Bãi biển Omaha

Các phương tiện vận chuyển bị phá hủy trên Bãi biển Omaha

Mark Cartwright

Trần Quang Nghĩa dịch

Bãi biển Omaha là một trong hai bãi biển mà quân đội Hoa Kỳ tấn công vào Ngày D, ngày 6 tháng 6 năm 1944. Lực lượng phòng thủ kiên cố của Đức trên vách đá nhìn ra bãi biển đã khiến khu vực này trở thành nơi gần như bất khả xâm phạm nhất trong cuộc đổ bộ Normandy, nhưng đến cuối ngày, đầu cầu đã được bảo vệ, mặc dù có nhiều thương vong hơn bất kỳ bãi biển nào khác trong Ngày D.

Chiến dịch Overlord

Cuộc tấn công đổ bộ vào các bãi biển Normandy là giai đoạn đầu tiên của Chiến dịch Overlord, nhằm giải phóng Tây Âu khỏi sự chiếm đóng của Đức Quốc xã. Chỉ huy tối cao của lực lượng xâm lược Đồng minh là Tướng Dwight D. Eisenhower (1890-1969). Tổng tư lệnh của lực lượng bộ binh Normandy, gồm 39 sư đoàn, là Tướng Bernard Montgomery (1887-1976) giàu kinh nghiệm. Chỉ huy lực lượng không quân là Thống chế Không quân Trafford Leigh Mallory (1892-1944), với lực lượng hải quân do Đô đốc Bertram Ramsay (1883-1945) chỉ huy.

 Đức Quốc xã đã chuẩn bị từ lâu cho một cuộc xâm lược của Đồng minh, nhưng bộ chỉ huy cấp cao của Đức không chắc chắn chính xác cuộc xâm lược này sẽ diễn ra ở đâu. Các chiến lược đánh lạc hướng của Đồng minh làm tăng thêm sự không chắc chắn, nhưng những địa điểm có khả năng xảy ra nhất vẫn là Pas de Calais, điểm gần nhất với bờ biển Anh, hoặc Normandy với những bãi biển rộng và phẳng. Lãnh tụ Đức Quốc xã Adolf Hitler (1889-1945) đã dốc hết sức củng cố toàn bộ bờ biển từ Tây Ban Nha đến Hà Lan bằng một loạt các boongke, lô cốt, các khẩu đội pháo và quân đội, nhưng Bức tường Đại Tây Dương này, như ông gọi, vẫn chưa hoàn thành vào tháng 6 năm 1944. Ngoài ra, bức tường mỏng vì không có chiều sâu thực sự cho các tuyến phòng thủ.

Thống chế Gerd von Rundstedt (1875-1953), tổng tư lệnh quân đội Đức ở phía Tây, tin rằng sẽ không thể ngăn chặn một cuộc xâm lược trên bờ biển và do đó, tốt hơn là giữ phần lớn lực lượng phòng thủ làm lực lượng dự bị cơ động để phản công vào các đầu cầu của đối phương.

Các mũi đổ bộ của Đồng minh trong Thế chiến II, tháng 6 1944.

Thống chế Erwin Rommel (1891-1944), chỉ huy của Cụm tập đoàn quân B, không đồng ý và cho rằng điều cần thiết là phải ngăn chặn mọi cuộc xâm lược trên chính các bãi biển. Hơn nữa, Rommel tin rằng ưu thế trên không của Đồng minh có nghĩa là các hoạt động di chuyển của lực lượng dự bị sẽ bị cản trở nghiêm trọng. Hitler đồng ý với Rommel, vì vậy lực lượng phòng thủ đã được kéo dài bất cứ nơi nào các công sự yếu nhất. Rommel đã cải thiện các biện pháp phòng thủ tĩnh và dựng thêm các chướng ngại vật vào tất cả các bãi biển lớn hơn. Cuối cùng, Rundstedt được trao một lực lượng dự bị cơ động, nhưng sự thỏa hiệp đã làm suy yếu cả hai kế hoạch phòng thủ. Lực lượng đáp trả của Đức cũng sẽ không được yểm trợ bởi cấu trúc chỉ huy hỗn loạn của họ, điều đó có nghĩa là Rundstedt không thể huy động bất kỳ lực lượng thiết giáp nào (nhưng Rommel, người báo cáo trực tiếp với Hitler, thì có thể), và không chỉ huy nào có thể kiểm soát được lực lượng hải quân và không quân ít ỏi có sẵn hoặc các khẩu đội ven biển được kiểm soát riêng biệt. Tuy nhiên, các biện pháp phòng thủ đã được tăng cường xung quanh các biện pháp phòng thủ yếu hơn của Normandy lên tới 31 sư đoàn bộ binh ấn tượng cộng với 10 sư đoàn thiết giáp và 7 sư đoàn bộ binh dự bị.  Quân đội Đức có thêm 13 sư đoàn ở các khu vực khác của Pháp.

Chiến dịch Neptune

Việc chuẩn bị cho Overlord diễn ra trong suốt tháng 4 và tháng 5 năm 1944 khi Không quân Hoàng gia (RAF) và Không quân Hoa Kỳ (USAAF) không ngừng ném bom các hệ thống liên lạc và giao thông ở Pháp cũng như các tuyến phòng thủ ven biển, sân bay, mục tiêu công nghiệp và các cơ sở quân sự. Hơn 200.000 lượt xuất kích đã được tiến hành để làm suy yếu càng nhiều càng tốt các tuyến phòng thủ của Đức Quốc xã, sẵn sàng cho bộ binh chuẩn bị tham gia vào cuộc điều động quân đội lớn nhất trong lịch sử. Kháng chiến Pháp cũng đóng vai trò của mình trong việc chuẩn bị bằng cách phá hủy các tuyến đường sắt và hệ thống liên lạc để đảm bảo các lực lượng vũ trang Đức không thể phản ứng hiệu quả với cuộc xâm lược.

 Hạm đội Đồng minh gồm 7.000 tàu các loại khởi hành từ các cảng biển phía nam nước Anh trong một chiến dịch có mật danh là Neptune. Các tàu tập trung ngoài khơi Portsmouth trong một khu vực được gọi là ‘Piccadilly Circus’ theo tên ngã tư đường đông đúc của London, và sau đó tiến về Normandy. Cùng lúc đó, tàu lượn và máy bay bay đến bán đảo Cherbourg ở phía tây và Ouistreham ở rìa phía đông của cuộc đổ bộ đã định. Lính dù Hoa Kỳ tấn công ở phía tây để cố gắng cắt đứt Cherbourg. Ở cực đông của chiến dịch, lính dù Anh nhắm mục tiêu bảo vệ các cây cầu và sườn phía đông của cuộc xâm lược.

Bức tường Phòng thủ Đại Tây Dương của Đức

Cuộc tấn công đổ bộ được ấn định vào rạng sáng ngày 5 tháng 6, thời điểm bạn ngày là yêu cầu cần thiết để có sự hỗ trợ trên không và trên biển cực kì quan trọng. Thời tiết xấu dẫn đến việc hoãn lại 24 giờ. Ngay sau nửa đêm, đợt đầu tiên gồm 23.000 lính dù đã nhảy cuống đất Pháp. Từ 3:00 sáng, cuộc không kích và pháo kích của hải quân vào Normandy bắt đầu, ngừng lại chỉ 15 phút trước khi những người lính đầu tiên đổ bộ lên bãi biển. Khu vực đổ bộ được chia thành năm bãi có mật danh. Trong khi quân đội Hoa Kỳ tấn công Bãi Utah và Bãi Omaha ở phía tây, quân đội Canada đổ bộ vào Bãi Juno, và quân đội Anh đã phát động một cuộc tấn công vào Bãi Gold và, ở đầu phía đông của cuộc đổ bộ, Bãi Sword.

Omaha: Các biện pháp phòng thủ

Bãi Omaha, chỉ dài 4 dặm (6,4 km), trải dài từ Port-en-Bessin đến Vierville-sur-Mer. Bãi biển được chia thành tám khu vực hoạt động.  Phía tây của Bãi Omaha là một vị trí đặt ụ pháo trên vách đá Pointe du Hoc, một mục tiêu được giao cho Tiểu đoàn Biệt kích 2 và 5 của Hoa Kỳ. Hóa ra, cứ điểm này, vốn sẽ là mối đe dọa lớn lao đối với cuộc đổ bộ, đã bị tháo dỡ súng (sau đó chúng được tìm thấy trong khu rừng gần đó và bị phá hủy). Những gì án ngữ Omaha là một vách đá cao 100 bộ (30,5 m), điều đó có nghĩa là các vị trí đặt súng của Đức có thể bắn phá bất kỳ nơi nào của bờ biển hình lưỡi liềm ngay khi binh lính vừa rời khỏi tàu đổ bộ của họ. Chỉ có năm khe hẹp dẫn ra khỏi bãi biển và  địch có thể tập trung hỏa lực của họ xuống những khe này. Dưới chân vách đá được bảo vệ bằng các cuộn dây thép gai, mìn và thuốc nổ bẫy chông được giấu kín. Vùng nước nông của Bãi biển Omaha cản trở tàu đổ bộ. Các bãi biển cũng được bảo vệ bởi ba hàng chướng ngại vật, một số chìm dưới nước và tất cả đều có gắn mìn hoặc đạn pháo gây chết người.  Một lợi thế rõ rệt khác cho lực lượng phòng vệ là sự hiện diện của một sư đoàn bổ sung, tình cờ được đồn trú ở đó để tập trận; hai trung đoàn của sư đoàn kỳ cựu này đã trực tiếp tham gia vào việc phòng thủ Omaha.

Hỏa lực của Đức tại Omaha rất đáng gờm. Các cứ điểm dọc theo vách đá, mỗi cứ điểm có khoảng 30 quân, có mười súng máy, một khẩu pháo 50 mm và một khẩu pháo. Ngoài ra, Omaha còn có:

Tám boongke bê tông chứa súng hạng nặng 88 mm hoặc 75 mm, 60 khẩu pháo hạng nhẹ, 35 khẩu pháo nhỏ trong các công sự bê tông ngầm nhỏ và 18 khẩu pháo chống tăng. Một cứ điểm trung tâm cũng có súng phun lửa tự động. Giữa các cứ điểm có các chiến hào bộ binh với ít nhất 85 khẩu súng máy. Phía sau có 40 hố chứa bệ phóng tên lửa và các vị trí súng cối.

Đối mặt với sức mạnh hỏa lực này, quân đội Hoa Kỳ chỉ có một lợi thế nhỏ nhoi.  Lực lượng phòng vệ cố thủ dựa vào việc tiếp tế đạn dược bằng xe tải, và điều này sẽ trở nên bất khả thi do cuộc không kích và pháo kích của quân Đồng minh. Khi đó, đánh chiếm bãi biển sẽ là một trận chiến tiêu hao.

Không ảnh bãi biển Omaha

Đổ bộ lên Omaha

Thiết lập một đầu cầu tại Omaha là nhiệm vụ được giao cho Sư đoàn Bộ binh Hoa Kỳ số 1 dạn dày kinh nghiệm chiến đấu, có biệt danh là Big Red One vì miếng đệm vai màu đó. Họ được chỉ huy bởi Tướng Clarence R. Huebner. Cũng tham gia là binh sĩ của Sư đoàn Bộ binh Hoa Kỳ số 29 và binh lính Anh với tư cách là nhân viên điều hành tàu đổ bộ và đội dọn dẹp chướng ngại vật. Những đợt quân đầu tiên đổ bộ lên các bãi biển khác thường gặp phải thương vong nặng nề, nhưng tình hình căng thẳng đã giảm bớt khi các vị trí pháo phòng thủ bị vô hiệu hóa và các đợt tiếp theo có thể tiến lên dưới hỏa lực yếu hơn nhiều của kẻ thù. Nhưng Omaha sẽ là một câu chuyện hoàn toàn khác.

 Hạm đội hải quân được chỉ định đến Omaha, bao gồm các thiết giáp hạm Texas và Nevada của Hoa Kỳ, bắt đầu pháo kích bờ biển lúc 5:50 sáng. Lúc 6:00 sáng, máy bay ném bom tấn công các tuyến phòng thủ nhưng gây ra ít thiệt hại do tầm nhìn kém và ném bom không chính xác. Cuộc ném bom của hải quân dừng lại lúc 6:25 sáng và tàu đổ bộ tiếp quản, bắn tên lửa, nhưng tất cả đều không trúng đích.

Ngay từ đầu, quân đội Hoa Kỳ đã phải chịu đựng tình trạng biển động mạnh khiến việc đổ bộ của họ trở nên khó khăn hơn. Trong mỗi 48 tàu tấn công của đợt đầu tiên, 32 binh sĩ, khi không bị say sóng, buộc phải sử dụng mũ sắt để tát nước một cách điên cuồng. Cuộc hành trình dường như vô tận từ tàu đến bãi biển mất hai hoặc ba giờ đồng hồ mệt mỏi.

Tấn công lên bãi biển Omaha

27 xe tăng đã bị mất ngay lập tức khi được thả xuống tàu quá xa bờ. Hầu như tất cả các khẩu pháo của đợt đầu tiên đều bị mất theo cùng một cách. Một số ít xe tăng đã đến được trong đợt đầu tiên đã bị phá hủy trên bãi biển bởi súng chống tăng của Đức. 13 trong số 16 xe ủi đất của Đồng minh – được thiết kế để phá hủy các chướng ngại vật có gắn mìn bảo vệ bãi biển – đã bị mất. Một số tàu đổ bộ đã bị nổ tung bởi các quả mìn chìm. Gió mạnh và thủy triều khiến nhiều quân lính phải đổ bộ cách khu vực mục tiêu đã định tới một dặm. Với các sĩ quan thiệt mạng và thiết bị liên lạc bị phá hủy, việc tổ chức tấn công vào các vị trí phòng thủ trở nên cực kỳ khó khăn. Có vẻ như nếu có điều gì tỏ ra sai trái với kế hoạch tấn công,  thì điều đó đã xảy ra ở Omaha,

Khi bộ binh bước đến được bãi biển, họ muốn lên bờ một cách tuyệt vọng, nhưng ngay khi cửa tàu đổ bộ được hạ xuống, một hỏa lực chết người đã bắn hạ đám binh sĩ bên trong vì các xạ thủ súng máy Đức đã có được tầm bắn bằng cách bắn vào cửa tàu khi nó còn đóng. Kỹ thuật viên Alfred Sears nhớ lại:

Chúng tôi đâm vào bãi cát, hạ cửa, và sau đó tất cả địa ngục đổ xuống chúng tôi. Những người lính trên tàu đổ bộ đã nhận lãnh trọn hỏa lực của những loạt đạn súng máy. Viên trung úy tử vong ngay lập tức, bị bắn xuyên đầu. (Ambrose, 32)

Những người lính cố gắng tránh đạn bằng cách trèo qua mạn tàu, nhưng thường thì thiết bị của họ quá nặng và họ chết đuối. Đối với những ai có thể thoát ra, hàng trăm người ngay lập tức bị bắn hạ ở vùng nước nông, sau đó xác của họ bị tàu đổ bộ tiếp theo đâm nát. Nhiều binh sĩ trong số đặt chân được lên bãi biển chỉ vì họ đã bỏ lại quân dụng của mình, trong một số trường hợp, thậm chí là cả vũ khí.  Trung sĩ Harry Bare mô tả cảnh đổ bộ của mình:

Tôi cố gắng đưa người của mình ra khỏi tàu đổ bộ và bằng cách nào đó chui xuống dưới đê chắn sóng. Chúng tôi lội xuống bãi cát và nằm xuống, những binh sĩ lạnh cóng, không thể di chuyển. Người lính vô tuyến của tôi bị thổi bay đầu cách tôi ba thước. Bãi biển đầy xác người, những thi thể không có chân, không có tay – Chúa ơi, thật kinh khủng… Tôi cố gắng kiểm tra  lại những đồng đội. Chỉ có sáu người đi cùng tàu với tôi còn sống. (Ambrose, 331)

Bình sĩ Mỹ với ngư lôi Bangalore (một loại thuốc nổ được gắn cố định ở đầu một ống dài, để có thể đẩy nó qua mặt đất đến chướng ngại vật để phá hủy chúng mà không gây nguy hiểm cho người vận hành).

Bọn phòng thủ giờ có thể dàn đội hình bắn xối xả ác liệt vào những kẻ tấn công khiến họ không thể di chuyển khỏi bãi biển. Đạn súng máy, súng cối và súng bắn tỉa trút như mưa xuống bãi biển. Việc mất hầu hết xe tăng có nghĩa là binh sĩ trên bãi biển hầu như không có nơi ẩn náu ngoại trừ các chướng ngại vật chống tăng của kẻ thù. Trong hầu hết các trường hợp, việc giúp đỡ một đồng đội đã ngã xuống đều dẫn đến tử vong. Khi chạy đến được một bãi đá phiến sét ở cuối bãi biển, binh lính không thể tiến lên hoặc lùi lại.

Vào lúc 7:00 sáng, làn sóng tàu đổ bộ thứ hai đã đến, nhưng họ phải đối mặt với cùng một loạt hỏa lực tàn khốc như làn sóng đầu tiên. Các tàu đổ bộ vẫn đang bị đánh chìm bởi súng cối và mìn. Trên hết, thủy triều đang dâng lên, vì vậy những người lính đã lên bờ buộc phải tiến về phía trước mà không có bất kỳ nơi ẩn náu nào. Tỷ lệ thương vong trong lực lượng tấn công đầu tiên lên tới 60%.

 Thiếu úy Jimmy Green, chỉ huy đợt tàu đổ bộ đầu tiên vào sáng hôm đó, kể lại như sau:

Khi tôi rời Đại đội A trên dãy núi này, cách quân Đức khoảng ba trăm thước, thủy triều đang vỗ vào chân họ. Họ không thể ở đó lâu, thủy triều đang dâng lên – thủy triều dâng với tốc độ hàng hải lý trên bãi biển đó, thực sự tràn vào. Họ phải di chuyển và khi họ đi lên bãi biển, quân Đức với súng máy của họ đã nổ súng và tiêu diệt họ. Hầu như toàn bộ Đại đội A, đợt đầu tiên, đã bị tiêu diệt. Có rất ít người sống sót khi đợt thứ hai ập đến. Tất cả những người tôi đưa từ tàu của mình xuống đều thiệt mạng, bao gồm cả thuyền trưởng, Taylor-Fellers. Hầu như toàn bộ Đại đội A đã tử trận chỉ trong vòng vài phút sau khi chạy bộ lên bãi biển. Họ không có nơi ẩn náu, không có hố bom nào để chui vào, và khi họ đi lên bãi biển, họ chỉ là những mục tiêu cố định, những mục tiêu vững chắc, và họ ngã xuống, bị súng máy bắn hạ. Họ không có cơ hội. Kể từ đó, điều đó đã sống mãi với tôi.  Tôi vẫn có thể thấy những chàng trai mặt mũi tươi tắn bước ra khỏi tàu… Điều đó ám ảnh tôi. Tôi vẫn thấy khuôn mặt của họ.(Bailey, 275)

Rất chậm rãi, những nhóm nhỏ bò lên bãi biển để tấn công các vị trí pháo bằng súng trường, súng máy, lựu đạn, súng cối và ngư lôi Bangalore. Một số xe tăng đã đến được đó được hỗ trợ bởi đạn pháo bắn từ các tàu ngoài khơi khi chúng tấn công các lô cốt, dần dần làm suy yếu sức kháng cự của Đức. Bãi biển đang dần được dọn sạch chướng ngại vật khi những đợt tàu đổ bộ mới tiến vào, nhưng những người chiến sĩ trên bãi biển không thể tiến sâu hơn vào đất liền và cuộc đổ bộ tạm thời bị dừng lại. Bất kể phải trả giá như thế nào, vách đá cũng phải bị khuất phục. Như Đại tá George Taylor đã nói với những người lính của mình: “Có hai loại người đang ở lại bãi biển này, những người đã chết và những người sắp chết. Bây giờ hãy biến khỏi đây ngay” (Cawthorne, 179).

Hậu cần trên bãi biển Omaha

Lực lượng phòng vệ không có lực lượng dự bị vì chỉ huy địa phương đã sai lầm khi nghĩ rằng họ cần những lực lượng này ở nơi khác, và trong mọi trường hợp, họ đã giao tranh cùng lính dù Hoa Kỳ ở phía sau các tiền tuyến chính. Đến 9:00 sáng, có 5.000 lính Hoa Kỳ trên bãi biển. Số lượng lớn binh sĩ, việc sử dụng ngư lôi Bangalore để phá dọn các tuyến đường mới ra khỏi bãi biển và tính thần quyết tử anh hùng đã khiến tình hình bắt đầu thay đổi. Các chốt phòng thủ giờ đây có thể bị tấn công từ bên hông và phía sau và dần dần bị vô hiệu. Lực lượng tiếp viện của Hoa Kỳ được gửi đến lúc 10:45 sáng. Đến trưa, bốn lối thoát ra khỏi bãi biển đã được thiết lập. Đối với Tướng Omar N. Bradley (Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ thứ nhất) ở ngoài khơi, người không nhận được thông tin cập nhật về bãi biển do hỏng hóc thiết bị, thì có vẻ như Omaha là một thảm họa hoàn toàn. Một cuộc rút lui đã được cân nhắc, nhưng thực tế, mọi thứ tốt hơn vẻ bề ngoài, đặc biệt là khi pháo hạng nặng bắt đầu được đưa tới bờ từ 4:00 chiều. Đến đêm, Quân đội Hoa Kỳ đã giành được quyền kiểm soát bãi biển.

 Vào Ngày D, gần 34.000 quân đã đổ bộ vào Omaha, với 2.200 thương vong, mặc dù không có số liệu chính thức nào về riêng Ngày D và các ước tính cũng khác nhau. Thương vong khoảng 1/18, nhưng trong những đợt đầu tiên đó, cơ hội sống sót gần như 50:50. Trận chiến đã thiết lập một đầu cầu chỉ dài 2.500 yard (2.300 m). Đó là một ngày trọng đại, như Charles Sullivan, người đã cho đổ bộ ba lượt tàu tại Omaha, ghi lại:

Trong hai mươi tám năm phục vụ, ba cuộc chiến tranh, mười bốn chuyến công tác ở nước ngoài, hàng nghìn khuôn mặt, chỉ có Normandy và Ngày D là còn sống động trong tâm trí, như thể nó mới xảy ra ngày hôm qua. Những gì chúng tôi đã làm là quan trọng và đáng giá. (Ambrose, 367)

Ngày hôm sau, quân đội từ Omaha đã liên kết với Quân đội Anh tại Bãi biển Gold. Nhiều binh lính và khí tài hơn đã được đổ bộ vào Omaha trong những tuần tiếp theo, với sự hỗ trợ của việc thành lập một Cảng Mulberry nổi ngoài khơi bãi biển.

Khu Tưởng niệm và Nghĩa trang Hoa Kỳ tại Normandy

Trận chiến Normandy

Vào cuối ngày D, 135.000 người đã đổ bộ trên toàn bộ mặt trận, và tương đối ít thương vong – khoảng 5.000 người – ít hơn nhiều so với dự kiến ​​của các vị tướng. Lực lượng phòng vệ cuối cùng đã tự tổ chức phản công, triển khai lực lượng dự bị và kéo quân từ các vùng khác của Pháp vào. Đây là lúc lực lượng kháng chiến của Pháp và cuộc ném bom trên không của Đồng minh trở nên quan trọng, cản trở nghiêm trọng nỗ lực tăng cường của Đức cho các khu vực ven biển Normandy. Hầu hết các vị tướng Đức muốn rút lui, tập hợp lại và sau đó tấn công lại bằng vũ lực, nhưng vào ngày 11 tháng 6, Hitler đã ra lệnh không được rút lui.

Chiến dịch Neptune chính thức kết thúc vào ngày 30 tháng 6. Khoảng 850.000 người, 148.800 xe cộ và 570.000 tấn hàng hóa và thiết bị đã được đổ bộ kể từ ngày D.

 Giai đoạn tiếp theo của Overlord là đẩy quân Đức ra khỏi Normandy, nhưng điều này tỏ ra khó khăn hơn dự kiến ​​khi quân phòng thủ Đức chiến đấu kiên cường và được hỗ trợ bởi vùng nông thôn rậm rạp nhiều hàng rào cây bụi. Đồng minh đã gặp một số trở ngại nghiêm trọng như sức phòng thủ kiên cường của Caen và giao tranh rất ác liệt quanh Avranches. Phải đến tháng 8, Tướng George Patton và Tập đoàn quân số 3 của Hoa Kỳ mới chọc thủng về phía nam ở sườn tây của cuộc tấn công. Các cảng chính của Brittany đã bị chiếm giữ, và quân Đồng minh tràn về phía nam đến Sông Loire từ St Nazaire đến Orléans. Vào ngày 15 tháng 8, một cuộc đổ bộ lớn đã diễn ra ở bờ biển phía nam của Pháp, Cuộc Đổ bộ Riviera của Pháp. Vào ngày 25 tháng 8, Paris được giải phóng. Quân đội Đồng minh phía bắc và phía nam đã liên kết với nhau vào tháng 9 và đẩy quân Đức trở lại Đức khi cuộc xung đột đi đến giai đoạn cuối cùng.

BÀI DIỄN VĂN CỦA TỔNG THỐNG HOA KỲ RONALD REAGAN TẠI BUỔI LỄ KỶ NIỆM 40 NĂM CUỘC XÂM LƯỢC NORMANDY VÀO NGÀY D, TẠI POINTE DU HOC, PHÁP (6 THÁNG 6 NĂM 1984)

Chúng ta ở đây để kỷ niệm ngày trọng đại trong lịch sử khi quân đội Đồng minh tham gia vào trận chiến để giành lại tự do cho lục địa này. Trong 4 năm dài, phần lớn châu Âu đã phải chìm trong bóng tối khủng khiếp. Các đất nước tự do đã sụp đổ, dân Do Thái kêu gào trong các trại tập trung, hàng triệu người khác kêu gọi hãy giải phóng. Châu Âu đang bị nô dịch, và thế giới cầu nguyện mong châu lục này được giải cứu. Tại Normandy, cuộc giải cứu đã bắt đầu. Tại đây, quân Đồng minh đã đứng lên và chiến đấu chống lại một chế độ chuyên chế trong một nhiệm vụ đồ sộ chưa từng có trong lịch sử loài người.

Chúng ta đang đứng trên một cứ điểm cô đơn, lộng gió tại một bờ biển phía bắc của nước Pháp.  Không khí dịu nhẹ, nhưng 40 năm trước vào thời điểm này, không khí đặc quánh khói súng và tiếng kêu la của binh sĩ, và không khí vang rền tiếng súng trường nhả đạn và tiếng đại bác gầm rú. Vào lúc rạng sáng, ngày 6 tháng 6 năm 1944, 225 lính biệt kích nhảy khỏi tàu đổ bộ của Anh và chạy đến chân vách đá này. Nhiệm vụ của họ là một trong những nhiệm vụ nghiệt ngã và táo bạo nhất của cuộc xâm lược: leo lên vách đá dựng đứng và hoang vắng này và tiêu diệt họng súng của đối phương. Đồng minh đã được thông báo rằng một số khẩu pháo mạnh nhất của đối phương đang ở đây và chúng sẽ chặn đứng sức tiến công của Đồng minh lên bãi biển.

 Biệt kích nhìn lên và thấy binh lính địch — từ mép vách đá bắn xuống họ bằng súng máy và ném lựu đạn. Và biệt kích Mỹ bắt đầu leo ​​lên. Họ bắn thang dây qua mặt vách đá này và bắt đầu rướn mình lên. Khi một biệt kích ngã xuống, một người khác sẽ thay thế. Khi một sợi dây bị cắt, một biệt kích sẽ nắm lấy một sợi dây khác và bắt đầu leo ​​lên lần nữa.  Họ trèo lên, bắn trả và giữ vững vị trí. Chẳng mấy chốc, từng người một, biệt kích đã vươn người lên đỉnh, và khi chiếm được khoảnh đất vững chắc trên đỉnh vách đá này, họ bắt đầu chiếm lại lục địa châu Âu. Hai trăm hai mươi lăm người đã đến được đây. Sau 2 ngày chiến đấu, chỉ còn 90 người còn có thể mang vũ khí.

Phía sau tôi là một đài tưởng niệm tượng trưng cho những con dao găm của các biệt kích đã đâm vào đỉnh vách đá này. Và trước mặt tôi là những người, đúng 40 năm trước, đã từng cắm chúng ở đó.

Đây là những chàng trai của Pointe du Hoc. Đây là những con người đã chiếm lĩnh được vách đá. Đây là những nhà vô địch đã giúp giải phóng một lục địa. Đây là những anh hùng đã giúp chấm dứt một cuộc chiến tranh.

 Các quý ông, tôi nhìn các vị và nghĩ đến những lời trong bài thơ của Stephen Spender. Các vị là những con người đã “chiến đấu vì sự sống… và để lại bầu không khí trong lành được ghi dấu bằng danh dự của mình”.

 Tôi nghĩ tôi biết các bạn có thể đang nghĩ gì ngay lúc này — nghĩ rằng “chúng tôi chỉ là một phần của một nỗ lực lớn lao hơn; mọi người đều dũng cảm vào ngày hôm đó.” Vâng, tất cả mọi người đều dũng cảm. Bạn có nhớ câu chuyện về Bill Millin của Trung đoàn 51 Highlanders không? Bốn mươi năm trước cũng vào ngày này, một đội quân Anh bị kẹt lại gần một cây cầu, tuyệt vọng chờ đợi sự giúp đỡ. Đột nhiên, họ nghe thấy tiếng kèn túi, và một số người nghĩ rằng họ đang mơ. Vâng, họ không mơ. Họ nhìn lên và thấy Bill Millin với chiếc kèn túi của mình, dẫn đầu đoàn quân tiếp viện và phớt lờ tiếng đạn nổ trên mặt đất xung quanh anh ta.

Lord Lovat đã ở cùng anh ta — Lord Lovat của Scotland, người đã bình tĩnh tuyên bố khi anh tiến đến cây cầu, “Xin lỗi, tôi đến muộn vài phút”, như thể anh đã bị kẹt xe, trong khi thực tế là anh vừa mới trở về từ cuộc giao tranh đẫm máu trên Bãi biển Sword, nơi anh và những đồng đội của mình vừa đánh chiếm được.

 Có lòng dũng cảm vô song của người Ba Lan đã lao mình vào giữa kẻ thù và phần còn lại của châu Âu khi cuộc xâm lược diễn ra, và lòng dũng cảm vô song của người Canada đã chứng kiến ​​những nỗi kinh hoàng của chiến tranh trên bờ biển này. Họ biết điều gì đang chờ đợi họ ở đó, nhưng họ sẽ không nản lòng. Và một khi họ đến Bãi biển Juno, họ không bao giờ ngoảnh lại.

Tất cả những người đàn ông này đều là một phần của một danh sách dài đầy danh dự với những cái tên nói lên niềm tự hào tươi sáng như màu áo họ mặc: Bộ binh Hoàng gia Winnipeg, Trung đoàn 24 Ba Lan, Bộ binh Hoàng gia Scotland, Đại bàng Gào thét, các sư đoàn thiết giáp Anh, lực lượng Nước Pháp Tự do, “Hạm đội Hộp diêm” của Cảnh vệ Bờ biển và các bạn, lực lượng Biệt kích Hoa Kỳ.

Bốn mươi mùa hè đã trôi qua kể từ trận chiến mà các bạn đã chiến đấu ở đây. Các bạn còn trẻ vào ngày các bạn chiếm lấy những vách đá này; một số người trong các bạn hầu như không hơn gì những cậu bé, với những niềm vui sâu sắc nhất của cuộc đời đang chờ đợi trước mắt. Tuy nhiên, các bạn đã mạo hiểm mọi thứ để đến đây. Tại sao? Tại sao các bạn lại làm vậy? Điều gì thúc đẩy các bạn gạt bỏ bản năng tự vệ và mạo hiểm mạng sống của mình để chiếm cho được những vách đá này? Điều gì đã truyền cảm hứng cho tất cả những người trong quân ngũ đang tụ họp ở đây? Chúng tôi nhìn vào các bạn, và bằng cách nào đó chúng tôi biết câu trả lời. Đó là đức tin và niềm tin; đó là lòng trung thành và tình yêu.

Những người đàn ông Normandy có đức tin rằng những gì họ đang làm là đúng, đức tin rằng họ đã chiến đấu vì toàn thể nhân loại, đức tin rằng một vị Chúa công bằng sẽ ban cho họ lòng thương xót trên bãi biển này hoặc bãi biển tiếp theo. Đó là đức tin sâu sắc — và cầu Chúa chúng ta sẽ không đánh mất nó — rằng có một sự khác biệt sâu sắc về mặt đạo đức giữa việc sử dụng vũ lực để giải phóng và việc sử dụng vũ lực để chinh phục. Các bạn ở đây để giải phóng, không phải để chinh phục, vì vậy các bạn và những người khác không nghi ngờ mục đích của mình.  Và bạn đã đúng khi không nghi ngờ.

 Tất cả các bạn đều biết rằng có một số thứ đáng để hy sinh vì chúng. Đất nước đáng để hy sinh, và nền dân chủ đáng để hy sinh, bởi vì đó là hình thức chính quyền đáng trân trọng nhất mà con người từng nghĩ ra. Tất cả các bạn đều yêu tự do. Tất cả các bạn đều sẵn sàng đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế, và các bạn biết rằng người dân đất nước mình luôn đứng sau các bạn.

Những binh sĩ  Mỹ đã chiến đấu ở đây vào sáng hôm đó biết rằng tin tức về cuộc xâm lược đang lan truyền trong bóng đêm về đến quê nhà. Họ đã chiến đấu và thực tế không thể biết rằng ở Georgia dân chúng đã tràn ngập các nhà thờ lúc 4 giờ sáng, ở Kansas người ta đã quỳ trên hiên nhà và cầu nguyện, và ở Philadelphia, Chuông Tự do đã được đổ lên.

 Một điều khác đã giúp những chàng trai của Ngày D: niềm tin sắt đá của họ rằng Chúa sẽ giang tay phù hộ trong các sự kiện diễn ra ở đây; rằng Chúa là đồng minh trong sự nghiệp vĩ đại này.  Và vì vậy, đêm trước cuộc xâm lược, khi Đại tá Wolverton yêu cầu quân lính dù của mình hãy quỳ xuống cầu nguyện cùng ông, ông đã nói với họ: Đừng cúi đầu, mà hãy nhìn lên để các bạn có thể nhìn thấy Chúa và cầu xin Người ban phước lành cho những gì chúng ta sắp làm. Cũng trong đêm đó, Tướng Matthew Ridgway nằm trên giường, lắng nghe trong bóng tối lời hứa mà Chúa đã hứa với Joshua: “Ta sẽ không bỏ rơi ngươi hay thất hứa với ngươi”.

Đây là những điều thúc đẩy họ; đây là những điều hình thành nên tình đoàn kết của Đồng minh.

Khi chiến tranh kết thúc, có những cuộc đời cần được xây dựng lại các  chính quyền cần được trao trả cho người dân. Có những quốc gia cần được tái sinh. Trên hết, có một nền hòa bình mới cần được đảm bảo. Đây là những nhiệm vụ to lớn và khó khăn. Nhưng Đồng minh đã tập hợp sức mạnh từ đức tin, niềm tin, lòng trung thành và tình yêu của những người đã ngã xuống ở đây. Họ cùng nhau xây dựng lại một châu Âu mới.

Đầu tiên, đã có một nỗ lực hòa giải lớn giữa những bên từng là kẻ thù, tất cả những người đã phải chịu đựng quá nhiều đau khổ.  Hoa Kỳ đã làm phần việc của mình, tạo ra kế hoạch Marshall để giúp xây dựng lại các quốc gia đồng minh và kẻ thù cũ của chúng ta. Kế hoạch Marshall đã dẫn đến liên minh Đại Tây Dương — một liên minh vĩ đại cho đến ngày nay vẫn đóng vai trò là lá chắn cho tự do, thịnh vượng và hòa bình của chúng ta.

Mặc dù chúng ta đã nỗ lực và đạt được những thành tựu to lớn, nhưng không phải tất cả những gì diễn ra sau khi chiến tranh kết thúc đều vui vẻ hoặc theo đúng kế hoạch. Một số quốc gia được giải phóng đã bị lấy mất. Nỗi buồn lớn lao về sự mất mát này vẫn còn vang vọng đến tận thời đại của chúng ta trên đường phố Warsaw, Prague và Đông Berlin. Quân đội Liên Xô đã đến trung tâm lục địa này và không rời đi khi hòa bình đến. Họ vẫn ở đó, không được mời, không được mong muốn, không chịu nhượng bộ, gần 40 năm sau chiến tranh. Vì lý do này, các lực lượng đồng minh vẫn hiện diện trên lục địa này. Ngày nay, cũng như 40 năm trước, quân đội của chúng ta ở đây chỉ vì một mục đích duy nhất — để che chở và  bảo vệ nền dân chủ. Phần lãnh thổ duy nhất chúng ta còn nắm giữ là các đài tưởng niệm như thế này và các nghĩa trang nơi những người anh hùng của chúng ta yên nghỉ.

Chúng ta ở Mỹ đã học được những bài học cay đắng từ hai cuộc Thế chiến: Tốt hơn là ở đây sẵn sàng bảo vệ hòa bình, còn hơn là tìm nơi trú ẩn mù quáng bên kia biển, chỉ vội vã phản ứng sau khi tự do đã mất.  Chúng ta đã biết rằng chủ nghĩa biệt lập chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là một phản ứng có thể chấp nhận được để đối phó với các chế độ chuyên chế có dã tâm bành trướng.

 Nhưng chúng ta luôn nỗ lực chuẩn bị cho hòa bình; chuẩn bị ngăn chặn sự xâm lược; chuẩn bị đàm phán cắt giảm vũ khí; và, vâng, chuẩn bị tiếp cận lại theo tinh thần hòa giải. Thực ra, không có sự hòa giải nào mà chúng ta hoan nghênh hơn là sự hòa giải với Liên Xô, vì vậy, cùng nhau, chúng ta có thể lắng nghe và giảm thiểu rủi ro chiến tranh, bây giờ và mãi mãi.

Thật thích hợp khi nhớ lại ở đây những mất mát to lớn mà người dân Nga đã phải gánh chịu trong Thế chiến II: 20 triệu người đã thiệt mạng, một cái giá khủng khiếp chứng minh cho toàn thế giới thấy sự cần thiết phải chấm dứt chiến tranh. Tôi nói với các bạn từ tận đáy lòng rằng chúng ta ở Hoa Kỳ không muốn chiến tranh. Chúng ta muốn xóa sạch khỏi bề mặt Trái đất những vũ khí khủng khiếp mà con người hiện đang nắm trong tay. Và tôi nói với các bạn, chúng ta sẵn sàng chiếm giữ bãi biển đó. Chúng ta đang tìm kiếm một dấu hiệu nào đó từ Liên Xô cho thấy họ sẵn sàng tiến lên, rằng họ chia sẻ mong muốn và tình yêu hòa bình như chúng ta, và rằng họ sẽ từ bỏ con đường chinh phục. Phải có một sự thay đổi ở đó để chúng ta có thể biến hy vọng thành hành động.

Chúng ta không ngừng cầu nguyện rằng một ngày nào đó sự thay đổi sẽ đến. Nhưng hiện tại, đặc biệt là hôm nay, thật tốt đẹp và phù hợp khi chúng ta đổi mới cam kết của mình với nhau, với tự do của chúng ta và với liên minh bảo vệ nó.

Chúng ta ngày nay gắn kết với nhau bởi những gì đã gắn kết chúng ta 40 năm trước, cùng lòng trung thành, truyền thống và niềm tin. Chúng ta gắn kết với nhau bởi thực tế. Sức mạnh các đồng minh của Hoa Kỳ là rất quan trọng đối với Hoa Kỳ và sự đảm bảo an ninh của Hoa Kỳ là điều cần thiết cho sự tự do liên tục của các nền dân chủ châu Âu. Chúng tôi đã ở bên các bạn khi đó; chúng tôi ở bên các bạn bây giờ. Hy vọng của các bạn là hy vọng của chúng tôi và số phận của các bạn là số phận của chúng tôi.

Tại đây, tại nơi mà phương Tây đoàn kết với nhau, chúng ta hãy thề với những người đã khuất. Hãy cho họ thấy bằng hành động của mình rằng chúng ta hiểu lý do họ đã hy sinh. Hãy để hành động của chúng ta nói với họ những lời mà Matthew Ridgway đã lắng nghe: “Ta sẽ không làm ngươi thất vọng hay từ bỏ ngươi”.

Được khích lệ bởi lòng dũng cảm của họ, và mang nặng ký ức về họ, chúng ta hãy tiếp tục đấu tranh cho những lý tưởng vì chúng mà họ đã sống và chết.

Cảm ơn các bạn rất nhiều và Chúa ban phước cho tất cả các bạn.

Reagan tại buổi lễ tưởng niệm cùng với các cựu binh năm xưa

Bình luận về bài viết này