Đỗ Ngọc Giao
26-Feb-2025
Người khoát đạt hay tìm hiểu đạo Phật vì đức Phật khuyên người ta tìm hiểu chớ ngài chẳng ra lịnh suông cho họ phải tin. (Open-minded people tend to be interested in Buddhism because Buddha urged people to investigate things – he didn’t just command them to believe.)—Dalai Lama 14.[1]
Ba ngày 6–8 tháng 05 năm nay 2025 nước ta sẽ mở hội Vesak,[2] đây là ngày lễ dành cho người theo đạo Phật mà Liên-hợp-quốc công nhận năm 1999 để ghi nhớ ba chuyện lớn trong cuộc đời đức Phật: sanh ra, thành đạo, viên tịch.[3] (Ba chuyện đó xảy ra ba ngày khác nhau, mà tôi nhớ lịch Tam-tông-miếu xưa cũng in đủ.)
Bài này nói qua hai câu chuyện nêu trong một cuốn sách khảo cứu lịch sử đạo Phật xứ ta,[4] liên quan tới một giả thiết cũ cho rằng dân ta theo đạo Phật từ trước công nguyên, sớm hơn cả dân Tàu:
- trước năm 100, ‘người Việt’ (thổ dân đồng bằng sông Hồng lúc đó) đã biết trồng bông uất-kim-hương để cúng Phật;
- trước năm 43, ‘người Việt’ đã dịch một số kinh Phật đầu tiên, thí dụ Lục độ tập kinh, ra ‘tiếng Việt’ (tiếng nói của thổ dân đồng bằng sông Hồng lúc đó).
1. Khảo cứu
1.1 Uất-kim-hương
‘Saffron crocus’ (Crocus sativus) là một loài cây trồng bằng ‘củ’ (corm), ra bông thơm, mỗi bông có một ‘nhị’ (style) với 3 ‘đầu’ (stigma) màu đỏ chứa chất ‘saffron’.

Hình 1. bên trái: bông saffron, bên phải: màu saffron.
Hình 1. bên trái: bông saffron,[5] bên phải: màu saffron.[6]
Cây saffron tiếng Sanskrit gọi là kuïkuma, tiếng Tàu ghi âm là 官久摩 (quan-cửu-ma) ở chương 7 kinh ‘A-dục-vương’ do Samghavarman 康僧鎧 dịch hồi thế kỷ 3; nhưng một bổn dịch khác thì ghi là 翻郁金香 (phiên-uất-kim-hương). Cây saffron đưa từ miền trung Ấn Độ lên trồng ở Kashmir (nơi đó xưa có một nước mà người Tàu gọi là 罽賓 Kế-tân), dùng để tạo hương và màu cho đồ cúng. Kinh của phái Sarvāsti-vāda (Nhứt-thiết-hữu) mà Nghĩa Tịnh 義淨 (635–713) dịch, cuốn 6, có ghi 8 loại phẩm (pigment) và màu ở Ấn, kể cả saffron, mà tăng lữ không được dùng để nhuộm pháp phục. Lương thơ cuốn 54 cho biết cây saffron gốc ở Kế-tân, bông vàng đẹp, giống như bông bụp (hibiscus), có mấy lớp như bông sen, dân Ấn hái bông đem cúng trong chùa, nhánh thì lấy làm phân bón (manure)… Lương thơ cuốn 54 cũng cho biết năm Thiên Giám 18 trào Lương (519) xứ Funan sai sứ sang Tàu cống các thứ sản vật của Ấn, gồm tượng gỗ ‘đàn hương’ (sandalwood), lá trà ‘sala’ (Shorea robusta), ‘thiên thạch’ (fireball), saffron, mủ cây Liquidambar orientalis. Cây saffron bên Tàu là từ xứ Ấn và những nơi khác đem sang.[7]
Przyluski (1885–1944) dịch truyện ‘A-dục-vương’ ra tiếng Pháp theo một bổn tiếng Tàu mà ở chương 7 ghi ‘saffron’ là 鬱金 (uất-kim) như sau:
Nhà sư Madhyântika* dẫn đoàn người bay lên núi Thơm (Gandhamadana) để lấy hột uất-kim đem về Kế-tân gieo. Lúc đó con rồng ở núi Thơm chẳng cho. Nó hỏi: ‘Mấy người cần hột tới chừng nào?’ Sư nói: ‘Tới chừng nào còn pháp của Phật.’ Rồng hỏi: ‘Pháp của Phật còn tới chừng nào?’ Sư nói: ‘Một ngàn năm.’ Rồng nói: ‘Vậy chừng nào còn pháp của Phật thì ta cho mấy người hột uất-kim.’[8]
* Madhyântika là trưởng nhóm ‘missionary’ đi Kashmir truyền giáo (coi lại bài trước).[9]
Đức Phật thuyết pháp có nhắc tới uất-kim-hương trong các thứ hương, để so với ‘giới hương’.[10]
Ở cù-lao Santorini, xứ Hy Lạp, nơi xảy ra tai họa núi lửa thời đồ đồng hồi thế kỷ 17 BCE, người ta còn thấy những hình vẽ trên vách nhà sập, mô tả cảnh dân làng lặt bông saffron. Truyện thơ Iliad, lối 700 BCE, có nhắc tới ‘saffron’ [để mô tả màu trời lúc hừng đông]. Tài liệu Tàu thế kỷ 3 mô tả saffron là sản vật của xứ Kashmir. Vương Trinh** nói thêm: ‘Dân xứ Kashmir trồng saffron để cúng Phật. Đợi mấy ngày cho bông khô, người ta mới lặt. Bông này quý ở cái màu vàng đều. Có thể dùng pha rượu cho thơm.’ Truyện ‘A-dục-vương’ nói nhà sư Madhyântika đem cây saffron tới Kashmir hồi thế kỷ 5 BCE. Thực ra, trước đó, từ xưa, saffron đã trồng ở Iran rồi từ đây mới đưa giống tới Kashmir.[11]
** Vương Trinh 王禎 (1290–1333) là nhà nông học (agronomist) thời trào Nguyên (1271–1368).
‘Tài liệu Tàu’ nêu ở đoạn văn bên trên có lẽ là Ngụy lược 魏略 của Ngư Hoạn 魚豢 hồi thế kỷ 3, mô tả 63 thứ sản vật của đế quốc La Mã (tiếng Tàu gọi là Đại Tần 大秦) trong đó có 12 thứ cây thơm kể cả saffron.[12] Vậy có lẽ sau thế kỷ 3 saffron mới đem qua xứ Tàu trồng.
Một ý khác cho rằng đoàn quân của vua Alexander (356–323 BCE) đã đem giống cây saffron từ vùng Địa-trung-hải sang xứ Ấn.[13] Người ta dùng bông saffron làm những thứ này:
- thuốc (dye) để vẽ hình và nhuộm màu cho vải, trào phục, thảm dệt, khăn liệm,…
- đồ cúng Phật [ở Ấn],
- dầu thơm (perfume),
- gia vị (spice) trong đồ ăn, nước uống,…
- cây thuốc,
- pha rượu rắc cung điện cho thơm [ở La Mã], pha sữa tắm đặng ái ân cho đã [ở Hy Lạp],…13
Nói theo ‘dược lý’ (pharmacology) thì hơn 3000 năm qua, từ tây sang đông, người ta coi saffron như một thứ thuốc trị bá bịnh (panacea).[14] Saffron bên Tàu từng dùng làm thuốc trị đau ngực (anti-anginal).[15]
Chẳng có tài liệu nào nói dân ta đã trồng cây saffron bao giờ. Gần đây dân ta mới biết saffron, và gọi cây này là ‘nghệ tây’; dù vậy, ‘nghệ tây’ ở họ Iridaceae (Diên vỹ) còn ‘nghệ ta’ (Curcuma longa, turmeric) thì ở họ Zingiberaceae (Gừng). Thời nay saffron trồng nhiều nhứt ở Afghanistan, Tây Ban Nha và Iran.
Tóm lại, chuyện trồng và lấy bông/hương saffron để cúng Phật thì dường như là có thực ở Kashmir (Ấn Độ) hồi trước công nguyên.
Song le, chuyện đó chắc chắn là chưa bao giờ xảy ra ở đồng bằng sông Hồng.
Nói thêm, bông ‘tulip’ Tulipa gesneriana, họ Liliaceae (Hành), tiếng Tàu gọi là 郁金香 úc-kim-hương.[16]
1.2 Lục độ tập kinh
1.2.1 Giới thiệu
Lục độ tập kinh 六度集經 (Saḍpāramitā samgrahasūtra) có 8 cuốn, kể 91 chuyện, gồm 84 chuyện ‘jataka’ (tiền thân đức Phật), mỗi chuyện thuật một việc để làm thí dụ cho một trong sáu ‘pháp’ (pāramitā): 布施 bố thí, 持戒 trì giới, 忍辱 nhẫn nhục, 精進 tinh tấn, 禪定 thiền định, 明 minh. Kinh này chẳng có nguyên bổn Ấn Độ, mà là một mớ hổ lốn gồm (1) những chuyện ‘jataka’ từ hai nguồn Pali và Sanskrit, (2) những chuyện dân gian Ấn Độ, (3) những chuyện dân gian xứ khác. Bổn dịch Lục độ tập kinh từ đầu tới chót đều dùng ‘văn ngôn’ chỉnh tề (well-constructed literary Chinese) đọc theo giọng người xứ Ngô (Giang Tô, Chiết Giang). Học giới thường cho rằng kinh này do Khang Tăng Hội dịch ở Nam Kinh (xưa là Kiến Nghiệp); song le, gần đây có ý cho rằng kinh đã bị sửa đổi (edit) và dọn lại (rework) trước khi có dạng như ta biết hiện nay. Tóm lại, Lục độ tập kinh dịch giữa thế kỷ 3 CE và qua thế kỷ sau thì có thêm truyện mới.[17]
Một trường hợp đã bị sửa đổi là truyện 49 ‘Bồ-tát cứu mạng thợ săn, con quạ, và con rắn mắc kẹt dưới hầm’: truyện này nhắc tới nho sỹ 儒士 (Confucian scholars) vốn là một ý niệm của người Tàu. Song le, nho 儒 trong truyện 86 ‘Nho đồng’ thì có nghĩa là ‘người học rộng’ (learned scholar) chớ chẳng phải ‘nho sỹ’.
Đàng khác, truyện 13 ‘Tát-hòa-đàn’ 薩和檀 là truyện duy nhứt có Mañjuśrī (Văn-thù-sư-lợi 文殊師利) và thuật ngữ Đại-thừa lạ tai 不起法忍 bất-khởi-pháp-nhẫn (anutpattika-dharma-kṣānti); bởi vậy, đây dường như là truyện mới thêm vô.[18]
1.2.2 Kiểm tra
Có giả thiết cho rằng Lục độ tập kinh [tiếng Tàu] chẳng phải dịch từ nguyên bổn tiếng Sanskrit/Pali mà là dịch từ ‘nguyên bổn tiếng Việt’, dựa theo 15 trường hợp ‘không viết đúng theo ngữ pháp Trung-quốc mà lại theo ngữ pháp Việt-nam’.4
Ta sẽ bác bỏ giả thiết đó bằng 3 cách.
1.2.2.1 Lẽ thường (common sense)
Xét theo lẽ thường, giả sử Khang Tăng Hội muốn dịch kinh từ tiếng Việt qua tiếng Tàu, thì ông phải dịch theo văn phạm tiếng Tàu để make sure rằng người Tàu sẽ hiểu 100%, chớ dịch theo văn phạm tiếng Việt thì họ làm sao hiểu? Ta lấy thí dụ đoạn đầu một truyện ngắn của Thạch Lam (1910–1942) như sau:
Đêm sáng trăng
Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ từ từ lên ở chân trời, sau rặng tre đen của làng xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc một mảnh dần, rồi đứt hẳn. Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng dâng hương thơm ngát.
Dịch qua tiếng Anh theo ngữ pháp tiếng Anh như sau (Thomas Koberda[19]).
The moonlit night
A glimmer of daylight remained as the moon began to rise. It was round, big and red, slowly climbing over the horizon, beyond the row of bamboo trees marking a distant village. A few wisps of clouds crisscrossed the moon’s face, thinning with each moment before dissipating. Across the open fields, the wind carried a sweet scent.
Ta thấy những chữ như làng xa dịch qua tiếng Anh sẽ là distant village chớ chẳng phải *village distant theo ngữ pháp tiếng Việt, và những ý như chân trời dịch qua tiếng Anh sẽ là horizon chớ chẳng phải *the feet of God theo ngữ pháp tiếng Việt. Chưa nói cách hành văn cũng khác hẳn giữa hai thứ tiếng.
Trở lại chủ đề, như trên đã nêu, học giả phương tây có nhận xét rằng Lục độ tập kinh dùng ‘văn ngôn chỉnh tề’. Vậy chắc chắn Khang Tăng Hội đã dịch kinh theo đúng ngữ pháp tiếng Tàu.
1.2.2.2 Kinh sách
Những trường hợp bị ngờ là viết theo ‘ngữ pháp tiếng Việt’ thì thực ra đều là ngữ pháp tiếng Tàu mà người Tàu đã dùng để trước tác kinh sách của họ.
Dưới đây là mấy thí dụ.
Truyện 13: ‘Tát-hòa-đàn’ 薩和檀
Truyện này có câu: 王及夫人自然還在本國中宮正殿上坐
Hai chữ 中宮 trung cung bị ngờ là ‘viết theo văn phạm Việt ngữ’.
Giải thích: câu trên có 3 cặp ‘adjective-noun’ theo văn phạm Hoa ngữ:
- 本國 bổn quốc = nước mình,
- 中宮 trung cung = tòa cung giữa [so với các tòa khác],
- 正殿 chánh điện = ngôi điện chánh [so với các ngôi khác].
Ở đây trung cung không phải ‘viết theo văn phạm Việt ngữ’ để bị hiểu lầm là ‘trong cung’. Muốn nói ‘trong cung’ ắt Khang Tăng Hội đã dịch là cung trung, theo văn phạm Hoa ngữ.
Vậy câu trên có nghĩa là: Vua cùng phu nhơn tự nhiên lại [thấy mình] ngồi trên chánh-điện tại trung-cung nước mình.
Bổn dịch Anh ngữ: The King and his wife found themselves spontaneously returned to their thrones in the central hall of their palace in their kingdom.17
Coi thêm: Trung Á có nghĩa là ‘phần châu Á ở giữa’ (central Asia) chớ chẳng phải là ‘trong châu Á’ (inside Asia).
Truyện 14: ‘Tu-đại-noa’ 須大拏
Truyện này có câu: 兩兒覩之中心怛懼
Hai chữ 中心 trung tâm bị ngờ là ‘viết theo văn phạm Việt ngữ’.
Giải thích: trung tâm là một cặp ‘preposition-noun’ theo văn phạm Hoa ngữ, có nghĩa là ‘giữa lòng, trong lòng’. Trường hợp này thì giống với văn phạm Việt ngữ.
Vậy câu trên có nghĩa là: Hai đứa nhỏ thấy y, trong lòng kinh sợ.
Bổn dịch Anh ngữ: The two children saw him and fear struck their hearts.17
Ít nhứt có 5 trường hợp dùng 中心 trung tâm ở kinh Thi, chương Quốc phong:
- 我有嘉賓,中心貺之 Ta có khách quý, trong lòng kính tặng (Đồng cung)
- 行邁靡靡,中心搖搖 Bước đi lững thững, trong lòng xuyến xao (Thử ly)
- 顧瞻周道,中心怛兮 Nhìn đường về Châu, trong dạ buồn hề (Phỉ phong)
- 中心好之,曷飲食之 Trong lòng mến họ, sao cho [họ] ăn uống (Hữu đệ chi đỗ)
- 願言思子,中心養養 Muốn nói nhớ họ, trong dạ ngùi ngùi (Nhị tử thừa Châu)
Tương tợ, ta có 中道 trung đạo (giữa đường), thí dụ ở Tống thơ:
- 中道大憾,斧其舟欲自沉 Giữa đường nổi giận, lấy rìu chặt ghe muốn tự trầm.
- 車駕遇雨,玉輅施障,從駕臣僚賜雨具,中道遇晴則撤 Xa giá gặp mưa, ngọc nhạ (xe ngọc) che màn, thần liêu theo giá thì ban áo mưa, giữa đường trời tạnh thì cất đi.
Truyện 41: ‘Phổ-minh’ 普明
Truyện này có câu: 王奔入山,覩見神樹
Hai chữ 神樹 thần thọ bị ngờ là ‘viết theo văn phạm Việt ngữ’.
Giải thích: thần thọ, cũng như trung cung bên trên, là một cặp ‘adjective-noun’ theo văn phạm Hoa ngữ, có nghĩa là ‘cây thần’. Ở đây thần thọ không phải ‘viết theo văn phạm Việt ngữ’ để bị hiểu lầm là ‘thần cây’. Muốn nói ‘thần cây’ ắt Khang Tăng Hội đã dịch là thọ thần, theo văn phạm Hoa ngữ (coi thêm truyện 5 bên dưới).
Vậy câu trên có nghĩa là: Vua chạy vô núi, dòm thấy cây thần.
Bổn dịch Anh ngữ: The King fled into the mountains where he saw a divine tree.17
Truyện 5: ‘Bồ-tát tặng đầu’
Truyện này có câu:
逝心拔刀疾步而進,樹神覩之忿其無道,以手搏其頰
Hai chữ 樹神 thọ thần ở câu trên, theo văn phạm Hoa ngữ, mới thiệt là ‘thần cây’.
Vậy câu trên có nghĩa là: Gã bà-la-môn rút đao sấn tới, thần cây thấy vậy giận y vô đạo, lấy tay tát má y [một cái].
Bổn dịch Anh ngữ: The brahmin drew his blade and advanced swiftly, but the tree spirit saw him and enraged at his immoral conduct slapped his cheek.17
Truyện 83. ‘Bồ Tát lấy kinnarī làm vợ’
Truyện này có câu: 吾當以其血為陛昇天
Bốn chữ 為陛昇天 vi bệ thăng thiên bị ngờ là ‘viết theo văn phạm Việt ngữ’.
Giải thích: vi bệ thăng thiên (làm bệ lên trời), theo văn phạm Hoa ngữ, có một ‘coverb’ là vi dùng chung với một ‘main verb’ là thăng. Trường hợp này thì giống với văn phạm Việt ngữ.
Vậy câu trên có nghĩa là: Ta sẽ lấy máu của y (kinnari) làm bệ lên trời.
Bổn dịch Anh ngữ: I intend to use her blood to create a stairway to ascend to the Heavens.17
Tương tợ, ta có:
- 以寡敌众 dĩ quả địch chúng (lấy ít chọi nhiều)
- 以功赎罪 dĩ công thục tội (lấy công chuộc tội)
- 以貌取人 dĩ mạo thủ nhơn (coi mặt dùng người)
- 移東補西 di đông bổ tây (giựt gấu vá vai)
- 因人成事 nhơn nhơn thành sự (nhờ người được việc)
1.2.2.3 Thuật ngữ Phật giáo
Ngay truyện đầu của Lục độ tập kinh, ta gặp thuật ngữ 菩薩 đọc là *bɯː *saːd trong tiếng Tàu thời Hán (Old Chinese), vốn là ‘phiên âm’ (transcription) của bodhisattva trong tiếng Sanskrit, bodhisatta trong tiếng Pali, hoặc bosisatva trong tiếng Gandhari.
Không phải Khang Tăng Hội đã đặt ra thuật ngữ đó. Mà là hai vị tăng khác: An Thế Cao, người Parthian, và Lokaksema, người Indo-Scythian, sang Lạc Dương dịch kinh trong khoảng 148–170 và 147–189, trước Khang Tăng Hội cả trăm năm. Hai vị đó đã phiên âm nhiều thuật ngữ, thí dụ như sau.[20]
| Sanskrit/Pali/Gandhari | phiên âm | ESV | LSV | A | L |
| ? | 佛 | Bụt | Phật | ✓ | ✓ |
| gautama/gotama/godama | 俱/具譚 | – | câu/cụ-đàm | ✓ | |
| śākyamuni/sakkamuni/śakamuni | 釋迦文 | – | thích-ca-văn | ✓ | ✓ |
| bodhisattva/bodhisatta/bosisatva | 菩薩 | – | bồ-tát | ✓ | ✓ |
| brahmā/brahma/braṃma | 梵 | – | phạn | ✓ | |
| brahmā/-/- | 楓摩 | – | phong-ma | ✓ | |
| brāhmaṇa/brāhmaṇa/braṃmana | 婆羅門 | – | bà-la-môn | ✓ | ✓ |
| devadatta/devadatta/- | 調達 | – | điều-đạt | ✓ | |
| sakṛdāgāmin/sakadāgāmi/sakidagami | 斯陀含 | – | tư-đà-hàm | ✓ | |
| śrotaāpanna/sotāpanna/- | 須陀洹 | – | tu-đà-viên | ✓ | |
| arhan[t]/arahanta/araha | 阿羅漢 | – | a-la-hán | ✓ | ✓ |
| anāgāmin/anāgāmi/anagami | 阿那含 | – | a-na-hàm | ✓ | ✓ |
| nirvāṇa/nibbāna/nivana | 泥洹 | – | nê-hoàn | ✓ | |
| samādhi/samādhi/samasi | 三昧 | – | tam-muội | ✓ | ✓ |
ESV: early Sino-Vietnamese (tiếng Việt gốc Tàu, mượn thời Hán-Tấn).
LSV: late Sino-Vietnamese (tiếng Việt gốc Tàu, mượn thời Đường).
A: An Thế Cao.
L: Lokakṣema.
Bảng trên gợi ý rằng Khang Tăng Hội khi dịch Lục độ tập kinh thì đã có sẵn một cuốn ‘từ điển’, nói màu mè như vậy, gồm những thuật ngữ Sanskrit/Pali/Gandhari đặc biệt và ‘phiên âm’ của những thuật ngữ đó trong tiếng Tàu, do An Thế Cao và Lokaksema biên soạn.
Song le, muốn dùng cuốn ‘từ điển’ đó thì phải đáp ứng một điều kiện.
Đó là Khang Tăng Hội phải dịch Lục độ tập kinh theo nguyên bổn bằng tiếng Sanskrit, tiếng Pali, hoặc tiếng Gandhari.
Đặng chi?
Đặng biết thuật ngữ nào phiên âm ra sao mà dùng cho trúng.
Bởi vậy, ta mới thấy菩薩 bồ-tát, vân vân, ở Lục độ tập kinh.
Nói tóm lại, chắc chắn không có chuyện Khang Tăng Hội dịch Lục độ tập kinh theo ‘nguyên bổn tiếng Việt’.
2. Kết luận
Dữ liệu trên đã bác bỏ hai câu chuyện hoang đường dùng làm nền cho cái giả thiết rằng dân ta đã theo đạo Phật từ trước công nguyên.
Thực ra, đó chẳng phải là một ‘giả thiết khoa học’ đúng nghĩa, vì chẳng dựa vô thứ gì có thực hết. Đó là ‘wishful thinking’ mà thôi—tiếng Tàu kêu bằng ‘vọng tưởng’.
[1] https://www.goodreads.com/quotes/887986-do-not-try-to-use-what-you-learn-from-buddhism
[2] https://www.undv2025vietnam.com/en/media-news/press-release-the-first-executive-meeting-of-the-international-council-for-the-day-of
[3] https://www.un.org/en/observances/vesak-day
[4] Lê Mạnh Thát (2003) Lịch sử Phật giáo Việt Nam, vol 1.
[5] https://www.dutchgrown.com/products/crocus-sativus
[6] https://www.figma.com/colors/saffron/
[7] Encyclopedia of India-China Cultural Contacts vol 1 (2014) section 2: Commercial interactions between India & China.
[8] J. Przyluski (1923) La légende de L’empereur Açoka.
[9] https://nghiencuulichsu.com/2024/09/04/truyen-ba-phat-giao-o-nuoc-ta-phan-1/
[10] https://phatphapungdung.com/phap-bao/kinh-phat-noi-gioi-huong-112936.html
[11] Andrew Dalby (2000) Dangerous tastes: the story of spices.
[12] John E. Hill (2004) A third century Chinese account composed between 239 and 265 CE. https://depts.washington.edu/silkroad/texts/weilue/weilue.html#section12
[13] Tibor Wenger. History of saffron. Longhua Chin Med 2022;5:15.
[14] Ibtissam Mzabri, Mohamed Addi and Abdelbasset Berrichi. Traditional and modern uses of saffron (Crocus sativus). Cosmetics 2019, 6, 63.
[15] Wei-juan Huang, Fei-fei Li, Yu-jing Liu, Chun-lin Long. Identification of Crocus sativus and its adulterants from Chinese markets by using DNA barcoding technique. Iran J Biotech. 2015 March;13(1):e1034.
[16] https://www.yellowbridge.com/chinese/dictionary.php?searchMode=E&word=tulip
[17] https://jatakastories.div.ed.ac.uk/textual-collections/liudu-ji-jing-t152
[18] https://jatakastories.div.ed.ac.uk/stories-in-text/liudu-ji-jing-t152-13
[19] https://sites.google.com/view/koberdat/translations
[20] J. Baley, N. Hill & E. Caldwell (2023) Chinese transcription of Buddhist terms in the Late Han Dynasty. Journal of Open Humanities Data, 9:10, pp 1–8.