cùng đã xuất hiện dưới dạng một sửa đổi nhỏ như một tu chính án cho dự luật nghĩa vụ quân sự; tuy nhiên, vào ngày 16 tháng 6, Thượng viện đã bác bỏ tu chính án này.
Các lực lượng chống Nixon trong Quốc hội không bỏ cuộc. Vào ngày 22 tháng 6, Thượng viện đã thông qua Tu chính án Mansfield, tuyên bố rằng tất cả binh sĩ Hoa Kỳ sẽ phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 9 tháng kể từ khi dự thảo được chấp thuận gia hạn. Sau đó, từ ngữ này đã được thay đổi trong ủy ban hội nghị từ “chín tháng kể từ khi thông qua” thành “ngày sớm nhất có thể thực hiện được”. Sắc luật như vậy đã làm tăng áp lực lên chính quyền và sau đó sẽ làm suy yếu nghiêm trọng vị thế thỏa thuận của Hoa Kỳ tại các cuộc đàm phán hòa bình Paris.
CÁC CUỘC ĐÀM PHÁN HÒA BÌNH
Để xoa dịu những người chỉ trích mình, tổng thống đã có một loạt bài phát biểu vào tháng 4 năm 1971 nhấn mạnh các kế hoạch tiếp tục rút quân của Hoa Kỳ. Trong khi đó, chính quyền của ông đã cố gắng trong suốt năm 1971 và sang năm mới để đưa Bắc Việt tham gia vào các cuộc đàm phán nghiêm túc và có ý nghĩa tại Paris. Bốn năm đàm phán chính thức với họ tại Khách sạn Majestic ở Paris đã giải quyết được rất ít ngoại trừ hình dạng của chiếc bàn đàm phán. Theo đó, ở một vùng ngoại ô Paris tháng 8 năm 1969, Kissinger đã bắt đầu các cuộc đàm phán bí mật với Bắc Việt; tuy nhiên, trong suốt năm 1970 và kéo dài đến tận năm 1971, các cuộc họp này chỉ mang lại một chút tiến triển hơn so với các cuộc đàm phán chính thức. Lam Sơn 719 đã làm gián đoạn các phiên họp bí mật, nhưng ngay sau khi chiến dịch kết thúc, Kissinger đã yêu cầu nối lại các cuộc đàm phán bí mật. Vào ngày 31 tháng 5 năm 1971, ông đã bí mật gặp Xuân Thủy, người đang dẫn đầu phái đoàn Bắc Việt trong khi đồng chí của ông là Lê Đức Thọ đang tạm thời ở Hà Nội. Kissinger đã lặp lại đề xuất của Nixon vào ngày 8 tháng 10 năm 1970 và tuyên bố rằng Hoa Kỳ không còn yêu cầu quân đội Bắc Việt phải rút khỏi miền Nam như một điều kiện để giải quyết bế tắc ở Đông Nam Á. Kissinger đề xuất rằng tất cả các tù binh chiến tranh phải được trao trả ngay lập tức và chỉ ra rằng Hoa Kỳ đã sẵn sàng thảo luận về thời hạn để Hoa Kỳ rút quân hoàn toàn và lệnh ngừng bắn sau đó khi các cuộc rút quân cuối cùng bắt đầu. Đổi lại, ông yêu cầu Bắc Việt đồng ý không cho phép lực lượng bên ngoài xâm nhập thêm vào miền Nam, Lào và Campuchia. Bắc Việt từ chối đề xuất của Kissinger, nói rằng nó không đủ đảm bảo quân đội Bắc Việt có thể ở lại miền Nam. Ngoài ra, họ từ chối thời điểm trong đề nghị của Kissinger, vì đề xuất rút quân của Hoa Kỳ sẽ diễn ra sau cả lệnh ngừng bắn và trao đổi tù binh, về cơ bản đã loại bỏ hai trong số những lá bài mặc cả quan trọng của họ. Mặc dù bị Xuân Thủy từ chối đề xuất của mình, Kissinger rời khỏi cuộc họp với niềm tin rằng “lần đầu tiên các cuộc đàm phán nghiêm túc dường như đang diễn ra”.
Vào ngày 26 tháng 6, theo yêu cầu của Lê Đức Thọ, Kissinger lại bí mật gặp Bắc Việt tại Paris. Các nhà ngoại giao của chế độ Hà Nội đã đưa ra 9 đề xuất phản bác đề xuất trước đó của Kissinger. Kissinger tin rằng 7 trong số đề xuất có thể được đàm phán thành công, nhưng có những phản đối mạnh mẽ đối với hai đề xuất cuối cùng, trong đó Hà Nội yêu cầu bồi thường và chấm dứt sự hỗ trợ của Hoa Kỳ cho “Thiệu-Kỳ-Khiêm để có thể thành lập một chính quyền mới tại Sài Gòn.”
Một lần nữa Kissinger được khích lệ bởi các sự kiện và kết luận rằng các cuộc đàm phán có ý nghĩa đã ở trong tầm tay. Vào ngày 1 tháng 7, khi Kissinger đang xem xét 9 điểm của Hà Nội, bà Nguyễn Thị Bình, đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại các cuộc đàm phán chính thức ở Paris, đã công khai một kế hoạch 7 điểm của riêng bà, tương tự nhưng không giống hệt kế hoạch do Lê Đức Thọ trình bày trong các cuộc họp bí mật với Kissinger. Bình kêu gọi thống nhất Việt Nam, đảm bảo sự trung lập của Việt Nam, chấm dứt chiến tranh Việt Nam hóa, giải tán các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ, đưa CPCMLT vào chính quyền miền Nam trước bất kỳ cuộc bầu cử nào và trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị.
Kissinger sửng sốt và hỏi Lê Đức Thọ lập trường chính thức của Bắc Việt là gì; Lê Đức Thọ trả lời rằng lập trường của ông là lập trường được chấp thuận. Kissinger kết luận rằng sự cố này là một âm mưu để buộc Hoa Kỳ phải đàm phán theo các điều khoản của Lê Đức Thọ; họ muốn đàm phán bí mật, nhưng đã sử dụng thông báo của Bà Bình như một cách để kêu gọi lực lượng phản chiến tại Hoa Kỳ. Sau chiến tranh, Trương Như Tảng tiết lộ rằng điều này có thể không nhất thiết phải như vậy. Cựu bộ trưởng tư pháp của CPCMLT đã viết rằng các đề xuất hòa bình của Cộng sản ở Paris là kết quả của cuộc xung đột tại Hà Nội giữa Bắc Việt và các thành viên miền Nam của CPCMLT. Bất kể lý do nào cho thông báo của bà Bình, nó đã khiến Quốc hội Mỹ, các phương tiện truyền thông và những người bất đồng chính kiến phản chiến, không biết về các cuộc đàm phán bí mật của Kissinger với Lê Đức Thọ tại Paris, lên án Nixon vì đã không phản hồi lời đề nghị của Bình.
Kissinger đã gặp lại Tho vào ngày 12 tháng 7 để thảo luận về những điểm khác biệt giữa hai đề xuất của Bắc Việt. Lê Đức Thọ nhắc lại 9 đề xuất ban đầu của mình làm cơ sở cho các cuộc đàm phán tiếp theo. Kissinger nói rằng việc bồi thường có thể được thảo luận, nhưng việc giải thể chính quyền Thiệu là không thể thương lượng. Khi bế tắc, cuộc họp đã tan rã, nhưng những người tham gia đã đồng ý gặp lại vào ngày 26 tháng 7.
Trong phiên họp tiếp theo, các cuộc thảo luận diễn ra tốt đẹp, chỉ để gặp phải một bức tường khi đụng vào vấn đề Thiệu. Một cuộc họp khác được triệu tập vào ngày 16 tháng 8, nhưng không có tiến triển nào. Mô hình này lặp lại lần nữa trong phiên họp tiếp theo vào ngày 13 tháng 9.
Kissinger thực hiện thêm một nỗ lực đàm phán với Bắc Việt vào năm 1971. Để đạt được thỏa hiệp về số phận của chính quyền Thiệu, Kissinger đã gửi cho các nhà đàm phán Cộng sản một lá thư vào ngày 3 tháng 10, đề xuất “một cuộc bầu cử tổng thống mới sẽ được tổ chức trong vòng sáu tháng sau khi ký kết thỏa thuận cuối cùng. Cuộc bầu cử sẽ được điều hành bởi một ủy ban bầu cử, bao gồm những người Cộng sản, dưới sự giám sát của quốc tế. Một tháng trước cuộc bầu cử, Thiệu sẽ từ chức và chức vụ của ông sẽ được chủ tịch của Thượng viện miền Nam đảm nhiệm.” Ngoài ra, đề xuất bao gồm một công thức mới cho việc rút quân đội Hoa Kỳ, nói rằng hầu hết quân đội sẽ rời đi trong vòng 7 tháng sau khi có thỏa thuận, chỉ để lại một lực lượng nhỏ còn lại để cung cấp “tư vấn kỹ thuật, hậu cần và giám sát lệnh ngừng bắn.”
Bắc Việt đã đồng ý thảo luận đề xuất này vào ngày 20 tháng 11, nhưng vào ngày 17 tháng 11, họ đã hủy cuộc họp mà không bình luận về lá thư của Kissinger.
Sau chiến tranh, Trương Như Tảng đã viết rằng toàn bộ kịch bản của các cuộc đàm phán của Bắc Việt năm 1971 là một ví dụ điển hình về chiêu trò “vừa đàm vừa chuẩn bị đánh”, trong đó Lê Đức Thọ “đã chiêu đãi Henry Kissinger một màn trình diễn tuyệt vời về ‘vừa đánh vừa đàm’, sử dụng các cuộc đàm phán để che đậy càng lâu càng tốt bước đi thực sự tiếp theo trong cuộc chiến, chiến dịch mùa khô sắp tới ở miền Nam.” Bằng chứng bổ sung cho thấy rằng Bắc Việt đã sử dụng thời gian này để chuẩn bị cho cuộc tấn công tiếp theo của họ.
Để trả lời những kẻ chỉ trích mình và trong nỗ lực đưa Bắc Việt trở lại bàn đàm phán, Nixon đã tiết lộ trong một chương trình phát thanh và truyền hình toàn quốc vào ngày 25 tháng 1 năm 1972 rằng Kissinger đang tiến hành các cuộc đàm phán bí mật với Bắc Việt tại Paris. Mặc dù thông báo của Nixon không làm dịu những kẻ chỉ trích ông, nhưng nó dù sao cũng đã thúc đẩy vận may chính trị của tổng thống vào đầu năm bầu cử. Thật không may, bài phát biểu không có tác động gì đến Bắc Việt. Ngày sau khi phát sóng, Washington đã gửi cho Hà Nội một công hàm riêng cho biết ý định tiếp tục các cuộc đàm phán bí mật. Bắc Việt đã từ chối và rút lại tất cả các đề xuất hòa bình trước đó, nói rằng, “Các ông nên nhận ra sự khác biệt giữa các điều kiện năm 1971 và các điều kiện hiện tại năm 1972.” Điều kiện chính đã thay đổi là Bắc Việt đang chuẩn bị phát động một cuộc tổng tấn công vào miền Nam.

Những người lính miền Nam di chuyển dọc theo một đoạn Đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào trong Chiến dịch LAM SON 719, tháng 3 năm 1971. (Bộ sưu tập ảnh Douglas Pike, Lưu trữ Việt Nam, Đại học Texas Tech)

Trực thăng Mỹ đang chuẩn bị chở quân đội miền Nam qua biên giới Lào vào trận chiến như một phần của Chiến dịch LAM SON 719, tháng 4 năm 1971. (Bộ sưu tập ảnh Douglas Pike, Lưu trữ Việt Nam, Đại học Texas Tech)