Chiến tranh Nga- Ukraine (Bài 9)

SERHII PLOKHY

Trần Quang Nghĩa dịch

9 Mặt Trận Phía Đông

Với quân đội Nga không thể chiếm Kiev, Moscow chuyển hướng mũi dùi chính của cuộc tấn công của họ về phía đông, chuẩn bị cho một trận đánh lớn để chiếm được vùng Donbas có mức độ đô thị hóa cao  của Ukraine. Việc tiếp quản các vùng lãnh thổ của vùng Donetsk và Luhansk không chỉ là mục tiêu được tuyên bố của “chiến dịch quân sự đặc biệt”, mà còn là lý do có thể khiến Moscow từ chối kêu gọi ngừng bắn của Kyiv tại các cuộc đàm phán ở Istanbul vào cuối tháng 3. Đó là cơ hội để chấm dứt chiến tranh theo các điều khoản có lợi cho Moscow mà Điện Kremlin sẽ không bao giờ có được nữa.

Những tháng đầu tiên của cuộc chiến đã chứng minh một số các tính năng mới  của giai đoạn chiến tranh mới của Nga tại Ukraine. Một trong số đó là người Nga đã hạn chế tài nguyên không lực cho việc ném bom các mục tiêu quân sự và dựa vào tên lửa, phần nhiều có tính chính xác cao và thường tấn công các mục tiêu dân sự.

Trái ngược với sự mong đợi của một số và mối quan tâm của những người khác, Không quân Nga chưa bao giờ có thể thiết lập ưu thế trên không ở Ukraine. Được cảnh báo bởi dữ liệu tình báo, rất có thể do các đồng minh phương Tây của Ukraine cung cấp, người Ukraine đã ra sức di dời hầu hết các máy bay của họ ngay trước khi Nga tấn công bằng tên lửa vào các sân bay của Ukraine vào sáng sớm ngày 24 tháng 2. Bất kể số lượng máy bay Ukraine có ít và lỗi thời đến mức nào, chúng vẫn tránh được bị hủy diệt và có thể chiến đấu với người Nga trên bầu trời.

Hệ thống phòng không của Ukraine cũng tỏ ra kiên cường. Stingers – hệ thống phòng không cầm tay do Mỹ sản xuất được các bạn bè phương Tây cung cấp trong những tuần trước cuộc xâm lược – đã tăng cường sức mạnh phòng không của Ukraine. Khi người Nga mất máy bay và trực thăng với số lượng ngày càng tăng, họ đã dựa vào tên lửa, một số được phóng từ tàu ở Biển Caspi. Các tên lửa thường không bắn trúng mục tiêu, tấn công các mục tiêu dân sự thay vì mục tiêu quân sự. Người Ukraine đã bắn hạ tên lửa hành trình của Nga hết sức có thể trong nỗ lực bảo vệ các thành phố của mình.

Quân đội Nga cũng có những lý do khác nhau để nhắm mục tiêu vào các thành phố của Ukraine một cách bừa bãi. Họ sử dụng pháo binh để phá hủy cơ sở hạ tầng của thành phố và triệt phá các vị trí phòng thủ của quân đội Ukraine – một chiến lược mà họ sẽ sử dụng hết mức trong cuộc tấn công vào Mariupol và một số thành phố của Ukraine ở Donbas. Họ cũng sử dụng pháo binh và tên lửa làm vũ khí khủng bố, ra sức phá vỡ ý chí kháng cự của người Ukraine. Nạn nhân chính của vụ đánh bom khủng bố là các thành phố phía đông của Ukraine – chiến trường chính của cuộc chiến, nơi hầu hết dân chúng nói tiếng Nga và tỷ lệ người Nga bản địa cao nhất cả nước. Chính người Nga và những người nói tiếng Nga, đối tượng mà quân đội Nga rêu rao là đến để giải phóng, nhưng lại chính là nạn nhân chính của cuộc chiến tranh tiêu hao này.

Thủ Đô Đầu Tiên

Trong số những thành phố đầu tiên của Ukraine bị lực lượng Nga tấn công trực tiếp là Kharkiv, đô thị lớn thứ hai của Ukraine và là thủ đô đầu tiên trong thời kỳ Liên Xô. Một trung tâm hành chính và văn hóa lớn với dân số 1,5 triệu người, chỉ cách biên giới Nga 50 km (30 dặm). Kharkiv đầu tiên bị lực lượng bộ binh tấn công và sau đó phải hứng chịu sự bắn phá không ngừng nghỉ.

Kharkiv đã từng là trung tâm của các khu định cư Cossack trong khu vực được gọi là Sloboda Ukraine kể từ khi được thành lập vào giữa thế kỷ 17. Vào đầu thế kỷ 19, trong khi triều đại Romanov vẫn đang nắm quyền, trường đại học đầu tiên ở Ukraine do Nga cai trị đã được thành lập tại Kharkiv. Vào những năm 1830, thành phố này đã trở thành trung tâm của Chủ nghĩa Lãng mạn Văn học Ukraine, mà những người theo chủ nghĩa này đã thiết kế nền tảng văn hóa cho dự án Ukraine hiện đại.

Vào những năm 1920, Kharkiv trở thành thủ đô của Ukraine Liên Xô và chứng kiến ​​sự phục hưng văn hóa Ukraine, truyền lại cho các thế hệ sau những kiệt tác kiến ​​trúc xây dựng của trung tâm hành chính và trước tác của các nhà văn hiện đại. Sự phục hưng văn hóa này diễn ra trong thời gian ngắn, được gọi là “sự phục hưng bị bức hại” – khá nhiều tác giả Kharkiv đã tự tử hoặc bị cỗ máy khủng bố của Stalin thủ tiêu vào những năm 1930. Sau khi Ukraine tuyên bố độc lập vào năm 1991, Kharkiv trở thành thủ đô xuất bản của Ukraine và là nơi sinh sống của một số nhân vật văn hóa hàng đầu của đất nước, chẳng hạn như nhà thơ, tiểu thuyết gia và nghệ sĩ biểu diễn Serhii Zhadan.

Người Nga rất muốn kiểm soát Kharkiv, bỏ qua các trung tâm đô thị lớn khác ở miền đông Ukraine vì một số lý do. Đầu tiên, Kharkiv là một trung tâm giao thông chính cần thiết cho chiến dịch quân sự. Thứ hai, đây là một thành phố hầu như chỉ nói tiếng Nga, là nơi sinh sống của nhiều nhà văn, nhà thơ và diễn viên người Ukraine mà còn cả người Nga. Điều này làm tăng hy vọng ở Moscow rằng quân đội Nga sẽ được chào đón ở đó, như khẩu hiệu chính trị của cuộc chiến—bảo vệ những người nói tiếng Nga bị Kyiv đàn áp. Lịch sử gần đây cũng đã phát huy tác dụng. Vào năm 2014, thành phố này đã trên bờ vực rơi vào tay những người ly khai được Nga hậu thuẫn, giống như các thành phố và khu định cư khác của Donbas. Thứ ba, Kharkiv gần biên giới Nga; quân đội Nga có thể tiếp cận mà không cần kéo dài quá mức các tuyến tiếp tế của họ—nguyên nhân suy sụp của cuộc tấn công vào Kyiv.

Vì tất cả những lý do đó, những người lập kế hoạch chiến tranh ở Moscow hẳn đã coi Kharkiv không chỉ là một nơi đáng mơ ước mà còn là một mục tiêu dễ dàng. Nhưng ở đây, cũng như nhiều nơi khác, chiến dịch đã không diễn ra theo đúng kế hoạch. Không giống như những người bảo vệ lãnh thổ Ukraine ở phía bắc Kyiv dọc theo biên giới Belarus về cơ bản là mở, quân đội Ukraine gần Kharkiv đã chuẩn bị tốt hơn cho cuộc tấn công sắp tới và chống lại sự tiến công của Nga ngay từ đầu. Lực lượng mặt đất của Nga bắt đầu cuộc tấn công vào sáng ngày 24 tháng 2, vượt qua biên giới và tấn công các vị trí phòng thủ của Ukraine gần thành phố bằng hỏa lực pháo binh. Họ cũng tấn công chính thành phố, với các quả đạn pháo của Nga đòi mạng các nạn nhân đầu tiên của họ là dân thường, bao gồm cả trẻ em.

Vào ngày 25 tháng 2, các đơn vị tiên phong của Nga đã đến vùng ngoại ô Kharkiv. Quân Ukraine đã phản công, nhưng trong những ngày tiếp theo, người Nga đã đột nhập vào giữa thành phố và Bộ Quốc phòng Nga tuyên bố chấp nhận sự đầu hàng của quân đội Ukraine tại trung tâm thành phố. Thông báo này là quá sớm: vào cuối ngày, người Ukraine đã trục xuất bọn xâm lược Nga. Kharkiv vẫn là của Ukraine.

Vào ngày 27 tháng 2, ngày thứ tư của cuộc chiến, với cuộc kháng cự tiếp tục, quân đội Nga bắt đầu ném bom thành phố mà họ đã không chiếm được. Hàng chục thường dân đã thiệt mạng và bị thương. Đó chỉ là khởi đầu. Nhiều cuộc tấn công chết người hơn, thường là vào các khu dân cư, diễn ra vào ngày hôm sau, giết chết nhiều người hơn. Quân đội Nga đã sử dụng bom chùm, loại bom này mở ra giữa không trung, tách thành hàng trăm quả bom con và gây thương vong bừa bãi trên một khu vực rộng lớn, giết chết bất kỳ ai trong bán kính bằng một số sân bóng đá. Việc sử dụng những quả bom như vậy đã bị Công ước về Bom chùm năm 2008 cấm, được ký bởi hơn 100 quốc gia. Nhưng không có chữ ký của Nga, và giờ đây quân đội của họ đang sử dụng bom chùm chống lại một thành phố có 1,5 triệu dân.

Một cuộc điều tra của CNN đã thống kê được 11 cuộc tấn công bằng bom chùm vào Kharkiv trong suốt ngày 27 và 28 tháng 2. Tất cả đều được bắn bằng bệ phóng tên lửa nhiều nòng Smerch (Tornado) của Lữ đoàn Pháo binh Tên lửa số 79 thuộc lực lượng vũ trang Nga. Do Kharkiv gần biên giới Nga nên các cuộc tấn công được thực hiện từ lãnh thổ Nga. Các điều tra viên kết luận rằng lệnh khai hỏa chỉ có thể được đưa ra bởi chỉ huy của Quân khu phía Tây của Nga, Đại tá Aleksandr Zhuravlev, một cựu chiến binh của chiến dịch tàn khốc ở Syria, nơi y đã hai lần giữ chức chỉ huy lực lượng đặc nhiệm của Nga. Vào ngày 28 tháng 2, tên lửa của Zhuravlev đã giết chết hàng chục thường dân trong thành phố, bao gồm ba trẻ em.

 “Phố Klochkivska, Kharkiv. Đã tìm thấy thi thể, thì thể của thường dân Kharkiv,” Kateryna Novak, một cư dân Kharkiv và là biên tập viên, đã viết trong một bài đăng trên Facebook vào tháng 2. Cô đã dẫn đầu việc cho in lại các ấn phẩm phi hư cấu về lịch sử của Ukraine sau khi cuộc chiến năm 2014 bắt đầu. Kateryna đã thêm một liên kết đến các video được thu hình tại chỗ: máu, các mảnh thi thể người và vỏ tên lửa bom chùm nhô lên từ nhựa đường gần lối vào tòa nhà chung cư. Cô nói thêm: “Những gì còn lại là máu và THỨ NÀY”, ám chỉ đến các mảnh thi thể con người.

Chồng của Kateryna đã tham gia đơn vị phòng thủ thành phố. Cô ở nhà với mẹ già và con gái, không thể rời xa họ để đi đến một hầm trú bom hoặc tìm kiếm sự an toàn bên ngoài Kharkiv, như một số đồng nghiệp và hàng xóm của cô đã làm. Kateryna ở lại căn hộ, lo sợ một cuộc tấn công tên lửa vào tòa nhà của mình mỗi khi cô nghe thấy tiếng còi báo động, thường xuyên vang lên. Trước ngày 28 tháng 2, Kateryna chủ yếu đăng lại ảnh, video và bài đăng của người khác; giờ cô bắt đầu viết nhật ký trên Facebook mô tả cuộc sống dưới vòng vây kẻ thù.

“Những kẻ chiếm đóng đã khủng bố Kharkiv của tôi trong hai ngày liên tiếp với tính hung tàn đặc biệt: ném bom trên không và ngừng bắn tên lửa trong nhiều nhất là vài giờ”, Kateryna viết vào ngày 1 tháng 3. “Tôi đang viết thì tiếng còi báo động hú lên. Bom đã đánh vào các khu dân cư của thành phố trong ngày thứ hai. Các vùng ngoại ô đang bốc cháy, và thật kinh khủng khi chứng kiến cảnh tượng này. Có những vụ nổ ở trung tâm thành phố. Các vụ nổ gần chỗ tôi: Paul’s Field, Phố Klochkivska … Phần còn lại của một quả đạn pháo mà tôi không biết tên đang nhô lên từ một cây bồ đề trước cửa hàng thịt, tất cả các cửa sổ đều bị thổi bay. Những ‘người giải phóng’ đang giết trẻ em, phá hủy các tòa nhà dân sự, nhắm vào các cơ sở thiết yếu đối với cuộc sống của thành phố tôi Họ đang đập phá, và đập, và đập, và đập chúng tôi! Những kẻ chiếm đóng không thể chiếm được thành phố, vì vậy bây giờ chúng quyết tâm hủy diệt chúng tôi, ‘giải phóng’ chúng tôi khỏi cuộc sống, xóa sổ chúng tôi! Tôi đang ở nhà. Gia đình tôi ở bên tôi. Chồng tôi đang chiến đấu. Vinh quang cho Ukraine!”

Kateryna bắt đầu đếm những ngày của cuộc chiến. Vào ngày 2 tháng 3, cô ấy đã viết: “Ngày thứ 7. Bây giờ tôi phân biệt được tiếng máy bay khi bay rất thấp, nó cơ động trước khi thực hiện một cuộc không kích. Có vẻ như nó đang bay ngay trên đầu bạn, thậm chí không phải trên  mà xuyên qua đầu bạn. Tôi cũng biết tòa nhà rung chuyển như thế nào khi trúng bom. Và tôi cũng trải qua cảm xúc khi viết thư cho bạn bè mình trên Messenger khi họ đang trốn trong hầm tàu điện ngầm: Đừng ra ngoài! Sẽ có một cuộc không kích khác ngay! Hôm qua đã có những vụ không kích mạnh mẽ, khủng khiếp và tàn khốc. Sau đó, chúng tôi đi ngủ trong tiếng súng nổ trên Phố Culture. Lực lượng của chúng tôi đang đẩy lui các nhóm phá hoại và trinh sát của kẻ thù. Vào buổi sáng, họ [người Nga] đã tấn công tòa nhà Cảnh sát Quốc gia và Đại học Karazin … Những vụ nổ và khói khủng khiếp. Họ đang khủng bố chúng tôi! Nhưng chồng tôi đã gọi điện vào sáng nay và nói rằng anh ấy ổn. Vinh quang cho Ukraine!”

Ngày 3 tháng 3, ngày thứ tám của cuộc chiến. Kateryna tiếp tục nhật ký của mình: “Kharkiv đang cầm cự. Khủng bố vẫn tiếp diễn. Các vùng ngoại ô bị tàn phá. Chúng đang giết hại thường dân. Chúng đang phá hủy thành phố. Các bạn bè  đã dành nhiều ngày trong tàu điện ngầm. Tên lửa Grad lại bắn. Máy bay lại bay trên đầu. Tôi nghĩ bầu trời như một kẻ thù, như một mối đe dọa tiềm tàng. Tôi bắt đầu ghét nó! Điều này thật bất thường. Đóng bầu trời lại. Theo bất kỳ cách nào. Tôi đang nói đến các quốc gia hậu thuẫn chúng tôi. Lực lượng phòng không hiện đại nào đó, máy bay … Bất cứ thứ gì. Nhưng ngay lập tức!” Kateryna đã viết bài đăng của mình bằng tiếng Đức cũng như tiếng Ukraina để tiếp cận bạn bè của cô ở Châu Âu. Một trong những bình luận trên bài đăng gốc của cô rất ngắn gọn nhưng rõ ràng: “Chúng ta cần một Mặt trận thứ hai.” Không có mặt trận thứ hai nào, và các đối tác phương Tây của Ukraine đã từ chối cung cấp máy bay hoặc hệ thống phòng không. Họ sẽ đến, nhưng muộn hơn nhiều.

Kateryna tiếp tục viết về cuộc sống của chính mình và cái chết của những người chung quanh. “Nhìn vào đống đổ nát thật kinh khủng, nhưng biết rằng trẻ em liên tục chết dưới những đống đổ nát đó, nước mắt cứ trào ra!” Sau đó, cô liệt kê các cuộc tấn công gần đây vào Kharkiv và vùng phụ cận: “Hậu quả của một cuộc không kích vào làng Yakovlivka ở tỉnh Kharkiv.” Tại đó, vào đêm ngày 3 tháng 3, trận ném bom đã phá hủy tất cả 45  tòa nhà của làng, trong đó có 21 tòa nhà bị phá hủy hoàn toàn. Hai người thiệt mạng, hai người mất tích và mười một người bị thương. “Hậu quả của một cuộc tấn công vào trung tâm thành phố Kharkiv,” Kateryna tiếp tục trước khi nói thêm: “Cung Lao động.” Vào ngày 2 tháng 3, một tên lửa hành trình của Nga đã đánh trúng tòa nhà hội đồng thành phố. Một chiếc máy bay đã thả một quả bom và phá hủy một nửa địa danh Kharkiv, một tòa nhà được xây dựng vào năm 1916 và được biết đến từ thời Liên Xô với tên gọi “Cung Lao động”.

Cuộc ném bom Kharkiv và các vùng phụ cận tiếp tục trong suốt tháng 3 và tháng 4, và kéo dài đến tận tháng 5, với pháo binh Nga bố trí đủ gần thành phố để nhắm vào mọi khu vực của thành phố. Đến cuối tháng 4, gần 2.000 tòa nhà đã bị hư hại hoặc bị phá hủy hoàn toàn, và hàng trăm công dân thiệt mạng. Nhưng thành phố và những người bảo vệ đã chống chọi được với cuộc tấn công. Đến giữa tháng 5, các nhà quan sát phương Tây tuyên bố lực lượng vũ trang Ukraine chiến thắng trong trận chiến giành Kharkiv. Tình báo Anh đưa tin về việc sa thải một trong những chỉ huy chủ chốt của Nga trong khu vực, Sergei Kisel của Quân đoàn Xe tăng Cận vệ số 1, được cho là vì không chiếm được Kharkiv.

Thị trưởng Kharkiv, Ihor Terekhov, đã lên tiếng nói rằng thái độ của người dân đối với Nga đã trở nên cực kỳ tiêu cực, thậm chí còn tiêu cực hơn cả ở miền tây Ukraine, nơi mà Putin coi là ổ chứa chủ nghĩa dân tộc Ukraine. Vụ đánh bom Kharkiv là vụ thảm sát người nói tiếng Nga đầu tiên nhân danh việc giải phóng họ.

Sắt Thép Azov

Với dân số hơn 430.000 người, hai doanh nghiệp luyện kim lớn và cảng lớn nhất trên Biển Azov, Mariupol, hay thành phố Maria, nằm trong số các mục tiêu chính trong cuộc xâm lược của Nga. Quay trở lại tháng 5 năm 2014, thành phố chiếm 7 phần trăm GDP của Ukraine đã bị lực lượng dân quân ly khai do Nga hậu thuẫn chiếm giữ. Nhưng vào tháng 6 năm đó, người Ukraine đã giành lại được thành phố, phần lớn là nhờ vào hai tiểu đoàn tình nguyện do Bộ Nội vụ Ukraine thành lập. Một tiểu đoàn, Dnipro-1, được chính quyền khu vực của vùng Dnipropetrovsk gần đó tuyển dụng. Tiểu đoàn còn lại, Azov, bao gồm các cựu thành viên hoạt động của Cách mạng Nhân phẩm, trong số đó có một nhóm theo chủ nghĩa dân tộc cấp tiến do Andrii Biletsky lãnh đạo, trở thành chỉ huy đầu tiên của tiểu đoàn.

Vào tháng 2 năm 2015, Azov, hiện là một phần của Lực lượng Vệ binh Quốc gia Ukraine, đã chiếm lại năm khu định cư ở phía đông Mariupol từ phe nổi dậy thân Nga, đẩy lùi tiền tuyến xa hơn ra khỏi thành phố và chiếm thành phố làm căn cứ của nó. Vào thời điểm đó, Biletsky đã rời khỏi quân ngũ, cũng như một số người phó theo dân tộc chủ nghĩa của ông. Trong vài năm tiếp theo, thành phần của trung đoàn đã thay đổi đáng kể. Nó cắt đứt quan hệ với các đảng phái và hệ tư tưởng cực hữu nhưng vẫn là mục tiêu chính của các cuộc tấn công tuyên truyền của Nga, luôn coi Cách mạng Nhân phẩm và chính phủ Ukraine do nó tạo ra là “phát xít” và gọi những chiến binh của Azov là bọn Quốc xã.

Vào sáng ngày 24 tháng 2, các sĩ quan và binh sĩ của trung đoàn Azov tham gia vào đội hình quân sự Ukraine trong trận chiến giành Mariupol. Thành phố này đã phải hứng chịu đợt pháo kích dữ dội vào ngày đầu tiên của cuộc chiến, ranh giới phân định do trung đoàn Azov thiết lập năm 2015 chỉ cách 40 km (25 dặm) về phía đông. Cuộc tấn công của bộ binh Nga vào thành phố bắt đầu vào sáng ngày 24 tháng 2, chỉ để bị quân phòng thủ đẩy lùi, và sau đó là cuộc đổ bộ của quân Nga ở phía tây thành phố. Mục tiêu là chiếm Mariupol và cắt đứt thành phố này khỏi lực lượng vũ trang Ukraine trong khu vực. Việc Berdiansk thất thủ  vào tay lực lượng Nga tiến vào từ Crimea vào ngày 27 tháng 2, tiếp theo là việc quân đội Ukraine để mất vị trí phòng thủ quan trọng tại Volnovakha, phía bắc Mariupol, gần như đã định đoạt số phận của chính Mariupol.

Đến ngày 2 tháng 3, việc bao vây Mariupol đã hoàn tất: quân Nga, tiến về phía tây từ các vùng của Donbas mà họ nắm giữ, và từ Berdiansk mới chiếm được ở phía tây, đã bao vây mọi lối ra khỏi thành phố. Trong Mariupol, quân Nga đã tuyển mộ cả quân chính quy và các đơn vị từ các “nước cộng hòa” Donbas, được tăng cường các đội quân Chechnya trung thành với thống đốc Chechnya do Nga bổ nhiệm, Ramzan Kadyrov. Tất cả các lực lượng này đều nằm dưới sự chỉ huy của Tướng Mikhail Mizintsev, người đã tạo dựng được tên tuổi của mình trong việc phá hủy Aleppo ở Syria và hiện đang có ý định làm điều tương tự ở Mariupol.

Lực lượng phòng vệ thành phố đã gây ra tổn thất nặng nề cho quân đội Nga đang tiến lên, và vào giữa tháng 3, họ đã giết chết chỉ huy của Sư đoàn Súng trường Cơ giới số 151 của Nga, Oleg Mitiaev. Nhưng các lực lượng đối địch rất không cân sức. Trung đoàn Azov do Trung tá Denys Prokopenko 30 tuổi chỉ huy. Là cháu trai của một người lính Phần Lan từng chiến đấu chống quân Nga trong Chiến tranh Mùa đông 1939-40, ông bỗng  thấy mình bị bao vây cùng với Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến Độc lập số 36 dưới sự chỉ huy của Đại tá Volodymyr Baraniuk và Lữ đoàn Tác chiến số 12 của Vệ binh Quốc gia Ukraine dưới sự chỉ huy của Đại tá Denys Shleha. Họ được lực lượng biên phòng và các đội cảnh sát địa phương hỗ trợ.

Không thể đánh bật lực lượng phòng thủ Mariupol ra khỏi vị trí, quân đội Nga tăng cường mức độ đội bom vào thành phố vốn đã bắt đầu ngay vào ngày đầu tiên của cuộc chiến. Các cuộc không kích, pháo kích và phóng tên lửa vào thành phố đã phá hủy một cách có hệ thống và liên tục từng đường phố một, không phân biệt giữa cơ sở quân sự và chung cư dân thường. Dân chúng phải chịu cảnh thiếu lương thực triền miên, nhưng nghiêm trọng nhất là thời tiết lạnh giá, vì nhiệt và điện đã bị mất vài ngày sau khi cuộc bao vây bắt đầu.

Một lệnh ngừng bắn được thiết lập vào ngày 5 tháng 3 để bắt đầu sơ tán dân thường đã bị phía Nga vi phạm khi họ tiếp tục pháo kích thành phố. Điều này  sẽ trở thành một mô hình. Cái gọi là “hành lang xanh” để sơ tán dân thường được mở ra, chỉ để đóng lại trước hoặc trong quá trình sơ tán, khiến người dân khó rời khỏi thành phố để đến được lãnh thổ do Ukraine kiểm soát. Trong khi đó, lực lượng chiếm đóng Nga khuyến khích – theo ý kiến ​​của phía Ukraine, là bắt buộc – sơ tán từ 20.000 đến 30.000 công dân Mariupol đến các khu vực do Nga kiểm soát. 14 máy bay của Nga đã sử dụng bom không có hệ thống dẫn đường trong các cuộc tấn công vào thành phố, trong khi hỏa lực pháo binh và tên lửa không hề chính xác, ngay cả khi nhắm vào các mục tiêu quân sự. Vào ngày 9 tháng 3, quân Nga đã ném bom một bệnh viện phụ sản ở Mariupol, giết chết hàng chục người. Những bức ảnh chụp các phụ nữ mang thai chạy trốn khỏi tòa nhà bị phá hủy một nửa đã gây làn sóng chấn động khắp thế giới. Bảy ngày sau, vào ngày 16 tháng 3, những hình ảnh thậm chí còn ghê rợn hơn đã xuất hiện trên các dịch vụ truyền thông thế giới: một cuộc không kích vào thành phố đã phá hủy Nhà hát kịch Mariupol, nơi trú ẩn dành cho dân thường. Nhà chức trách, không có thời gian và nguồn lực, bắt đầu chôn cất người chết trong các ngôi mộ tập thể.

Đến đầu tháng 4, các thi thể chỉ đơn giản là nằm phơi mình trên đường phố – chính quyền thành phố không có người hoặc nguồn lực để thu gom thi thể, vả lại việc đó cũng quá nguy hiểm, vì trận chiến đã di chuyển vào lòng thành phố từ lâu. Ở những khu vực thành phố do quân đội Nga chiếm giữ, các lò hỏa táng di động đã được sử dụng để thiêu xác chết. Vitalii Liubomirsky, người đã cố thoát khỏi thành phố vào ngày 7 tháng 4, nói với một phóng viên người Mỹ: “Bạn có thể biết mùi thịt thối, nhưng mùi này còn nặng hắc hơn. Mùi của xác người đang thối rữa và xác chết bị thiêu trong các lò hỏa táng ở khắp mọi nơi.” Thị trưởng Vadym Boichenko ước tính số người chết lên tới hơn 21.000.

Vào tháng 3, quân đội Ukraine đã cố gắng phá vòng vây thành phố, nhưng nhóm thiết giáp mà họ sử dụng quá yếu để đạt được mục tiêu và phải rút lui. Trong tuần cuối cùng của tháng 3, tình báo quân sự Ukraine bắt đầu tổ chức các cuộc không kích bằng trực thăng từ lãnh thổ do họ kiểm soát đến các lực lượng Ukraine bị bao vây ở Mariupol. Từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 4, 16 trực thăng MI-8 đã tham gia bảy nhiệm vụ giúp đưa 72 lính tình nguyện của trung đoàn Azov ra ngoài, cung cấp vũ khí và thuốc men, và sơ tán những người bị thương. Chiến dịch táo bạo đó đã kết thúc sau khi mất ba trực thăng.

Trong tuần đầu tiên của tháng 4, khi lực lượng vũ trang Ukraine không thể cung cấp hỗ trợ trên không hoặc pháo binh, và những binh lính phòng thủ sắp hết đạn dược, thuốc men và thực phẩm, quân đội Nga đã chiếm được trung tâm thành phố và đẩy lực lượng Ukraine trở lại khu vực cảng và Azov Steel (Azovstal’), nhà máy sắt thép.

Vào đêm ngày 11 tháng 4, Đại tá Baraniuk chỉ huy lực lượng thủy quân lục chiến,  trong một nỗ lực tuyệt vọng, đột phá qua các phòng tuyến của Nga, nhưng cuộc xuất kích đã thất bại, và gánh chịu tổn thất nặng nề. Những người sống sót, bao gồm cả chính Baraniuk, buộc phải đầu hàng. Những thủy quân lục chiến còn lại rời khỏi vị trí của họ tại khu liên hợp luyện kim Ilyich, nhà máy thép lớn thứ hai của thành phố, và gia nhập trung đoàn Azov của Prokopenko tại Azov Steel. Họ cũng được tăng cường ở đó bởi các vệ binh quốc gia, các thành viên còn lại của các đơn vị cảnh sát và biên phòng vừa rút lui khỏi khu vực cảng, biến khu phức hợp thép Azov thành cứ điểm cuối cùng của thành phố nằm dưới sự kiểm soát của Ukraine. Trong các cơ sở ngầm của khu phức hợp, binh sĩ Ukraine gặp lại người thân của họ cùng với dân thường khác chạy trốn khỏi cuộc ném bom thành phố.

Trong tuần cuối cùng của tháng 4, Tổng thư ký Liên hiệp quốc Antonio Guterres đã gặp Vladimir Putin tại Điện Kremlin và tiến hành các cuộc đàm phán trên một chiếc bàn cực dài nhằm bảo vệ nhà lãnh đạo Nga khỏi nhiễm vi khuẩn của khách, đã xoay xở được Putin thỏa thuận thiết lập một hành lang nhân đạo nhằm sơ tán dân thường khỏi khu phức hợp Thép Azov. Nhóm đầu tiên gồm 20 người đã rời khỏi khu vực vào ngày 30 tháng 4. Cuộc sơ tán tiếp tục trong suốt tuần tiếp theo trong các khoảng nghỉ giữa các trận ném bom dữ dội và các cuộc tấn công vào nhà máy. Đến ngày 7 tháng 5, cuộc sơ tán đã kết thúc, với gần 500 người đã thoát khỏi các phòng ngầm địa ngục của khu phức hợp. Khi dân thường bỏ chạy, những binh lính Ukraine còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu, mặc dù rõ ràng là ngày tàn của họ đã đến.

Tổng thống Zelensky đã công khai tuyên bố nhiều lần rằng ông đang làm mọi cách có thể để cứu họ. Tổng thống Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ dường như đã đề nghị sơ tán những binh sĩ phòng thủ Ukraine về nước mình và giam giữ họ cho đến khi chiến tranh kết thúc. Một đề nghị tương tự đến từ Thụy Sĩ. Vào ngày 11 tháng 5, Kateryna Prokopenko, 27 tuổi, vợ của chỉ huy trung đoàn Azov, Denys Prokopenko, và vợ của một quân nhân khác của Azov Steel đã gặp Giáo hoàng Francis để yêu cầu ông can thiệp trực tiếp với Putin thay mặt chồng họ. Kateryna kiên quyết cho rằng “giam giữ ở Nga không phải là một lựa chọn”. Những gì họ nghĩ đến là kiểu “trích xuất” mà Volodymyr Zelensky và các nhà lãnh đạo châu Âu khác đã thảo luận.

Vladimir Putin đã từ chối mọi lời đề nghị của những người trung gian. Chính phủ Ukraine không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đàm phán một thỏa thuận với Nga theo đó những chiến sĩ Azov Steel sẽ đầu hàng quân đội Nga với điều kiện sau đó họ sẽ đổi lấy tù binh chiến tranh Nga đang bị Ukraine giam giữ. Zelensky tuyên bố rằng mình đã tham gia đàm phán với Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Thụy Sĩ và Liên Hiệp Quốc trong nỗ lực làm trung gian cho thỏa thuận. Ông cũng tiết lộ rằng ông đã bắt đầu các cuộc đàm phán đó sau khi lời kêu gọi của ông đối với các đối tác phương Tây hãy cung cấp vũ khí cho một cuộc đột phá của Ukraine tới Mariupol không được trả lời.

Vào ngày 16 tháng 5, 53 thương binh đầu tiên của Azov Steel đã đầu hàng và được đưa đến lãnh thổ do Nga chiếm giữ. Việc đầu hàng được Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho phép, không quên đưa ra một tuyên bố ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của các sĩ quan và binh lính sắp trở thành tù nhân chiến tranh. “Những chiến sĩ phòng thủ Mariupol là những anh hùng của thời đại chúng ta. Họ sẽ sống mãi trong lịch sử”, tuyên bố viết. Họ được ghi nhận là đã trói chặt lực lượng Nga và ngăn chặn “việc thực hiện kế hoạch [của Nga] nhằm chiếm nhanh Zaporizhia”. Vào ngày 20 tháng 5, chính quyền quân sự Nga tuyên bố nhóm binh lính Ukraine cuối cùng tại Azov Steel đã đầu hàng, tổng số tù binh được nêu ra là 2.439 sĩ quan. Tuyên bố, mà các nhà quan sát vào thời điểm đó cho rằng đã thổi phồng số lượng binh lính Ukraine bị bắt, gọi các sĩ quan và binh lính của tiểu đoàn Azov là “Quân phát xít”, đặt ra nghi vấn liệu Nga có giữ lại thành phần này để mặc cả và liệu có cho phép trao đổi Trung tá Prokopenko và các đồng đội của ông để lấy các tù binh Nga hay không. Người phát ngôn của quốc hội Nga đã đưa ra thông báo rằng các đại biểu của mình sẽ xem xét thông qua luật cấm trao đổi các thành viên của trung đoàn Azov.

Vào ngày cuối cùng của cuộc phòng vệ  Azov Steel, ngày 20 tháng 5, sĩ quan báo chí của trung đoàn Azov, Dmytro Kozatsky, người đã tạm ngưng việc học tập tại Học viện Ostrih, học viện giáo dục đại học lâu đời nhất của Ukraine, để gia nhập quân đội, đã viết một bài đăng cuối cùng trên tài khoản Twitter của mình. “Vậy là hết rồi”, bài đăng viết. “Tôi cảm ơn sự che chở của Azov Steel, nơi tôi sống chết với đồng đội”. Bài đăng kèm theo những bức ảnh do Dmytro chụp tại chỗ. Nhiều bức ảnh trong số đó, bao gồm một bức ảnh có chú thích “Ánh sáng sẽ chiến thắng”, mô tả một người lính đứng trong một chùm ánh sáng chiếu xuống từ mái nhà, bị bom đục thủng một lỗ, đã lan truyền trên các mạng xã hội Ukraine. Nhưng cũng có những hình ảnh mới. Bình luận về những bức ảnh, Kozatsky tiếp tục tweet: “Nhân tiện, trong khi tôi bị giam cầm, tôi sẽ để lại cho bạn một số bức ảnh chất lượng cao; hãy gửi chúng dự thi các giải ảnh báo chí; nếu tôi giành được giải thưởng nào đó, đó sẽ là niềm vui lớn khi tôi được ra tù. Cảm ơn tất cả mọi người vì sự ủng hộ của các bạn. Cho đến khi chúng ta gặp lại nhau.”

Kozatsky sẽ trở về nhà vào tháng 9 và nhận được tin các bức ảnh của anh đã giành được huy chương vàng và bạc tại một cuộc triển lãm quốc tế ở Paris. Anh cũng nhận được giải thưởng Grand Press Photo của Ba Lan.

Kozatsky được thả theo các điều khoản của một cuộc trao đổi tù nhân trong đó người Ukraine đã trao đổi thủ lĩnh của nhóm vận động hành lang Nga tại Ukraine, Viktor Medvedchuk, được cho là bạn thân của Putin, và 54 quân nhân Nga bị bắt trên chiến trường ở Ukraine, để lấy 215 tù binh chiến tranh Ukraine, bao gồm 108 chiến binh Azov. Mặc dù Trung tá Prokopenko, chỉ huy của trung đoàn Azov, đã được thả, hầu hết các chiến binh Azov vẫn bị giam cầm ở Nga. Hơn 40 người trong số họ đã bị giết vào cuối tháng 7 do một vụ nổ được dàn dựng tại doanh trại tù binh trong trại tù binh chiến tranh ở Olenivka ở Donbas bị Nga chiếm đóng.

Đối với Putin, sự sụp đổ của Azov Steel là loại chiến thắng mà ông đã hy vọng trong những ngày đầu của cuộc chiến: chiếm được một cứ điểm của Ukraine ở Donbas và bắt “Quân phát xít” từ trung đoàn Azov phải đầu hàng. Nhưng chiến thắng này cũng chỉ là chiến thắng thảm bại, diễn ra gần ba tháng sau khi cuộc tấn công bắt đầu. Chỉ giành được chiến thắng sau khi biến một trung tâm đô thị lớn thành đống đổ nát: 90 phần trăm các tòa nhà ở Mariupol đã bị hư hại và 40 phần trăm nhà ở bị phá hủy hoàn toàn. Cuộc tấn công của Nga đã giết chết hàng chục nghìn thường dân, buộc hàng trăm nghìn người khác phải trở thành dân tị nạn. Việc này đã được thực hiện với một thành phố mà trước chiến tranh, 44 phần trăm dân số là người Nga và tiếng Nga là ngôn ngữ chính trong mọi khía cạnh của cuộc sống.

Trận Chiến Giành Donbas

Sự sụp đổ của Mariupol đã cho phép Bộ chỉ huy quân sự Nga tập trung vào những gì mà Moscow coi là mục tiêu chính của giai đoạn mới của cuộc chiến – tiếp quản phần còn lại của Donbas. Nhiệm vụ đó đã được Bộ trưởng Quốc phòng Nga, Sergei Shoigu, đưa ra vào cuối tháng 3, khi ông triệu tập quân đội khỏi miền bắc Ukraine và nhấn mạnh việc tập trung  “nỗ lực cơ bản nhằm đạt được mục tiêu chính – giải phóng Donbas”. Vài tuần sau, đồng nghiệp của Shoigu, Ngoại trưởng Sergei Lavrov, giải thích rằng đối với Donbas, chính phủ và quân đội Nga hình dung trong đầu là  toàn bộ lãnh thổ các tỉnh Luhansk và Donetsk của Ukraine, không chỉ những phần do chế độ bù nhìn của họ kiểm soát.” Luận điểm là khi cuộc trưng cầu dân ý diễn ra vào năm 2014, vấn đề có liên quan đến toàn bộ lãnh thổ của các tỉnh cũ đó”, Lavrov giải thích, ám chỉ đến các cuộc trưng cầu dân ý ở Donbas, nơi chưa được cộng đồng quốc tế công nhận.

Cuộc tấn công của Nga bắt đầu thực sự vào tuần cuối cùng của tháng 4, diễn ra trên một mặt trận rộng lớn dọc theo đường phân định tồn tại từ năm 2014. Sau khi rút quân khỏi Kyiv và miền bắc Ukraine và giải phóng các đội hình quân sự lớn bằng cách đẩy lực lượng Mariupol vào các hầm mộ của Azov Steel, bộ chỉ huy Nga đã tập hợp tới 60.000 quân – 67 Nhóm Chiến thuật Tiểu đoàn (BTG) cho cuộc tấn công mới hùng hậu của mình. Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho biết vào thời điểm đó đã có 87 BTG của Nga ở Ukraine nói chung, vì vậy ba phần tư tổng số quân Nga hiện đã tập trung tiến vào một hướng.

Theo Tổng thống Zelensky, lực lượng vũ trang Ukraine, đang chiến đấu theo đội hình lữ đoàn, có gần 44.000 người ở Donbas, trong khi các đánh giá của phương Tây dao động từ 40.000 đến 50.000. Người ta thường mong đợi rằng trận chiến giành Donbas, hay giai đoạn thứ hai của cuộc chiến, sẽ quyết định kết quả của cuộc xung đột nói chung.

Lực lượng Ukraine ở Donbas đang giữ đường ranh giới năm 2014 gần thành phố Donetsk và phía đông Luhansk, nơi họ đã có tám năm để củng cố. Kết quả hóa ra rất khó khăn cho quân Nga đột phá qua phòng tuyến đó. Thắng lợi ban đầu của họ đạt được vào tuần thứ hai của tháng 5, khi họ chiếm được các thị trấn Popasna và Rubizhne ở trung tâm các tuyến phòng thủ của Ukraine ở phía đông Luhansk. Popasna đã biến thành đống đổ nát bởi hỏa lực pháo binh của Nga, vượt xa bất kỳ thứ gì mà quân đội Ukraine có thể đáp trả. Lời giải thích mà các quan chức Ukraine đưa ra cho việc rút lui của lực lượng của mình vừa đơn giản vừa kinh hoàng – không còn gì để phòng thủ nữa, vì các vị trí phòng thủ đã bị san bằng.

Người Ukraine cho rằng quân Nga sẽ tiến hành các chiến dịch kiểu gọng kìm và tạo ra các ổ kháng cự do các binh sĩ Ukraine đang bao quanh, như thường được thực hiện trong các cuộc giao tranh ở Mặt trận phía Đông trong Thế chiến II. Mặc dù lực lượng đã nỗ lực, nhưng các động thái gọng kìm của họ từ Izium ở phía bắc và từ bờ biển phía bắc của Biển Azov ở phía nam, nhằm tạo ra một ổ lớn, đã tỏ ra vô ích vì một cuộc phản công thành công của Ukraina gần Izium, đã ngăn chặn được bước tiến của Nga. Các nỗ lực tiếp theo nhằm tiến hành một chiến dịch kiểu gọng kìm và tạo ra một ổ nhỏ hơn cũng đã thất bại sau những nỗ lực không thành công của họ nhằm vượt qua Sông Siverskyi Donets. Vào ngày 11 tháng 5, pháo binh Ukraine đã tiêu diệt toàn bộ một tiểu đoàn của Lữ đoàn Súng trường Cơ giới số 74 gần làng Bilohorivka. Trong số 550 sĩ quan và binh lính cố gắng vượt sông, 485 tên đã thiệt mạng hoặc bị thương, và 80 phương tiện và thiết bị đã bị phá hủy.

Sau khi không thể tạo ra các vòng vây hoặc ổ co cụm trong gần một tháng tấn công, quân Nga đã phải tham gia vào trận chiến trong thành phố theo kiểu mà họ đã trải qua ở Mariupol.

Vào cuối tháng 5, quân Nga đã tiến lên để tiêu diệt một ổ kháng cự xung quanh thành phố Siverodonetsk ở phía đông tỉnh Luhansk. Giao tranh diễn ra từng nhà một, và quân Nga một lần nữa sử dụng hỏa lực không quân và pháo binh để phá hủy các vị trí phòng thủ của Ukraine. Một cách chậm chạp và đẫm máu, chiến thuật đúng đắn và đã được thử nghiệm này đã giành được thắng lợi dù phải hứng chịu thương vong nặng nề.

Quân Ukraine rời khỏi Siverodonetsk vào ngày 24 tháng 6 và chiếm giữ các vị trí ở thành phố Lysychansk gần đó.. Lysychansk là thành phố song sinh của Siverodonetsk, nằm trên bờ cao của một con sông, khiến nơi này dễ phòng thủ và khó chiếm. Nhưng lần này, quân Nga đe dọa sẽ bao vây quân Ukraine  ở Lysychansk. Họ đã phá vỡ các phòng tuyến của quân Ukraine và bao vây các đơn vị Ukraine gần các ngôi làng Hirske và Zolote, buộc họ phải rút lui dọc theo các tuyến đường phía sau. Khi quân Nga gần như bao vây Lysychansk, quân Ukraine không còn cách nào khác ngoài việc từ bỏ thành phố. Lysychansk, trung tâm đô thị lớn cuối cùng của tỉnh Luhansk còn nằm dưới sự kiểm soát của Ukraine, đã rơi vào tay quân đội Nga và các đơn vị chính thức thuộc Cộng hòa Nhân dân Luhansk vào ngày 2 tháng 7, chưa đầy mười ngày sau khi quân đội Ukraine từ bỏ Siverodonetsk.

Theo ước tính sau này, trong cuộc giao tranh ở Donbas, quân đội Ukraine đã bị áp đảo về hỏa lực pháo binh gấp mười lần. Các kho đạn dược của Ukraine đã nằm trong số các mục tiêu chính của các cuộc tấn công bằng tên lửa của Nga trong những ngày đầu của cuộc xâm lược, và giờ đây quân đội Ukraine còn rất ít đạn dược, khiến họ hầu như không còn khả năng tham gia đấu pháo với quân Nga.

Thương vong của họ ngày càng tăng, lên tới khoảng 100 đến 200 binh sĩ thiệt mạng và tới 800 người bị thương trong mỗi ngày chiến tranh.

Bây giờ là bộ binh Ukraine chiến đấu với pháo binh Nga. Tổng thống Zelensky và các quan chức Ukraine đã gióng lên hồi chuông cảnh báo trong nhiều tuần, nhưng các đồng minh phương Tây của Ukraine trong số các quốc gia thuộc khối Xô Viết cũ có rất ít đạn dược kiểu Liên Xô để chia sẻ, trong khi các khẩu pháo và hệ thống phóng tên lửa kiểu NATO vẫn đang trên đường đến tiền tuyến của Ukraine. Tại Moscow, Bộ trưởng Quốc phòng Shoigu báo cáo với Putin rằng “công cuộc giải phóng” Cộng hòa Nhân dân Luhansk đã hoàn tất. Putin, có vẻ hài lòng, đã trao tặng cho chỉ huy của Tập đoàn quân Trung tâm và một trong những cấp dưới của ông ta Huân chương Anh hùng Liên bang Nga. Ông ta bảo quân lính nghỉ ngơi. Đó là giải thưởng cao quý đầu tiên và là kỳ nghỉ đầu tiên của quân đội Nga kể từ khi bắt đầu chiến dịch Donbas vào cuối tháng 4. Trong khi việc chiếm được Siverodonetsk và Luhansk được ca ngợi là chiến tích lớn, một số ít nhà quan sát độc lập nghi ngờ rằng các mục tiêu của cuộc tấn công vẫn không đạt được. Chỉ có tỉnh Luhansk, nơi người Nga đã kiểm soát hầu hết lãnh thổ trước tháng 2 năm 2022, hóa ra mới được “giải phóng”. Không có tiến triển đáng kể nào được báo cáo ở “Cộng hòa Nhân dân Donetsk” lân cận, chưa nói đến việc kiểm soát miền nam Ukraine và một cây cầu đến Transnistria.

Trận chiến giành Donbas không trở thành bước ngoặt trong cuộc chiến như nhiều người hy vọng hoặc lo sợ. Vào nửa cuối tháng 7, người đứng đầu của MI6 Anh, Richard Moore, gọi những bước tiến của Nga là “nhỏ” và cho rằng quân đội Nga sắp “hết hơi”. Moore nói tiếp: “Chúng tôi đánh giá rằng người Nga sẽ ngày càng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân lực và vật lực trong vài tuần tới. Họ sẽ phải dừng lại theo một cách nào đó, và điều đó sẽ tạo cơ hội cho người Ukraine phản công”.

Thật vậy, đến giữa tháng 7, tình hình ở tiền tuyến Donbas đã ổn định. Vài tuần trước đó đã chứng kiến ​​sự xuất hiện của các khẩu pháo phương Tây ở Ukraine, bao gồm M777, các khẩu pháo lựu 155 mm và đạn dược đi kèm.

Một bổ sung chính cho các loại pháo đó là Hệ thống tên lửa cơ động cao của Mỹ (HIMARS), vũ khí pháo hạng nặng vượt trội hơn các loại tương đương của Nga về độ chính xác và tầm bắn hiệu quả. Người Ukraine được cung cấp đạn HIMARS giờ đây có thể bắn trúng mục tiêu trong bán kính 50 dặm, cuối cùng mang lại cho họ lợi thế so với người Nga. Mặc dù số lượng hệ thống HIMARS được cung cấp lúc đầu không đáng kể, nhưng trong vòng vài tuần, hàng chục chiếc đã phá hủy tới 100 điểm gọi là mục tiêu có giá trị, tấn công các kho đạn dược và trung tâm chỉ huy sâu phía sau phòng tuyến của Nga.

“Do đó, việc đưa HIMARS và M270 bắn các GMLR (tên lửa dẫn đường) vào Không lực Ukraine có thể được coi là thời điểm cuộc tấn công của Nga vào Donbas kết thúc và cuộc chiến bước vào giai đoạn mới”, các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng Hoàng gia Anh viết.

Thiệt hại do hệ thống HIMARS gây ra cho khả năng phòng thủ và tấn công của Nga đã trở nên rất nghiêm trọng đến nỗi vào ngày 18 tháng 7, phương tiện truyền thông Nga đã đưa tin về lệnh của Bộ trưởng Shoigu yêu cầu các lực lượng Nga tìm cách phá hủy chúng. Bốn ngày sau, Bộ của Shoigu tuyên bố đã phá hủy bốn HIMARS, nhưng cùng ngày, Tướng Mark Milley, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, phát biểu tại một cuộc họp báo ở Lầu Năm Góc, lên tiếng rằng tuyên bố này là sai. “Cho đến nay, những hệ thống đó vẫn chưa bị người Nga tiêu diệt”, Milley nói với các nhà báo có mặt. Vài ngày trước đó, ông đã nói với họ rằng các cuộc tấn công HIMARS “đang làm suy yếu dần khả năng cung ứng cho quân đội, khả năng chỉ huy và kiểm soát lực lượng và khả năng tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược bất hợp pháp của họ.” Milley hứa rằng bốn hệ thống HIMARS nữa sẽ được chuyển đến Ukraine.

Cái Chết của Xã Hội Không Tưởng của Nga

Cuộc xâm lược của Nga đã phá hủy những dấu tích cuối cùng của niềm tin cho rằng người Ukraine và người Nga là những dân tộc anh em, chưa nói đến việc họ là một và cùng một dân tộc. Điều đó đúng ngay cả với những đặc điểm của di sản chung mà Putin đã tìm cách kêu gọi trong các bài viết và bài phát biểu, bao gồm nguồn gốc lịch sử, truyền thống tôn giáo và sự chung vai sát cánh chống lại lực lượng chiếm đóng đóng Đức Quốc xã.

Tại thành phố Pereiaslav ở vùng Kyiv, nơi Hetman Bohdan Khmelnytsky đã tuyên thệ trung thành với sa hoàng Nga vào năm 1654, chính quyền thành phố đã dỡ bỏ tượng đài “thống nhất Nga và Ukraine”, trung tâm của tuyên truyền về sự thống nhất Nga-Ukraine. Tượng đài “Tổ Quốc” ở Kyiv biểu tượng cho công cuộc bảo vệ thành phố chống lại sự xâm lược của Đức Quốc xã, một tay giơ thanh kiếm  tay kia là lá chắn, do Liên Xô xây dựng vào những năm 1980 và được biết đến như một biểu tượng của Kyiv, vẫn còn nguyên vẹn nhưng đã thay đổi ý nghĩa. Giờ đây, nó được coi là biểu tượng của sự phản kháng trước cuộc xâm lược của Nga.

Cũng có một thái độ mới đối với lời bài hát của một trong những bài hát Liên Xô phổ biến nhất, bắt đầu bằng những câu mà mọi học sinh ở Liên Xô đều biết: “Vào ngày 22 tháng 6 / Đúng bốn giờ sáng / Kyiv bị ném bom / Và chúng tôi được thông báo rằng cuộc chiến đã bắt đầu.” Những dòng này ám chỉ đến cuộc pháo kích của Đức vào Kyiv vào tháng 6 năm 1941, nhưng bây giờ những kẻ xâm lược ném bom thành phố là bọn Nga.

Vào giữa tháng 7, UNESCO đã xác định 163 di tích văn hóa bị phá hủy hoặc hư hại do cuộc chiến tranh của Nga với Ukraine. Thật trớ trêu khi cuộc ném bom của Nga lại giết chết những người nói tiếng Nga và phá hủy các địa danh và địa điểm mà nền văn hóa đế quốc Nga và sau đó là Liên Xô tuyên bố chủ quyền. Andrei Krasniashchikh, một giáo sư tại Đại học Kharkiv và là một tác giả đã viết và xuất bản bằng tiếng Nga, đã lên án việc phá hủy Kharkiv do cuộc ném bom của Nga là sự phá hủy nền văn hóa Nga tiền Xô Viết và Xô Viết ở Ukraine bởi những người được cho là đến để bảo vệ nó.

“Bernes”, Krasniashchikh viết, ám chỉ đến nam diễn viên và ca sĩ nổi tiếng của Liên Xô Mark Bernes. “Ngôi nhà của ông ấy ở Kharkiv. Tôi không biết liệu nó có còn tồn tại hay không. Nó không xa phố Seminary, nơi đã bị đánh bom.” Bernes, một người Do Thái và là người bản xứ Nizhyn ở vùng Chernihiv, là một trong những cái tên được công nhận nhất trong nền văn hóa Nga Xô Viết, một nghệ sĩ biểu diễn các bản hit thời Thế chiến II, cũng như là đồng tác giả và nghệ sĩ biểu diễn bài hát phản chiến của Liên Xô năm 1961, “Người Nga muốn chiến tranh sao?” Theo bài hát, sau khi đã hy sinh quá nhiều trong Thế chiến II, người Nga không muốn chiến tranh. “Hỏi những người lính / Ai nằm dưới những cây bạch dương”, lời bài hát như vậy. “Và con trai của họ sẽ trả lời bạn / Liệu người Nga có muốn chiến tranh không!” Vào đầu tháng 3 năm 2022, bài hát đã được trình diễn trên chương trình châm biếm ZDF Magazine Royale để phản đối cuộc tấn công của Nga vào Ukraine.

“Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với ngôi nhà của Shulzhenko, Bunin và Khlebnikov”, Krasniashchikh tiếp tục, liệt kê tên của những cư dân Kharkiv nổi tiếng khác, ca sĩ Liên Xô Klavdiia Shulzhenko và các nhà văn Nga Ivan Bunin và Velimir Khlebnikov. “Ngôi nhà của ông ấy,” Krasniashchikh viết về nơi ở cũ của Khlebnikov, “nằm cạnh sở cảnh sát tỉnh, nơi đã bị đánh bom vào ngày 2 tháng 3 và một quả bom đã rơi xuống bảo tàng nghệ thuật có các tác phẩm của Aivazovsky, Repin và Levitan.” Cả ba họa sĩ được Krasniashchikh nhắc đến đều được coi là niềm tự hào của nền văn hóa Nga. “Ngôi nhà của [Isaak] Dunaevsky,” ông tiếp tục, ám chỉ đến nhà soạn nhạc nhạc trưởng nổi tiếng của Liên Xô, “trên phố Yaroslav the Wise, cũng có bom ở đó. Họ đang ném bom khắp nơi. 2.055 tòa nhà. Khuôn viên trường đại học đẹp đẽ đã vỡ tan cửa sổ. Khoa của chúng tôi ở tầng sáu đối diện.” Krasniashchikh sau đó đưa tin từ Bucha: “Trong ba lô của một người lính Nga thiệt mạng ở Ukraine, họ tìm thấy một cuốn sách của Bulgakov, một cây thánh giá vàng nhỏ, một đôi bông tai trẻ em có hình con bọ rùa và những chiếc răng vàng.” Ông đặt tiêu đề cho bài viết của mình là “Văn hóa Nga đang bị thiêu rụi dưới mưa bom.”

Vào tuần đầu tiên của tháng 5, một tên lửa của Nga đã phá hủy bảo tàng của Hryhorii Skovoroda, một triết gia nổi tiếng thế kỷ XVIII, được coi là người sáng lập không chỉ triết học Ukraine mà còn triết học tôn giáo Nga – một người có ảnh hưởng lớn đến Vladimir Soloviev và Nikolai Berdiaev. Bảo tàng nằm cách Kharkiv năm mươi kilômét (30 dặm) về phía đông bắc tại làng Ivanivka, được đổi tên thành Skovorodynivka theo tên của triết gia, người đã mất tại đó. Bộ trưởng Văn hóa Ukraine, Oleksandr Tkachenko, tin rằng việc phá hủy bảo tàng là cố ý. “Skovorodynivka cách xa các làng mạc và cơ sở hạ tầng khác; thực tế, chỉ có những cánh đồng ở gần đó”, bộ trưởng nói. “Tôi không nghi ngờ gì rằng họ cố tình nhắm vào Skovoroda nói riêng. Tôi nghĩ rằng chính ông ấy đã từng nói, ‘Đừng kết giao với những kẻ che giấu ý định xấu xa.’

Cũng bị tấn công là các di tích của thời đại các ông hoàng Kyiv – một di sản mà Putin và những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga thuộc mọi thành phần coi là của riêng họ. Đó là trường hợp ở thành phố Chernihiv, một trong những thủ đô của các ông hoàng của Kyiv Rus’ được các nhà văn, nhà tư tưởng và chính trị gia Nga thuộc mọi khuynh hướng coi là cái nôi của nền văn minh của họ. Lần đầu tiên được đề cập trong Biên niên sử Kyiv vào năm 907, Chernihiv là địa điểm của một số di tích kiến ​​trúc thời trung cổ, bao gồm Nhà thờ Holy Savior thế kỷ XI và Nhà thờ Dormition, Tu viện Yelets và Nhà thờ St. Elijah, tất cả đều có niên đại từ thế kỷ XII. Ngoài ra còn có các tòa nhà của thời kỳ đầu hiện đại, được xây dựng theo phong cách mà  Ukraine gọi là baroque Cossack. Với dân số gần 300.000 người, nằm cách biên giới Nga chưa đầy 90 km (56 dặm) và cách Kyiv 155 km (96 dặm) về phía đông bắc, Chernihiv nằm trên đường tiến quân của Nga hướng về Kyiv trên bờ trái của sông Dnieper. Họ đã đến thành phố vào ngày đầu tiên của cuộc chiến nhưng đã bị quân phòng thủ Ukraine đẩy lùi, thậm chí còn bắt một số lính Nga làm tù binh. Các chỉ huy Nga quyết định bỏ qua thành phố, tiến về Kyiv. Thay vì xua quân vào Chernihiv, họ đã ném bom vào đó, bắt đầu từ ngày 25 tháng 2, ngày thứ hai của cuộc chiến. Hai ngày sau, tiếng nổ có thể nghe thấy ở trung tâm lịch sử của Chernihiv.

Vào ngày 6 tháng 3, cuộc ném bom đặc biệt dữ dội. 47 người đã thiệt mạng và bom đã đánh trúng tòa nhà bảo tàng văn học và nghệ thuật. Tu viện Yelets thế kỷ thứ 12 đã bị hư hại vào ngày hôm sau. Cuộc ném bom vào thành phố bị bao vây tiếp tục trong suốt tháng 3, cướp đi sinh mạng của hàng trăm thường dân khác và phá hủy nhiều bảo tàng, thư viện và cơ sở trường đại học của thành phố. Cuộc bao vây kết thúc vào ngày 31 tháng 3, khi quân đội Ukraine chiếm lại được đường cao tốc chiến lược nối Kyiv và Chernihiv. Thành phố, một phần bị phá hủy, với một nửa dân số trở thành người tị nạn, bắt đầu trở lại trạng thái bình thường và đong đếm những mất mát của mình – về con người, vật chất và tinh thần.

Giáo sư lịch sử Serhii Lepiavko, 61 tuổi, là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử Chernihiv và vùng phụ cận, đã tham gia đơn vị phòng thủ thành phố cùng với hai người con trai, đã trả lời phỏng vấn với phương tiện truyền thông địa phương. “Với tư cách là một người Chernihivite, điều quan trọng đối với tôi là ở lại trên đường phố của thành phố và bảo vệ nó”, Lepiavko nói, giải thích quyết định đứng lên và chiến đấu của mình. Sau đó, ông đã tiết lộ nỗi sợ hãi lớn nhất của mình, không phải là chết mà là mất đi những viên ngọc kiến ​​trúc của thành phố: “Cá nhân tôi sợ rằng sẽ phải chiến đấu trong đống đổ nát của Nhà thờ St. Catherine hoặc Nhà thờ Holy Savior. Nhưng tôi biết chắc rằng mình sẽ không bao giờ rời đi.

Chính bom đạn Nga không chỉ phá vỡ các tòa nhà thờ mà còn phá vỡ cả công trình Tòa Thượng phụ Moscow. Giáo hội Chính thống giáo Ukraine dưới quyền tài phán của Moscow đã nổi loạn chống lại Thượng phụ Kirill, người đã đưa ra tuyên bố vào đầu cuộc chiến kêu gọi “tất cả các bên trong cuộc xung đột làm mọi thứ có thể để tránh thương vong cho dân thường” và viện dẫn lễ rửa tội của nhà nước Kyiv Rus vào thế kỷ thứ 10, nguồn cội của cả người Ukraine và người Nga, như một phần của truyền thống sẽ giúp ích để vượt qua “những chia rẽ và mâu thuẫn đã nảy sinh và dẫn đến xung đột hiện tại”.

Cấp dưới chính thức và bạn thân của Kirill tại Ukraine, Đức Tổng giám mục Onuphry, người đứng đầu Giáo hội Chính thống giáo Ukraine trực thuộc Tòa Thượng phụ Moscow, không mấy khoan nhượng với việc cấp trên của mình từ chối nêu tên và lên án kẻ xâm lược.

“Nga đã tiến hành các hành động quân sự chống lại Ukraine, và vào thời điểm định mệnh này, tôi kêu gọi các bạn đừng hoảng sợ, hãy can đảm và thể hiện tình yêu với quê hương và với nhau”, Đức Tổng giám mục đã tuyên bố trong một bài phát biểu trước đám con chiên của mình. Ngài được coi là người ủng hộ trung thành mối quan hệ của Ukraine với Moscow, Sau đó, ngài kêu gọi tổng thống Nga, gần như cáo buộc ông ta về “tội lỗi của Cain” bằng cách đưa ra một cách giải thích rất khác về lễ rửa tội chung của Rus’ vào năm 988 của ông Hoàng Volodymyr của Kyiv, mà Thượng phụ Kirill đã ám chỉ.

“Bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn của Ukraine,” Onuphry tiếp tục, “chúng tôi kêu gọi Tổng thống Nga và yêu cầu ông ngay lập tức chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Ukraine và Nga, các dân tộc bước ra từ nguồn rửa tội Dnieper, và cuộc chiến giữa những người này là sự lặp lại tội lỗi của Cain, kẻ đã giết chết chính em trai mình vì lòng đố kỵ. Một cuộc chiến như vậy không có lý do chính đáng từ Chúa hay từ con người.” Tuyên bố của Đức Tổng Giám mục Onuphry là một trong nhiều tuyên bố tương tự, công khai và riêng tư, được cất lên tại Kyiv và các thành phố khác của Ukraine sau cuộc tấn công của Nga. Vào tháng 6, Giám mục Lonhyn, người thân cận với Onuphry, đã thách thức Kirill bằng cách “cảm tạ” ông trong một buổi lễ nhà thờ vì vụ đổ máu mà ông đã hậu thuẫn. “Đức Thánh Cha, chúng con cảm tạ Ngài vì phước lành của Ngài. Vì sự kiện là mọi người đang chết, và máu đang đổ. Vì đã ném bom các tu viện, nhà thờ của chúng con. Vì tiếp tục giết các tu sĩ, các linh mục của chúng con. Chúng con cảm tạ Ngài, Đức Thánh Cha, vì đã ban phước lành lớn lao cho trận tắm máu.”

Hội đồng Giáo hội Chính thống giáo Ukraine trực thuộc Tòa Thượng phụ Moscow, được triệu tập vào cuối tháng 5 năm 2022, đã ghi nhận “sự bất đồng” với Thượng phụ Kirill và thực hiện một bước tiến tới vì thế độc lập khỏi Moscow, cho phép đàn chiên của họ không cầu nguyện cho Thượng phụ và các nhà thờ của mình sử dụng dầu thánh do Kyiv cung cấp thay vì Moscow – một bước tiến lớn hướng tới quyền tự chủ hoàn toàn theo thông lệ Chính thống giáo. Tòa Thượng phụ Moscow đã đáp trả khi một giáo phận của mình ở “Cộng hòa Nhân dân Donetsk” từ chối cầu nguyện cho Đức Tổng Giám mục Onuphry. Bất chấp chiến tranh, Kyiv vẫn duy trì quyền kiểm soát chính thức đối với một số các giáo phận cũ của mình trên lãnh thổ của “các nước cộng hòa” Donetsk và Luhansk. Nhưng bây giờ, với những  bang được Moscow công nhận là độc lập, và các giám mục Kyiv vùng dậy chống lại sự ủng hộ của Thượng phụ Kirill đối với cuộc chiến, không chắc điều gì sẻ xảy ra. Các giáo xứ của Tòa Thượng phụ Moscow ở Ukraine cũng đang chia rẽ. Vào tháng 12, Tổng thống Zelensky đã khởi xướng một đạo luật cấm các hoạt động của các tổ chức tôn giáo có liên hệ với “các trung tâm ảnh hưởng” của Liên bang Nga.

Sở dĩ mà chính phủ và công chúng Ukraine phản ứng tiêu cực khá cố chấp đối với những cảnh báo của phương Tây về cuộc xâm lược sắp tới ít nhất một phần dựa trên niềm tin rằng Nga, nước có lịch sử và văn hóa gần gũi với Ukraine, có thể sẽ phát động một lượt chiến tranh hỗn hợp khác nhưng không dám tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô lớn chống lại Ukraine. Và chắc chắn Nga sẽ không bao giờ tấn công Kyiv, nơi mà chính Putin, giống như nhiều người tiền nhiệm, đã gọi là “mẹ của các thành phố Nga”. Định nghĩa đó xuất phát từ Biên niên sử Kyiv thời trung cổ. Nhưng không hề khơi dậy lòng biết ơn trước chiêu bài “hỗ trợ anh em”, cuộc chiến đã giúp phá hủy một số huyền thoại đế quốc Nga và Liên Xô. Thay vì ngăn chặn sự phát triển của quốc gia Ukraine và phá hủy quyết tâm của họ đối với chủ quyền, cuộc xâm lược Nga nói chung và cuộc tấn công vào Kyiv nói riêng đã củng cố ý thức về bản sắc và tình đoàn kết của người dân Ukraine, mang lại cho họ một lý do tồn tại mới, những câu chuyện mới và những anh hùng và liệt sĩ mới.

Bình luận về bài viết này