PHÁO ĐÀI MÙA ĐÔNG- Sứ Mệnh Anh Hùng Ca Phá Hủy Bom Nguyên Tử của Hitler (Bài 7)

NEAL BASCOMB

Trần Quang Nghĩa dịch

13 Quy tắc của thợ săn

BỐN NGƯỜI ĐÀN ÔNG rảu ria, hốc hác phải ráng sức với từng cú nhấc ván trượt của họ trên lớp tuyết ướt và dính trên Hồ Store Saure. Trên những đỉnh núi xung quanh, sương mù treo lơ lửng như bông gòn, và bầu trời đầy mây che khuất ánh mặt trời ấm áp. Lặn lội về phía trước, họ nguyền rủa cơn đói, ván trượt sũng nước và cơn gió cắt da. Cuối cùng, họ phát hiện ra Fetter, cabin đi săn mà Poulsson đã xây dựng với những anh em họ của mình trước chiến tranh từ những tấm ván gỗ cắt sẵn mà họ mang qua hồ. Nằm ở vị trí cao trên cao nguyên, gần một bãi cây bạch dương, không được đánh dấu trên bản đồ và cách xa bất kỳ cabin nào khác hàng dặm, không có nơi nào tốt hơn để ẩn náu và chờ đợi Gunnerside. Cũng có thể có cơ hội tốt để tìm thấy tuần lộc trong khu vực.

Háo hức muốn nghỉ ngơi và hy vọng có thể có chút thức ăn trong cabin, Poulsson đã vượt lên dẫn trước những người khác. Sau khi cởi ván trượt ra, anh lấy một cái cưa sắt để cắt ổ khóa trên cửa. Mồ hôi chảy ra từ thái dương, anh cắt đứt thanh thép, bàn tay cứng đơ vì lạnh. Cuối cùng, khi ổ khóa bị bung ra, Poulsson kéo chốt để mở cửa nhưng thấy nó bị kẹt. Anh lấy một chiếc rìu nhỏ từ trong ba lô và đập vào chốt cửa. Chỉ chém được vài nhát, cán rìu đã gãy. Anh đá vào cửa. Nó không nhúc nhích.

Đây là cabin của anh. Anh chỉ muốn nghỉ ngơi. Sự thất vọng tràn ngập, rồi cơn thịnh nộ. Poulsson rút khẩu súng trường Krag ra khỏi lưng và bắn hai viên đạn vào chốt cửa, cuối cùng nó cũng bung ra.

Khi bước vào, anh thấy Fetter trông vẫn giống như khi anh rời đi vào mùa hè năm 1940. Anh đã viết trong nhật ký, “Trên đường về nhà từ Hồ Langesjå. Đến ăn một miếng và để lại ca nô.” Chiếc ca nô lúc này lỗ chỗ vết đạn, nhưng ngoài ra mọi thứ vẫn ổn. Có bốn chiếc giường, mua từ một bệnh viện ở Oslo, một chiếc bàn vuông đẽo thô, vài chiếc ghế đẩu ba chân và một cái bếp lót đá để sưởi ấm căn nhà rộng 10 x 20 bộ. Poulsson lục tủ tìm thức ăn nhưng chỉ tìm thấy một chai dầu gan cá và một muỗng bột yến mạch còn sót lại.

Những người khác leo lên bên trong ngay sau đó, càng thêm kiệt sức sau cuộc hành trình vì họ đã quá yếu. Nếu họ tiếp tục thiếu ăn, họ sẽ có không có sức cho hoạt động. Trong khi Haugland đang chuẩn bị mạng vô tuyến, những người khác chặt một ít củi cho vào bếp và đun sôi một nồi tuyết. Mặt trời lặn sớm và bốn người thắp duy nhất một ngọn nến và ăn rêu tuần lộc cho bữa tối. Một lần nữa, những cơn gió gào thét xung quanh họ khi họ chờ đợi liên lạc vô tuyến với London.

Cuối cùng họ biết được Gunnerside sẽ không nhảy dù đêm đó, ngày 19 tháng 12. Bụng đói cồn cao, họ chìm vào giấc ngủ.

“Chỉ cần đợi cho đến khi có thú săn trong khu vực,” Poulsson cam đoan. “Vậy thì chúng ta sẽ có nhiều thứ để ăn.” Nhưng bạn anh thì không chắc chắn lắm.

Nhiều ngày trôi qua giống như vậy nhưng Gunnerside vẫn chưa đến. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi mặt trời mọc, Poulsson rời cabin để đi săn. Anh biết rõ, từ hồi ký của Helge Ingstad, một nhà thám hiểm người Na Uy sống sót ở vùng hoang dã phía tây bắc Canada vào những năm 1920, rằng người ta có thể sống bằng thịt tuần lộc trong một thời gian dài.. Thỉnh thoảng dừng lại để tìm kiếm dấu hiệu của một đàn tuần lộc ở chân trời, Poulsson giữ chắc sự kiện  này trong tâm trí mình. Anh biết rằng gió thổi từ phía bắc và phía tây đang chống lại mình. Đàn tuần lộc di chuyển theo hướng gió để chúng có thể ngửi thấy mùi của bất kỳ kẻ săn mồi nào và trừ khi gió đổi hướng, tuần lộc sẽ tiếp tục đi xa khỏi phạm vi của cabin. Mặc dù vậy, Poulsson vẫn lê bước từ ngọn núi này sang thung lũng khác, thường xuyên qua sương mù dày đặc, hy vọng hướng gió chuyển đổi sẽ mang lại lợi thế cho anh. Nhưng anh vẫn tiếp tục trở về Fetter tay trắng. Đội của anh đang trở nên yếu đến mức nguy hiểm, đôi mắt bơ phờ, làn da của họ vàng ủng. Trừ khi vận may quay lại, nếu không họ sẽ không thể cầm cự được lâu nữa.

*

Tại trụ sở Gaynes, Rønneberg và đội của anh lại nhận được thông tin một lần nữa rằng họ sẽ không rời đi vào đêm hôm đó. Đã  năm ngày kể từ khi họ đến STS 61, thời tiết xấu đã đóng cửa mọi cơ hội cho một Chuyến bay Biển Bắc và đặc công đang đợi ở trụ sở Gaynes ngày càng thêm lo lắng. Các thành viên của đội Gunnerside tiếp tục tập luyện, chạy những quãng đường dài qua những đồng cỏ thoai thoải của khu nhà. Thỉnh thoảng, họ lẻn qua hàng rào dây thép gai để săn gà lôi ở ruộng bên cạnh. Vào ban đêm, họ chơi bài. Một buổi tối, họ bắt xe đến Cambridge, uống sâm panh và ăn tối tại một nhà hàng sang trọng. Họ biết mình có thể không còn cơ hội nào khác. “Chúng ta về nhà thôi,” Rønneberg nói, kết thúc buổi tối quá sớm đối với Haukelid. Nhưng anh ấy cùng đồng ý với nhóm về khả năng cuối cùng họ sẽ được phép khởi hành vào đêm hôm sau.

Những người đàn ông nghiền ngẫm khi nào thời tiết sẽ cải thiện, cách tiếp cận Vemork sẽ có kết cục ra sao, liệu họ có rơi vào một cuộc đọ súng hay không, bị bắn hay bị bắt điều nào tôt hơn, và liệu họ có nên xem xét lại những bức thư gửi cho vợ và gia đình mình trong trường hợp họ không quay về hay không.

Bằng cách này hay cách khác, Haukelid sẽ không trở lại Anh. Tronstad và Wilson đã cho phép anh xây dựng một tổ chức du kích ở phía tây Telemark. Tất cả những gì anh muốn bây giờ là một đêm quang đãng để nhảy dù. Rồi cuối cùng anh ấy cũng sẽ được đoàn tụ với các thành viên của đội ban đầu của mình.

*

Sau một tuần bão tuyết và những ngày đầy mây, sương mù, Poulsson bước ra ngoài trời vào một buổi sáng đẹp trời, ngày 23 tháng 12. Trời vẫn lạnh cóng nhưng ánh nắng chiếu vào mặt anh thật dễ chịu. Ván trượt đã được buộc chặt, anh vừa nhấc khẩu súng trường Krag qua vai thì Kjelstrup bước ra khỏi cabin để lấy củi. Trong số bốn người, Kjelstrup ở trong tình trạng tồi tệ nhất, bị chuột rút và phù nề khiến anh quá mệt mỏi để rời khỏi giường hơn vài giờ mỗi ngày. “Sắc nét và trong sáng,” Kjelstrup nói, đôi mắt anh ánh lên tia nhìn màu đỏ.

Poulsson nói: “Giá như tôi biết ngày mai đàn tuần lộc sẽ ở đâu. Tôi có thể xây cho mình một cái hang tuyết và nằm đợi chúng.”

Kjelstrup cố gắng mỉm cười. “Có lẽ hôm nay sẽ là ngày của bạn.”

Poulsson rời xa Fetter. Sương giá bao phủ Vidda trong đêm khiến cho việc trượt tuyết trở nên dễ dàng và anh ấy đã ổn định nhịp độ trượt tuyết. Lớp vỏ trên mặt tuyết vỡ ra sau mỗi lần anh ấn chiếc gậy đi ski. Khi anh băng qua Vidda trong chiếc áo choàng màu trắng, hết dặm này đến dặm khác, không khí gay gắt trong lồng ngực, những quy tắc săn bắn mà ông nội đã khắc ghi vào đầu anh từ khi còn nhỏ đã chi phối tâm trí anh. “Súng trường của con là một vũ khí, không phải một món đồ chơi. Khi đi săn, con vác súng qua vai phải với cánh tay đặt trên nòng súng. Nếu con nghỉ ngơi trong rừng [hoặc] băng qua hàng rào, hãy dỡ vũ khí ra. Khi con đã vào vị trí, con không được chạm vào chốt an toàn trước khi nhìn thấy mục tiêu của mình. Không bao giờ bắn trừ khi con có thể thấy rõ mình đang bắn vào thứ gì. Đừng bao giờ quá phấn khích hoặc háo hức đến mức quên mất rằng mình đang cầm vũ khí trong người. Nếu làm vậy, con sẽ quên chính bản thân con.” Trong nhiều năm kể từ khi ông nội mua cho anh khẩu súng đầu tiên, Poulsson đã không bỏ qua những bài học này. Anh đã theo dõi và giết tuần lộc nhiều lần trên vùng Vidda. Nhưng giờ đây, khi anh cần giết nhất, anh thậm chí không thể tìm được một đàn. Nhóm của anh có ba công việc: duy trì liên lạc qua sóng, thu thập thông tin tình báo về Vemork và sống sót.

Sau đó, cách cabin năm dặm, đôi chân của anh bắt đầu yếu đi, anh bắt gặp một dải dấu vết tuần lộc mới trên tuyết. Anh  gần như nhảy cẫng lên vì phấn khích. Khi kiểm tra dấu vết, anh  phỏng đoán rằng đàn này khá đông, dẫn đầu là một con cái già, theo sau là một số con đực  và những con có lông xám. Nhóm phía sau là những con cái khác, những con non và những  thú con Chúng di chuyển chậm rãi, có thể vài dặm mỗi giờ, gặm cỏ rêu và nghỉ ngơi tùy thích.

Đồng đội của anh sẽ ăn no tối nay, Poulsson nghĩ. Họ sẽ tổ chức tiệc Giáng sinh. Anh bắt đầu đến đỉnh đồi gần nhất nhưng không nhìn thấy gì trong ống nhòm ngoại trừ dải màu trắng trải dài vô tận. Đàn tuần lộc có thể đã ở dưới thung lũng hoặc trên đỉnh cao nguyên. Anh đi theo dấu vết vài dặm, gần như đến được đầu phía bắc của Thung lũng Grass. Vẫn không có gì. Nếu chúng bắt gặp một con sói hoặc một loài săn mồi nào khác, chúng có thể đã chạy rất xa. Tuần lộc chạy nhanh có thể đi được 25 dặm trong vòng chưa đầy một giờ. “Chúng giống như những bóng ma,” anh nhớ mình đã đọc trong một cuốn sách của Ingstad. “Chúng không biết từ đâu đến, lấp đầy đất đai rồi biến mất.”

Sau khi chạy ngoằn ngoèo lên đỉnh thung lũng tiếp theo, Poulsson dừng lại. Anh ấy lau chiếc ống nhòm trong suốt có hình vuông bằng vải nỉ, anh canh chừng và kiểm tra đường chân trời một lần nữa. Một mặt trời buổi trưa chiếu xuống, và khung cảnh phủ đầy tuyết đang đánh lừa đôi mắt anh. Một tảng đá vươn cao trông một chòm cây. Ngọn đồi cuồn cuộn trông phẳng phiu như một địa thế bằng phẳng. Nhưng xa hơn về phía bắc, trong một thung lũng nhỏ, anh phát hiện ra một số điểm tối. Lúc đầu anh nghĩ chúng chỉ là những viên đá, nhưng chắc chắn chúng đang chuyển động cùng nhau.

Đàn thú.

Chầm chậm, cân nhắc, Poulsson trượt lại gần hơn. Đôi khi anh đánh mất vị trí thuận lợi, nhưng anh biết tuần lộc sẽ ở lại trong thung lũng. Ở đó hầu như không có gió. Vài đám mây trên đầu vẫn gần như đứng yên. Anh  tìm đường về phía đông bên thung lũng, để giữ ngược hướng chiều gió của đàn và ngăn cản chúng đánh hơi được mùi của mình. Anh tiến lên một sườn núi và sau khi tháo ván trượt, anh thả lỏng người lên một tảng đá. Đàn đứng trong thung lũng cách đó hơn nửa dặm. Chúng có khoảng bảy mươi con. Một số đang gặm cỏ rêu bên cạnh một mảnh hồ nhỏ. Số khác nằm nghỉ trên băng hoặc đứng như tượng. Lớp da mùa đông đã phai màu biến thành lớp da dài xù xì màu trắng xám, giúp chúng ngụy trang trong cảnh quan. Xa hơn về phía bắc, trên một cao nguyên nhô cao, có đàn thứ hai, quy mô nhỏ hơn.

Để có thể bắn tốt với Krag, Poulsson cần ở cách mục tiêu trong vòng 200 thước. Anh không biết làm thế nào có thể tiến đến trong phạm vi mà đàn thú không phát hiện ra anh trên con đường bằng phẳng hoặc đánh hơi được anh. Anh chỉ còn hy vọng chúng sẽ tiến về phía anh hoặc di chuyển đến vùng đất dốc hơn, gồ ghề hơn, nơi anh có nhiều chỗ ẩn nấp hơn để rình rập chúng. Ngồi trên tảng đá, anh đợi mười phút, rồi ba mươi phút, rồi một giờ. Cái lạnh thấm sâu vào tận xương tủy, anh nhăn nhó và vặn vẹo khuôn mặt để tránh bị tê cóng. Nếu cảm thấy tê, anh tháo găng tay ra và ấn một ngón tay vào da thịt cho đến khi nó tan hết. Anh không ngớt co ngón chân và xoa râu cho khỏi dính băng.

Thời gian trôi qua. Cả đàn dường như sẽ ở yên một chỗ vĩnh viễn, nhai rêu và đi loanh quanh. Poulsson buộc phải hành động. Sau gần hai tháng sống nhờ những bữa ăn đạm bạc nhất kể từ khi họ đến Na Uy, người của anh cần thức ăn. Với ánh sáng ngày càng giảm dần, anh phải sớm giết chết nếu không sẽ có nguy cơ mất đàn trong bóng tối – và gặp rủi ro trên Vidda. Nếu một cơn bão ập đến, giống như nhiều cơn bão đã hoành hành họ trong tháng qua, không có nơi trú ẩn và ở một mình ngoài trời, anh chắc chắn sẽ chết.

Quyết tâm, anh trèo xuống khỏi tảng đá, rồi rón rén đi vào thung lũng, ẩn mình sau những dải đất hẹp và những gò đất nhỏ khi anh đến gần chúng. Khi anh đến gần, có hai con đực tách ra khỏi đàn. Poulsson đứng bất động, vẫn khuất gió và cách quá xa để mắt chúng có thể phân biệt được chiếc áo khoác trắng của anh với địa hình. Khi chúng quay trở lại đàn, anh nhẹ nhàng đi xuống một gò đất nhỏ có thể đưa mình  vào tầm bắn. Đến gần đó, anh trượt chân và suýt ngã xuống đồi trước khi giữ lại được.

Đối với những con tuần lộc sống sót nhờ sự thận trọng, chỉ cần một chuyển động nhẹ trên sườn đồi là đủ. Hai con tuần lộc đực dậm chân xuống đất rồi lao về phía đàn của chúng. Chuyển động của chúng thúc đẩy những con khác. Với tiếng móng guốc rầm rập, cả đàn phút chốc biến mất qua mỏm đồi hướng về Thung lũng Grass.

Poulsson nằm ngửa trên tuyết, sức lực còn lại dường như đang cạn kiệt khỏi cơ thể. Anh ngước mặt vào bầu trời trống rỗng và nguyền rủa. Khi cơn giận lắng xuống, nỗi tuyệt vọng gần như khiến anh rơi nước mắt. Việc đuổi theo lũ thú không có kết quả. Chúng có thể đã đi quá xa để đến được trước khi trời tối. Anh hướng mắt về phía vùng cao cách đó nửa dặm về phía bắc. Đàn nhỏ hơn vẫn ở đó gặm cỏ.

Anh leo ngược lên dốc để thu dọn đồ đạc rồi trượt thật nhanh. Khi đường lên cao nguyên ngày càng dốc, anh chậm rãi đi bộ leo lên. Không có cách nào để biết hướng gió khi anh lên đến đỉnh, nhưng anh cầu nguyện rằng mình đang ở ngước  hướng gió với đàn. Trái tim quặn thắt trong lồng ngực, anh bò lên những thước cuối cùng bằng bụng. Chống tay lên, anh nhìn thấy khoảng ba mươi con tuần lộc, hơi thở của chúng như một đám sương mù lơ lửng trên đầu.

Gió trên cao nguyên cứ vài giây lại đổi chiều, khiến cả đàn cảm thấy khó chịu. Chúng vẫn còn hơi xa tầm bắn và có thể ngửi thấy mùi của anh bất cứ lúc nào. Khẩu súng trường trong tay phải, Poulsson bò về phía trước từng inch trong tuyết. Trong tâm trí anh trò giết chóc đã diễn ra. Anh sẽ bắn con tuần lộc đầu tiên ngay cơ hoành. Kinh nghiệm trong quá khứ cho anh biết rằng nếu phát bắn trúng mục tiêu, con vật sẽ nhẹ nhàng ngã xuống tuyết, như thể đột nhiên đi vào giắc ngủ. Bầy đàn có thể nhầm tiếng súng trường của anh với tiếng bùn đông cứng vỡ ra. Sau đó anh sẽ bắn thêm một hai phát nữa trước khi chúng bỏ chạy.

Anh đã ở trong tầm bắn. Anh cẩn thận đứng dậy, nhắm mục tiêu, đặt ngón tay lên cò súng và bắn. Mục tiêu của anh không hề khuỵu xuống. Đàn hoảng sợ bỏ chạy về phía đỉnh cao nguyên. Anh lại nhắm vào một con tuần lộc khác và bắn, rồi lại bắn vào một con khác. Không con nào quỵ xuống. Đàn tiếp tục di chuyển, để lại một vệt tuyết xoáy phía sau. Và sau đó chúng biến mất.

Đứng dậy, Poulsson cảm thấy bối rối. Không thể tưởng tượng anh đã bắn hụt cả ba lần. Anh đi sau đàn theo hướng chúng đã chạy đi. Các vệt tuyết lốm đốm máu vẻ ba đường riêng biệt.  Anh thực sự đã bắn trúng mục tiêu nhưng đây là vấn đề quân sự, đạn bọc thép của khẩu Krag mà Sørlie cung cấp  đã xuyên thủng con mồi chứ không mở rộng vết thương khi tác động như đạn chì mềm anh thường dùng để săn bắn. Anh không thể biết chúng đã chạy được bao xa. Dấu vết máu sẽ cho biết điều đó.

Anh đi theo vết máu một trăm thước trên mỏm cao nguyên và tìm thấy một con tuần lộc đực bị thương, móng guốc của nó đang cào tuyết để cố sức đứng lên. Poulsson bắn thêm một phát nữa. Con thú bất động. Anh đuổi theo đường máu tiếp một đoạn ngắn nhưng sau đó quay lại. Anh cho việc để lại những con thú bị thương phải chịu một cái chết dần mòn là hành động đáng khinh. Tuy nhiên, việc sống còn của anh ấy và đồng đội mới là vấn đề. Anh trở lại với con thú săn. Con vật khá lớn. Cảm xúc nhẹ nhõm, rồi hân hoan, khuấy động lòng anh. Anh ngạc nhiên trước vận may giành được một cách gian khổ. Lần đầu tiên sau hai tháng, đội của anh sẽ ăn no và sẽ hồi sinh.

Poulsson lấy chiếc cốc nhôm từ trong ba lô và hứng đầy máu chảy ra từ vết thương của con tuần lộc. Anh uống thật sâu, hơi ấm lan tỏa khắp cơ thể. Sau đó, anh đổ thêm máu vào một chiếc xô nhỏ trước khi lột da và phân xác bằng dao và rìu. Đầu và lưỡi của nó, giàu chất dinh dưỡng và giàu hương vị, chui vào ba lô của anh, theo sau là dạ dày bốn ngăn chứa đầy rêu chưa tiêu hóa hết. Rồi tim, gan, thận, xương sườn, và chân. Anh cắt từng lát mỡ trong khi làm việc và uống nước tủy trắng đục từ những chiếc xương nhỏ gần móng guốc. Anh xếp những miếng thịt nạc nhất thành một đống dưới tuyết để ngày hôm sau lấy về. Đầu tiên và quan trọng nhất, người của anh cần chất béo và chất dinh dưỡng.

Với gần 50 cân tuần lộc trong ba lô, Poulsson quay trở lại Fetter. Anh đã kiệt sức vì nỗ lực cả ngày, nhưng sự hưng phấn sau khi giết được con mồi khiến gánh nặng của anh trở nên nhẹ nhàng. Trên đường về anh bắt gặp đàn tuần lộc đã trốn tránh anh lúc nảy; bắt được mùi hương của anh, chúng một lần nữa rầm rập chạy đi.

Màn đêm buông xuống trước khi anh về tới cabin. Sau đó lau sạch tay mình trong tuyết, anh  đặt chiếc ba lô lại gần cửa và bước vào. Anh không nói gì với đồng đội. Họ tin chắc rằng các nỗ lực của anh đã tan thành mây gió một lần nữa. Họ ném cho anh một cái nhìn thương hại, tiếc cho anh mà cũng tiếc cho chính mình.

Haugland báo cáo là Gunnerside cũng không đến vào đêm đó. Với số ngày có trăng giảm dần, cơ hội để chiến dịch tiến hành trong tháng đó rất mong manh.

Một vài khoảnh khắc trôi qua.

Có điều gì đó trong ánh mắt của Poulsson khiến những người bạn phải dừng lại. Sau đó, Kjelstrup phát hiện ra một vệt máu trên chiếc áo choàng trắng của anh và hét lên. Họ lao ra khỏi cabin, và Kjelstrup nhấc lên chiếc ba lô nặng chịch, đẫm máu. Tiếng hoan hô vang dội.

Đêm hôm sau, đêm Giáng sinh, bốn người tụ tập bên bàn ăn dưới ánh đèn dầu. Để làm vật trang trí trung tâm, họ đã trang trí một cành cây bách xù bằng những ngôi sao giấy nhỏ. Họ nghe những bài hát mừng Giáng sinh trên radio một lúc, tai nghe vô tuyến đặt trên một tấm thiếc để tất cả đều có thể nghe được. Sau đó đài được tắt, nguồn pin cần được bảo tồn. Họ ăn tối với món lưỡi và gan tuần lộc chiên, súp huyết với rêu chưa tiêu hóa được từ dạ dày, thịt luộc và tủy. Helberg đã tìm thấy một ít cá hồi muối trong cabin gần đó, một món ăn bổ sung.

Hài lòng, họ ngồi im lặng. Poulsson rít tẩu thuốc và tất cả đều lắng nghe tiếng gió xoáy quanh cabin. Nó làm rung chuyển mái tôn và khiến tuyết rơi dày đặc bên dưới cánh cửa. Một trong số họ bắt đầu ngâm nga một giai điệu. Chẳng bao lâu họ đã bắt nhịp hát một bài hát mà họ đã học được trong khi ở Scotland, “Cô ấy sẽ đến. Đi quanh núi khi cô ấy đến.” Không dám thử cảm xúc của mình bằng một bài hát Na Uy, họ vẫn cảm thấy mình như những vị vua Na Uy.

*

Trong văn phòng của mình trên tầng ba của Victoria Terrasse ở Oslo, tòa nhà được trang trí bằng cờ chữ Vạn, Fehlis đã xem xét bản kiến ​​nghị ngày 14 tháng 12 từ Bjarne Eriksen, tổng giám đốc của Norsk Hydro. Eriksen muốn hai nhân viên của mình, Torstein Skinnarland và Øystein Jahren, được thả ngay lập tức.

Fehlis biết Terboven muốn làm Eriksen vừa lòng. Gần đây, y đã tổ chức một bữa tối nghi lễ tại nhà mình ở Skaugum, trước đây là dinh thự hoàng gia ở ngoại ô Oslo, tại đó y hứa với hội đồng các lãnh đạo công nghiệp, bao gồm cả Eriksen, rằng một khi chiến thắng hoàn tất, Na Uy và các công ty của họ sẽ tìm thấy một tương lai kinh tế tươi sáng đang chờ đợi. họ. Cho đến lúc đó, cỗ máy chiến tranh của Đức cần sự giúp đỡ của họ. Nhôm và diêm tiêu do Norsk Hydro cung cấp khiến việc giữ Eriksen làm đồng minh thực sự giá trị, nhưng có một nguồn tài nguyên thủy điện quan trọng khác của Norsk Hydro –  được định danh là SH-200 – khiến Fehlis phải lo lắng. Bọn phá hoại người Anh rõ ràng đã nhắm mục tiêu vào chất này, và Skinnarland và Jahren là chìa khóa để phát hiện ra mạng lưới kháng chiến ở khu vực.

Hàng tuần, 99,5% nước nặng tinh khiết được khai thác từ nhà máy nồng độ cao được đóng vào các chai nhôm 5 lít. Chúng  được đóng gói vào các thùng gỗ (bốn chai mỗi thùng) và vận chuyển bằng tàu hỏa từ Vemork đến Mæl, bằng phà qua Hồ Tinnsjø, sau đó lại bằng đường sắt đến văn phòng của Norsk Hydro tại Oslo. Từ đó,  Norwegen (Ban Kinh tế Quân sự Na Uy) nắm quyền kiểm soát các thùng hàng. Họ dán nhãn lại để giao đến Hardenbergstraße 10, trụ sở ở Berlin của Cục Nghiên cứu Quân khí.

Sau khi những chiếc thùng rời khỏi Na Uy, chúng không còn thuộc trách nhiệm của Fehlis nữa. Cho đến thời điểm đó, công việc của hắn là bảo vệ Vemork và sản lượng SH-200 hàng tháng 150 kg (và đang tăng lên) khỏi bị phá hoại. Hắn  có đồng minh trong nỗ lực của mình. Wehrmacht (Quân đội Đức) chịu trách nhiệm cung cấp nhân lực để bảo vệ các nhà máy công nghiệp có tầm quan trọng lớn trong nỗ lực chiến tranh và Vemork đứng ở vị trí cao trong danh sách này. Sau chiến dịch tàu lượn thất bại, Tướng Falkenhorst đã đến thăm nhà máy và gửi đi nhiều chỉ thị về cách ngăn chặn những nỗ lực phá hoại trong tương lai. Các điểm tiếp cận phải được xác định, bố trí các bãi mìn, thiết lập đèn rọi và thiết bị báo động bằng âm thanh, đồng thời các lính canh được huấn luyện và trang bị súng tiểu liên, lựu đạn cầm tay và thậm chí cả nắm tay sắt.

Falkenhorst ra lệnh: “Các đội an ninh của chúng ta phải cơ động và có khả năng chiến đấu trong nhà máy cũng như các văn phòng của nó. Họ phải có khả năng nhanh chóng truy đuổi kẻ thù, bắt kịp chúng trong quá trình tẩu thoát và nhanh chóng áp đảo chúng trong trận chiến tay đôi.” Ông cũng cảnh báo rằng “bọn côn đồ sẽ chọn chính xác con đường tiếp cận gian khổ nhất để xâm nhập vào cơ sở, bởi vì đó là nơi chúng mong gặp phải những rào cản ít được bảo vệ nhất và mỏng manh nhất… Kẻ thù dành hàng tuần, thậm chí hàng tháng, lên kế hoạch tỉ mỉ cho các hoạt động phá hoại và không tiếc công sức để đảm bảo thắng lợi. Do đó, chúng ta cũng phải dùng đến mọi biện pháp có thể tưởng tượng được để ngăn cản kế hoạch và hành vi của chúng, làm cho chúng không thể thực hiện được.”

Nhưng lệ thuộc vào Falkenhorst không phải là phong cách của Fehlis. Chính những nhân viên thẩm vấn của hắn đã moi ra các kế hoạch tấn công Vemork từ năm đặc công Anh đã được giải  đến Grini. Mặc dù họ đã phủ nhận bất kỳ sự tham gia nào của Na Uy, nhưng hắn vẫn cam kết sẽ tiêu diệt bất kỳ mạng lưới kháng chiến nào có thể biết hoặc có mặt để hỗ trợ một hoạt động như vậy. Người cung cấp thông tin đã đưa ra tên của anh em nhà Skinnarland, Einar và Torstein. Jahren, người đã bị Gestapo tra tấn, đã dẫn họ đến lãnh đạo kháng chiến ở Rjukan, Olav Skogen. Nếu có ai biết gì thì đó chính là Skogen. Việc cả bốn người đều là nhân viên của Norsk Hydro không khiến hắn thất vọng. Sáng ngày 27 tháng 12, Fehlis cho người bắt Skogen. Hãy coi đó là câu trả lời cho Eriksen và lời thỉnh cầu của ông ấy.

*

Đi bộ ba mươi phút trên sườn đồi dốc từ bờ Hồ Møs sẽ tìm thấy Einar Skinnarland đang nằm ẩn mình trong một căn nhà gỗ nhỏ, tối tăm nằm cạnh dòng suối nhỏ. Căn nhà gỗ nép mình giữa những tảng đá được gọi là Nilsbu và không thể phân biệt được với địa hình xung quanh. Vào mùa đông, nó gần như bị chôn vùi hoàn toàn trong tuyết. Vào mùa hè, nó ẩn mình giữa rừng thông rậm rạp. Nếu nằm thẳng trên sàn, Skinnarland gần như có thể chạm vào mọi bức tường với tay và chân dang rộng. Không có nơi nào anh cảm thấy an toàn hơn. Hai gia đình địa phương, Hamarens và Skindalens, đã giúp đỡ anh, vừa tìm nguồn cung cấp vừa để mắt đến quân Đức.

Kể từ khi rời Thiên đường Trên Cao , Skinnarland phần lớn chỉ ở Nilsbu một mình. Anh đã tổ chức đêm Giáng sinh “với bít tết và bánh kếp tuyệt vời,” như anh viết trong nhật ký. Ngoài ra, ngày nối tiếp nhau trôi qua chỉ với một dòng ghi chú ngắn gọn về sự thay đổi của thời tiết: nhiều sương mù, tuyết và gió từ phía đông và phía tây. Tronstad đã đưa cho anh lựa chọn trốn sang Thụy Điển, nhưng Skinnarland sẽ không rời đi, không khi anh trai mình bị quân Đức bắt làm con tin, không khi  Jahren còn trong tù, và tất cả là vì bản thân mình. Anh sẽ ở lại và làm những gì có thể để hỗ trợ cuộc phá hoại Vemork. Anh hiểu rằng nếu có người bên kia nhìn thấy anh (và anh được nhiều người biết đến ở khu vực này), Gestapo chắc chắn sẽ chạy đến  anh.

Vào ngày 27 tháng 12, một cuộc điện thoại đến trang trại Hamaren mang tin từ Rjukan rằng Gestapo đã bắt giữ Olav Skogen. Chán nản trước việc bạn mình bị bắt, Skinnarland tiến về phía Hồ Store Saure để thông báo cho đội Chim Én. Sau vài giờ trượt tuyết trong cơn gió tây nam buốt giá, cuối cùng anh cũng đến được Fetter. Vào bên trong, anh thấy Jens- Anton Poulsson đang khuấy một nồi hầm: sườn tuần lộc với những miếng lòng, khí quản và mỡ; những mẩu lông nổi lên trên. Skinnarland hoan nghênh bữa ăn béo bổ, và họ mời anh ở lại bao lâu tùy thích. Khi tuần trăng kết thúc và cơ hộ nhảy dù tiếp theo còn đến một tháng nữa, mọi người cần phải có bầu bạn.

14

Cuộc chiến cô đơn, đen tối

VÀO NGÀY 6 THÁNG 1 NĂM 1943, Tronstad đang làm việc muộn tại Bộ chỉ huy tối cao Na Uy, Kingston House. Thỉnh thoảng, ông liếc nhìn dọc hành lang về phía văn phòng trống của Thiếu tá Ernst Marstrander. Vài ngày trước, sau khi đưa Odd Starheim và 40 người khác lên bờ biển Na Uy để bắt đầu Chiến dịch Carhampton, tàu của Marstrander va phải một quả mìn nổi và chìm. Tất cả các thành viên đều thiệt mạng. “Chúng tôi càng ngày càng khó khăn hơn,” Tronstad viết trong nhật ký của mình, “và mọi nghịch cảnh chỉ khiến chúng tôi  thêm sắt đá để thực hiện những nỗ lực mới.”

Trong những ngày nghỉ lễ, Tronstad nhớ gia đình mình da diết. Bassa đã viết thư trước Giáng sinh, nói rằng việc ăn lễ không có ông sẽ khó khăn biết bao. Một thư chuyển phát nhanh mang đến một số bức ảnh gần đây của bà và những đứa trẻ, còn Tronstad đã gửi một ít cà phê và sô cô la nóng. Nhưng ông không thể viết được một lá thư bày tỏ nỗi đau buồn bởi sự vắng mặt của mình. Ngày 29 tháng 12 Bassa gửi một lá thư khác, cầu xin ông hồi âm sớm. “Anh có nghĩ chúng ta sẽ sớm có hòa bình không?” bà ấy hỏi. “Điều tốt đẹp nhất của cuộc đời đã không còn nữa… Những gì chúng ta nói trong quá khứ, em không nhớ, nhưng bây giờ chỉ bàn về chiến tranh và lương thực.” Sidsel, lúc này đã mười tuổi, kèm theo một lá thư của chính mình: “Hầu như mọi người ở đây đều khỏe mạnh, cả em và con. Chúng con thường trượt tuyết… Mọi người đã có một Giáng sinh rất vui vẻ, nhưng chắc chắn nó sẽ tuyệt vời hơn nếu có bố…Bố không biết con đã cao lên bao nhiêu rồi… Chúng con có một con chó, với cái đầu giống cáo, thân giống cừu, và một cái đuôi khỉ, và nó rất, rất lạ… Lời chào nồng nhiệt từ Snoopi và Em Mẹ. Chúng ta sẽ gặp lại nhau.”

Vào đầu năm mới, Tronstad viết thư hồi âm, nói với con gái rằng những bức ảnh cho thấy con bé đã “to lớn hơn và xinh đẹp hơn” như thế nào và sau đó, “Bố rất vui và hy vọng sẽ sớm trở về nhà khi cuộc chiến xấu xí này cuối cùng cũng kết thúc. . Con không được sợ bất cứ điều gì. Hãy ngẩng cao đầu.”  Ông hứa với cô bé rằng ông sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi Na Uy được tự do.

Để làm tê liệt quân Đức, Tronstad muốn tiến hành hoạt động hàng ngày chống lại họ nếu ông có thể. Chiến dịch Carhampton hứa hẹn sẽ là một đòn giáng mạnh vào khả năng bòn rút các nguồn tài nguyên quan trọng của đất nước ông. Gunnerside sẽ là một cuộc tấn công thậm chí còn lớn hơn. Mặc dù thời tiết xấu trên khắp Bắc Âu tiếp tục ngăn cản nhảy dù, buộc Chim Én phải chịu đựng Vidda khắc nghiệt lâu hơn và cho phép an ninh tại Vemork được thắt chặt hơn nữa, thời gian bổ sung đã khiến Rønneberg và người của anh ấy có thêm nhiều tuần để huấn luyện. Có sự thoải mái trong việc này, và người ta phải tìm thấy sự thoải mái ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào có cơ hội trong cuộc chiến đen tối này.

*

Trong một căn phòng nhỏ trống trải, được đánh số D2, tại Møllergata 19, Olav Skogen chờ đợi những kẻ tra tấn mình sắp đến. Từng là nha cảnh sát Oslo, có kết cấu kiểu La Mã, trông giống như một nửa- bánh cưới một tầng, bây giờ dùng làm nhà tù Gestapo. Skogen lặp đi lặp lại  tự hứa với mình rằng anh sẽ không cung khai. Anh ở  bên chính nghĩa, và bọn tra tấn anh một ngày nào đó sẽ bị phán xét vì tội ác của mình. Anh  không bao giờ phải tiết lộ những gì mình biết, mình công tác với ai, không khai gì về Milorg hay Rjukan hay Chim Én hay Skinnarland. Không một cái tên nào có thể được moi ra từ anh. Giữ im lặng là trận chiến duy nhất còn lại của anh trong cuộc chiến này. Bây giờ anh đã biết điều đó. Anh đã chấp nhận nó. Anh sẽ không mở miệng.

Hai tuần trước, anh đã tới Bergen để xem xét một số hợp đồng cho Norsk Hydro. Khi bước vào văn phòng ở đó, anh  đã bị một khẩu súng lục chĩa vào mặt. Bị đưa lên một chiếc ô tô đang chờ sẵn, anh tự trách mình vì đã không lẩn trốn sau cuộc đột kích vào Rjukan. Anh đã ngu ngốc và táo bạo quá đỗi.

Tại nhà tù Bergen, một sĩ quan cấp dưới của Gestapo đã cố gắng thuyết phục anh thú nhận việc tham gia vào cuộc kháng chiến ngầm. Skogen nói: “Tôi không tham gia vào bất kỳ hoạt động bất hợp pháp nào như vậy.

Viên sĩ quan nhún vai. “Chúng tao có người sẽ moi ra được thông tin đang tìm kiếm.” Sau đó, hắn để mặc xác anh  trong phòng giam.

Skogen biết điều gì đang chờ đợi mình ở phía trước. Trong giới kháng chiến, những lời kể về vụ tra tấn của Gestapo rất phổ biến. Vào đêm thứ hai, nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ phòng giam, anh tự hỏi liệu mình có nên tự sát bằng những viên thuốc mà Skinnarland đã đưa cho anh. Đó sẽ là cách tốt nhất để đảm bảo quân Đức sẽ không moi ra  được gì từ mình và anh sẽ tránh được rất nhiều đau đớn. Quyết định xong, anh lấy ra những viên thuốc khâu trong túi áo ngực, đặt chúng trong lòng bàn tay rồi thả xuống sàn và chà nát dưới chân. Quân Đức sẽ phải tự tay giết chết anh.

Ngày hôm sau, đêm giao thừa, họ đưa anh đến Oslo, sau đó đến Møllergata 19. Anh bị lấy dấu vân tay, chụp ảnh và lột thắt lưng cũng như dây giày. Đầu tiên có một đoạn thẩm vấn ngắn gọn với rất nhiều lời đe dọa rống lên, nhưng không có nắm đấm. “Việc bắt giữ là một sự hiểu lầm,” Skogen nói. Anh ta bị ném vào xà lim và cho ăn những miếng bánh mì cũ. Ngày qua ngày anh chờ đợi, nhưng không ai đến xó xỉnh tối tăm, cô đơn của nhà tù.

Olav Skogen, chỉ huy kháng chiến ở Rjukan

Møllergata 19, nhà tù của Gestapo

Sau đó, vào đêm ngày 11 tháng 1, cánh cửa sắt phòng giam của anh mở tung. Anh bị còng tay và chở xe  qua những con phố vắng vẻ ở Oslo để đến Victoria Terrasse. Lính canh dẫn anh lên bốn tầng cầu thang và vào một căn phòng nơi nhiều Gestapo đang đợi anh. Trên bức tường đối diện với cánh cửa treo một bức chân dung của Hitler. Skogen bị đẩy xuống một chiếc ghế đẩu gần bàn làm việc. Tên thẩm vấn chính, một gã đàn ông cổ to, lông mày rậm và quai hàm chìa ra như muốn bị ăn đấm, ngồi xuống sau bàn và hỏi bằng tiếng Đức, “Tên?”

Skogen nói tiếng Đức khá tốt, nhưng họ không cần biết sự kiện này. “Thông dịch viên?” anh hỏi.

Có những tiếng thở dài. Sau đó, một tên Gestapo, biết nói tiếng Na Uy, bắt đầu phiên dịch cho Cổ Bạnh. Gã hỏi Skogen có biết hai cái tên: Øystein Jahren và Einar Skinnarland không.

“Biết,” Skogen nói. Có lẽ họ nghĩ mình đã nắm thóp anh ấy rồi.

“Tại đâu?” Cổ Bạnh hỏi.

“Hiệp hội thể thao Rjukan,” Skogen nói.

“Đó là lời nói dối đầu tiên!” Cổ Bạnh hét lên, mặt đỏ bừng. Gã nhìn sang người phiên dịch đang dịch.

Skogen nói: “Tôi không nói dối.”

Các câu hỏi tiếp theo là về Einar Skinnarland. Skogen một mực nói mình không biết. Ngay sau đó, một tên Đức cao lớn, lực lưỡng trong bộ đồ thể thao bước vào phòng và cuộc tra tấn bắt đầu. Bọn chúng kéo ống quần bên trái của Skogen lên và kẹp một mỏ cặp vào cổ chân dưới của anh. Ngàm của nó có hình bán nguyệt bằng thép sắc nhọn.

“Bây giờ mày có thú nhận không?” Cổ Bạnh hỏi.

“Tôi không còn gì để nói nữa,” Skogen nói.

Tên mặc đồ thể thao xoay đai ốc trên mỏ cặp, xiết chân Skogen vào giữa hai ngàm.

“Mày biết không?” Cổ Bạnh hỏi.

Skogen nhăn mặt và lắc đầu. Tên mặc đồ thể thao siết chặt mỏ cặp thêm chút nữa. Những vòng bán nguyệt nghiến sâu vào cơ bắp chân của anh, làm biến dạng chân anh. Anh rên rỉ.

Cổ Bạnh nói: “Chúng tao sẽ không dừng lại cho đến khi khai thác được sự thật từ mày. Hết lần này đến lần khác, Tên tra tấn xoay vít của mỏ cặp. Skogen nhìn thấy sắc chói của cơn đau đớn và chân anh chuyển sang màu tím dữ dội. Cuối cùng anh ngã ra khỏi ghế. Sau đó, bọn này bắt đầu tấn công anh bằng dùi cui cao su, đánh vào bàn chân, ống chân và bộ lưng trần của anh. Sau đó anh được nhấc trở lại ghế đẩu.

“Nói đi! Cơ hội cuối cùng! Cổ Bạnh cuối cùng hét lên.

Skogen lắc đầu. Anh sẽ không khai. Không một lời. Đây là cuộc chiến cô đơn của anh bây giờ. Anh sẽ thắng nó.

Tẻn mặc đồ thể thao đã giải thoát chiếc chân bị gãy của Skogen khỏi chiếc kẹp, và một cú sốc thống khổ đi sau. Sau đó Cổ Bạnh lấy một thanh tre từ bức tường và đánh vào ngực, lưng và vai anh cho đến khi gã hết hơi. “Hãy cho chúng tao biết những gì mày  biết!” Chúng đấm vào mặt anh. Khi anh ngã khỏi ghế một lần nữa, họ túm tóc anh kéo anh qua sàn nhà. Họ đánh anh hết lần này đến lần khác bằng dùi cui và gậy. Anh vẫn câm miệng. Sau một thời gian, thế giới quay lưng lại với anh và anh ngất đi. Bỏ cuộc trong đêm, những tên tra tấn anh đã báo cáo với cấp trên của họ ở tầng dưới rằng họ đã thất bại trong “cuộc thẩm vấn tăng cường” của mình

*

Trong ba tuần nay, năm Đặc công Hoàng gia còn sống sót sau Chiến dịch Freshman đã bị biệt giam tại Grini. Sau khi khai thác được thông tin có thể từ họ, Fehlis ra lệnh bắn họ. Vào ngày 19 tháng 1, họ được thông báo rằng họ phải xuất hiện trước ủy ban quân sự trước khi bị đưa đến trại tù ở Đức. Thay vào đó, lính Đức đã chở họ vài giờ về phía bắc, qua băng tuyết dày đặc. Họ đến Trandum, một khu rừng mà Gestapo sử dụng để hành quyết các tù nhân chính trị và vứt xác họ. Những đặc công bị bịt mắt dẫn đi vào rừng, mỗi người có hai người Đức đi kèm, sau đó được lệnh dừng lại. Họ không biết rằng chân họ đang ở rìa một ngôi mộ đã được những kẻ hành quyết đào trước đó.

Trong số họ, có Wallis Jackson trong chiếc áo len cổ lọ màu xanh lam và chiếc quần dài được cấp cho anh ở Scotland, Trong túi của chàng trai hai mươi mốt tuổi có một chiếc khăn tay thẻu chỉ đỏ rất đẹp, rõ ràng là quà của người thân ở quê nhà. Tiếng giày bốt vang lên xung quanh họ. Họ nghe thấy tiếng súng trường vang lên. Theo lệnh khai hỏa, đội hành quyết đã bắn lính Anh rồi chôn họ dưới ngôi mộ không tên.

*

Thu mình trong túi ngủ vào một buổi sáng tháng giêng băng giá nữa ở Fetter, Poulsson đang quan sát hơi thở của mình. Những tấm da tuần lộc treo trên những tấm ván gỗ trơ trụi không giữ được cái lạnh, còn một lớp sương muối dày bao phủ trần và tường. Đến 7h30, trong lúc mọi người còn ngủ, anh chui ra khỏi túi ngủ. Đến lượt anh làm bữa sáng. Anh thắp ngọn đèn dầu rồi, ngồi trên ghế đẩu, anh tiếp những mảnh bạch dương vào lò bếp. Khi đống lửa kêu lách tách, anh thêm vào vài khúc gỗ. Bếp lửa nóng lên. Anh đặt lên trên một nồi cháo trộn với bột làm từ xương tuần lộc nghiền và đun sôi trong hai ngày. Trong khi nấu món này, anh mặc quần áo. Sau đó, anh nắm lấy chiếc rìu ở cửa và bước ra ngoài.

Cách cabin vài mét là một khu vực trông giống như một lò mổ.  Máu bao phủ tuyết, và có một đống dạ dày tuần lộc đông lạnh dựa vào vách cabin. Rêu được tiêu hóa một nửa trong ruột là nguồn cung cấp vitamin C và đường duy nhất cho họ.  Poulsson cắt một khối rồi quay trở lại cabin. Sương giá trên tường và trần nhà đã bắt đầu tan. Nước nhỏ giọt trên mặt anh và tụ lại thành vũng trên sàn nhà. Anh khuấy cháo, hâm nóng nội tạng trong một chiếc nồi khác và bắt đầu pha cà phê và gọi đồng đội vào bàn.

Họ bước ra từ bóng tối lờ mờ, tất cả đều làu bàu và rên rỉ. Không ai trong số họ tắm trong nhiều tháng, và chỉ có Haugland là duy trì chế độ cạo râu. Với bộ râu đỏ rậm và khuôn mặt cáu kỉnh, Kjelstrup trông giống thú hơn người.

Họ mặc quần áo vào, và một vài người trong số họ nhanh chóng chạy ra ngoài với đôi ủng không buộc dây để đi vệ sinh. Khi trở về, họ ngồi vào chỗ quen thuộc tại bàn: Poulsson gần quầy bếp, Haugland đối diện anh, Helberg và Kjelstrup chen chúc nhau ở một bên, và Skinnarland đối diện với họ.

Họ nói rất ít trong khi ăn: cháo, thịt thăn với mỡ và nội tạng. Trong những tuần kể từ khi Poulsson thực hiện vụ giết tuần lộc đầu tiên, họ đã trở thành những người sành tuần lộc. Chỉ bằng mùi vị, họ có thể phân biệt được một con đực già từ một con một tuổi đến một con non. Họ thích con già nhất vì hương vị đậm đà của nó. Mỡ mí mắt và tủy xương là những món ngon hảo hạng, và món súp làm từ dạ dày hươu, nhiều rêu, trộn với thịt, máu và nước cũng là một món được yêu thích. Tuy nhiên, sự thật là họ ăn rất bừa bãi. Họ ăn tim, thận, gan, thanh quản, não, lưỡi, dây thần kinh răng, mắt, mũi, từng mảnh thịt trên xương và sau đó là cả xương. Ngoài móng guốc, sừng và da, không có gì vắng mặt trên đĩa của họ.

Khi bình minh ló dạng qua cửa sổ hướng đông, họ tắt đèn. Sau bữa sáng, Poulsson và Skinnarland đi ra ngoài để khảo sát thời tiết. Phía tây bắc Fetter, những đám mây xám nặng trĩu treo trên các đỉnh núi. “Thời tiết u ám,” Skinnarland nói.

“Hôm nay không có hoạt động nào,” Poulsson trả lời, qua kinh nghiệm biết rằng những đám mây đã báo trước sẽ không có chuyến bay nào từ Anh.

Khi giai đoạn trăng tháng 12 kết thúc, họ dành hai tuần để trượt tuyết qua lại trên Vidda qua lớp tuyết dày ướt và gió giật. Họ theo dõi tuần lộc, bảo đảm pin đã sạc lại cho máy vô tuyến và thiết bị Eureka, thu thập thêm thiết bị từ kho của họ ở Thung lũng Songa và thu thập thông tin tình báo về Vemork. Đôi khi họ qua đêm xa Fetter, đột nhập vào các cabin hoặc nếu gặp tình huống khó khăn thì ngủ trong một hang tuyết được xây dựng vội vàng. Thông qua các nguồn tin ở Oslo, Skinnarland biết rằng Olav Skogen đang bị tra tấn và anh ta cũng đã dũng cảm giữ im lặng. Nếu không thì quân Đức đã lùng sục Vidda bằng máy bay và tuần tra trượt tuyết, săn lùng họ.

Ngày 16/1, khi thời gian chờ mới có hiệu lực, Tronstad gửi tin nhắn: “Thời tiết vẫn xấu nhưng các chàng trai háo hức tham gia cùng các bạn”.

Khi họ chờ đợi thời tiết thay đổi, ngày này hòa vào ngày tiếp theo. Họ đốn củi, săn bắn, nấu ăn và ngồi bên chiếc máy vô tuyến, háo hức chờ đợi tin tức. Đến 4 giờ chiều, mỗi ngày, khi trời tối, họ ngồi quanh bàn ăn tối. Poulsson đã hết thuốc tẩu nên ít nhất không khí cũng không còn khói thuốc. Ăn xong, họ chui vào túi ngủ để chịu đựng thêm một đêm giông bão dữ dội đe dọa xé nát cabin.

Có những ngọn lửa nhỏ nóng nảy. Một thành viên bị buộc tội không giữ cabin ngăn nắp. Thành viên khác không dậy đủ sớm để nấu bữa sáng theo phân công. Người nữa không thể lấy được gỗ ẩm để đốt lò. Chen chúc trong một không gian chật chội, bị cô lập khỏi nền văn minh, và luôn luôn lạnh, ẩm ướt, họ mệt mỏi hoặc đói khát có thể dễ dàng để những xung đột tăng cao. Sự hiện diện của Skinnarland đã giúp đỡ. Trong thời gian đợi chờ, một mình anh ấy có thể mạo hiểm thoát khỏi Fetter, và sau hàng dặm trượt tuyết anh dường như luôn quay trở lại trong niềm vui rộn rã, thường với một miếng bơ hoặc vài quả mơ khô để thêm hương vị vào món tuần lộc hầm của họ.

Nếu không có Poulsson, đội Chim Sẻ có thể đã tan rã. Trong những ngày ngắn ngủi, anh bắt những thành viên bận rộn với công việc, nhưng chính những đêm kéo dài mười sáu tiếng đồng hồ mới là mối nguy hiểm thực sự. Họ không thể ngủ suốt thời gian đó, và họ không có dầu hỏa cũng như nến để thắp sáng căn nhà suốt đêm để chơi bài, chơi cờ hoặc những thứ tương tự.

Một buổi tối, để khiến họ bận rộn, Poulsson đã dành một khoảng thời gian tưởng như dài vô tận để thuyết giảng tỉnh tế về nghệ thuật săn bắn. Việc này đã truyền cảm hứng cho Kjelstrup hướng dẫn mọi người về khoa  sửa ống nước. Haugland tiếp theo với bài giảng về máy điện đài. Còn Skinnarland là bài học về xây đập. Sau khi giải thích tại sao các địa điểm khác nhau trên Vidda lại có tên như vậy, Helberg sau đó đã chứng tỏ mình ít nhất là một nhà thơ hạng hai. Anh ấy đặt thơ mô tả Kjelstrup khiến cả căn nhà gỗ tràn ngập tiếng cười. “Là người thứ ba trong nhóm / Chúng ta có Arne, ôi, Quỷ sứ/ Chuyên gia về sưởi ấm và vệ sinh / Ghét sương giá và thời tiết mùa đông / Nhưng anh ta biết làm gì ban đêm/ Ngủ với bộ y phục trùm đầu thoải mái.” Khi hết đề tài thuyết giảng và làm thơ, họ nói về cuộc sống ở nhà và gia đình mình. Thay vì chia cắt họ, những đêm đông đã kéo họ lại gần nhau hơn Tuy nhiên, họ không thể như thế đó mãi được.

*

Qua cửa sổ của một chiếc máy bay ném bom Halifax, Haukelid cuối cùng đã theo dõi được làn sóng đang vỗ vào bờ biển Na Uy. Chen chúc trong thân máy bay, anh ấy luôn căng mắt nhìn vào khung cảnh. Anh nhìn thấy một chiếc thuyền đánh cá và tự hỏi không biết tài công có nghe được tiếng động cơ gầm rú của chiếc phi cơ trên đầu – việc đung đưa chiếc đèn lồng của y là để chào đón họ. Để tránh radar Đức, phi công bay thấp qua thung lũng về phía Hồ Store Saure. Rừng núi dưới ánh trăng sáng trong trẻo như ban ngày. Người điều hướng sẽ không gặp khó khăn gì khi tìm ra địa điểm thả dù vào đêm hoàn hảo này, ngày 23 tháng giêng.

Đội Gunnerside đã ở lại Gaynes Hall quá lâu đến nỗi các nhân viên ở đó nói đùa rằng họ có thể trở thành một phần của đồ nội thất. Nhưng đối với những người đàn ông thức dậy mỗi sáng không biết hôm nay có phải ngày đó hay không, trò đùa đã không còn buồn cười nữa.

Haukelid hầu như lúc nào cũng ở trong tình trạng bức rức. Mỗi sự chậm trễ đều đồng nghĩa với việc Poulsson và đồng đội anh  khổ sở. Họ sẽ hết khẩu phần ăn và sống sót bằng bất cứ thứ gì họ có thể săn được. Anh biết rõ những thử thách mà khu vực Vidda áp đặt lên những ai dám ở đó dù chỉ một ngày vào mùa đông. Trong khi bạn bè của anh đã ở đó hàng tháng trời.

Rønneberg đã tận dụng tốt thời gian. Với tư cách là một đội, họ đã không ngừng xem đi xem lại các bản vẽ và hình ảnh của Vemork, và đến tuần trăng tháng giêng họ như có thể tự mình phác thảo các bản vẽ kiến ​​trúc của nhà máy. Họ biết vị trí của mọi cửa sổ và đường hầm truy cập. Họ biết cửa mở theo hướng nào và chúng được làm bằng gỗ hay thép, đồng thời họ biết họ có thể leo lên đâu trong nhà máy mà không cần hỗ trợ hoặc thiết bị mở đường. Họ biết dây hàng rào nào được điện khí hóa, vị trí nào có tầm bắn tốt nhất mà nhóm yểm trợ nên bố trí trong khi đội phá hoại tiến hành tấn công. Bất cứ khi nào có một câu hỏi mới nảy sinh, một lá thư sẽ được gửi tới Tronstad.

Bây giờ, ngồi im lặng bên trong Halifax, sáu đặc công nhìn người điều phối để tìm dấu hiệu họ sắp đến nơi nhảy dù. Họ uống trà để giữ ấm. Hai giờ nữa trôi qua.

Máy bay chạy ngoằn ngoèo trên Vidda. Phi công đánh tin tới Rønneberg rằng anh ta chưa thấy bất kỳ tín hiệu nào từ nhóm tiếp tân của họ. Một đám mây thấp rải rác trên bầu trời và sương mù bao trùm các thung lũng. Chiếc Halifax quay trở lại bờ biển để cho phép hoa tiêu có được phương hướng mới; sau đó họ quay trở lại khu vực thả quân. Nhìn ra ngoài cửa sổ bên phải, Haukelid nhìn thấy Hồ Langesjå. Người điều phối ra lệnh chuẩn bị nhảy, cửa sập ở sàn thân máy bay mở ra. Cảnh báo sáu phút đã được đưa ra.

Nhưng theo sau không có tín hiệu để nhảy. Người điều phối không thể phát hiện ra địa điểm thả. Haukelid muốn đi bất chấp điều đó. Rønneberg cũng vậy. Vidda đi qua bên dưới họ. Họ thúc giục phi công rằng họ sẽ nhảy mù  và “đánh hơi tìm đường đến sàn nhảy”, nhưng anh ta không cho phép vì sợ rằng họ ở quá xa Hồ Store Saure. Gió thổi qua lỗ cửa sập, làm tê cóng các đặc công. Tuy nhiên Halifax vẫn tiếp tục đi vòng tròn.

Sau nửa đêm, họ được thông báo rằng máy bay sắp hết nhiên liệu và cần quay trở lại Anh. Cảm giác như có một cái hố đang mở ra trong trái tim mỗi người. Trở về, ngay khi sắp sửa được hành động trên vùng đất  quê hương… họ đơn giản là không thể chịu đựng được.

Đột nhiên, hỏa lực phòng không bùng nổ. Bầu trời xung quanh máy bay sáng lên với những gì trông như tia lửa. Halifax nghiêng mạnh từ trái sang phải, cố gắng tránh hỏa lực phòng không, ném đội Gunnerside lăn lộn trong thân máy bay. Máy bay bị trúng đạn vào một cánh và rung lắc dữ dội. Một trong những động cơ bốc cháy và sau đó ngừng hoạt động. Khi loạt đạn pháo tiếp tục bay tới, chiếc Halifax xoay tròn. Một động cơ khác đã chết.

Sau đó tất cả đều im lặng ngoại trừ tiếng ồn ào của hai động cơ còn lại. Họ đã thoát được. Tàu Halifax tiếp tục đi qua Biển Bắc, khập khiễng về nhà.

*

Đêm hôm đó, trên đỉnh đồi nhìn ra đầu phía bắc của Hồ Store Saure, Einar Skinnarland quay chiếc máy phát điện cầm tay mà anh đã lắp vào chiếc Eureka thay cho cục pin đã chết của họ. Cánh tay anh đau nhức, và anh kiệt sức sau khi trượt tuyết bảy mươi dặm trong ba ngày để lấy máy phát điện về đúng lúc. Một giờ trước, vầng trăng vàng vẫn còn hiện rõ trên bầu trời, họ nghe thấy tiếng máy bay bay ngang qua đầu. Poulsson và Kjelstrup đánh dấu hình chữ L bằng đèn pin trên mặt hồ, nhưng không có ai nhảy dù. Ngay sau đó, một làn sương mù lạnh giá bao phủ Vidda. Nếu máy bay quay trở lại, đèn hiệu vô tuyến giờ đây là cơ hội duy nhất để hoa tiêu tìm thấy họ và máy phát điện cầm tay là cách duy nhất để cung cấp năng lượng cho nó.

Trong khi Helberg dùng tai nghe, Skinnarland quay máy điện cầm tay. Đến 3 giờ sáng, sau nhiều giờ chờ đợi, cuối cùng toàn đội đã từ bỏ hy vọng Gunnerside sẽ đến. Lạnh cóng và kiệt sức, họ quay trở lại Fetter và gục xuống.

Trong vài ngày tiếp theo, những cơn bão đã che khuất mặt trời và thổi qua Vidda. Vào ngày 28 tháng 1, Haugland đã giải mã tin nhắn từ Tronstad mà họ biết sẽ đến: “Rất tiếc điều kiện thời tiết đã khiến đội không thể hạ cánh được. Hy vọng các bạn có thể cố gắng tiếp tục cho đến thời điểm ứng trực tiếp theo vào ngày 11 tháng 2. Hoàn nguyên về lịch trình thông thường [lịch trình vô tuyến]. Bảo trọng.”

Poulsson và người của anh biết phải làm gì: sống sót, duy trì liên lạc vô tuyến và thu thập thông tin tình báo mới nhất từ ​​Vemork. Những dòng nhật ký ngắn gọn của họ nói về công việc cực nhọc, đơn điệu liên tục và sự cô lập của một mùa đông tồi tệ hơn nhiều so với bất kỳ mùa đông nào họ từng trải qua trong đời. Từ Poulsson: “Ngày 29 tháng 1 Skinnarland và Kjelstrup đến Lie. Ngày 31 tháng 1 là sinh nhật của Helberg. Anh ấy đã ăn mừng bằng một chuyến đi sạc lại cục pin đã hết. Ngày 1 tháng 2, tối hôm qua thời tiết thật khủng khiếp. Ngày 3 tháng 2 – Helberg quay lại và mang theo một ít thức ăn. Ngày 6 tháng 2, thời tiết khủng khiếp.” Skinnarland chủ yếu ghi lại thời tiết hàng ngày và khoảng cách di chuyển. Anh ghi lại hành trình từ Fetter đến Hồ Møs đến Thiên đường Trên cao và quay lại, lặp đi lặp lại, thường mười dặm một ngày, mỗi ngày, luôn có gió thổi – biến thể duy nhất là nó thổi theo hướng nào.

Khi thời gian chờ tiếp theo sắp đến, những thành viên nhận thấy mình đã đến điểm tới hạn. – hoặc quá điểm tới hạn. Bây giờ họ đã có tuần lộc, nhưng có thể đang thiếu những chất dinh dưỡng khác. Cái lạnh, sự nỗ lực không ngừng, sự căng thẳng, tất cả đều gây ra hậu quả. Người này hay người khác trong số họ luôn bị ốm, dù là do đau dạ dày, sốt, căng cơ, phù nề hay kiệt sức. Một buổi sáng, rời khỏi Fetter, Skinnarland thấy mình gần như không thể cử động được đôi chân. Anh ta nằm yên tại chỗ trong hai ngày cho đến khi lấy lại được sức lực. Haugland, người thức dậy vào lúc nửa đêm để liên lạc với Trạm Chính, đã bị cúm nặng. Anh vẫn theo kịp lịch trình của mình, gõ những tin nhắn được mã hóa bằng dấu chấm và dấu gạch dưới ánh sáng mờ của ngọn nến trong khi cơ thể anh run lên vì sốt.

Vào ngày 11 tháng 2, một cơn gió tây nam băng giá thổi qua Fetter, sau đó là một trận bão tuyết khác khiến họ mắc kẹt trong cabin nhiều ngày. Có lúc suy nghĩ của họ trở nên đen tối. Không giống như những người lính ở mặt trận, những người mà lòng dũng cảm được thử thách ngay trong trận chiến, năm người đàn ông ở Fetter đang chiến đấu với sự tàn nhẫn của thời gian và Vidda vô diện, vô cảm. Có những lúc họ muốn đầu hàng. Chờ đợi đủ rồi. Đủ lạnh rồi. Đã đủ đói khát, căng thẳng, gió và tuyết rồi. Sự thoải mái của gia đình họ chỉ cách đó một ngày đường trượt tuyết. Họ có thể dễ dàng về nhà, ngủ trên giường cũ, ăn tại bàn với  bố mẹ.

“Mục đích của tất cả là gì?” Poulsson tự hỏi khi anh co ro với những người khác trong căn nhà gỗ tối và lạnh lẽo. “Sự đau khổ của chúng tôi ở đây trên núi có mục đích gì? Việc thực hiện công việc mà chúng tôi được lệnh phải thực hiện có mục đích gì? Liệu có cơ hội nào để nó có thể thành công và chúng tôi có thể sống sót thoát chết không?” Anh không dám nói ra tiếng về những nghi ngờ này. Điều này làm cho chúng không kém phần thực tế.

Các nơi ẩn náu của Gà Gô

Hồ Sand: 9 – 22 tháng 11, 1942

Thung lũng Grass: 23/11/1942 đến 19/12/1942

Fetter: 19/12/1942 đến 24/3/1943

Bình luận về bài viết này