PHÁO ĐÀI MÙA ĐÔNG- Sứ Mệnh Anh Hùng Ca Phá Hủy Bom Nguyên Tử của Hitler (Bài 6)

NEAL BASCOMB

Trần Quang Nghĩa dịch

PHẦN III

 11 Người hướng dẫn

POULSSON VÀ NGƯỜI CỦA anh  đã thu dọn đồ đạc của họ trong cabin ở Hồ Cát. Chỉ dẫn mới nhất của họ từ Trạm Chính là rút lui vào Vidda càng sớm càng tốt. “Đội đặc công đã giao chiến và bị tiêu diệt… Điều cực kỳ cần thiết là các anh phải bảo toàn sự an toàn của mình… Điều quan trọng không kém là chúng ta phải có thông tin sớm nhất có thể về việc gia tăng quân địch ở khu vực lân cận mục tiêu… Khuyên các anh hãy di chuyển bản thân và trạm của mình . .. Hãy giữ vững trái tim. Chúng ta sẽ làm công việc này lần nữa.”

Các báo cáo từ London về sự thất bại của hoạt động tàu lượn và cái chết của tất cả những đặc công đã tác động mạnh đến nhóm Gà Gô. Họ tự hỏi làm thế nào mà hoạt động lại diễn ra sai lầm như vậy. Họ đặt câu hỏi họ có thể làm gì khác để đưa máy bay vào bãi đáp. Họ có thể gửi báo cáo thời tiết chính xác hơn không? Việc bầu trời quang đãng trong hai đêm tiếp theo khiến thảm họa càng trở nên cay đắng hơn khi phải chấp nhận. Niềm an ủi duy nhất của họ là nhiệm vụ phá hoại Vemork vẫn chưa bị hủy bỏ. Theo một tin nhắn mật mã khác từ Tronstad, nỗ lực tiếp theo là của những thành viên trong đại đội riêng của mình. Nó được ấn định vào giữa tháng 12. Poulsson đảm bảo với Tronstad rằng nhóm của anh sẽ làm bất cứ điều gì có thể để hỗ trợ.

Hiện tại, bốn chàng biệt kích cần phải chạy trốn. Đêm 22/11, họ rời Hồ Cát. Từ Skinnarland, họ có một cục pin mới được sạc cho chiếc máy điện đài và chìa khóa cabin ở Vidda do Olav Skogen sở hữu. Họ đi vòng quanh quân Đức đóng tại Hồ Møs và lê bước hàng chục dặm về phía tây bắc tới Thung lũng Grass, đủ sâu và cao để tiến vào Vidda mà ít ai dám mạo hiểm đến đó vào mùa đông. Ngôi nhà xung quanh không có gì ngoài tuyết và một vài bụi cây bách xù xì đang cố gắng sống sót trên những ngọn đồi lộng gió. Bên trong, họ tìm thấy một số con tuần lộc muối trong thùng, nhưng ngoài ra nó cằn cỗi và lạnh lẽo như một tủ đá.

Ngày hôm sau, ba lô của họ trống rỗng, ngoại trừ những thứ cần thiết. Họ đi về hướng tây tới Thung lũng Songa, nơi họ đã nhảy dù lần đầu tiên sau hơn một tháng trước. Họ cần lấy lại thực phẩm và đồ dùng họ đã để lại trong kho. Trên đường đi, họ nghỉ qua đêm trong một kho thóc cỏ khô đổ nát. Tối hôm sau, họ đến bãi đáp và đào một hang tuyết để ngủ. Sáng 26/11 chào đón họ bằng màn sương mù mù mịt, họ phải tìm kiếm hàng giờ trong tuyết dày trước khi tìm thấy thùng chứa của mình. Các thực phẩm chỉ giới hạn một số bao cà phê, đường và bột mì nhưng họ rất cần chúng. Cơn đói và Vidda bão tố giờ đây là kẻ thù của họ.

Sau khi chia các đồ tiếp tế, Haugland và Helberg trượt về phía đông, quay trở lại Thung lũng Grass, hành lý của họ chứa gần hết những gì họ đã tìm thấy. Poulsson và Kjelstrup đi theo hướng ngược lại. Trở lại Scotland, Knut Haukelid đã cho họ biết tên một số người dân địa phương, bao gồm cả anh em họ của anh, những người sống quanh trang trại trên núi của gia đình. Họ sẽ giúp xây dựng các ổ kháng chiến ngầm trong khu vực.

Đêm đó, một trận bão tuyết ập đến.

Băng qua một hồ nước đóng băng trong xanh  đã bị bão tuyết thổi bay, Helberg và Haugland  bị tách rời nhau. Một mình trong cơn bão gào thét, chói mắt, mỗi người cố gắng tiến về phía trước trong bóng tối. Helberg, người có ván trượt viền thép, đã sang được bờ bên kia mà không gặp sự cố. Haugland không có được lợi thế tương tự. Anh bị đẩy qua hồ theo bất cứ hướng nào mà cơn gió dữ dội thổi đến. Trong một khoảnh khắc, không thể bám vào băng, anh thấy mình bị ném về phía một vùng nước rộng ở rìa hồ. Dùng gậy đâm vào băng để lái đi, anh tránh được trong đường tơ  cú lao xuống chắc chắn có thể giết chết anh..

Về phía tây, Poulsson và Kjelstrup cũng phải đối mặt với cơn bão nguy hiểm. Họ trượt xuống một mương rãnh nhưng mỗi lần cố gắng trèo ra phía đối diện, gió lại đẩy họ trở lại. Bị những cơn cuồng phong săn đuổi, họ buộc phải bò bằng đầu gối để tiếp tục di chuyển. Cuối cùng họ đi ngang qua một căn lều trong thung lũng. Nơi trú ẩn chật hẹp hầu như không vừa với hai người đàn ông, nhưng đó là nơi tránh gió. Họ tìm thấy một vai tuần lộc đã thối rữa một nửa trên tường. Đói, họ cắt từng dải thịt, kết hợp chúng với một mảnh pemmican và gọi đó là bữa tối. Đến sáng, họ đẩy cửa ra đủ xa thì phát hiện ra căn lều đã bị chôn vùi trong cơn bão. Trong căn lều phủ đầy tuyết, từng nắm tay, họ dọn đường và nhẹ nhàng mở cửa. Sau đó Poulsson lao vút đi trong một ngày tươi sáng và trong trẻo.

*

Vào ngày 24 tháng 11, khi trở lại Scotland, Joachim Rønneberg được gọi đến Drumintoul Lodge, trụ sở của Đại đội Linge tại STS 26. Trước vị  chỉ huy SOE người Anh của anh, Thiếu tá C. S. Hampton, chàng Trung úy trẻ tuổi đứng nghiêm, toàn bộ thân hình sáu bộ ba inch của mình. Với vầng trán dài, đôi mắt xanh xám hẹp và đường quai hàm góc cạnh của một ngôi sao màn bạc, Rønneberg tạo một sự hiện diện đầy ấn tượng.

“Cậu phải là người chỉ huy chiến dịch,” Hampton nói.

Rønneberg không chắc ý của vị chỉ huy của mình nói gì. Anh được giao một nhiệm vụ: Chiến dịch Fieldfare (Chim hét đầu xám). “Đó là gì?” anh hỏi, giọng nói khàn đặc của anh phản ánh tuổi tác của mình.

“Tôi không biết chút gì, nhưng cậu phải chọn năm người cho hoạt động.”

“Vâng, nhưng ôi Chúa,” Rønneberg nói, toàn các câu hỏi, “Tôi phải biết liệu chúng tôi sẽ hoạt động trên bờ biển hay trên núi. Chúng tôi sẽ đến đó bằng thuyền hay máy bay? Chúng tôi sẽ ở đó lâu không? Họ có cần phải là người trượt tuyết giỏi không?” ” Anh ấy biết rõ từng thành viên của Đại đội Linge và có rất nhiều người để lựa chọn, tùy theo điều kiện. “Ngài có thể cho tôi lời khuyên gì trong việc lựa chọn đồng đội không?”

Hampton lắc đầu. Tất cả những gì ông biết là một trong năm người phải là Knut Haukelid, sẽ là chỉ huy thứ hai của Rønneberg. Tại sao? Hampton không đưa ra câu trả lời. Một vài ngày sau đó, Rønneberg được triệu tập đến London, nơi anh hy vọng tìm được một số thành viên

Khi Martin Linge cử Rønneberg trở lại Công viên Stodham để hướng dẫn tân binh chỉ vài tuần sau khi anh hoàn thành khóa huấn luyện của mình, những người mới đến đã bị sốc khi một người quá trẻ, chưa có kinh nghiệm quân sự lại có vẻ “hiền lành như chim sơn ca” (như có người đã nói) lại là một người hướng dẫn. Sau đó họ làm quen với anh ta. Rønneberg là người thông minh, không mệt mỏi, có chiến lược, chuẩn bị kỹ lưỡng và chuyên nghiệp về mọi mặt.

Điều khiến anh nổi bật nhất là khả năng lãnh đạo bẩm sinh. Một người trong đại đội anh nói: “Anh ấy có một phẩm chất khiến anh nổi bật một mình mà không bị ghen tị, không tạo ra kẻ thù hay sự đố kỵ”. Anh ta không cần phải lấn áp, to tiếng hay nài nỉ. Anh ấy chỉ đơn giản là nỗ lực hết mình và truyền cảm hứng cho những người khác cũng làm như vậy. Wilson và Tronstad tin tưởng rằng anh chính là người đảm nhận công việc quan trọng nhất này.

“Nơi chúng tôi đến là đâu?” Rønneberg đã hỏi thẳng khi đến Khu Chiltern bằng chuyến tàu đêm. Anh ấy có thói quen nói với toàn bộ cơ thể, vai ngả về phía sau.

“Tới Vemork,” Tronstad nói. “Để cho nổ tung nhà máy ở đó.”

Rønneberg có nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện và lãnh đạo một đội gồm sáu người sẽ nhảy dù xuống Vidda. Họ sẽ gặp nhóm tiên phong, Gà Gô, tấn công cơ sở nước nặng ở Vemork, sau đó trốn thoát trên ván trượt đến Thụy Điển. Chiến dịch này có mật danh là Gunnerside, tên một cabin săn bắn thuộc sở hữu của chỉ huy  SOE.

Cả Wilson Tronstad lẫn Rønneberg đều không nói với Rønneberg tại sao quân Đức lại cần nước nặng, nhưng ngoài chi tiết đó họ không dè dặt, đặc biệt là về vụ các đặc công bị giết một cách máu lạnh trong Chiến dịch Freshman. Họ muốn anh ấy và nhóm của anh ấy sẵn sàng khởi hành trước ngày 17 tháng 12 để có thể đến Vemork vào đêm Giáng sinh. Bất kỳ yếu tố bất ngờ nào bây giờ đều khó xảy ra. Người Đức sẽ biết rằng nhà máy là mục tiêu và kỳ nghỉ lễ Giáng sinh có thể là cơ hội tốt nhất để họ hy vọng lực lượng phòng thủ sẽ suy giảm.

Đó là một lịch trình chặt chẽ: còn ba tuần nữa mới phát động

Rønneberg đã biết bốn người mà mình sẽ chọn cho nhiệm vụ. Anh đã hướng dẫn tất cả họ tại STS 26, và bây giờ anh đã đánh điện cho họ từ London, bảo họ hãy bắt đầu một khóa huấn luyện thâm sâu ở Cao nguyên.

Birger Strømsheim là lựa chọn đầu tiên và dễ dàng nhất của anh. Giống Rønneberg, anh ta đến từ Ålesund. Cùng với vợ Strømsheim đã trốn thoát đến nước Anh trên một chiếc thuyền đánh cá. Một nhà thầu xây dựng với khuôn mặt rộng, trung thực và mái tóc vàng uốn xoăn, anh ấy điềm đạm, trầm lặng, và, như trong tập tin báo cáo về anh trong SOE , “đáng tin cậy như một tảng đá.” Có thể sửa chữa hoặc thực hiện bất cứ điều gì, anh ấy cũng là một vận động viên trượt tuyết tốt và công nhân không mệt mỏi. Cả hai đã cùng nhau dành nhiều giờ ở Scotland để lên kế hoạch cho hoạt động hiện đang bị trì hoãn nhằm phá hoại các tuyến tiếp tế của Đức. Ở tuổi ba mươi mốt, anh ấy sẽ là ông nội của nhóm.

Tiếp theo là Fredrik Kayser, một người đàn ông gầy gò với vẻ ngoài tươm tất. Anh ấy đã được huấn luyện với Strømsheim tại Stodham Park, Meoble và trường dạy nhảy dù. Kayser lớn lên trong một gia đình coi trọng sự toàn diện. Vì vậy, anh ấy câu cá, chơi đàn mandolin, khiêu vũ, chèo thuyền, chơi bóng đá và tham gia hướng đạo – thấy mình đa nghệ nhưng không tinh nghệ nào. Hoạt động hướng đạo đã đưa anh vào quân đội, nơi anh phục vụ trong Đội cận vệ của Nhà vua. Sau đó, anh trở về quê hương Bergen để làm thư ký tại một nhà máy luyện sắt. Khi Nga xâm lược Phần Lan vào tháng 11 năm 1939, anh tình nguyện gia nhập đội quân Na Uy để giúp đẩy lùi quân xâm lược. Anh bị bắn, bị tê cóng, bị rìu xuyên qua chân khi đang chặt củi và vẫn tiếp tục chiến đấu. Ngày anh trở về từ cuộc chiến đó, Đức đã xâm chiếm đất nước của anh. Anh tiếp tục chiến đấu ở đó. Khi Na Uy đầu hàng, anh lên thuyền đánh cá vượt Biển Bắc đến Anh. Rønneberg biết rất ít người  chứng tỏ được mình là dễ thích nghi và vẫn vui vẻ trước áp lực.

Người thứ ba là Kasper Idland, một người đưa thư trước đây ở một thị trấn nhỏ ngoại ô Stavanger. Ở Anh, anh ấy đã được huấn luyện với Kayser và Strømsheim. Ngay từ khi còn là một cậu bé, Idland đã cao và to lớn hơn hầu hết mọi bạn đồng tuổi. Mẹ cậu cảnh báo cậu không được đánh nhau ở trường vì sợ cậu sẽ làm tổn thương ai đó. Được khích lệ bởi sự thụ động của cậu ấy, những đứa trẻ khác trêu chọc và hành hạ cậu không ngừng. Nghe lời mẹ, Idland không đánh trả. Sau một buổi chiều đặc biệt tồi tệ vì bị bắt nạt, cậu xin phép mẹ cho phép mình tự xử. Bà đồng ý. Ngày hôm sau, Idland thách thức hai tên có tội nặng nhất, đánh gục chúng. Cậu ấy không bao giờ bị làm phiền nữa. Là một người lính, Idland thông minh, bắn giỏi, cứng rắn và điều mà Rønneberg đánh giá cao nhất là lòng trung thành.

Lựa chọn thứ tư của anh là Hans “Gà” Storhaug, một thanh niên 27 tuổi, thấp, cổ bút chì. Mặc dù không phải là người suy nghĩ sâu sắc nhất, nhưng có rất ít người giỏi hơn anh trong việc đi rừng, săn bắn hoặc trượt tuyết. Hơn nữa, anh ta đến từ Hedemark, một quận giáp biên giới Thụy Điển mà cả nhóm sẽ phải băng qua khi trốn thoát. Một người hiểu rõ địa hình sẽ mang lại lợi thế cho họ.

Thành viên thứ năm trong nhóm của anh, Haukelid, là nguyên nhân gây lo ngại. Sự hỗ trợ của anh ấy sẽ rất quan trọng: anh ấy biết rõ khu vực này và rất thân với đội tiền phương. Nhưng một số người trong Đại đội Linge coi anh là kẻ cô độc, và Rønneberg lo lắng về việc liệu anh có phù hợp với vai trò chỉ huy thứ hai trong nhiệm vụ hay không.

Cả hai đều có chung lòng yêu nước sâu sắc và tính kiên cường đã thúc đẩy họ tới Anh để tham gia cuộc chiến chống lại quân Đức, một động thái mạo hiểm chỉ được một số ít người Na Uy thực hiện. Cả hai đều đã được Linge mời tham gia Đại đội Độc lập ưu tú. Nhưng ở nhiều khía cạnh khác, tuổi tác, tính khí và kinh nghiệm đã ngăn cách hai người. Không giống như Haukelid, người hơn mình tám tuổi, Rønneberg không phải là một kẻ nổi loạn. Anh ta không xù lông khi bị chỉ huy, cũng không tìm cách phá vỡ các quy tắc mọi lúc. Hơn nữa, Haukelid còn là một cựu chiến binh trong cuộc kháng chiến và trận chiến vì Na Uy. Với sự thiếu kinh nghiệm quân sự của mình, ngoài các cuộc tập trận thực địa ở Scotland, Rønneberg tự hỏi Haukelid sẽ thấy  thế nào nếu không  được làm người dẫn đầu sứ mệnh.

Bất chấp điều đó, Rønneberg không hề do dự khi quay trở lại STS 26. Anh tập hợp năm người đàn ông lại với nhau và nói, “Hiện giờ, tôi không biết rõ  cá nhân các bạn như thế nào, nhưng nếu có bất kỳ bất đồng nào giữa các bạn, thì hãy tạm gác nó sang một bên cho đến khi chúng ta xong việc, nếu không các bạn cứ bước  ra.” Tất cả đều ở lại chỗ cũ.

Năm người trong nhóm của Joachim Ronneberg (hàng trước,  bên phải)

Joachim Rønneberg

Knut Haukelid, chỉ hủy thứ hai của nhóm Gunnerside

Sau đó, anh phác thảo chiến dịch và mục đích của nó. Dù nước nặng này là gì thì điều quan trọng là SOE muốn thực hiện một nỗ lực khác nhằm vào mục tiêu vốn đã cướp đi rất nhiều sinh mạng. Họ phải hiểu rằng, nếu họ bị bắt, quân Đức sẽ không thương xót họ. Sau đó, Rønneberg kéo từng người một sang một bên để họ có cơ hội rút lui. Không có ai chấp nhận.

*

Trên một khoảng trống trong rừng cách Oslo sáu dặm về phía tây bắc là nơi tọa lạc Trại tập trung Grini. Tòa nhà gạch hình chữ nhật dài, năm tầng ở trung tâm, trước đây là nhà tù nữ, chật cứng hàng nghìn người Na Uy, hầu hết bị quân Đức bắt giữ vì tội phạm chính trị. Hai dãy hàng rào dây thép gai cao bao quanh khuôn viên, và lính gác mang súng máy theo dõi tù nhân từ nhiều tòa tháp.

Sĩ quan Gestapo, Wilhelm Esser, bước vào phòng giam của năm đặc công người Anh sống sót sau vụ tai nạn tàu lượn gần hai tuần trước đó. Cởi bỏ đồng phục, họ mặc quần dài xanh và áo len. Một người phải treo cánh tay. Một người khác bị bỏng nặng trên trán. Ngoài ra, Wallis Jackson, James Blackburn, John Walsh, Frank Bonner và William White đều có phong độ tốt. Sử dụng một thông dịch viên, Esser bắt đầu cuộc thẩm vấn của mình bằng một câu hỏi đơn giản: Mục đích nhiệm vụ của chúng bây là gì? Tất cả 5 tù binh đều từ chối trả lời. Sau đó, Esser trải ra một số bản đồ được tìm thấy tại địa điểm tàu lượn rơi, mục tiêu của họ được đánh dấu rõ ràng. Gã lại hỏi câu hỏi của mình.

Trong năm ngày năm đêm, gã thẩm vấn đặc công Anh, đôi khi cùng nhau, đôi khi riêng biệt. Gã hứa với họ rằng họ sẽ được đối xử như tù binh chiến tranh và được đưa đến trại ở Đức nếu họ kể cho gã tất cả những gì họ biết. Khi những lời hứa không đem lại kết quả, Esser sử dụng các phương pháp mà Gestapo đã hoàn thiện để khiến người ta phải khai ra. Và y như rằng họ đã khai ra hết.

Khi mọi việc hoàn tất, Esser gửi cho Fehlis bản báo cáo của mình, đồng thời các chi tiết về bằng chứng và thông tin thu thập được về hoạt động này đã được chuyển về Berlin. Những tên này là lính dù của Đặc công Hoàng gia. Một tháng trước, họ đã được tách khỏi đại đội ở Bulford và được huấn luyện để làm nổ tung Vemork. Kế hoạch của họ là đổ bộ cách mục tiêu vài dặm, và sau khi vượt qua cầu treo, đội dẫn đầu sẽ âm thầm tiêu diệt lính canh trên cầu bằng dao hoặc tấn công bằng tay. Một nhóm sẽ vô hiệu hóa máy phát điện của nhà máy, nhóm khác phá hoại nhà máy điện phân và nhóm thứ ba phá hủy bất kỳ “chất lỏng đặc biệt” nào. Tất cả điều này mất tám phút. Sau đó, theo tổ từ hai đến ba người, họ trốn sang Thụy Điển trong trang phục dân sự. Không có hợp tác nào với người Na Uy đã từng được dự kiến.

Fehlis không tin rằng người Na Uy không được tuyển dụng để hỗ trợ chiến dịch. Ông ra lệnh cho Gestapo tiến vào Rjukan và khu vực xung quanh, với sự hỗ trợ của hàng trăm binh sĩ Wehrmacht.

*

Hàng ngày tại cơ sở thử nghiệm Kummersdorf, một đội quân nhỏ gồm các nhà khoa học, kỹ sư, thợ lành nghề và người lao động, tất cả đều được miễn nghĩa vụ ở mặt trận, xuất trình giấy tờ tùy thân của họ cho lính gác ở cổng. Sau đó họ đi vào để làm công việc trong ngày của mình. Có năm nhóm tòa nhà cao thấp trong khu đất. Mỗi nơi đều có xưởng, phòng thí nghiệm, nhà kho và văn phòng riêng, chuyên thiết kế các loại vũ khí tương lai của quân đội. Những công trình kiến ​​​​trúc bằng gạch của Đức này, với  mái nghiêng trồng cỏ để che giấu chúng khỏi các cuộc không kích của quân Đồng minh, được nối với nhau bằng các hành lang chống vỡ. Để vận chuyển lực lượng lao động và vật liệu, một chiếc xe đẩy khổ hẹp chạy quanh chu vi của khu đất, đi qua các địa điểm thử nghiệm nơi các nhà khoa học thử nghiệm loại vũ khí mới nhất. Cơ sở có đội cứu hỏa, nguồn nước,  nhà máy điện và bệnh viện riêng.

Vào cuối mùa thu năm 1942, trong hai dãy nhà ở Kummersdorf, Kurt Diebner và nhóm các nhà vật lý và kỹ sư thực nghiệm trẻ được ông  tuyển chọn kỹ càng đã làm việc trên cỗ máy uranium đầu tiên của họ, thí nghiệm Gottow I (G-I), được lắp ráp bằng bất kỳ vật liệu phế thải nào họ có thể mua được. Bên trong một nồi hơi bằng nhôm hình trụ, đường kính 8 bộ và cao 8 bộ, họ xếp các tổ ong làm bằng sáp parafin xung quanh một tâm trống. Sau đó, nhóm nghiên cứu đổ oxit uranium vào từng tế bào của tổ ong, mặc trang phục nặng nề, khó thở để tự bảo vệ mình khỏi chất độc của uranium. Người tham gia cho biết công việc kéo dài hàng tuần này là “công việc cực nhọc khủng khiếp”.

Khi hoàn thành, tổ ong được tạo thành từ 19 chồng, với 6.902 tế bào oxit uranium, nặng gần 30 tấn (25 tấn uranium, 4,4 tấn parafin). Nhóm nghiên cứu mệt mỏi với khẩu phần ăn thời chiến đã nói đùa: “Giá như tất cả đều là mỡ lợn!” Cuối cùng, sẵn sàng để thử nghiệm thiết kế, họ hạ nồi hơi xuống một lớp nước, và Diebner bảo người của mình chèn nguồn neutron radium-beryllium vào trung tâm của tổ ong.

Kể từ cuộc gặp với Speer và các tướng lĩnh vào tháng 6, Diebner phần lớn đã làm việc bí mật để xem liệu thiết kế của ông có giá trị hơn những thiết kế khác trong Câu lạc bộ Uranium hay không. Vào đầu mùa hè, Heisenberg và đối tác nghiên cứu của ông, Robert Döpel, đã chứng minh sự gia tăng neutron lên 13% trong thí nghiệm thứ tư của họ, một cỗ máy có hai lớp hình cầu làm từ kim loại uranium dạng bột chìm trong nước nặng. Heisenberg khẳng định máy của họ tạo ra nhiều neutron hơn qua quá trình phân hạch hơn là bị hấp thụ.

Rồi, vào ngày 23 tháng 6, bong bóng nổi lên trên bề mặt của bể chứa nước nặng trong đó cỗ máy đã nhúng vào. Khi họ nhấc cỗ máy ra khỏi bể và kiểm tra nó, một ngọn lửa bắn ra qua một lỗ mở trong quả cầu bên ngoài. Họ ngay lập tức thả nó trở lại vào trong nước. Theo họ rõ ràng khí hydro đã rò rỉ ra khỏi cỗ máy. Trong khi Heisenberg và Döpel đang suy nghĩ xem phải làm gì, thì vỏ nhôm của cỗ máy phồng lên như một quả bóng bay. Họ nhanh chân chạy khỏi phòng thí nghiệm, vừa đúng lúc trước khi cỗ máy phát nổ. Những luồng lửa và bột uranium nóng đỏ bắn xuyên qua trần nhà. Sau đó đội cứu hỏa tới và hàng loạt lời phê phán chua cay về thành công của họ trong việc chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên.

Thảm họa không phủ nhận thành tựu thí nghiệm của họ. Tuy nhiên, Diebner cho rằng thiết kế của họ kém hơn thiết kế của ông vì các neutron chuyển động nhanh trong cỗ máy phân lớp của Heisenberg chỉ có thể thoát khỏi khối uranium vào một chất điều tiết ở hai chiều. Thiết kế khối lập phương của Diebner đã tạo ra neutron di chuyển qua nước nặng theo ba chiều, điều này làm tăng khả năng chúng sẽ bị chậm lại đến mức chúng sẽ phân tách các nguyên tử U-235 khác thay vì bị U-238 hấp thụ hoặc mất đi bên ngoài máy.

Gần cuối năm, sau nhiều tháng lao động, lý thuyết của ông đã được chứng minh là đúng khi nhóm của ông thử nghiệm thiết kế. Máy G-I của ông đã đánh bại tốc độ sản xuất neutron của những máy như Heisenberg đã chế tạo. Cho đến thời điểm này Diebner đã sử dụng những vật liệu rẻ tiền, dự phòng như uranium oxit và parafin. Bây giờ ông ấy đã yêu cầu Hội đồng Nghiên cứu Đế chế cung cấp kim loại uranium tinh khiết và nước nặng. Với những chất liệu này, ông hứa rằng mình sẽ tiến bộ nhanh chóng.

*

Vào ngày 2 tháng 12, với Diebner và bất kỳ nhà vật lý nào khác trong chương trình nguyên tử của Đức đều không hề hay biết, người Mỹ đã chế tạo ra lò phản ứng tự duy trì đầu tiên của mình. Trong một sân bóng quần tối đen như bồ hóng nằm bên dưới khán đài bóng đá của sân Stagg Field của Đại học Chicago, Enrico Fermi và nhóm của ông đã lắng nghe tiếng lạch cạch phát ra thật nhanh  của các máy đếm neutron khi chồng gạch than chì cao 20 bộ, nhiều viên bị khoét rỗng và chứa đầy uranium (kim loại và oxit uranium), cuối cùng đã trở nên tới hạn. Sau bốn phút rưỡi, lò phản ứng này tạo ra nửa watt năng lượng, cứ tăng dần mỗi giây. Fermi bình tĩnh gọi trợ lý của mình, “Cho vào đi!” để ngăn chặn sự nhân lên đều đặn của các nguyên tử đang phân hạch. Họ  hoàn trả hoàn toàn một số thanh cadmium vào lò, chúng hấp thụ các neutron bắn phá và đưa cỗ máy vào tầm kiểm soát trở lại. Như một nhà vật lý có mặt trong ngày trọng đại này đã nói: “Không có gì ngoạn mục đã xảy ra. Không có gì chuyển động, và bản thân lò phản ứng cũng không phát ra âm thanh nào… Nhưng chúng tôi biết rằng mình sắp giải phóng được một gã khổng lồ; Tuy nhiên, chúng tôi không thể thoát khỏi cảm giác kỳ lạ khi biết mình đã thực sự làm được điều đó. Tôi cho rằng, chúng tôi cảm thấy như bất cứ ai đều cảm thấy khi mình  biết sẽ gây ra những hậu quả khôn lường vượt mọi dự đoán.” Fermi và nhóm của ông đã ăn mừng bằng rượu Chianti đựng trong cốc giấy. Không còn là chuyện hư cấu nữa, Hoa Kỳ và các đồng minh đã tiến lên phía trước với lòng nhiệt thành lớn hơn đối với việc tạo ra vũ khí nguyên tử.

12

Bọn khốn nạn đó sẽ không bắt được chúng tôi

Vài phút trước bình minh ngày 3 tháng 12, còi báo động không kích vang lên khắp Rjukan. Người dân tỉnh dậy và thấy lính Đức đang diễu hành trên đường phố của họ. Gestapo và hàng trăm binh sĩ Wehrmacht đã đến trong đêm bằng xe máy và xe tải phong tỏa Thung lũng Vestjord. Giơ súng máy, chúng dậm chân đi từ tòa nhà này đến tòa nhà khác. Mọi góc phố và  cầu đều có lính gác. Mặc những chiếc áo khoác nặng nề, hơi thở lạnh giá trong không khí, họ trông chẳng có vẻ gì là vui vẻ khi ở đó. Chính quyền Đức ra lệnh tất cả cư dân đều phải ở trong nhà của mình, nếu không sẽ bị bắn.

Khắp thị trấn, cảnh tượng tương tự cứ lặp đi lặp lại. Một tiếng búa đập vào cửa. Hét lên lệnh mở cửa. Bọn lính, đôi khi do các sĩ quan Gestapo dẫn đầu, xông vào nhà, hỏi tên tất cả những người sống ở đó, lục lọi các phòng, tủ quần áo và rương, tìm kiếm các tài liệu trái phép như điện đài, súng, báo của lực lượng ngầm. Nếu Đức Quốc xã phát hiện ra bất kỳ hàng cấm nào, họ sẽ bắt giữ những người cư ngụ và đưa họ đi bằng xe tải. Thông thường, binh lính đập vỡ đồ đạc, đục lỗ trên tường và lấy trộm bất cứ thực phẩm nào họ tìm được.

Rolf Sørlie, một kỹ sư xây dựng 26 tuổi ở Vemork, thể hiện một con người vô tội khi họ đến nhà anh, bằng vốn tiếng Đức trôi chảy mà anh đã biết được khi học ở Leipzig. Là một thanh niên thấp, mảnh khảnh với mái tóc vàng, Sørlie sinh ra với một căn bệnh khiến các cơ ở tay và chân của anh bị co thắt liên tục. Cuộc phẫu thuật đã chữa lành được bàn chân bị vẹo của anh ấy, nhưng không chữa được bàn tay lúc nào cũng trong tư thế nửa nắm nửa mở. Tuy nhiên, anh chưa bao giờ để tình trạng khuyết tật ngăn cản mình rong ruổi  trên Vidda cùng với những người bạn Poulsson và Helberg.

Khi bọn lính tiến vào nhà anh, đi ngang qua em trai anh và người giúp việc, Sørlie cố gắng che giấu nỗi sợ hãi của mình. Anh không chỉ thân thiết với thủ lĩnh của lực lượng kháng chiến Milorg địa phương, Olav Skogen, mà còn có hai chiếc điện đài giấu trên gác mái. May mắn thay, bọn  lính chỉ lục soát ngôi nhà một cách sơ sài, hoặc vì lười biếng hoặc không nghi ngờ về chàng thanh niên Na Uy nói tiếng Đức dễ thương đến vậy. Họ rời đi mà không xảy ra sự cố gì.

Ở cuối phố, Ditlev Diseth, bạn của Sørlie, một người hưu trí 67 tuổi, trước đây từng làm việc cho Norsk Hydro và hiện đang sửa đồng hồ, không may mắn như vậy. Diseth cũng là thành viên trong chi bộ Milorg của Skogen, và Gestapo đã tìm thấy một chiếc radio và vũ khí trong nhà ông. Bọn Đức kéo ông đi cùng với 21 cư dân Rjukan khác, trong đó có một số thành viên của chi bộ Milorg. Tất cả đều bị thẩm vấn và, nếu được phép, sẽ được đưa đến Grini để tra khảo.

Hans và Elen Skinnarland tổ chức một bữa tiệc nhỏ vào ngày hôm đó để chúc mừng sinh nhật lần thứ ba mươi hai của con trai họ Olav. Einar, người đang làm việc tại đập Kalhovd, là thành viên duy nhất trong gia đình không có mặt khi Gestapo lao tới trên xe máy của họ. Họ bắt giữ Torstein vì nghĩ rằng anh ta là Skinnarland được đồn đại là có liên quan đến công tác kháng chiến. Không có thông tin gì về Einar, nhưng gia đình biết Gestapo cũng sẽ sớm đưa anh vào danh sách bắt giữ.

*

Vào ngày 8 tháng 12, Knut Haukelid đến Kingston House với một chiếc chân nai quàng qua vai. Anh không phải là thành viên Đại đội Linge đầu tiên mang đến cho Tronstad một phần từ con vật kém may mắn đã “lạc vào lửa bảo vệ” tại STS 26. Trong năm qua, cả hai đã gặp nhau vài lần trong các tiệc nhậu để nói về việc xây dựng  lực lượng kháng chiến Na Uy. Họ chia sẻ quan điểm rằng bây giờ là lúc để tiến lên chứ không phải là lúc rụt rè. Chiến dịch Gunnerside, Tronstad biết, đặc biệt tham vọng. Mặc dù Haukelid cảm thấy với kinh nghiệm sâu rộng của mình, anh phải là người chỉ huy sứ mệnh chứ không phải Rønneberg, nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh, và anh ta đủ mã thượng để nuốt chửng niềm tự hào của mình nếu điều đó có nghĩa là cuối cùng được quay trở lại Na Uy.

Tronstad nồng nhiệt chào đón anh và cảm ơn anh vì miếng thịt. Sau đó ông quay lại ghế và thò tay vào két sắt, lấy ra một tập tài liệu có đóng dấu TUYỆT MẬT. Ông cho Haukelid xem một số sơ đồ và bản vẽ của nhà máy Vemork. “Nước nặng rất nguy hiểm, cậu biết đấy,” ông bắt đầu. “Nó có thể được sử dụng vào một trong những thứ bẩn thỉu nhất mà con người có thể tạo ra, và nếu người Đức có được nó, chúng ta sẽ thua trong cuộc chiến và London sẽ bị nổ tung thành từng mảnh.”

Haukelid không chắc mình biết gì về khả năng của một loại vũ khí như vậy, nhưng anh ấy nói rõ rằng mình cam kết thực hiện sứ mệnh Gunnerside. Anh đã đến London để bàn về những gì xảy ra tiếp theo. Anh không có ý định rút đi đến Thụy Điển; đúng hơn, anh muốn tiếp tục với  sứ mệnh ban đầu của Gà Gô: thành lập căn cứ ở phía tây Telemark và tuyển mộ các nhóm du kích. Nếu Poulsson chọn ở lại, anh có thể chỉ huy miền đông Telemark. Các thành viên Gà Gô khác có thể được phân chia ra cho hai khu vực.

Tronstad không chắc chắn. Ông đã giúp khai triển kế hoạch trước đó, nhưng mọi thứ đã thay đổi. Quân Đức đã phát động một cuộc truy lùng rộng rãi sau Chiến dịch Freshman, người ta không thể tưởng tượng họ sẽ làm gì nếu nhà máy nước nặng thực sự bị nổ tung. Tronstad nói: “Họ sẽ làm tất cả những gì có thể để bắt được các cậu. Chúng tôi không thể mạo hiểm để người của mình hoạt động trên Vidda được.”

Lo sợ yêu cầu của mình có thể bị từ chối, Haukelid trở nên vô cùng bức xúc. “Chúng sẽ không tìm được bọn tôi. Bọn tôi đã quen với những ngọn núi. Bọn tôi có thể sống ở nơi hoang dã. Tôi sẽ không trở lại Anh. Tôi sẽ không bao giờ quay lại nữa dù chiến tranh có thể kéo dài bao lâu.” Cuối cùng, anh thề, “Bọn khốn nạn đó sẽ không bắt được chúng tôi!” Tronstad đồng ý suy nghĩ thêm về điều đó.

*

Kể từ khi Haugland thông báo cho Trạm Chính rằng Chim Én, tên mã mới mà SOE đặt cho Gà Gô, vì mục đích an ninh, họ đang tiến vào vùng núi sau thảm họa tàu lượn, nên không còn giao tiếp trên mạng vô tuyến nào nữa. Trong hơn hai tuần, Wilson và Tronstad lo sợ rằng bốn người này đã vướng vào rọ một cuộc bố ráp ở Rjukan. Từ những thông tin ít ỏi được báo cáo, quân Đức có mặt khắp nơi ở Telemark, lục soát các ngôi làng và dựng rào chắn. Terboven và Falkenhorst đã thể hiện rất tốt việc kiểm tra hệ thống phòng thủ của Vemork và tình trạng khẩn cấp hạn chế việc đi lại hơn nữa đã được ban bố. Rõ ràng là quân Đức đã biết được mục tiêu của chiến dịch tàu lượn, thông tin tình báo chắc chắn được trích xuất từ ​​các Đặc công Hoàng gia bị bắt.

Vào ngày 9 tháng 12, những người điều hành trạm tại Grendon Hall cuối cùng cũng nhận được thông tin liên lạc từ nhóm Chim Én. “Điều kiện làm việc của chúng tôi khó khăn”, tin nhắn bắt đầu. Sau đó là thông tin chi tiết về các cuộc bố ráp trượt tuyết của địch lục soát xung quanh  Hồ Møs và thiết lập trạm Gestapo D/F gần con đập để xác định vị trí của bất kỳ đài vô tuyến nào của kháng chiến hoạt động trong khu vực. Tin nhắn thứ hai báo cáo việc Torstein Skinnarland.bị bắt giữ. Ông chủ Trạm Chính đã chỉ thị cho điều hành viên của mình rằng mọi lưu lượng truy cập từ Chim Én đều thuộc “ưu tiên cao nhất có thể”, sẽ được chuyển đến Tronstad và Wilson tại Luân Đôn ngay lập tức.

Vài phút trước 10 giờ sáng ngày 10 tháng 12, điện thoại reo trong văn phòng của Olav Skogen tại nhà máy Norsk Hydro ở Rjukan. Đó là Gunnar Syverstad, gọi từ Vemork: “Bốn Gestapo đang trên đường đến Kalhovd.” Skogen biết điều này có nghĩa là gì: quân Đức, vốn đã phá hủy  mạng lưới kháng cự khắp khu vực trong tuần qua, cuối cùng đã áp sát Einar Skinnarland. Skogen.ngay lập tức gọi cho Văn phòng Norsk Hydro  ở Kalhovd. Anh ta được cho biết Skinnarland đã rời đi ngày hôm trước để thăm cha mẹ anh ấy ở hồ Møs. Skogen yêu người điều hành tổng đài gọi điện đến nhà  người giữ đập, nhưng đã được thông báo rằng điều này là không thể; người Đức đã đình chỉ đường dây đó. Skogen sợ Gestapo sẽ sớm lên đường đến nhà Skinnarland, nếu họ vẫn chưa ở đó. Bên trong nhà máy, Skogen đi tìm Øystein Jahren, người đưa tin chính của anh ấy và một người thân của gia đình Skinnarland, yêu cầu anh ta đi xe buýt tới hồ Møs để cảnh báo Einar. Nếu có ai hỏi tại sao anh ta lại ở đó, hãy nói là mình đi mua một ít cá cho một bữa ăn tối đặc biệt.

Jahren vội vã rời khỏi nhà máy và bắt kịp chuyến xe buýt ở kho hàng trước vài giây. Khi anh đến Hồ Møs, không thấy bóng người Đức nào cả. Anh gõ cửa nhà Skinnarland một cách khẩn trương. Elen ra trả lời. Jahren nói với bà rằng Gestapo đang trên đường tìm tới Einar. Bà ấy nói anh ấy không có ở nhà, nhưng bà sẽ cảnh báo với con trai. Nhiệm vụ của mình đã hoàn thành, Jahren rời đi, háo hức muốn ra khỏi nhà trước khi quân Đức ập đến.

Chiếc xe buýt đưa anh trở lại thị trấn chỉ đi được một quãng vài trăm thước thì bị lính Đức chặn lại. Một số sĩ quan Gestapo, vốn đang theo dõi ngôi nhà Skinnarland, đã lên xe buýt và bắt giữ Jahren.

Cùng lúc đó, Einar Skinnarland đang trượt tuyết qua ngọn đồi phía sau ngôi nhà của gia đình mình. Mẹ anh đã nói dối, anh thực sự đã ở nhà khi Jahren đến và sau đó tức tốc bỏ chạy ra cửa sau. Tăng tốc xuyên qua khu rừng, anh hướng đến một căn nhà gỗ hẻo lánh có tên là Thiên đường Trên cao, thuộc sở hữu của anh rể mình. Trừ khi quân Đức là tay vận động viên trượt tuyết cừ khôi và săn lùng lão luyện – và rất may mắn – chúng sẽ không bao giờ tìm thấy anh ở đó.

Khi đã an toàn ở Thiên đường Trên cao, anh thư giãn, còn run rẩy trước cuộc trốn thoát sít sao của mình. Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu sống cuộc sống hai mặt, bảy tháng trước, anh giờ là người bị truy nã. Tệ hơn nữa là việc bắt giữ anh trai Torstein, người đóng vai trò vỏ bọc cho anh. Skinnarland biết rằng mình cần thông báo cho London về tình hình an ninh được thắt chặt xung quanh Hồ Møs và Vemork. Anh cũng phải đưa ra quyết định: đi đến Thụy Điển, tiếp tục đến Anh hay ở lại Na Uy, trốn chui trốn nhủi. Ngày hôm sau, Helberg và Kjelstrup đến căn nhà gỗ sau khi biết được việc Skinnarland trốn thoát khỏi Đức Quốc xã trong gang tấc. Cả hai ở lại qua đêm và nói với Skinnarland về nhiệm vụ mới là phá hoại Vemork. Thế là Skinnarland đã đưa ra quyết định.

*

Vào chiều muộn ngày 11 tháng 12, sáu người của Gunnerside đã đến Sảnh Brickendonbury phủ đầy cây thường xuân. Còn một tuần nữa là đến ngày nhảy dù theo lịch trình, và trong lòng họ có một cảm giác bất an; chỉ vài tuần trước đây, các đặc công người Anh thiệt mạng trong Chiến dịch Freshman cũng đã được huấn luyện tại cùng trường này, bởi cùng những  hướng dẫn viên, cho cùng một mục tiêu. Việc nhà trường đã tạm dời đi các học viên khác vì tính bí mật của nhiệm vụ chỉ làm tăng thêm cảm giác có điềm gở. Chờ đón họ trên bậc thềm trang viên là George Rheam, người mới được thăng cấp trung tá.

Rheam mời họ đi uống nước và ăn tối hôm đó; sau đó viên phụ tá của ông dẫn sáu người lên phòng ký túc xá ở tầng hai. Trên mỗi giường có một túi đồ nghề với quần áo và dụng cụ họ cần cho việc huấn luyện, bao gồm một khẩu Colt .45 mới xuất xưởng với bao da thắt lưng đỏ. Từng người, cả sáu thành viên đều rút súng mới của mình ra và thử súng.

Rønneberg lên cò súng, nhưng khi anh bóp cò thì súng nổ. Tai anh ù đi và bụi thạch cao rơi quanh người, anh nhận ra rằng mình đã vô tình bắn nhầm khẩu súng đã nạp đạn mà anh mang theo đến Brickendonbury. Một người bảo vệ của trường lao vào ký túc xá, ngay sau đó là trợ lý của Rheam. “Chuyện quái quỷ đang diễn ra?” hắn hỏi. Tỉnh bơ, Rønneberg ngước lên, chỉ vào lỗ trên tường và nói: “Tôi thử vũ khí mới của mình và nó hoạt động hoàn hảo.” Viên  phụ tá lắc đầu và bước ra. Bọn Na Uy điên.

Đó là khoảnh khắc bất cẩn hiếm hoi của Rønneberg. Trong mười ngày kể từ khi được bổ nhiệm vào Gunnerside, anh đã rất tỉ mỉ trong việc chuẩn bị cho nhiệm vụ. Anh đã thu thập được một số bộ bản đồ miền nam Na Uy từ văn phòng tình báo của bộ chỉ huy cấp cao ở London. Một chiếc có tỷ lệ 1:250.000, được đóng đinh vào tường tại căn cứ ở Scotland và dùng để vạch ra lộ trình của đội. Những cái còn lại có tỷ lệ 1:100.000 được trao cho nhóm để mỗi người có thể ghi nhớ từng thung lũng và ngọn núi. Sau đó là vũ khí của họ. Với những trận giao tranh cận chiến mà họ mong đợi, súng tầm ngắn sẽ là loại súng quan trọng nhất. Họ đã thử loại súng tiểu liên Sten của Anh được thiết kế đơn giản nhưng nhận thấy chúng quá nặng và không đáng tin cậy, thường bắn từng loạt khi họ chỉ bắn một phát. Họ chọn khẩu súng tiểu liên Thompson (Tommy), loại súng nổi tiếng của bọn xã hội đen Mỹ. Trong vòng hàng trăm thước, chúng có thể bắn chính xác như súng trường, và vì họ sử dụng đạn cỡ nòng 45 thay vì 9mm của Sten nên họ có thể sử dụng cùng loại đạn cho súng lục Colt của mình. Rønneberg đã yêu cầu nhóm làm sạch súng Tommy một cách tỉ mỉ, lau khô và sơn màu trắng. Để thực hiện nhiệm vụ, anh cũng yêu cầu lựu đạn cầm tay, súng bắn tỉa, dao giết người, miếng đệm chloroform để hạ gục lính canh và rất nhiều băng đạn dự phòng.

Trong khi đội của anh huấn luyện và thực hành bắn súng, Rønneberg đã thu thập những thiết bị họ cần để chịu đựng mùa đông Vidda khắc nghiệt. Khi có thứ gì đó không đáp ứng được các thông số kỹ thuật chính xác theo ý mình, anh sẽ thiết kế lại hoặc thay đổi nó. Anh chọn những chiếc ván trượt bằng gỗ tốt nhất, dán chúng bằng nhựa thông tươi rồi sơn màu trắng. Để cải tiến thiết kế của những chiếc ba lô khung thép, anh đã bổ sung thêm các túi ga, phần trên có dây rút, dây đeo vai cực dài và lớp phủ màu trắng. Anh tìm thấy quần lót lót lông thỏ, quần len và bộ quần áo trượt tuyết rằn ri màu trắng. Anh đã yêu cầu những người quản lý thay lớp lót da trên mũ trượt tuyết có chóp của họ bằng vải kaki, loại vải ấm hơn. Một thợ đóng giày ở East Midlands đã gấp rút hoàn thành đơn đặt hàng những đôi bốt da chắc chắn, không thấm nước.

Về khẩu phần ăn, Rønneberg đã đi đến Giáo sư Leiv Kreyberg. Làm việc với các chuyên gia dinh dưỡng tại Đại học Cambridge, vị giáo sư Na Uy đã đi tiên phong trong phương pháp nén thực phẩm khử nước thành khối để làm khẩu phần chiến đấu. Các bữa ăn nhẹ nhàng và chỉ phải thêm nước khi ăn, sử dụng những loại khẩu phần này có nghĩa là họ sẽ chỉ phải mang theo một cái cốc và một cái thìa.

Cho dù họ sẽ đi trốn bao xa từ Vemork đến Thụy Điển, mỗi ao-xơ đều quan trọng. Rønneberg cũng đã nhờ đội Gunnerside của mình đóng hai chiếc xe trượt tuyết để giảm thiểu những gì họ phải mang trên lưng.

Để tìm kiếm những chiếc túi ngủ phù hợp với nhiệm vụ, anh đã đến một nhà sản xuất chăn ga gối đệm ở London gần Quảng trường Trafalgar. Người chủ đã đưa anh đến xưởng của họ ở Docklands. Ở đó, anh phác thảo những gì mình cần: về cơ bản là hai chiếc túi được dệt thành một, bên ngoài là lớp vỏ chống thấm nước, bên trong chứa đầy lông tơ và đủ rộng để ngủ trong khi vẫn mặc quần áo đầy đủ, có chỗ cho thiết bị của họ. Anh cũng muốn có một chiếc mũ trùm đầu có dây rút có thể che kín gần như hoàn toàn, chỉ để hở một khe nhỏ để thở. Người đứng đầu xưởng xem xét thiết kế của anh và nhận ra sự cấp bách của vị thiếu úy nên nói: “Chà, chiều mai anh quay lại và xem tôi đã làm được gì.” Ngày hôm sau, Rønneberg chui vào nguyên mẫu đầu tiên. Nó rất hoàn hảo, ngoại trừ một số đường may được khâu hưởng về phía dưới nên nước có thể thấm vào. Anh thay đổi thiết kế rồi ra đặt sáu chiếc túi càng sớm càng tốt.

Vào thời điểm Rønneberg và người của mình đến Brickendonbury Hall, họ đã biết rành rọt tất cả các tuyến đường có thể đến và đi từ Vemork, và hầu hết các thiết bị của họ đã sẵn sàng để đóng gói và chuyển đi.

Bây giờ họ có thể tập trung vào chiến dịch. Rheam đã dạy cho hàng trăm đặc vụ SOE mọi điều cần biết về việc vô hiệu hóa cỗ máy chiến tranh của Đức bằng cách nhắm vào các đường dây liên lạc, đường sắt và nhà máy của họ. Một người hướng dẫn cho biết: “Bảy người được đào tạo bài bản có thể làm tê liệt một thành phố”. Rheam muốn học viên của mình có thể đi bộ vào một nhà máy và, trong phút chốc, xác định máy móc nào nào cần vô hiệu hóa. Một cái búa tạ giáng đúng chỗ có thể làm nên chuyện hoặc một nắm cát bỏ vào máy. Nhưng  hầu hết thường dùng chất nổ. Chất Nobel 808, một chất nổ màu rỉ sét đó có mùi như hạnh nhân, là lựa chọn đầu tiên của Rheam. Mềm mại và dễ uốn nắn, 808  có thể được cắt, tạo hình, kéo dài, ném vào tường, và thậm chí bị bắn vào mà vẫn không nổ tung. Nhưng làm nổ một lượng thuốc nổ nhỏ (về cơ bản là một ngòi nổ) được chôn bên trong nó – cho dù dưới nước  – và…bùm

Đội Gunnerside, trước hết là Rønneberg, đã được huấn luyện bài bản về kỹ thuật phá hoại và sử dụng chất nổ. Khi Rheam đã hài lòng với điều này, thông qua một số bài tập thử nghiệm, anh bắt đầu hướng dẫn họ cách làm nổ tung cơ sở nước nặng ở Vemork. Sử dụng cùng một mô hình bằng gỗ mà các đặc công Freshman  đã được huấn luyện, Rheam chỉ ra vị trí trên đế của mỗi tế bào có nồng độ cao mà họ nên đặt thuốc nổ.

Cơ sở có hai dãy gồm chín tế bào có nồng độ cao. Đội cần đặt một loạt chín cục thuốc nổ nặng nửa cân được nối với nhau bằng dây nổ trên mỗi hàng. Sợi dây này sau đó sẽ được gắn với bộ kich nổ gồm các cầu chì kéo dài hai phút để họ có thời gian chạy khỏi căn phòng trước khi vụ nổ xảy ra. Mục đích không chỉ là phá hủy máy móc mà còn chọc thủng các tế bào và xả  chất quý giá bên trong chúng. Làm việc với đất nặn dành cho trẻ em, nhóm được huấn luyện theo từng cặp để lắp đặt chất nổ nhanh chóng và hiệu quả nhất có thể. Họ lặp đi lặp lại các thao tác nhiều lần đến mức họ gần như có thể thực hiện chúng trong bóng tối. Hầu như mỗi ngày, Tronstad đều đến trường để giải đáp mọi thắc mắc, mang theo các bản vẽ và bản thiết kế của nhà máy cũng như những bức ảnh chụp từ trên không của khu vực xung quanh. Bất cứ khi nào một câu hỏi được hỏi mà ông ấy không có câu trả lời, cho dù đó là về cách bố trí, cửa ra vào, lính canh hay tuần tra, ông ấy sẽ rời khỏi phòng và quay lại ngay sau đó với câu trả lời mà họ cần. Đang ẩn náu tại Brickendonbury là Jomar Brun, nguồn cung cấp thông tin. Ông ấy vẫn ẩn danh với đội

Khi thông tin tình báo mới nhất từ Chim Sẻ trình bày chi tiết về số lượng lính canh nhiều hơn ở Vemork cũng như các đèn rọi mới và tổ súng máy trên nóc một tòa nhà, nhóm đã xem xét lại các phương pháp tiếp cận mục tiêu tiềm năng.

Họ có thể băng qua cây cầu treo, đi xuống từ các đường ống áp lực hoặc leo lên từ hẻm núi đến tuyến đường sắt bên vách đá nối nhà máy với Rjukan. Kế hoạch cho từng nơi đã được thảo ra, nhưng họ quyết định hoãn lại quyết định cuối cùng cho đến khi có thể trinh sát lại địa điểm.

Một điểm họ nhận thức ra là sáu người là không đủ cho hoạt động này. Họ sẽ cần một nhóm yểm trợ để cho đội phá hủy có thời gian và sự an toàn để thực hiện cuộc tấn công. Chim Én có thể đảm nhận vai trò này.

Khi không tập luyện kỹ thuật phá hoại, những thành viên giữ gìn sức khỏe, tập thể dục quanh khu đất rộng rãi. Một ngày nọ, họ mượn một nhà tù địa phương một tên trộm lành nghề đang nằm ấp để hướng dẫn họ cách đột nhập vào những cánh cổng có khóa. Một buổi sáng, họ đến ăn sáng thì thấy một nhân vật trông giống một nhà sư đang ngồi tại một  chiếc bàn. Ông ta là cựu Thiếu tá Eric Sykes, nguyên Cảnh sát Thượng Hải, hiện là một trong những người hướng dẫn vũ khí hàng đầu của Quân đội Anh. Ông ta hỏi Rønneberg liệu người của anh có muốn cho ông thấy họ có thể làm gì không. Sáu người đưa ông ta ra trường bắn, nơi những hình nộm bật lên xuất hiện ở những cánh cửa mở, phía sau cửa sổ và khắp các con hẻm. Khi họ nhắm vào lỗ ngắm trên súng lục và súng Tommy, Sykes đã ngăn họ lại. “Điều đó đã thất bại ngay từ đầu,” ông nói. Ông ta thúc giục họ bắn từ hông, như họ đã được dạy ở Stodham.

Rønneberg đảm bảo với ông rằng họ biết điều gì tốt nhất nên làm. Sykes vẫy họ vào sân. Bắn hơn hai trăm lần, Haukelid bắn trúng gần như 100% mục tiêu, những thành viên khác theo sau cũng vậy. Sykes chết lặng, và rõ ràng là ông không thể dạy họ được điều gì.

*

Claus Helberg lục lọi trong tủ bếp tối tăm, khao khát tìm kiếm thức ăn. Anh ta đã đến căn nhà gỗ của Ditlev Diseth bên cạnh Hồ Langesjå vài ngày trước và tìm thấy một ít cá, nhưng anh ta hy vọng mình có thể đã bỏ sót một ít bột mì hoặc bột yến mạch. Không có gì. Rồi anh nghe thấy những giọng nói. Ván trượt và ủng của anh ở ngoài cửa; không có gì che giấu sự hiện diện của mình. Anh rút khẩu súng lục ra và chờ đợi. Có tiếng gõ cửa. “Ai đó?” Anh hỏi gay gắt.

“Skogen.”

“Olav? Có phải bạn không?” Helberg hỏi.

“Vâng, là tôi.”

Helberg giật mạnh cửa, khẩu súng vẫn còn trong tay. Bên ngoài cabin có ba người đàn ông, mỗi người đều mang theo một khẩu súng săn. Khi bầu trời tối dần, thật khó để nhìn ra họ là ai.

“Là tôi đây, Claus,” Skogen nói. “Anh hãy cất súng đi.”Helberg bước ra ngoài và bắt đầu hạ súng xuống khi một người đàn ông khác đang đến gần. Skogen giứ anh ta lại. “Đợi cho đến khi súng cất đi, kẻo anh ăn kẹo đồng đấy.” Sau đó Helberg nhận ra người bạn tuổi thơ của mình. “Chà, không phải là Rolf Sørlie đó chứ!” Hai người ôm nhau, sau đó Skogen giới thiệu người đàn ông thứ ba: Finn Paus, một thành viên của Milorg. Bởi vì Diseth đã bị bắt trong vụ bố ráp Rjukan, Skogen, Sørlie và Paus đã đến cabin của anh ấy để giấu hàng lậu đang được giữ ở đó. Họ cũng đã có kế hoạch săn tuần lộc.

Bốn người đàn ông bước ra khỏi cái lạnh và những người mới đến chia sẻ bánh mì và bơ với Helberg. Anh hỏi thăm gia đình mình ở Rjukan, và Sørlie nói với anh rằng họ vẫn an toàn. Họ thông báo cho anh về cuộc đột kích của quân Đức và hàng loạt vụ bắt giữ. Rõ ràng, Gestapo không nhắm vào người dân một cách ngẫu nhiên. Helberg nói rất ít về lý do tại sao anh lại ở trên núi. Skogen đã biết quá nhiều, và Chim Én không thể mạo hiểm mở rộng phạm vi.

Sáng hôm sau, họ chôn số vũ khí mà Diseth giấu trong cabin của anh ta. Sørlie đưa cho Helberg khẩu súng trường bắn tia Krag- Jørgensen của anh ấy và một số đạn dược. Vì đội của anh ấy chỉ mang súng lục và súng máy từ Anh nên họ rất cần một khẩu súng săn như vậy. Helberg nói lời tạm biệt và nói với Sørlie, “Bạn sẽ sớm nhận được tin tức từ tôi.” Sau đó, anh trượt trở lại Thung lũng Grass  để gia nhập lại đội của mình.

Mỗi người trong số bốn thành viên của Chim Én đều may mắn trốn thoát trong cuộc bố ráp.  Haugland đang ở trong rừng để tìm kiếm nguồn cung cấp thì một đội tuần tra chỉ cách anh ta vài thước. Poulsson và Kjelstrup tránh được sít sao một số tên Đức khi họ quay trở lại Thung lũng Grass từ vùng núi phía tây. Và Helberg, đi đến gặp Einar Skinnarland tại nhà anh ta ở con đập, gần như đã đến cùng lúc với nhóm Gestapo vào ngày họ bắt giữ Øystein Jahren.

Nhưng khi nói đến đồ ăn, vận may của họ đã hết. Họ đã dùng hết nguồn cung cấp pemmican quý giá từ lâu rồi. Một chút gì đó họ thu hồi được từ Thung lũng Songa đã không còn nữa. Haugland đã tìm được một khẩu súng ngắn và đã giết được vài con gà gô, nhưng họ đã chén sạch cả xương trong vòng một ngày. Helberg đã đến Hồ Langesjå để tìm tuần lộc nhưng không thấy đàn nào cả. Anh đang tìm kiếm các cabin trong khu vực để tìm cá hoặc thịt thì gặp đội Milorg.

Bốn người liên tục bị đói và phải đào tuyết để tìm rêu màu rỉ sét mà tuần lộc hay ăn. “Nó chứa đầy vitamin và khoáng chất,” Poulsson cam đoan với đồng đội, những người chỉ quen với việc sử dụng rêu để lót nằm khi đi cắm trại. Tuy nhiên, họ đun sôi nó trong nước với một nắm bột yến mạch. Nó tạo thành một món súp đắng.

Khi Helberg quay lại căn nhà gỗ ở Thung lũng Grass, Poulsson báo tin vui từ London: Họ sẽ “tham gia tích cực” vào chiến dịch mới chống lại Vemork. Có nhiều việc phải làm trước khi thời gian trực chiến bắt đầu vào ngày 18 tháng 12, trong thời gian sáu ngày. Họ phải đảm bảo một số thực phẩm, tìm kiếm thông tin tình báo mới nhất về an ninh tại Vemork, lấy lại thiết bị Eureka bị bỏ lại ở Hồ Cát và sạc lại pin điện đài của họ. Sau đó họ cần phải rời đi để đến nơi ẩn náu mới cách Vemork hai mươi dặm về phía tây bắc, ở tận Vidda, nơi Gunnerside sẽ được thả xuống.

Bất hạnh luôn rình rập họ. Bọn Đức tuần tra đã làm trì hoãn việc lấy lại thiết bị Eureka. Helberg gặp bão khi đang quay trở lại với một cục pin mới được sạc. Cố gắng tiếp tục với cục pin nặng 30 cân trong ba lô, cuối cùng anh phải bỏ nó lại trong rừng để lấy vào ngày hôm sau. Họ không tìm thấy bất kỳ con tuần lộc nào và một số thịt muối họ tìm thấy trong một căn nhà gỗ bên hồ Møs hóa ra đã bị thối.

Tất cả họ đều trở nên quá ốm yếu đến mức không thể hạn chế chút thức ăn họ để dành. Helberg và Kjelstrup có tình trạng đặc biệt tồi tệ, tình trạng suy dinh dưỡng của họ gây ra phù nề. Họ sưng tấy đến mức không thể cài được cổ áo sơ mi và phải đi tiểu sáu lần một đêm. Họ vẫn ra ngoài hàng ngày để chuẩn bị cho chiến dịch mới. Skinnarland cung cấp cho họ lượng thức ăn ít ỏi mà anh ta có thể dự trữ được, cũng như sạc lại pin và thông tin tình báo về hệ thống phòng thủ mới tại Vemork.

Vào ngày 17 tháng 12, Haugland nhận được tín hiệu từ Trạm Chính rằng Gunnerside đã chuẩn bị lên đường vào đêm trời trong tiếp theo. Đã đến lúc phải tiến về phía bắc, mặc dù lượng điện trên pin Eureka đang giảm dần. Đói, bệnh tật và thời gian đang chống lại họ, họ nhanh chóng tiến sâu hơn vào Vidda.

*

Tại Brickendonbury Hall, đội Gunnerside đã sẵn sàng lên đường đến Gaynes Hall bên ngoài Cambridge để chờ đến Na Uy. Họ đã kết thúc khóa học và nhận được lời khen ngợi cao, mặc dù khá kiềm chế của Rheam: “Nếu điều kiện cho phép, họ có mọi cơ hội để thực hiện thành công Chiến dịch.” Tronstad đến thăm lần cuối để tổng kết nhiệm vụ và chia tay những thành viên. Đó là một khoảnh khắc trang trọng. Mỗi đặc công phá hoại đã được cấp một viên xyanua; mỗi người đều biết rằng cơ hội đánh trúng mục tiêu và trốn thoát thành công, trong trường hợp tốt nhất, là ngang nhau. Tronstad còn nhắc nhở họ về vụ hành quyết các đặc công Freshman và cảnh báo họ có thể sẽ bị đối xử tương tự hoặc tệ hơn nếu bị bắt sống.

Sau đó ông kết luận: “Vì lợi ích của những người đã đi trước và đã ngã xuống, tôi kêu gọi các bạn hãy cố gắng hết sức để chiến dịch thành công. Bây giờ bạn không biết chính xác tại sao nó lại quan trọng như vậy, nhưng hãy tin tưởng rằng hành động của bạn sẽ tồn tại trong lịch sử hàng trăm năm tới. Hãy làm gương cho những người sau này tham gia vào việc giành lại đất nước chúng ta và từ đó đánh bại nước Đức. Những gì bạn hành động là hành động vì  Đồng minh và cho Na Uy.” Sau đó là một khoảng dừng khó xử. Một số người trong nhóm cảm thấy Tronstad đang nhìn họ như thể họ sẽ không bao giờ quay lại.

“Anh sẽ không loại bỏ chúng tôi dễ dàng như vậy đâu,” Rønneberg nói:

Bình luận về bài viết này