PHÁO ĐÀI MÙA ĐÔNG- Sứ Mệnh Anh Hùng Ca Phá Hủy Bom Nguyên Tử của Hitler (Bài 8)

NEAL BASCOMB

Trần Quang Nghĩa dịch

15 Cơn bão

SAU THẤT BẠI chuyến thả dù tháng giêng, Rønneberg nhấn mạnh đội Gunnerside nên nghỉ ngơi cách xap Sảnh Gaynes. Trong khi chờ tuần trăng mới, họ đã dành hai tuần sống trong ngôi nhà đá cô liêu bên cạnh hồ Loch Fyne, phía Tây Scotland. Thuộc sở hữu của người sĩ quan tình báo cũ và bạn của Đại tá Wilson, nơi không có điện và chỉ có thể đến được bằng thuyền hoặc đi bộ qua đồng hoang.

Được bao quanh bởi những ngọn núi, nó là vị trí đào tạo hoàn hảo –  gồ ghề hơn nhiều so với những đồng cỏ dễ chịu xung quanh Cambridgeshire. Sáu người đã đi bộ đường dài hàng ngày với đầy đủ túi xách để cơ bắp họ làm quen với địa hình mà họ sẽ gặp trên Vidda. Khi không đi bộ, họ câu cá hồi và săn hải cẩu và hươu. Thời gian ở Scotland đã giúp họ chuẩn bị sẵn sàng về mặt thể lực và giúp họ xích lại gần nhau hơn như một đội.

Vào ngày 12 tháng 2, họ quay trở lại Sảnh Gaynes. Cơ hội khởi hành đã mở, nhưng nếu Na Uy cũng bị tàn phá bởi trận mưa và gió mạnh như Anh, thì họ sẽ không rời đi sớm. Vào ngày đầu tiên họ trở lại, Tronstad gặp họ để xem xét thông tin mới nhất từ ​​Chim Én . Họ lo sợ rằng việc trì hoãn lâu trong việc triển khai chiến dịch sẽ giúp kẻ thù có thời gian để củng cố an ninh tại Vemork và điều đó bây giờ đã xảy ra. “Quân Đức đã gia nhập quân Áo. Lực lượng bảo vệ tại Vemork tăng lên ba mươi người,” Chim Én  báo cáo. “Hai trạm canh gác trên cầu. Khi có báo động không kích, họ luôn trong trạng thái hoàn toàn sẵn sàng.” Kể từ thảm họa Freshman, quân Đức đã tăng lực lượng đồn trú của họ tại Hồ Møs từ 10 lên 40 người; tại Vemork, từ 10 lên 30; và ở Rjukan, từ 24 đến 200. Lực lượng tiếp viện này chủ yếu là lính Đức. Một khẩu đội phòng không đã được bố trí ở Hồ Møs. Hai đài D/F liên tục tìm kiếm các đường truyền vô tuyến và một số điều tra viên của Gestapo thường xuyên có mặt ở Rjukan, phát hiện mọi rắc rối.

Quân Đức cũng đã bố trí thêm các bãi mìn xung quanh Vemork, bố trí đèn rọi khắp khu vực và bố trí quân tiếp viện ở đầu đường ống và trên cầu treo. Tuần tra tiến hành suốt ngày đêm. Pháo đài mùa đông đã được chuẩn bị cho một cuộc tấn công tổng lực. Tất cả những biện pháp phòng thủ được tăng cường này báo hiệu tầm quan trọng của chương trình nguyên tử đối với nỗ lực chiến tranh của Đức Quốc xã, tuy nhiên thông tin tình báo gần đây mà Tronstad và Welsh thu thập được từ các điệp viên của họ đã vẽ nên một bức tranh u ám về cường độ mà họ đang theo đuổi một quả bom.

Paul Rosbaud, hay còn gọi là Griffin, đã gửi tin rằng một thành viên trong nhóm thân cận của Hitler, Albert Speer, đã chỉ huy chương trình của Đức, nhưng Rosbaud không chắc điều này có ý nghĩa gì đối với vị thế của chương trình. Ông cũng nhấn mạnh ý định của Heisenberg là xây dựng một lò phản ứng tự duy trì bất chấp vụ nổ đã làm hỏng thí nghiệm gần đây nhất của ông.

Harald Wergeland, Giáo sư Đại học Oslo, đã được Tronstad  tuyển dụng làm điệp viên, kể lại  cuộc gặp gỡ với một nhà vật lý Đức, tuyên bố rằng nghiên cứu của họ đã tập trung vào việc xây dựng một máy phát điện, không phải là một quả bom. Bất kì vũ khí nào như thế là một giấc mơ xa vời, Wergeland đã được cho biết. Nicolai Stephansen, một người điều hành Norsk Hydro gần đây đã trốn thoát đến Stockholm, cũng ủng hộ điều này. Ông ấy đã giao một báo cáo ghi lại quá trình tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nước nặng tại Vemork. Tuy nhiên, từ những cuộc trò chuyện của ông với các nhà khoa học Đức tại trụ sở Norsk Hydro, sự gia tăng sản xuất nước nặng “không được sử dụng để chế tạo bom hoặc các loại quái quỷ nào  liên quan đến chiến tranh”.

Tuy nhiên, những người đưa tin cũng mang theo những thông điệp bí mật từ Njål Hole, một nhà vật lý Na Uy 29 tuổi. Tronstad đã khuyến khích Hole gia nhập Khoa Vật lý tại Viện Nobel thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển để theo dõi bất kỳ người Đức nào đến thăm hoặc thư từ với nhân viên của Viện. Trong số các nhà khoa học nổi tiếng của viện có Lise Meitner, người có sự hợp tác chặt chẽ với Otto Hahn đã giúp ông phát hiện ra hiện tượng phân hạch. Vào tháng 1, Hole đã gửi một bản tin chi tiết về những nỗ lực gần đây ở Berlin nhằm tách các đồng vị uranium bằng máy ly tâm. Ông cũng báo cáo một tuyên bố thẳng thắn của một nhà vật lý Đức tham gia chương trình cho biết những người đồng hương của ông “có ý định chế tạo bom uranium”.

Tronstad không chia sẻ những báo cáo mâu thuẫn này với Rønneberg và nhóm của anh ấy. Vemork là mục tiêu đơn lẻ có thể nhận diện mở ra cho họ một nỗ lực ngăn chặn quân Đức chế tạo được một quả bom có ​​thể phá hủy một thành phố chỉ bằng một đòn tấn công.

*

Mưa đập vào nóc xe tải khi nó dừng lại ở rìa sân bay Tempsford. Cửa sau mở ra và đội Gunnerside xuất hiện trong bộ quần áo rằn ri màu trắng và đội mũ trượt tuyết, vũ khí ở bên hông. Họ băng qua đường băng tới Halifax, nơi Tronstad đang đứng đợi. “Dù các anh làm gì thì các anh cũng phải thực hiện nhiệm vụ đó,” ông nói với họ. “Bất kể trở lực nào các anh gặp phải, hãy nghĩ đến công việc đó. Đó là chính là trách nhiệm của các anh.” Ông chúc họ may mắn, và họ leo vào bên trong thân máy bay. Họ ngồi vào chỗ, chen chúc bên cạnh tất cả các thiết bị của mình, trong đó bao gồm một thùng các khối nửa cân thuốc nổ Nobel 808, dây nổ, kíp nổ, ngòi nổ định giờ, và ngòi nổ chậm. Lúc 7h10 tối ngày 16 tháng 2, máy bay lao xuống đường băng và cất cánh trên Biển Bắc, mây mù biến mất, để lộ mặt nước có ánh trăng bên dưới.

Sau bốn ngày ở Sảnh Gaynes, mỗi ngày đều mang đến thông báo “Hôm nay không có hoạt động,” cuối cùng họ cũng nhận được lệnh lên đường, bất chấp thời tiết. Trong cuộc họp giao ban với phi hành đoàn, cả Rønneberg và Haukelid đều nói rõ rằng nếu viên hoa tiêu không thể phát hiện ra địa điểm thả dù mới của họ (Bjørnesfjord, một trong những vùng nước lớn nhất trên Vidda và cách vị trí của Chim Én  tại Fetter không đến một ngày đường, họ yêu cầu được vào buồng lái để giúp đỡ. Họ cũng nói với phi hành đoàn rằng, dù họ có phát hiện ra đèn tiếp đất của Chim Én  hay không, hoặc không chắc chắn về vị trí, họ cũng sẽ nhảy xuống vào đêm đó. “Chúng ta sẽ tự tìm đường trên thực địa,” Rønneberg nói.

“Mười phút,” phi công gọi to ngay trước nửa đêm khi tàu Halifax băng qua Vidda. Toàn đội đã chuẩn bị sẵn sàng để nhảy dù. Cuối cùng, hai phút sang ngày mới, đèn cảnh báo chuyển sang màu xanh. Rønneberg dẫn đầu, biến mất trong bóng tối và gió thổi ào ào. Theo thứ tự nhanh chóng và chắc chắn, bốn trong số năm người còn lại và một số hộp đựng khí tài theo sau.

Sau đó Knut Haukelid tiến về phía cửa sập, tim anh đập thình thịch trong lồng ngực. Cho dù anh có luyện tập bao nhiêu tại STS 51, trường dạy nhảy dù, nỗi lo lắng về việc nhảy dù của anh không bao giờ nguôi ngoai. Khoảng không khí trống trải sâu 1.200 bộ là đoạn đường quá dài để lọt qua và không thể lường được mối nguy hiểm nào tồn tại khi tiếp đất. Một đội của Đại đội Linge đã nhảy dù xuống hồ, lao thẳng qua lớp băng mỏng và chết đuối. Mỗi giây anh trì hoãn đều đẩy anh ra xa những người khác.

Haukelid sau đó nhìn thấy sợi dây thả dù của anh đã quấn quanh chân viên điều phối. Nếu anh nhảy xuống, sẽ kéo y đi xuống cùng anh. Nhanh chóng Haukelid đứng dậy, đẩy y sang một bên để giải phóng sợi dây, rồi không chần chừ gì nữa, nhảy qua lỗ cửa sập. Một lúc sau, chiếc dù của anh mở ra và với một cú giật mạnh, anh được dây đeo vai nâng lên trong giây lát. Mười sáu chiếc dù khác, gắn vào thùng chứa và gói thiết bị, bay xuống cùng với anh.

Anh đáp xuống một bãi tuyết, kéo chiếc dù của mình lại trước khi nó có thể cuốn anh đi trên mặt đất. Một trong những gói hàng tiếp tế của họ chịu số phận này đã bị cuốn đi hơn một dặm trên tuyết. Họ phát hiện ra nó nằm trong một vết nứt của băng. Chỉ quá vài bộ về phía bên trái thì những cơn gió sẽ tiếp tục  cuốn các vật dụng cần thiết – ba chiếc ba lô và túi ngủ –  đi quá xa để tìm thấy.

Họ tập hợp nhanh chóng. Rønneberg hỏi Haukelid liệu anh có biết họ ở đâu không. Anh ấy đã dành nhiều thời gian nhất cho Vidda. “Theo những gì tôi biết thì chúng ta có thể đang ở Trung Quốc,” Haukelid nói đùa, nhưng với địa hình bằng phẳng rộng lớn được bao quanh bởi những ngọn đồi, anh ngờ ngợ rằng họ đã đổ bộ chính xác vào mục tiêu. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, anh ngồi, giữ  một nắm tuyết trắng trong lòng bàn tay, tận hưởng cảm giác cuối cùng đã quay trở lại Na Uy.

Sau đó cả nhóm bắt tay vào làm việc. Đầu tiên họ chôn những chiếc dù của mình. Sau đó, Storhaug, vận động viên trượt tuyết cừ khôi nhất, trinh sát khu vực, trong khi năm người khác bắt đầu tìm kiếm thùng vật dụng của họ. Một lúc sau, Storhaug quay lại với tin rằng mình đã tìm thấy một căn nhà gỗ cách đó một dặm. Trong vài giờ tiếp theo, họ thu thập các thùng chứa và đặt chúng vào một hào dài mà họ đào trên tuyết. Họ đặt các thanh xung quanh kho để đánh dấu vị trí của nó và sử dụng bản đồ và la bàn để định vị phương hướng. Vào thời điểm họ hoàn thành, những đợt tuyết rơi đều đặn đã che khuất gần như mọi dấu hiệu cho thấy họ đã đến.

Lúc bình minh, họ tới căn nhà trống. Để vào, họ dùng rìu gỡ khung cửa. Đó là một không gian rộng rãi, có gác xép để ngủ, nhà bếp đầy đủ tiện nghi, lò sưởi, khu vực tiếp khách và một bó gỗ bạch dương. Đó hẳn là một nơi tuyệt vời để ẩn náu trong vài ngày, nhưng họ không có thời gian như vậy: họ cần phải bắt đầu sớm để đến Fetter. Sau một giấc ngủ ngắn, họ quay trở lại kho và sắp xếp vũ khí, thiết bị, chất nổ và thực phẩm cần thiết cho cuộc hành quân phá hoại. Khi hành động được thực hiện, họ sẽ lấy thêm nguồn cung cấp cho chuyến rút lui về Thụy Điển.

Vào lúc 6 giờ chiều. Rønneberg dẫn họ về phía đông, cầm la bàn trong tay. Theo bản đồ của họ, Bjørnesjord và Hồ Store Saure cách nhau mười lăm dặm. Họ mang gần 65 cân mỗi người trên lưng và kéo theo hai xe trượt băng chở thiết bị, mỗi chiếc nặng 110 cân. Đi được bốn dặm thì gió nổi lên, thổi thốc vào lưng họ. Chẳng mấy chốc, họ vướng vào một cơn bão tràn qua cao nguyên với sức mạnh lồng lộn. Với mỗi cú trượt ski về phía trước, gió tây quất mạnh hơn và rất khó nhìn đường.

Đang tiến về phía trước, Rønneberg bắt gặp một cành cây nhô lên từ tuyết. Anh nghĩ điều đó thật kỳ lạ,  nhưng vẫn tiếp tục, chỉ để bắt gặp một bụi cây cách đó vài trăm thước. Nếu họ thực sự băng qua Bjørnesfi – một con kênh nước –  thì họ sẽ không bắt gặp thảm thực vật như vậy. Thế là một nhận thức bừng sáng: họ đã không tiếp đất xuống địa điểm dự định.

Anh dừng lại, và những người khác cũng đến bên anh. Qua tiếng gió gào thét, anh hét lên, “Chúng ta phải quay trở lại cabin để -” phần còn lại đã bị cuốn mất  trong cơn bão. Anh bắt đầu trở lại theo hướng mà từ đó họ đã tới. Những người khác đi theo sau. Bây giờ họ lao thẳng vào cơn gió giật, với băng và tuyết quất rát vào mặt. Gió giật khiến gần như không thể thở mà không lấy tay che miệng. Tầm nhìn giảm xuống bằng không, và dấu vết bận đi đã bị xóa sạch, Rønneberg phải dẫn dắt đồng đội chỉ bằng kim của chiếc la bàn.

Họ tiếp tục, kéo thiết bị của mình qua tuyết. Bóng tối không thể xuyên thủng, và cái lạnh tràn ngập. Nếu họ lệch sang bên kia cabin dù chỉ vài bộ, họ sẽ tiếp tục đi sâu hút vào Vidda không ngừng, vào vòng tay của cơn bão.

*

Cơn bão lớn bao trùm Fetter. Bên trong cabin, đội Chim Én  và Skinnarland tỏ ra lo lắng. Vào sáng ngày 16, thời tiết quang đãng trên các ngọn núi xung quanh đã mang lại cho họ hy vọng rằng Gunnerside sẽ xuất phát vào đêm đó. Ngay sau đó, Haugland nhận được tín hiệu mã hóa “211” trên mạng vô tuyến – mật mã đã được sắp xếp trước từ Trạm Chính –  cho biết chuyến thả dù đang được tiến hành

Poulsson đã dẫn dắt đội của mình đến Bjørnesfjord. Họ lắp đặt Eureka và chuẩn bị đèn, nhưng ngoài việc nghe tiếng động cơ bay xa xa, không có dấu hiệu của máy bay hoặc đội nhảy dù.

Suốt đêm  mười bảy, trận bão tuyết tiếp tục kéo dài, gần như chôn vùi căn nhà trong tuyết. Họ bàn đến việc cử một nhóm tìm kiếm đến Bjørnesfjord, nhưng Poulsson lại nghĩ khác. Gần như không thể tìm được người mình trong thời tiết xấu đó. Hơn nữa, anh nghi ngờ không biết liệu Gunnerside có nhảy xuống gần mục tiêu hay không. Họ sẽ phải đợi cho đến khi cơn bão dịu bớt. Nhưng mỗi giờ trôi qua, trận bão tuyết dường như càng trở nên giận dữ và tàn khốc hơn. Quấn mình trong túi ngủ, những bức vách của Fetter dày đặc sương muối, họ run rẩy và rất lo sợ.

*

Rønneberg lấy tấm bản đồ đóng khung từ trên tường xuống. Vài giờ trước đó, anh và nhóm của mình đã chạy mù đâm sầm vào chính căn nhà gỗ mà họ đang tìm kiếm. Giậm đôi chân tê cóng và cố gắng làm tan đi sự tê cóng trên khuôn mặt, họ nhận thức rõ ràng rằng mình vừa thoát chết khỏi cơn thịnh nộ của Vidda. Rønneberg canh gác ca đầu tiên cho các đồng đội ngủ, mặc dù khó có thể nghĩ rằng còn mối đe dọa nào lớn hơn cái khủng khiếp của rét và gió mà họ vừa trải qua.

Bây giờ, nhìn chằm chằm vào bản đồ bằng đèn pin, Rønneberg cố gắng xác định chính xác nơi họ đã tiếp đất trên cao nguyên. Bắt đầu từ Bjørnesfjord, anh lướt ngón tay theo một vòng tròn mở rộng, tìm kiếm địa hình phù hợp với khu vực xung quanh. Một nơi nào đó bằng phẳng, có hồ lớn lớn, giáp với đồi. Ở vòng tròn thứ ba, ngón tay của anh dừng ở Hồ Skrykken, cách mục tiêu của họ 20 dặm về phía đông bắc và cách Vemork 40 dặm.

Vào buổi sáng, họ bẻ khóa vào căn phòng nhỏ có khóa bên trong cabin. Trong đó, họ tìm thấy một cuốn nhật ký câu cá và biết được cabin có tên là Jansbu. Nó thuộc sở hữu của một ông trùm vận tải biển người Na Uy và quả thực nằm cạnh hồ mà Rønneberg đã xác định.

Không có thiết bị vô tuyến và cơn bão bên ngoài vẫn tiếp tục hoành hành, cả nhóm chỉ có thể ngồi lắng nghe tiếng gió giống như những hét la lộn xộn. Cơn gió thổi với cường độ và thời gian như vậy, họ bắt đầu tính toán xem họ và thiết bị của mình nặng bao nhiêu và liệu tổng khối lượng có đủ để giữ cabin cố định trên mặt đất hay không. Cấu trúc vẫn đứng vững, nhưng sự lay chuyển và rung lắc của các bức tường khiến họ có cảm giác như thể đang ở trên một con tàu xiêu vẹo đang trôi trên mặt biển đang cuộn sóng. Không ai trong số họ từng trải qua một cơn bão dữ dội như vậy.

Tuyết rơi đến ba bộ trong trận bão. Khi cả đội dám mở cửa, cơn bão vẫn còn đang gào thét với sức mạnh hề không suy giảm, họ nhìn thoáng qua một khung cảnh biến thành những gò tuyết cao và những bình diện tuyết không rõ ràng. Sứ mệnh của họ lùi dần trong tâm trí; chẳng có gì khác ngoài cơn bão.

Cả sáu người đều bị ốm do thời tiết thay đổi nhanh chóng. Chỉ hai ngày trước, họ đã ở gần mực nước biển trong điều kiện khí hậu ẩm ướt và tương đối ấm áp ở Anh. Bây giờ họ đang phải chịu cái lạnh không thể đo lường được trên một cao nguyên cao gần một dặm so với mực nước biển. Các tuyến nước bọt sưng tấy khiến họ khó nuốt; mắt họ sưng húp, thái dương nóng bừng vì sốt.

Vào ngày 19 tháng 2 Rønneberg đã viết, “Thời tiết tương tự. Bão và tuyết tiếp tục Chúng tôi tính đến kho để lấy thêm thực phẩm để giải cứu  khẩu phần ăn. Việc này phải từ bỏ vì nguy cơ lạc đường.”

Cơn bão đêm đó càng mạnh thêm, như một con quái thú sổng chuồng ra ngoài trời. Giữa lúc đó, khói từ lò sưởi bắt đầu làm ngột ngạt căn nhà gỗ. Rønneberg bất chấp điều kiện ra ngoài để kiểm tra ống khói. Khi đẩy cánh cửa đóng lại, anh thấy mình lạc vào một nơi hoang vu vắng ngắt. Tuyết rơi thành từng cục to bằng nắm tay. Đôi mắt mở to đằng sau cặp kính bảo hộ, anh ấy hầu như.không nhìn thấy gì, và gió đã cướp đi hơi thở của anh. Anh bò lên nóc cabin, cúi thấp người.

Tiếng gió hú khiến anh không thể suy nghĩ chín chắn được. Cảnh quan dường như đang chuyển động và tự định hình lại, như thể không có gì là thật hay chắc chắn. Cuối cùng anh xác định rằng một trong những thanh giằng đỡ ống khói đã bị lỏng. Anh cố gắng làm thẳng cái chụp ống khói  và cố định thanh giằng, chỉ mò mẫm bằng bàn tay.

Khi đang hí hoáy, Rønneberg bất ngờ bị nhấc lên và đẩy lùi, như thể bị một tên khổng lồ tóm lấy lưng chiếc áo khoác. Rồi, anh  bay lên, lộn mèo ra khỏi mái nhà, bị một luồng gió mạnh ném đi. Anh rơi xuống một bãi tuyết. Khi anh loạng choạng đứng dậy thì cabin đã biến mất. Xung quanh anh đều là một màu trắng, trắng xóa. Đi ngược hướng gió đã thổi bay mình, cuối cùng anh cũng tìm thấy cabin. Leo lên mái nhà lần thứ hai, anh cố gắng sửa được ống khói, nhưng lại bị một luồng gió khác thổi bay vào tuyết.

Một chút thời gian nghỉ ngơi trong cơn bão vào ngày hôm sau đã cho phép đội mạo hiểm ra khỏi cabin để cố gắng xác định vị trí nơi cất đồ của họ. Tất cả các mốc địa hình đã chìm vào dòng trôi của tuyết, bao gồm cả thanh que họ đã dựng lên làm điểm đánh dấu.

Cuộc tìm kiếm kéo dài ba giờ và kết thúc một cách vô ích. Một cuộc tìm kiếm khác, vào cuối buổi chiều, làm lộ ra một thùng chứa, nhưng sau đó bão tuyết quay trở lại với cơn cuồng nộ..

Vào ngày thứ năm sau khi nhảy dù, Rønneberg đầy mệt mỏi đã viết, “Cơn bão hoành hành với sức mạnh mới. Tầm nhìn bằng không. Sự mệt mỏi chung của tất cả các thành viên trong nhóm vẫn còn rất rõ ràng.” Cả thế giới chỉ là tuyết và gió, và không có gì thoát khỏi sự giam cầm của nó.

*

Cũng vội vàng như khi nó quét vào Vidda, cơn bão đã rời đi. Vào ngày 22 tháng 2, sáu thành viên Gunnerside tỉnh dậy trong im lặng. Họ bước ra khỏi cabin vào một ngày trời quang đãng, lặng gió. Trận bão tuyết đã làm thay đổi cảnh quan. Jansbu bây giờ là một lều tuyết của người Eskimo. Những đám tuyết trôi đã tập hợp lại để tạo nên những sườn đồi mới. Những măng băng và tuyết sừng sững như một nhóm lính canh lặng lẽ đứng canh gác. Những dốc tuyết trắng nhô ra treo trên các vách đá. Họ đường như bước vào một hành tinh được tạo thành hoàn toàn từ tuyết.

Rønneberg ra lệnh họ phải khởi hành đến Fetter vào đầu giờ chiều. Họ đã mất liên lạc trong sáu ngày, và theo như Tronstad hoặc nhóm Chim Én, họ có thể đã chết và hoạt động sẽ kết thúc. Họ phải nhanh lên.

Họ quay trở lại khu vực giấu hàng, và trong vài giờ tiếp theo, họ lục lọi trong đống tuyết cho đến khi tìm thấy một trong những thanh gậy đánh dấu vị trí và có thể lấy thêm một số khẩu phần ăn. Với khoảng cách và địa hình dốc, họ phải di chuyển để đến được Hồ Store Saure,

Rønneberg quyết định giảm thiểu tải trọng của họ. Họ sẽ chỉ mang theo đủ thuốc nổ để làm nổ tung nhà máy nồng độ cao  (không phá các máy móc xung quanh), đồng phục cho Chim Én, khẩu phần ăn Kreyberg cho mười người trong năm ngày, và các thiết bị tác chiến của mình – vũ khí, lựu đạn cầm tay, kéo, rìu, kính dã chiến, ngòi nổ, kíp nổ hẹn giờ và thiết bị sơ cứu.

Vào lúc 1 giờ chiều. Cả nhóm đã thu dọn xong đồ đạc trở lại cabin, sẵn sàng ra ngoài thì Haukelid nhìn thấy một bóng người ở phía xa. Kéo một chiếc xe trượt tuyết, y hướng thẳng về phía họ. Họ rút vào trong, đóng cửa lại và hy vọng y sẽ đi qua mà không xảy ra chuyện gì. Tuy nhiên, không còn nghi ngờ gì nữa, dấu vết trượt tuyết của họ ắt thu hút sự chú ý. Vào mùa đông lạnh giá, đặc biệt là sau cơn bão như vậy, dấu hiệu về sự hiện diện của con người ở sâu trong Vidda chắc chắn phải là lý do để điều tra.

Họ sẵn sàng khai hỏa. Khi gã đàn ông đến gần cửa cabin vài bước, họ lao ra. Với sáu nòng súng chĩa vào mình, khuôn mặt phong trần của y tái nhợt. Y mặc trang phục giống như một người Na Uy điển hình vào mùa đông.

“Anh đang làm gì ở trên núi?” Rønneberg hỏi.

“Tôi là thợ săn,” y đáp, có vẻ ngây thơ. Họ khám xét y và thiết bị của y. Chứng minh nhân dân của y cho biết y là Kristian Kristiansen, 48 tuổi, đến từ Uvdal, một thung lũng nằm ở phía đông rìa sông Vidda. Trên chiếc xe trượt tuyết của y có hơn 50 cân thịt tuần lộc. Y mang theo súng trường, một bọc tiền mặt và cuốn sổ tay ghi danh sách tên và địa chỉ ở Oslo. Rõ ràng y đúng là người như mình  nói; danh sách tên, khách hàng thịt của mình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa y không phải là một mối đe dọa.

Rønneberg đưa Kristiansen vào trong cabin. Anh ấy hỏi y có phải là thành viên của Nasjonal Samling [đảng chính trị cực hữu của Na Uy, đảng chính trị hợp pháp duy nhất từ 1942-1945, tay sai của Đức Quốc xã: ND] không. “Chà,” Kristiansen nói, vẫn còn sợ hãi, “Tôi không hẳn là thành viên, nhưng đó là đảng mà tôi ủng hộ.”

“Anh có chắc không?” Haukelid hỏi. Người đàn ông này gần như muốn tuyên bố rằng mình là kẻ thù của họ, bọn thông đồng với Đức Quốc xã.

“Chắc,” y ngập ngừng nói.

Liếc nhìn những đồng đội, Haukelid biết tất cả họ đều có cùng suy nghĩ: họ có thể cần phải thủ tiêu người đàn ông này. Vì nhiệm vụ, không thể nào cầm giữ y. Nhưng nếu thả y, y có thể tiết lộ sự hiện diện của.họ với Gestapo hay cảnh sát.

 Haukelid thử một chiến thuật khác. Nếu đến Uvdal và dọ hỏi xung quanh, anh ấy hỏi Kristiansen, liệu hàng xóm của y có cho rằng y có cảm tình với Đức Quốc xã không? “Ở chỗ tôi  tôi có rất nhiều kẻ thù,” y nói, “họ chắc chắn sẽ nói tôi không có cảm tình với Đức Quốc xã, chỉ để gây khó khăn cho tôi.”

Có vẻ như người đàn ông này đang nói bất cứ điều gì mà y nghĩ sẽ giành được thiện cảm của những người bắt giữ anh ta. Rất có thể y vô hại, nhưng họ không thể chắc chắn.

Rønneberg là người quyết định phải làm gì. “Điều này hơi đáng tiếc,” cuối cùng anh nói. “Anh nghĩ chúng tôi là người Đức, nhưng chúng tôi không liên quan gì đến họ. Chúng tôi là những người lính Na Uy, và chúng tôi cho rằng các anh đang mong chờ ngày nhà vua và chính phủ có thể trở về nước.”

Kristiansen nói: “Họ chưa bao giờ làm điều gì tốt cho tôi cả. Họ nên ở lại nơi họ đang ở.”

Tuyên bố của y đã gây sốc cho những đặc công Gunnerside. Kasper Idland yêu cầu được nói chuyện riêng với Rønneberg. “Tôi sẽ bắn hắn cho anh,” Idland nói khi ở bên ngoài cabin.

Rønneberg biết Idland đang cố gắng gánh vác trách nhiệm cho mình. Đó là một nghĩa cử. Nhưng anh đã đặt mình vào vị trí của Kristiansen: sáu người đàn ông có râu được trang bị vũ khí đến tận răng xông ra bắt giữ mình ở giữa Vidda – y sợ hãi và cố gắng luồn lách thoát khỏi một tình huống bất khả thi. Sẽ là chuyện nếu Kristiansen có mang thẻ đảng NS, nhưng y thì không. Y có thể không gây ra mối đe dọa nào. Mặc dù vậy, chỉ thị của Rønneberg là nếu có điều không lường trước xảy ra, Idland phải hành động vì mục tiêu hàng đầu của nhiệm vụ. Giờ thì anh chưa sẵn sàng để quyết định. Anh ấy nói với Idland, “Tốt hơn hết chúng ta hãy đưa anh ấy đi cùng chúng ta ngay bây giờ.”

Kristiansen ngay lập tức tỏ ra có ích cho đội Gunnerside. Họ lấy một ít tuần lộc của y và nấu một bữa trưa thịnh soạn, để dành khẩu phần ăn của mình. Sau đó Rønneberg hỏi liệu y có thể hướng dẫn họ đi đến Hồ Store Saure không. Kristiansen nói có thể. Họ quyết định rời đi vào đêm đó để tránh bất kỳ cuộc gặp gỡ tình cờ nào nữa.

Vào lúc 11 giờ tối. họ đã rời đi. Kristiansen dẫn đầu, chiếc xe trượt buộc quanh eo chứa đầy khẩu phần ăn và thiết bị. Rønneberg ở sát phía sau, tay cầm la bàn để đảm bảo họ đang đi đúng theo một lộ trình thích hợp.

Kristiansen đã chứng tỏ là một tay hướng đạo tốt hơn những gì họ có thể tưởng tượng. Lộ trình của y không chỉ chắc chắn mà còn trượt trên một lối đi tận dụng những đường nét tự nhiên của vùng đất, tiết kiệm công sức. Nhìn y trượt thật là khoái còn mắt, Rønneberg. nghĩ,

Vào lúc bình minh, ngày 23 tháng 2, khi mặt trời mọc, lúc đầu màu đồng, sau đó là màu vàng trên núi, Kristiansen dẫn họ đến một cabin nhỏ mái bằng của gia đình anh, nơi họ nghỉ ngơi. Bây giờ y trò chuyện thoải mái với họ và thậm chí còn đề xuất mua một khẩu súng Tommy của họ. Khi họ rời khỏi cabin và tình cờ gặp một đàn tuần lộc, Kristiansen xin phép bắn ba hoặc bốn con trong số đó để thu thập sau. Rønneberg từ chối, nhưng anh đi đến kết luận rằng người bị giam giữ là một dân miền núi giản dị, không gian dối và không có mối đe dọa nào đối với đội Gunnerside.

Tại lối vào một thung lũng dài, cách Fetter bảy dặm theo bản đồ, họ phát hiện một bóng người đàn ông đang băng qua hồ bên dưới đi về hướng của họ. Họ nhanh chóng tụt lại phía sau một số tảng đá, Kristiansen cũng nhanh nhẩu không kém.

Ronneberg vẫy tay Haukelid tiến tới và đưa cho anh một cặp kính quan sát. Cho rằng người trượt tuyết đang đi về hướng Bjørnesfjord, anh ta có thể là một thành viên của Chim Én đang tìm kiếm họ. Trong trường hợp này Haukelid là người biết rõ hơn ai hết. Dù người trượt tuyết chỉ cách đó vài trăm thước nhưng Haukelid không thể nhận ra đó là ai. Y có bộ râu rậm rạp và mặc một lớp quần áo Na Uy dày cộm. Sau đó Haukelid nhìn thấy một người trượt tuyết khác đang quẹo qua một khúc cua, cách người đầu tiên một trăm thước. Rønneberg ra lệnh cho Haukelid tiến về phía trước để nhìn kỹ hơn. Nếu như anh ấy bị phát hiện và những người trượt tuyết kia không phải là Chim Én, Rønneberg dặn anh chỉ.nên nói đơn giản rằng mình là một thợ săn tuần lộc, giống như Kristiansen.

Haukelid bò qua lớp tuyết mềm khi hai người trượt tuyết từ thung lũng tiến về phía anh. Đến gần đỉnh, họ dừng lại. Người này rồi người kia quét mắt nhìn khu vực xung quanh. Họ đang tìm kiếm ai đó, một cái gì đó.

Khi họ lại bắt đầu tiến về phía trước, Haukelid nhận ra gương mặt dạn dày sương gió của Helberg khi anh ta quay mặt về phía anh. Bên cạnh anh ta,  râu ria và nhếch nhác, là Kjelstrup. Trong một giây, Haukelid vẫn ẩn mình, lòng  vui mừng khôn xiết khi gặp lại bạn bè. Anh ấy muốn nói điều gì đó hài hước “Bác sĩ  Livingstone đấy, có phải không?” – nhưng nhìn thấy họ trông quá gầy gò và xanh xao, nên anh thôi. Thay vào đó, anh ta chỉ ho vài tiếng, và cả hai quay đầu lại, giật mình, tay cầm súng. Khi họ nhận ra Haukelid, một tiếng la, một tiếng hú, rồi một tiếng hét vang khắp thung lũng.

Một tin nhắn từ Trạm Chính xác nhận rằng Gunnerside đã được thả dù vào ngày 16 tháng 2, nhưng tuyên bố sai rằng họ đã được thả xuống Bjørnesjord. Poulsson đã cử Helberg và Kjelstrup ra ngoài tìm kiếm họ ở đó. Nhờ may mắn, Gunnerside đã đi dọc theo con đường đó từ Hồ Skrykken. Ba người đàn ông ôm nhau và vỗ lưng nhau, Haukelid vẫy tay gọi những người khác tham gia cùng họ.

*

Đêm đó đông đúc ở Fetter, những người đàn ông tổ chức một bữa tiệc. Đội Gunnerside đã cung cấp bánh quy giòn, sô cô la, sữa bột, nho khô và được Poulsson hoan nghênh nhất là “thuốc lá nhập khẩu trực tiếp” từ Anh. Những thành viên Chim Sẻ cung cấp thịt tuần lộc đủ loại, bao gồm tủy, nhãn cầu, dạ dày và não. Khách của họ chỉ cần thịt nạc là mãn nguyện rồi.

Trước đó, Helberg đã đi về trước những người khác để cảnh báo Einar Skinnarland rằng nhóm Gunnerside đang trên đường đến. Danh tính của Skinnarland cần phải được giữ bí mật ngay cả với Gunnerside phòng trường hợp có ai bị bắt trong chiến dịch. Sau khi Skinnarland rời Fetter, Rønneberg, Haukelid và hai người nữa trong số sáu người đến nơi trong khi hai người kia canh giữ Kristiansen dưới thung lũng.

Sau khi thảo luận với Poulsson, Rønneberg quyết định thả người thợ săn với lời cảnh báo rằng nếu y nói với bất kỳ ai về họ, họ sẽ khai chính y đã dẫn đường cho nhóm của họ. “Hãy ở lại Vidda và không nói gì,” Rønneberg nói với Kristiansen trước khi để anh ta đi.

Không ai cảm thấy hoàn toàn thoải mái với tình huống này, nhưng Rønneberg đã đo lường rủi ro nếu không cướp đi sinh mạng người vô tội.

Suốt đêm mười người đàn ông trò chuyện và cười đùa như bạn cũ lâu ngày mới gặp lại. Haukelid nghĩ về những tháng ngày Chim Én đã trải qua để sống sót trên Vidda, và cho rằng, mặc dù có bộ râu thô ráp và làn da tái xám, nhưng họ vẫn trong tình trạng rất tốt. Anh hỏi họ có gặp rắc rối gì không, và khi Kjelstrup trả lời, “Không có gì,” tất cả họ đều hiểu rằng vấn đề nên dừng lại ở đó.

Poulsson và nhóm của anh rất vui mừng khi được gặp những gương mặt mới và tận hưởng cuộc trò chuyện mới. Sự chờ đợi và đấu tranh lâu dài của họ đã được chứng minh là có giá trị. Nhìn chung, họ gần như bị choáng ngợp bởi cảm giác phấn chấn và tràn đầy cảm hứng khi được cộng tác với Gunnerside.

Về sứ mệnh phía trước, có rất ít bàn bạc. Công việc hãy dành cho buổi sáng. Còn bây giờ, hãy  ăn mừng trước đã.

16

Kế hoạch được xếp đặt chu toàn nhất

SAU MỘT ĐÊM TUYỆT VỜI, mỗi chiếc giường và mỗi tấc sàn đều bị chiếm giữ bởi những hình người đang cuộn tròn trong giấc ngủ, mười người đàn ông uống một ít cà phê và ăn bữa sáng món tuần lộc, lựa chọn giữa luộc hay nướng. Sau đó, họ tập trung quanh bàn để đưa ra kế hoạch hoạt động.

Đầu tiên, Rønneberg giao nhiệm vụ cho mỗi người. Chính anh  sẽ dẫn đầu nhóm phá hủy, cùng với Kayser, Strømsheim và Idland. Họ sẽ chia thành từng cặp để tăng gấp đôi cơ hội tiếp cận mục tiêu. Haukelid sẽ chỉ huy nhóm bao gồm Poulsson, Helberg, Kjelstrup và Storhaug. Nhóm này sẽ đảm bảo rằng không kẻ địch nào can thiệp vào việc đặt chất nổ.

Haugland sẽ đến Jansbu, căn nhà gỗ bên cạnh Hồ Skrykken, mang theo thiết bị vô tuyến để thiết lập và duy trì liên lạc với London. Skinnarland, người chỉ được các thành viên Gunnerside gọi là “người liên hệ địa phương” của đội, sẽ tiếp tay cùng anh ấy.

Bây giờ họ cần tìm ra cách tốt nhất để ra vào Vemork. Bằng bút chì và giấy, Rønneberg đã phác thảo nhà máy và khu vực xung quanh. Anh chưa bao giờ thực sự đến đó, nhưng anh biết mọi chi tiết nhờ công việc chuẩn bị chứ đáo của họ và vẽ nó đúng tỷ lệ. Rjukan ở bên phải. Vemork ở giữa. Hồ Møs ở bên trái. Thung lũng Vestjord chia bản đồ thô sơ từ trái sang phải, theo dòng chảy của sông Måna.

Vemork nằm trên một mỏm đá phía trên hẻm núi của con sông, ở phía nam thung lũng. Mười một đường ống cung cấp năng lượng cho tuabin máy phát điện đi.lên dọc theo bức tường thung lũng phía trên nhà máy điện theo một góc nhọn. Một tuyến đường sắt đơn chạy về phía đông đến Rjukan dọc theo bức tường này. Một cây cầu treo một làn dài 75 bộ nối Vemork với phía bắc thung lũng. Nằm bên cây cầu là thôn Våer, nơi tập trung nhiều nhà ở cho nhân viên của nhà máy. Qua đó có Đường Møsvann, nối Rjukan với đập Hồ Møs. Một chuyến đi dài và cao lên bức tường phía bắc của thung lũng dẫn đến Vidda vô tận.

Trong thời gian ở Anh Tronstad và đội Gunnerside đã nghiên cứu kỹ các bản đồ và các bức ảnh để quyết định lộ trình tốt nhất đến Vemork. Nhóm Chim Én  đã làm điều tương tự trong thời gian họ ở Fetter. Bây giờ, cùng nhau, họ cần hoàn thành một kế hoạch.

Họ tranh luận về ba tuyến đường chính đến Vemork. Họ có thể tiếp cận từ phía trên phía nam của thung lũng và đi xuống nhà máy dọc theo các ống áp lực của nó. Ý tưởng này nhanh chóng bị loại trừ vì gần đây một đội bảo vệ đã được bố trí ở đầu đường ống và nhiều bãi mìn nằm dọc đường tiếp cận.

Họ có thể tiến hành cuộc tấn công đơn giản: trượt xuống Våer, vô hiệu hóa lính canh trên cầu và tiến tới nhà máy.

Cách tiếp cận này có lợi là địa hình dễ dàng, nhưng nếu lính canh nhìn thấy họ đến và có thể báo động, đội sẽ phải tấn công các tế bào chứa nước nặng ngay giữa cuộc đọ súng. Bất kỳ lối thoát nào cũng không chắc chắn.

Cuối cùng, họ có thể băng qua hẻm núi, leo lên đường ray và vào nhà máy qua một cánh cổng bị khóa, mặc dù đã được tuần tra nhưng không được canh gác thường xuyên. Như Tronstad đã đề xuất ở London, đây là cơ hội tốt nhất để họ tiếp cận khu nhà mà không bị phát hiện, nhưng cũng có những mối nguy hiểm: một số vị trí dọc theo tuyến đường sắt cheo leo dễ khiến những đặc công phá hoại bất cẩn có thể rơi thẳng từ độ cao 600 bộ xuống dòng sông bên dưới.

Rønneberg quyết định không đưa ra quyết định cho đến khi họ nhận được thông tin tình báo mới nhất về hoạt động tuần tra và phòng thủ của nhà máy. Helberg dự định sẽ thu thập những tin tức đó từ một người liên lạc ở Rjukan vào đêm hôm sau.

Một khi Helberg có được thông tin, anh ta sẽ tái gia nhập nhóm tại một căn nhà gỗ ở Fjøsbudalen, một thung lũng hẹp cách vài dặm về phía tây bắc Vemork. Cabin này sẽ đóng vai trò là điểm xuất phát cho chiến dịch của họ.

Tạm dừng bàn kế hoạch để  hâm nóng thân thể, tất cả các thành viên của đội Gunnerside, ngoại trừ Haukelid, đi ra ngoài trượt tuyết. Trước khi họ quay lại, Haukelid ngồi lại với các thành viên cũ trong nhóm ban đầu của mình. Từ một mảnh giấy mỏng giấu trong đồ đạc, anh đọc các mệnh lệnh tác chiến mà anh đã soạn thảo với Tronstad. Những chi tiết này hướng dẫn việc thiết lập các nhóm du kích ở Telemark sau khi sứ mệnh Vemork hoàn thành. Skinnarland, mặc dù vắng mặt, cũng có chân trọng nhiệm vụ này.

Đọc xong, Haukelid vò tờ giấy lại và định ném vào bếp. “Cái đó có ăn được không?” Haugland hỏi. Haukelid gật đầu. “Chà, chúng tôi không vứt đồ ăn ở đây.” Haugland cầm vò giấy nếp bỏ vào miệng. Anh phải cố gắng một chút để nhai nuốt nó, nhưng đó là một sự thay đổi trong chế độ ăn uống của anh  và rất đáng hoan nghênh.

*

Vào thứ Năm, ngày 25 tháng 2, Rolf Sørlie và gia đình anh ấy đã tổ chức sinh nhật cho anh trai mình với bánh ngọt sô cô la. Sørlie thường xuyên kiểm tra đồng hồ vì không muốn bị trễ. Cuối cùng, khi gần đến 7 giờ 30 tối, anh ấy nói với những người khác rằng anh ấy sẽ ra ngoài đi dạo. Mẹ anh không tra hỏi anh, hiểu rằng anh có thể đang thực hiện một số công việc kháng chiến mà tốt nhất là bà không nên biết gì.

Vài ngày trước, Sørlie đã được một trong những đồng nghiệp của anh tại Vemork, Harald Selås, tiếp cận, yêu cầu anh tìm câu trả lời cho danh sách các câu hỏi về việc cắt đặt canh gác và những thứ tương tự tại nhà máy. Rõ ràng đã có một phương án phá hoại đã được lên kế hoạch và Sørlie nghi ngờ những người bạn của mình trên Vidda rất có thể có liên quan.

Để trả lời danh sách câu hỏi trong túi, anh đi đến trạm gốc Krossobanen, tuyến cáp treo đưa cư dân Rjukan đến Vidda. Anh đến sớm và chờ đợi, tìm kiếm trong bóng tối, không biết ai sẽ đến gặp mình. Sau đó, người bạn cũ của anh, Claus Helberg, tiếp cận từ Đường Ryes, một loạt đoạn đường ngoằn ngoèo bên dưới tuyến cáp treo đã bị cắt xuyên qua khu rừng trong quá trình xây dựng.

“Mình rất vui vì đó là cậu,” Helberg nói.

Sørlie đưa Helberg trở lại nhà và yêu cầu anh đợi trong gara cho đến khi bữa tiệc sinh nhật kết thúc. Sau đó họ đi lên phòng anh. Chú chú săn giống Gordon của gia đình, Tarzan, sủa điên cuồng trước sự hiện diện của người lạ, nhưng không ai ra khỏi phòng để tìm hiểu.

Hai người xem qua danh sách, đáng chú ý là số lượng binh sĩ canh gác tại Vemork tại một thời điểm bất kỳ (mười lăm), lịch luân phiên của họ (hai giờ một lần), an ninh trên cầu treo (được tăng cường trong tháng qua), và tuần tra xung quanh khuôn viên (tuyến đi qua cửa khẩu đường sắt). Họ đồng ý rằng con đường khả thi duy nhất vào nhà máy là băng qua cây cầu, mặc dù nó đã được phòng thủ. Về cách tiếp cận từ hẻm núi, hai người dân địa phương nhớ lại có lần một chiếc ô tô lao từ đường Møsvann xuống hẻm núi, lực lượng cứu hộ phải dùng dây thừng để tiếp cận tài xế và hành khách. Đơn giản là nó quá dốc để leo lên.

Sau khi họ xem qua thông tin, Sørlie đưa cho Helberg một ít “Thịt bò” (bột tẩm gia vị và bột chiên) còn sót lại trong bếp và anh ấy đã ăn ngấu nghiến. Anh ở lại qua đêm và trong buổi sáng tĩnh lặng và tối tăm, anh lẻn ra khỏi nhà và đi thẳng đến Våer dọc theo con đường chính. Sørlie nhìn anh đi, sợ rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại anh nữa.

*

Trong suốt ngày thứ sáu, Helberg đợi trong cabin Fjøsbudalen để chờ những người khác đến. Trong tủ chẳng có gì hơn một ít xi-rô khô đầy kiến. Ở trên cao trong thung lũng phía biệt lập chạy dài xuống con đường đến Hồ Møs, cabin có tầm nhìn tuyệt đẹp ra Rjukan ở phía xa. Vemork, cách đó hai dặm ở phía đối diện của Vestfjord, khuất trong tầm mắt.

Vào lúc 6 giờ chiều. những người khác đến, dẫn đầu bởi Poulsson. Họ đã qua đêm tại nhà anh rể của Poulsson trên Hồ Langesjå, nơi Poulsson đã tìm thấy một số ván trượt và tất len ​​mới. Anh cũng tìm thấy một chai rượu whisky Upper Ten, nhưng họ quyết định dành lại  đó để uống khi quay trở lại – nếu họ có quay lại.

Chín người đàn ông hầu như không vừa vặn trong cabin ấm cúng; nên họ thay phiên nhau đi ngủ. Khi việc cắt đặt canh gác xoay vòng đã xong, và các cửa sổ đã tối đen, họ ngồi xuống để xem xét thông tin tình báo mới nhất. Helberg bắt đầu. Súng máy và đèn pha được gắn trên đỉnh tòa nhà chính. Hai lính canh tuần tra trên cầu treo. Nhà bảo vệ nằm ở phía Vemork, nơi người lính thứ ba có vũ khí tự động và có thể truy cập vào hệ thống báo động, dễ dàng kích hoạt nếu có sự cố trên cầu. Nếu mức báo động nâng lên, toàn bộ khu vực sẽ được thắp sáng bằng đèn áp lực bao gồm cả các khu vực trên tòa nhà, cây cầu treo, con đường xuyên qua Våer và binh lính trong doanh trại ở Vemork, cũng như lực lượng đồn trú ở Rjukan cũng được báo động.

Hẻm núi không có người bảo vệ và lối vào tuyến đường sắt chỉ được tuần tra nhẹ nhàng, nhưng như Helberg giải thích, điều này không làm cho cách tiếp cận trở thành một lựa chọn tốt hơn. Việc leo từ hẻm núi đến đường sắt gần như không thể thực hiện được vào mùa hè. Trong bóng tối, trong băng giá và lạnh lẽo, chắc chắn không thể nào làm được điều đó.

Idland lập luận về cách tiếp cận cây cầu. Thật nhanh chóng và chắc chắn. Họ sẽ giết chết lính bảo vệ, sau đó xông vào nhà máy. Poulsson và Helberg nghi ngờ việc này sẽ không dễ dàng như vậy, nhưng đồng ý rằng cây cầu là lựa chọn tốt hơn trong hai phương án. Rønneberg đứng về phía họ. Chỉ có Haukelid tin chắc rằng họ nên thử tiếp cận hẻm núi, như Tronstad đã khuyến nghị. Anh nói, nếu không, họ có thể sẽ phải đối mặt với một trận chiến gay cấn để tiếp cận nhà máy. nồng độ cao

Từ chiếc ba lô của mình, Rønneberg lấy ra một bộ ảnh chụp từ trên không của Vemork, được chụp vào mùa hè trước. Nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu những điều này với Tronstad và giáo sư đã gợi ý những địa điểm để vượt qua hẻm núi và những điểm dọc theo tuyến đường sắt nơi họ có thể ẩn náu trước cuộc tấn công. Rønneberg trải những bức ảnh ra bàn.

Haukelid chỉ vào một số bụi rậm và cây cối mọc dọc theo hai bên hẻm núi. Ông nói: “Nếu cây cối đang lớn lên, bạn luôn có thể tìm ra cách”. Những người khác gật đầu đồng ý. Rønneberg hướng dẫn Helberg quay lại vào sáng hôm sau để tìm kiếm một con đường tiềm năng có thể giúp họ không lao vào cái chết. Anh ấy sẽ cần phải đi vào ban ngày nếu anh ấy muốn có cơ hội xác định một con đường. Tất cả họ đều hiểu rằng hoạt động sẽ gặp nguy hiểm nếu anh bị phát hiện.

*

Ở Kummersdorf, Kurt Diebner và nhóm của ông đang hoàn thiện thiết kế lò phản ứng mới của họ. Ý tưởng trung tâm là treo một mạng lưới các khối uranium trong một quả cầu nước nặng đóng băng. Việc thiết lập đơn giản hơn nhiều so với thử nghiệm trước đây và kiến ​​trúc của các hình khối và bộ điều tiết phù hợp hơn với việc bắn phá. vì Abraham Esau, người đứng đầu Câu lạc bộ Uranium và hiện là ông chủ của Diebner, đã nói rõ rằng ông cần kết quả. “Nếu bạn chế tạo một lò phản ứng, đặt một nhiệt kế vào đó và nhiệt độ chỉ tăng 1/10 độ,” ông nói, “thì tôi có thể cho bạn tất cả số tiền trên thế giới –  bất cứ thứ gì bạn cần.” Mặt khác, ông cảnh báo, nếu không đạt được điều này thì họ sẽ không thấy một đồng xu nào khác.

Đúng như vậy, tiền không thực sự được đổ vào chương trình. Paul Harteck đã phát triển một thiết kế máy siêu ly tâm để làm giàu U-235 và có nhiều hứa hẹn, nhưng ông ấy đã không thể có được số tiền ông ấy cần cho một việc mở rộng. Diebner cũng đã thấy yêu cầu bổ sung nguồn cung cấp nước nặng khập khiễng vì tài chính hạn hẹp. Hai nhà máy điện phân hydro được tìm thấy ở Ý có thể cung cấp một lượng hạn chế nước nặng có độ tinh khiết 1%. Điều này sau đó có thể được làm phong phú thêm ở Đức lên gần 100%, nhưng chỉ khi nhà máy thí điểm do IG Farben xây dựng bên ngoài Leipzigđưa tin đến quy mô đầy đủ. Dự án này đã bị tạm dừng trong khi Norsk Hydro  tiếp tục cung cấp nước nặng với chi phí hạn chế cho nỗ lực của chiến tranh.

Đối với thử nghiệm tiếp theo, Diebner đã đảm bảo, với sự chấp thuận của Esau, một phòng thí nghiệm nhiệt độ thấp đặc biệt ở Berlin và một số nguồn cung cấp nước nặng của Heisenberg. Biết rằng Vemork đang sản xuất gần 5 kg chất lỏng quý giá mỗi ngày và các nhà máy Såheim Notodden gần đó cũng như sẽ sớm bổ sung đáng kể vào số lượng này, Diebner có thể mở rộng quy mô thí nghiệm của mình một cách nhanh chóng nếu thiết kế của ông ấy chứng minh được giá trị của nó, đồng thời các nguồn lực và nhân lực sẽ tham gia vào chương trình sau khi ông ấy tạo ra một máy uranium tự duy trì.

Sự quan tâm đến những thành quả tiềm tàng của phản ứng phân hạch nguyên tử dường như đã được đổi mới ở nhiều nơi. Hermann Göring, người hiện đang giám sát Hội đồng Nghiên cứu Đế chế, mô tả nghiên cứu nguyên tử của họ là “mối quan tâm cháy bỏng”, nhất là các quan chức cấp cao trong Kriegsmarine, Luftwaffe và SS. Một cỗ máy uranium sẽ mang lại nhiều nhà vô địch mới.

*

Một giờ sau khi mặt trời mọc vào thứ Bảy, ngày 27 tháng 2, Helberg đi xuống Vemork. Nhiệt độ ôn hòa, nhưng gió báo hiệu một cơn bão đang đến gần. Vì hôm nay là cuối tuần và vì anh đang mặc quần áo dân sự nên việc đi bộ đường dài và trượt tuyết trong thung lũng sẽ không thu hút được sự chú ý quá mức. Đi qua Våer, anh tiếp tục đi về phía đông xuyên qua khu rừng phía trên con đường chạy dọc theo bức tường phía bắc của thung lũng giữa Rjukan và Hồ Møs. Ở đó, anh gặp một đường dây điện mà anh biết chạy song song với con đường.

Anh đi theo đường dây này cho đến khi nhìn thấy con đường có thể dùng làm đường dẫn xuống hẻm núi. Giấu ván trượt và gậy chống, anh băng qua những hàng cây và băng qua đường. Anh trượt và trượt xuống dốc, dùng bụi cây bách xù và cành thông để kiểm soát đường trượt xuống của mình. Cuối cùng anh đã đến được sông Måna. Bề mặt của nó đã bị đóng băng, nhưng băng rất mỏng ở nhiều nơi. Trong thời tiết ấm áp, dòng sông sẽ không thể vượt qua được.

Anh đi đi lại lại dọc theo bờ sông, cố gắng dò tìm một tuyến đường có thể xoay sở được để đến tuyến đường sắt. Cuối cùng, anh phát hiện ra một rãnh trên vách đá có phần đỡ dốc hơn bức tường xung quanh. Một số bụi cây và cây nhỏ mọc lên từ những kẽ hở của đá có thể dùng làm chỗ để nắm và đứng. Nếu thời tiết và may mắn cho phép, anh nghĩ việc này rất đáng để thử.

Cười tươi, anh quay trở lại căn nhà gỗ Fjøsbudalen sau giờ ăn trưa để trình bày báo cáo của mình. “Có thể,” anh nói. Thật ngạc nhiên, đội đã đồng ý với đề xuất leo lên hẻm núi vào đêm diễn ra chiến dịch.

Bây giờ họ có thể chuyển đề tài xem họ sẽ trốn thoát như thế nào.

Họ tin chắc rằng, dù họ có đến lặng lẽ hay không, một trong số họ chắc chắn sẽ đến được mục tiêu và đặt chất nổ. Chín lính biệt kích được trang bị vũ khí hạng nặng và được huấn luyện bài bản, thông thạo địa hình và háo hức phục vụ đất nước, là một sự đánh cược tốt để chống lại 30 lính gác Đức.

Tuy nhiên, mặc dù không lên tiếng nhưng hầu hết trong số họ, bao gồm cả Rønneberg, tin rằng khả năng họ trốn thoát được sau đó là rất nhỏ. Một khi nhà máy bị thổi bay, họ sẽ không thể đi xa được. Hoặc là họ sẽ bị mắc kẹt tại Vemork hoặc bị truy lùng bởi hàng trăm binh sĩ đồn trú ở Rjukan. Dù vậy, không ai trong số muốn chết, cũng không tốt cho tinh thần khi coi nhiệm vụ của họ như chuyến đi một chiều.

Rønneberg muốn người của mình cảm thấy như thể mỗi người đều có tiếng nói trong kế hoạch cuối cùng. Giống như cách tiếp cận tấn công, cách tháo lùi cũng có một vài lựa chọn. Họ có thể leo lên các ống áp lực và trốn thoát theo cách đó, nhưng đường đi lên dốc và sự hiện diện của lính canh ở phía trên, chưa kể đến các bãi mìn, khiến đây trở thành một lựa chọn dễ dàng bị loại khỏi danh sách. Họ có thể rút lui qua cầu và tiến thẳng vào Vidda. Đây là lối thoát nhanh nhất, đơn giản nhất. Tuy nhiên, họ sẽ phải giết lính canh phòng Đức, đảm bảo sự trả thù thậm chí còn khắc nghiệt hơn đối với người dân địa phương. Và những kẻ truy đuổi họ sẽ biết họ đã đi đường nào.

Lựa chọn thứ ba của họ là quay trở lại con đường họ đã đến. Họ có thể quay trở lại cabin Fjøsbudalen hoặc, như Helberg gợi ý, đi theo hướng ngược lại dọc theo đường ray điện, đến Rjukan, rồi đi bộ từ trạm cơ sở Krossobanen đến cao nguyên dọc theo Đường Ryes ngoằn ngoèo. Người Đức sẽ không biết phải tìm họ ở đâu. Tuyến đường này đòi hỏi phải đi xuống và đi lên hẻm núi một lần nữa, lúc đó quả là một chuyến leo đầy trừng phạt. Hơn nữa, nếu bị nhìn thấy, họ sẽ tiến thẳng vào vòng tay của kẻ thù đồn trú ở Rjukan.

Khi tất cả các khả năng đã được phác thảo, Rønneberg cho mỗi người một phiếu bầu. Đó là một tình huống thập  tử nhất sinh. Đa số ủng hộ việc rời đi theo con đường họ đã đến, tiến lên Vidda phía dưới Krossobanen.

Kế hoạch đã được thiết lập. Rønneberg nói với đồng đội chiến dịch sẽ bắt đầu vào đúng 8 giờ tối hôm đó và họ nên nghỉ ngơi tốt nhất có thể.

Ngay sau đó, Idland đã kéo Rønneberg sang một bên. Kể từ lần đầu tiên được chọn vào Gunnerside, cựu nhân viên đưa thư có thân hình nặng nề đã biết rằng việc rút lui về Thụy Điển sẽ là một vấn đề. Anh ấy có đủ kỹ năng để đến được Vemork, và anh ấy cũng khỏe mạnh như bất kỳ ai khác trong đội, nhưng anh ấy tin chắc rằng chuyến đi dài 280 dặm tới biên giới Thụy Điển chứng tỏ là quá sức đối với mình. Anh luôn nghĩ rằng đó sẽ là cuộc hành trình một chiều, anh  nói, và bây giờ anh muốn người lãnh đạo của mình biết rằng anh không có ý định làm chậm lại đội nếu họ có cơ hội trốn thoát. Anh sẽ tìm ra con đường riêng của mình. “Vô lý,” Rønneberg nói thẳng thừng. “Cậu đã theo kịp chúng tôi cho đến bây giờ và cậu có thể theo kịp chúng tôi đến Thụy Điển.”

Đối với quyết định này, nhà lãnh đạo trẻ đã không đưa ra biểu quyết.

*

Chiều hôm đó, lúc 4h45, Leif Tronstad bắt chuyến tàu tới Oxford tại ga Paddington ở London. Ông đang trên đường đến Sảnh St. Edmund, nơi hội tụ học thuật lâu đời nhất ở bất kỳ trường đại học nào trên thế giới. Trong một thời gian ngắn, ông sẽ cố gắng tránh mọi tin tức về chiến tranh và chỉ nghĩ đến khoa học, lịch sử và việc theo đuổi kiến ​​thức vì mục đích của riêng nó. Điều độ sẽ không dễ dàng. Hai ngày trước, cuối cùng ông nhận được tin Gunnerside đã sống sót sau những ngày đầu tiên trên Vidda và đã gặp được Chim Én . “Mọi thứ đều theo trật tự sắp xếp,” Haugland đã gửi tin. “Tinh thần thật tuyệt vời. Lời chào chân thành nhất từ ​​tất cả mọi người.” Vì vậy, trong khi ông không mong đợi một tin nhắn khác từ Gunnerside cho đến khi chiến dịch hoàn tất, Tronstad lại mong đợi tin tức từ Odd Starheim và 40 lính biệt kích của ông. Ngay từ đầu, hoạt động ở Carhampton đã gặp phải vận rủi. Nỗ lực đầu tiên của họ để trưng dụng một đoàn tàu đã bị cản trở bởi một trận bão tuyết. Lần thứ hai họ kết thúc bằng một cuộc đấu súng dữ dội, sau đó là một cuộc săn lùng. Starheim và người của anh đã ẩn náu trong một trang trại hẻo lánh ở thung lũng. Thay vì từ bỏ hoạt động và cố gắng tìm đường quay trở lại Anh, Starheim khẳng định họ sẽ nhắm đến một mục tiêu khác. Anh sẽ không rời Na Uy mà không đạt được điều gì đó khi mà Marstrander và nhiều người khác đã mất mạng khi ông đưa họ đến đó.

Tronstad và Wilson đã giao cho họ nhiệm vụ đột kích vào một số mỏ titan, nhưng thời tiết mùa đông khủng khiếp đã trì hoãn họ quá lâu. Gestapo áp sát, Starheim và người của anh lại bỏ chạy. Vào ngày 25 tháng 2, Hải quân Hoàng gia Anh phái một chiếc thuyền đến đón họ nhưng một cơn bão Biển Bắc đã buộc nó phải quay trở lại. Bây giờ quân kháng chiến không có thức ăn, thiết bị hoặc nơi trú ẩn, và thòng lọng của quân Đức đang thắt chặt. Theo thông điệp mật mã mới nhất, Starheim đang định chiếm giữ một tàu hơi nước ven biển để trốn sang Scotland.

Khi Tronstad tới Oxford và bước vào một thế giới tách biệt và tĩnh lặng. thế giới từng là của riêng mình, ông gặp khó khăn trong việc giải quyết, nhất là vì những báo cáo ông nhận được về bài phát biểu gần đây của Bộ trưởng Tuyên truyền Đức Josef Goebbels. “Bạn có muốn chiến tranh tổng lực không?” Goebbels đã yêu cầu khán giả của mình tập trung tại một sân vận động ở Berlin vào giữa tháng Hai. Đám đông đáp lại bằng những tiếng hoan hô và tiếng “Có!” Goebbels sau đó lắc cả hai nắm tay và hét lên: “Từ bây giờ trở đi, hãy để khẩu hiệu của chúng ta là ‘Mọi người hãy đứng lên và giải phóng cơn bão!’

Tronstad biết Đức Quốc xã sẽ thực hiện lời hứa đó ngay khi họ đã có phương tiện để làm điều đó.

*

Ngồi bên ngoài cabin Fjøsbudalen, mặc đồng phục Anh, Haukelid lặng lẽ hút thuốc, sẵn sàng cho nhiệm vụ vẫn còn vài giờ nữa. Bên cạnh anh, Helberg và vài người khác đang tra dầu cho súng ngắn và súng Tommy.

Sự im lặng của họ bị phá vỡ khi có tiếng một chàng trai trẻ tiến tới, xuyên qua khu rừng. Có rất nhiều cabin rải rác trong thung lũng cao mà đáng lẽ họ phải dự kiến ​​có thể một hoặc hai căn nhà trong số đó sẽ có người ở vào cuối tuần.

Họ rón rén lẻn vào cabin và báo cho những người khác. Người lạ gõ cửa cabin một lần. Trước khi anh kịp gõ cửa lần nữa, cánh cửa đã mở toang, Poulsson tóm lấy cổ anh và kéo vào trong.

Haukelid dí một khẩu súng lục vào bụng anh ta. “Mày là ai?” Poulsson hét lên.

Chàng trai nhận ra kẻ bắt giữ mình: “Chúng ta đã học cùng lớp ở trường, Jens.”

“Kåre Tangstad,” Poulsson nói và thả anh ta ra. “Vâng tôi nhớ bạn.”

Tangstad giải thích rằng mình chỉ đến để mượn một chiếc xẻng xúc tuyết. Anh ấy, vị hôn thê của anh và một cặp vợ chồng khác sẽ ở lại thung lũng vài ngày. Poulsson nói với anh ta một cách dứt khoát rằng anh ta sẽ ở trong cabin của mình cùng với những người khác trong suốt cuối tuần và họ không được rời đi vì bất kỳ lý do gì. Tangstad đồng ý.

Haukelid nhìn chàng trai rời đi theo con đường anh đã đến, rồi biến mất vào rừng. Anh tưởng tượng mình đang ở trong rừng vào một ngày cuối tuần đơn giản với một cô gái và một số bạn bè và cảm thấy giờ đây mình thật khác biệt với cuộc sống bình thường như vậy.

Đội phá hoại đã có một cuộc bàn tán vội vã về việc liệu hàng xóm của họ có thể tin cậy được không. Rønneberg quyết định đến cabin của họ để nói chuyện. Việc họ đảm bảo rằng mình là những người Na Uy yêu nước và phản đối việc chiếm đóng đã thuyết phục Rønneberg rằng  họ sẽ không gây ra mối đe dọa nào. Chia tay, Rønneberg kêu lên: “Chúa cứu giúp nhà vua và Tổ quốc!” Có lẽ anh đã thêm hy vọng rằng Chúa cũng sẽ phù hộ đội của anh đêm đó.

Bình luận về bài viết này