
SERHII PLOKHY
Trần Quang Nghĩa dịch
Tưởng nhớ tất cả những người đã chết để bảo vệ tự do, tự do của họ và tự do của chúng ta
LỜI NÓI ĐẦU
Làm thế nào để hiểu chiến tranh




Sự khởi đầu cuộc xâm lược của Nga đã đưa tôi đến Vienna, thủ đô của đế chế cũ mà hành động của nó đã gây ra Thế chiến thứ nhất và thành phố mà việc Đức Quốc xã tiếp quản như một phần của Anschluss của Áo vào năm 1938 đã dẫn đến sự bùng nổ của Thế chiến thứ hai. Một cuộc chiến tranh mới đang diễn ra khi người dân Vienna đi ngủ vào buổi tối ngày 23 tháng 2 năm 2022. Sau khi xem tin tức đáng lo ngại trên CNN, tôi hy vọng có kết quả tốt hơn, nhưng linh cảm việc rắc rối đã ở đó. Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ, khoảng 6:00 sáng. Tôi với tay lấy điện thoại để kiểm tra tin tức nhưng thay vào đó lại vào email của mình.
Tim tôi chùng xuống khi đọc dòng tiêu đề của một email: “Trời ơi.” Tin nhắn đến từ một đồng nghiệp tại Harvard, người mà tôi đã thảo luận về khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh mới kể từ tháng 10, khi anh ấy lần đầu tiên cảnh báo tôi về khả năng xảy ra một cuộc xung đột lớn. Quân đội Nga đã tập trung gần biên giới Ukraine, và phương tiện truyền thông Mỹ đã bắt đầu đưa tin về họ gần như theo thời gian thực. Tôi hy vọng việc chuyển quân chỉ là một phần trong mưu tính tống tiền của Nga. Đồng nghiệp của tôi tin rằng điều đó có thể là sự thật. Bây giờ, thậm chí trước khi mở email, tôi đã biết rằng điều đó đã xảy ra – cuộc xâm lược mà anh ấy đã cảnh báo. Tôi mở email. Những dòng kết luận có nội dung: “Sẽ chẳng có điều gì tốt đẹp xảy ra. Mỗi ngày lại đưa ra một thông điệp khác nhau. Tối nay, tình báo Hoa Kỳ dự đoán sẽ có một cuộc tấn công chớp nhoáng, nhưng hãy cùng chờ xem vào ngày mai. Tôi hy vọng bạn ổn ở Vienna.”
Tôi không ổn. Có điều gì đó đã bắt đầu, nhưng tôi không biết đó là gì. Tôi đoán là Putin và người Nga đã xâm lược miền đông Ukraine, chiến trường của năm 2014-15. Với những suy nghĩ đó, tôi mở một email khác. Dòng tiêu đề của nó trống, nhưng nó đến từ một đồng nghiệp ở Dnipro, nơi ở rất xa phía sau tiền tuyến của cuộc chiến 2014-15. Email nói rõ rằng sẽ không có lãnh thổ nào nằm sau chiến tuyến trong cuộc chiến này. “Tôi đang thu dọn đồ đạc để rời khỏi Dnipro; có lẽ tôi sẽ gửi ‘những trang bản thảo’ của mình đến địa chỉ email của bạn, vì tôi không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, và máy tính của tôi có thể bị mất ở đâu đó trong những sự kiện này”, đồng nghiệp của tôi viết, đồng thời nói thêm: “Chúng tôi rất hiểu số phận của các bản thảo trong thời chiến”. Tôi đã gửi một phản hồi tích cực và cảm ơn anh ấy đã tin tưởng giao cho tôi công việc còn dang dở.
Chỉ đến lúc đó tôi mới kiểm tra tin tức: một cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine đã bắt đầu, với các thành phố từ Kyiv đến Dnipro đến Zaporizhia quê hương tôi bị tên lửa Nga tấn công. Thật không thể tin được. Tôi gọi cho chị gái tôi ở Zaporizhia. Chị ấy đã tỉnh giấc Người ta nghe thấy tiếng nổ ở một khu vực của thành phố, may mắn là cách xa khu phố nơi cô ấy sống trong nhà bố mẹ chúng tôi. Cô ấy rất bình tĩnh. Đêm trước tôi đã gọi điện và khuyên cô ấy mua đủ xăng cho xe của mình. Cô ấy không nghe lời tôi, tin rằng, giống như hầu hết mọi người ở Ukraine, một cuộc chiến tranh quy mô lớn là điều không thể. Bây giờ chiến tranh đã bắt đầu, và không ai trong chúng tôi sẵn sàng cho nó. Chúng tôi sẽ phải sống từng ngày một. Tôi sẽ gọi điện cho cô ấy hai lần mỗi ngày, sáng và tối. Luôn luôn là những câu hỏi giống nhau: Đêm qua thế nào? Tình hình hôm nay của chị thế nào? Ý nghĩa của lời “chúc ngủ ngon” và “ngày tốt lành” đột nhiên thay đổi. Bất kỳ ngày hay đêm nào có còi báo động nhưng không có cuộc tấn công bằng tên lửa hoặc bom thì tốt.
Vào buổi sáng đầu tiên đó, tôi mặc chiếc áo sơ mi trắng và chiếc áo khoác. Vì tôi sẽ đến kho lưu trữ của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, nơi tôi đang nghiên cứu lịch sử quốc tế của thảm họa hạt nhân Chernobyl năm 1986, nên việc lựa chọn trang phục là bất thường, nếu không muốn nói là hoàn toàn kỳ lạ. Nhưng tôi cố tình mặc quá nhiều quần áo để thể hiện qua vẻ ngoài của mình rằng tôi đã chuẩn bị và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ của mình, bất kể chúng có thể là gì trong điều kiện thời chiến, bất kể tin tức từ tiền tuyến. Nguồn cảm hứng của tôi là nhật ký của George F. Kennan, nhà ngoại giao nổi tiếng người Mỹ và chuyên gia quan hệ quốc tế. Khi thức dậy với tin tức về cuộc tấn công của Hitler vào Tiệp Khắc vào tháng 3 năm 1939, ông đã cạo râu một cách tỉ mỉ để không tạo ấn tượng về một “vẻ ngoài vội vã”. Ông quyết tâm thực hiện chức năng của mình như một nhà ngoại giao, bất kể điều gì xảy ra.
Tại kho lưu trữ, mọi người nhìn tôi với vẻ thông cảm rõ ràng. “Tôi lấy làm tiếc về những gì đang xảy ra với đất nước của anh”, một trong những người thủ thư nói với tôi. Những lời nói đó ngụ ý rằng sự kết thúc đã gần kề: đất nước sẽ được tiếp quản, nếu không phải hôm nay thì là ngày mai. Có phải tôi đã chưng diện cho đám tang của nó? Tôi hy vọng là không nhưng không biết những gì sẽ đến Vào chiều hôm đó, một nhiếp ảnh gia từ tờ Neue Zürcher Zeitung đã đến văn phòng của tôi tại Viện Vienna für die Wissenschaften vom Menschen để chụp ảnh tôi cho một cuộc phỏng vấn được thực hiện vài ngày trước đó. Hình ảnh xuất hiện trên báo cho thấy tôi đầu bù tóc rối, tóc tôi bị gió thổi bay theo mọi hướng, nhưng tôi mặc chiếc áo sơ mi trắng và trông buồn bã nhưng kiên quyết. Trong cuộc phỏng vấn mà tôi đã đưa cho tờ The New Yorker vài ngày trước, tôi dự đoán rằng người Ukraina sẽ chiến đấu. “Tôi không biết khi nào và bằng cách nào,” tôi nói với phóng viên, “nhưng tôi không nghi ngờ gì là sẽ có sự kháng cự.”
Những sự kiện trong những ngày và tuần tiếp theo cho thấy tôi đã đoán đúng khi dự đoán về sự kháng cự, nhưng tôi không thể tưởng tượng được quy mô của nó, hoặc quy mô của chính cuộc chiến sắp tới. Cuộc xâm lược, mà Putin gọi là “chiến dịch quân sự đặc biệt” được cho là kéo dài vài ngày, hoặc nhiều nhất là vài tuần, đã trở thành cuộc chiến chính quy lớn nhất ở châu Âu kể từ năm 1945. Nó đã cướp đi hàng chục ngàn sinh mạng của nam giới và phụ nữ, nhiều người trong số họ là thường dân vô tội, và tạo ra cuộc khủng hoảng tị nạn lớn nhất ở châu Âu, một lần nữa kể từ khi kết thúc Thế chiến II. Trong những tháng tiếp theo, số lượng phụ nữ, trẻ em và người già chạy trốn khỏi cuộc chiến ở Ukraine đã lên tới tổng cộng 12 triệu người, và những người tìm thấy nơi ẩn náu ở các quốc gia Đông và Trung Âu đã vượt quá 5 triệu. Các địa điểm hạt nhân như Chernobyl và các nhà máy điện hạt nhân ở Zaporizhia, lớn nhất châu Âu, trở thành chiến trường mới, và có những mối đe dọa ngầm về việc sử dụng vũ khí hạt nhân.
Mọi chuyện này xảy ra thế nào?
Tôi không sẵn sàng về mặt cảm xúc cũng như chuyên môn để suy nghĩ thấu đáo và giải thích cho bản thân và người khác về những gì đang diễn ra do sự xâm lược vô cớ của Nga. Sự điên rồ và tội phạm dường như là những lời giải thích hợp lý duy nhất. Nhưng khi giới truyền thông liên tục tìm đến tôi yêu cầu bình luận, tôi cảm thấy mình không thể từ chối, vì lời nói của tôi thực sự có thể tác động đến diễn biến của sự kiện. Tôi nhận ra rằng với tư cách là một nhà sử học, tôi có thể đưa ra điều mà nhiều người khác còn thiếu khi muốn hiểu về cuộc xung đột quân sự lớn nhất ở châu Âu kể từ Thế chiến II.
Cuối cùng, tôi tự thuyết phục mình rằng, theo cách diễn đạt của Winston Churchill, các nhà sử học là những người giải thích tệ nhất về các sự kiện hiện tại so với những người khác.
Là một nhà sử học, tôi đã cố gắng hết sức để đặt những diễn biến đang diễn ra trước mắt tôi và thế giới nói chung theo quan điểm lịch sử và đối chiếu. Điều gì đã khiến một cuộc chiến tranh xâm lược như vậy có thể xảy ra? Điều gì đã khiến người Ukraine kháng cự như họ đã làm và đang tiếp tục làm? Cuối cùng, điều gì sẽ là hậu quả quan trọng nhất của cuộc chiến đối với Ukraine, Nga, Châu Âu và thế giới? Đây là những câu hỏi mà tôi tự hỏi mình khi tôi dần hồi phục sau cú sốc của những ngày đầu tiên của cuộc xâm lược và bắt đầu học lại cách tư duy phân tích. Tôi cũng cố gắng xác định các dấu hiệu của cuộc chiến tranh Nga-Ukraine sắp tới mà chúng tôi đã không nhận ra vào thời điểm đó, thay vào đó là suy nghĩ viển vông.
Trong tâm trí của nhiều người trong chúng ta, lịch sử đã đi đến hồi kết với sự sụp đổ của Bức tường Berlin, nếu không đồng ý nhận định của Francis Fukuyama cho rằng sự sụp đổ của Bức tường đó là chiến thắng rốt ráo của nền dân chủ tự do như một hình thức trật tự chính trị, thì cũng tin rằng mặc dù sự cạnh tranh giữa các cường quốc vẫn còn tiếp diễn, thi các cuộc xâm lược vô cớ tiếp theo là sáp nhập lãnh thổ và các hành động quân sự quy mô lớn đã bị đẩy lùi vào quá khứ. Đã có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy điều ngược lại – các cuộc chiến tranh ở Chechnya, Nam Tư cũ, và sau đó là Afghanistan và Iraq – nhưng chúng ta thường phớt lờ chúng. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy và các chế độ độc tài, cũng như các khuynh hướng chuyên chế trong các các quốc gia tự cho mình là dân chủ, gợi ý sự tương đồng với lịch sử những năm 1930, nhưng hầu hết chúng ta đều gạt chúng sang một bên.
Lịch sử giờ đây đã trở lại và không quên trả thù, thể hiện những đặc điểm tồi tệ nhất và mở ra những trang đáng sợ nhất, đầy rẫy những cảnh bạo lực và hủy diệt. Chúng ta biết những gì đã xảy ra do sự trỗi dậy của chế độ độc tài ở châu Âu vào đêm trước Thế chiến II, và giờ đây chúng ta có thể dễ dàng hình dung ra sự trỗi dậy của chủ nghĩa độc tài ở châu Âu, Âu Á và những nơi khác có thể dẫn thế giới đến đâu ngày nay. Đã đến lúc học hỏi từ lịch sử bằng cách đưa các sự kiện hiện tại vào bối cảnh, cả về mặt lịch sử và địa chính trị, để hiểu được nguồn gốc của chúng, dự đoán kết quả và cố gắng chấm dứt bạo lực.
Trong cuốn sách này, tôi áp dụng cách tiếp cận longue durée [tiếng Pháp có nghĩa dài hạn: ND] để hiểu cuộc chiến hiện tại. Tôi cưỡng lại sự cám dỗ xác định ngày 24 tháng 2 năm 2022 là ngày bắt đầu của cuộc chiến, bất kể cú sốc và kịch tính của cuộc tấn công toàn diện của Nga vào Ukraine, vì lý do đơn giản là cuộc chiến đã bắt đầu 8 năm trước đó, vào ngày 27 tháng 2 năm 2014, khi lực lượng vũ trang Nga chiếm giữ tòa nhà quốc hội Crimea. Hai bộ thỏa thuận, được gọi là Minsk I và Minsk II, đã chấm dứt giai đoạn đó của cuộc chiến qua các điều khoản ngoại giao một năm sau đó, vào tháng 2 năm 2015. Tuy nhiên, một cuộc chiến tranh không tuyên bố gồm pháo kích và bắn phá qua ranh giới phân định ở khu vực Donbas của Ukraine vẫn tiếp diễn trong bảy năm tiếp theo, giết chết hơn 14.000 người Ukraine nhưng ít thu hút sự chú ý của quốc tế. Giai đoạn đó kết thúc với việc Nga chính thức rút khỏi các thỏa thuận Minsk và bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine vào tháng 2 năm 2022.
Trong các trang tiếp theo, tôi thảo luận về cuộc chiến hiện tại, nguồn gốc, diễn biến và những hậu quả trong tương lai giờ đã rõ ràng và khả dĩ. Như tôi trình bày ở đây, gốc rễ của cuộc chiến hiện tại nằm trong lịch sử sụp đổ của đế quốc vào thế kỷ 19 và 20, cũng là nơi sản sinh ra những ý tưởng cốt lõi đã châm ngòi cho cuộc xung đột hiện tại. Lập luận cơ bản của tôi là những gì chúng ta thấy ngày nay không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Theo nhiều cách, cuộc xung đột hiện tại là một cuộc chiến tranh đế quốc lỗi thời do giới tinh hoa Nga tiến hành, bọn tự coi mình là người thừa kế và tiếp nối truyền thống bành trướng của các Đế chế Nga và Liên bang Xô Viết. Về phía Ukraine, trước hết và quan trọng nhất, đây là cuộc chiến giành độc lập, một nỗ lực tuyệt vọng thay mặt cho một quốc gia mới trỗi dậy từ đống đổ nát sau sự sụp đổ của Liên Xô để bảo vệ quyền tồn tại của mình.
Bất chấp nguồn gốc đế quốc của nó, cuộc chiến hiện tại đang diễn ra trong một môi trường quốc tế hoàn toàn mới được xác định bởi sự phổ biến vũ khí hạt nhân, sự tan rã của trật tự quốc tế hậu Chiến tranh Lạnh và sự trỗi dậy chưa từng có của chủ nghĩa dân tộc dân túy, lần cuối cùng được thấy vào những năm 1930, trên toàn thế giới. Chiến tranh cho thấy rõ ràng châu Âu và thế giới đã gần như tiêu hết khoản cổ tức hòa bình có được từ sự sụp đổ của Bức tường Berlin năm 1989 và đang bước vào một kỷ nguyên mới, vẫn chưa được xác định. Một trật tự thế giới mới, có thể sao chép thế giới lưỡng cực của thời Chiến tranh Lạnh, đang được hình thành trong ngọn lửa của cuộc chiến hiện tại. Vào thời điểm viết sách này, cuộc chiến vẫn chưa kết thúc, và chúng ta vẫn chưa biết hồi kết của nó sẽ mang lại điều gì. Nhưng ngay cả ngày nay, khá rõ ràng rằng tương lai của thế giới mà chúng ta và con cháu chúng ta sẽ sống phụ thuộc rất nhiều vào cục diện của nó.
1
Sự Sụp Đổ của Đế Chế
Lúc đó là 7:00 tối theo giờ Moscow vào ngày Giáng sinh, ngày 25 tháng 12 năm 1991. Mikhail Gorbachev, cựu tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và sắp trở thành cựu tổng thống Liên Xô, ngồi vào bàn làm việc trong văn phòng Điện Kremlin của mình và đọc một tuyên bố đã chuẩn bị trước các máy quay truyền hình.
Gorbachev gọi những khán giả của mình là “đồng bào thân mến và công dân thân mến.” Trên thực tế, ông đang nói chuyện với toàn thế giới: CNN đã phát sóng trực tiếp bài phát biểu ngắn của ông. Nhà lãnh đạo Liên Xô đã từ chức tổng thống USSR. Vào lúc 7:12 tối, khi Gorbachev kết thúc bài phát biểu, Liên bang Xô Viết chính thức không còn tồn tại. Chế độ cộng sản, vốn đã cứu được đế chế Nga của các sa hoàng khỏi sụp đổ, đã phát triển thành một siêu cường và đe dọa thế giới bằng sự hủy diệt hạt nhân, đã không còn nữa. Biểu ngữ đỏ trên Điện Kremlin sẽ được hạ xuống chưa đầy nửa giờ sau đó, để thay thế với lá cờ trắng, xanh và đỏ của Liên bang Nga, tương tự như lá cờ tam sắc của Đế quốc Nga trước khi sụp đổ trong Cách mạng năm 1917.
Trong bài phát biểu dài mười hai phút của mình, tổng thống Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết, được biết đến trên toàn thế giới là USSR, tuyên bố rằng mình từ chức vì “lý do nguyên tắc”. Ông đã nỗ lực duy trì “nhà nước Liên bang và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước” nhưng không thể làm được như vậy. “Các sự kiện diễn ra theo một hướng khác. Xu hướng chiếm ưu thế là chia cắt đất nước và chia cắt nhà nước, mà tôi không đồng ý.” Gorbachev đã từ chức tổng thống của một quốc gia mà sự tồn tại hợp pháp của nó đã chấm dứt. Nó đã bị giải thể bởi các nhà lãnh đạo của 15 nước cộng hòa trong Liên bang tạo thành Liên bang Xô Viết vào đầu tháng đó.
Trong khi quá trình tan rã của Liên Xô đã diễn ra trong một thời gian, nó đã trở nên không thể đảo ngược vào ngày 1 tháng 12 năm 1991, khi người dân Ukraine, nước cộng hòa lớn thứ hai của Liên bang sau Nga, đi bỏ phiếu để quyết định xem họ có muốn đất nước mình trở nên độc lập hay không.
Tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu vượt quá 84 phần trăm số cử tri đủ điều kiện và hơn 92 phần trăm trong số họ đã chọn độc lập. Ngay cả cư dân của Donbas (Donets Basin) của Ukraine, giáp biên giới phía tây của Nga, cũng đã bỏ phiếu cho nguyện vọng độc lập với tỷ lệ gần 84 phần trăm. Ở Crimea, khu vực duy nhất của Ukraine có đa số dân là người Nga, 54 phần trăm ủng hộ độc lập. Sevastopol, cảng nhà của Hạm đội Biển Đen, thậm chí còn tốt hơn, ghi nhận 57 phần trăm ủng hộ độc lập của Ukraine.
Cuộc bỏ phiếu đã gây sốc cho Gorbachev nhưng không phải cho Tổng thống Boris Yeltsin của Nga, người từng được Gorbachev bảo trợ và sau đó là đối thủ và là người thách thức ông. Yeltsin đã được cố vấn Galina Starovoitova, một nhà nhân chủng học và nhà hoạt động ủng hộ dân chủ, tóm tắt về kết quả có thể xảy ra vài ngày trước đó. Khi nghe những dự đoán, Yeltsin đã không tin. “Điều đó không thể là sự thật!” là phản ứng đầu tiên của ông. “Đây là nước cộng hòa gốc Slav anh em của chúng ta! Có 30 phần trăm người Nga ở đó. Crimea là của Nga! Tất cả những người sống ở phía đông sông Dnieper đều hướng về Nga!” Phải mất gần 40 phút để Starovoitova thuyết phục sếp của cô rằng dữ liệu thăm dò chỉ hướng đến một hướng và chỉ một hướng duy nhất, một số phiếu bầu áp đảo cho nền độc lập. Yeltsin đã đưa ra quyết định ngay tại chỗ: ông sẽ công nhận nền độc lập của Ukraine và gặp tổng thống sắp đắc cử của Ukraine, Leonid Kravchuk, để hình thành một liên minh, một liên minh mới khác với liên minh do Mikhail Gorbachev lãnh đạo.
Cuộc họp diễn ra vào ngày 7 tháng 12 và tiếp tục vào ngày hôm sau tại khu săn bắn Belavezha trên biên giới Belarus-Ba Lan. Các nhà lãnh đạo Belarus, bao gồm cả người đứng đầu quốc hội nước cộng hòa, Stanislav Shushkevich, đã tiếp đón các tổng thống Nga và Ukraine, những người quyết định số phận của Liên Xô.
Khi Kravchuk từ chối tham gia Liên minh cải cách do Gorbachev đề xuất, phụ tá của Yeltsin là Gennadii Burbulis đã đề xuất giải tán hoàn toàn Liên Xô. Sợ hãi trước điều này, người đứng đầu KGB Belarus đã báo cáo đề xuất phản quốc này với các ông chủ của mình ở Moscow, nhưng không có phản ứng tích cực nào – vào thời điểm đó, Gorbachev hiện có ít người ủng hộ còn lại ở Thủ đô của Liên Xô. Liên bang Xô Viết được thay thế bằng Khối Thịnh vượng Chung các Quốc gia Độc lập, một tổ chức quốc tế khu vực chứ không phải là một nhà nước. Không đến hai tuần sau, các nhà lãnh đạo của các nước cộng hòa Trung Á đã gia nhập Khối Thịnh vượng Chung với tư cách là các thành viên sáng lập của nó. Bây giờ Gorbachev cũng không có đồng minh trong các nước cộng hòa. Cúi đầu trước điều không thể tránh khỏi, ông đã từ chức vào ngày 25 tháng 12 năm 1991. Trợ lý chính sách đối ngoại của Gorbachev, Anatolii Cherniaev, cũng là người soạn thảo chính bài diễn văn từ chức của cấp trên của mìn, sau đó đã viết trong đánh giá của mình về năm cuối cùng tồn tại của Liên Xô: “Những gì thực sự diễn ra với Liên Xô năm đó là những gì đã từng xảy ra ‘vào thời điểm đã định’ đối với các đế chế khác khi tiềm năng được lịch sử phân bổ cho họ đã hết hạn.” Sự sụp đổ của các đế chế đã nằm trong tâm trí của Cherniaev khi ông đưa những cụm từ như “Điều tàn khốc nhất trong cuộc khủng hoảng này là sự tan rã của chế độ nhà nước” và “Chúng ta là những người thừa kế một nền văn minh vĩ đại” vào bản thảo bài phát biểu của Gorbachev. Nhưng ông cũng thừa nhận sự vô ích của bất kỳ nỗ lực nào nhằm cứu đế chế đang suy yếu. “Những nỗ lực của Gorbachev nhằm cứu Liên bang là những cơn co thắt vô vọng”, Cherniaev viết trong nhật ký của mình vào tháng 11 năm 1991, tiếp tục nhận xét: “Nhưng tất cả sẽ kết thúc nếu không có Ukraine, không có Crimea, vốn không thể lấy lại được”.
Liên Xô sụp đổ vì cuộc trưng cầu dân ý của Ukraine, vì người Ukraine là những người duy nhất đưa vấn đề độc lập của họ ra bỏ phiếu. Gorbachev đã lập luận ủng hộ một cuộc trưng cầu dân ý toàn Liên bang về số phận của Liên Xô, nhưng không có cuộc trưng cầu dân ý nào ở bất kỳ nước cộng hòa nào khác. Hầu hết trong số họ, bao gồm cả Nga, chỉ đơn giản chấp nhận kết quả cuộc trưng cầu dân ý của Ukraine như một phán quyết không chỉ về nền độc lập của nước cộng hòa Ukraine mà còn về tương lai của Liên Xô. Cả Gorbachev và Yeltsin đều không hình dung Liên Xô mà không có nước cộng hòa lớn thứ hai, một thành tố chính trong lịch sử và thần thoại đế quốc Nga và Liên Xô. Việc khôi phục dự án đế quốc dưới bất kỳ hình thức nào sẽ phụ thuộc vào khả năng của Nga trong việc đưa Ukraine trở lại với cộng đồng. “Nếu không có Ukraine, Nga sẽ không còn là một đế chế nữa, nhưng với Ukraine bị mua chuộc và sau đó bị khuất phục, Nga sẽ tự động trở thành một đế chế”, Zbigniew Brzezinski nhận xét một vài năm sau đó.
Huyền Thoại về Nguồn Cội
Hầu hết người Nga ngày nay tin, như họ đã tin trong nhiều thế kỷ, rằng nhà nước và quốc gia của họ bắt nguồn từ Kyiv (trong phiên bản tiếng Nga là “Kiev”), trung tâm của chính thể thời trung cổ mà các nhà sử học gọi là Kyivan Rus’. Tập trung vào thủ đô Ukraine ngày nay, nó bao gồm một phần lớn những gì hiện là Ukraine, Belarus và Nga châu Âu. Kyivan Rus’, được hình thành vào thế kỷ thứ 10, đã sụp đổ dưới những đòn tấn công của quân Mông Cổ vào thế kỷ thứ 13, nhưng sau khi tạo ra nhiều chính thể bán độc lập. Mạnh nhất trong số đó là Galicia-Volhynia ở Ukraine ngày nay và miền nam Belarus; Đại Novgorod hay nước cộng hòa Novgorod ở vùng đất phía tây bắc của cựu vương quốc Kyivan Rus’; và công quốc Vladimir – sau này là Moscow ở phía đông bắc – trung tâm lịch sử của nước Nga hiện đại.
Người Nga thực sự có thể truy ngược về Kyiv cho nguồn gốc tôn giáo, chữ viết, văn học, nghệ thuật, luật pháp và – cực kỳ quan trọng trong thời kỳ tiền hiện đại – triều đại cai trị của họ.
Những nỗ lực của họ nhằm tuyên bố Kyiv là nguồn gốc dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa đại chúng của mình hóa ra lại có nhiều vấn đề hơn.
Những du khách từ Moscow và St. Petersburg phát hiện ra rằng người dân địa phương ở Kyiv và các vùng lân cận nói một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của họ, hát những bài hát khác và có một nền văn hóa riêng biệt. Nhưng điều đó không quan trọng lắm, vì huyền thoại về nguồn gốc Kyiv của Nga đã ăn sâu vào ý thức của giới tinh hoa Nga vào cuối thế kỷ 15.
Nguồn gốc của huyền thoại đó quay trở lại giữa thế kỷ thứ 15, những năm đầu của Đại công quốc Moscow, sau này được gọi là Muscovy, như một quốc gia độc lập. Người sáng lập ra nó là Ivan Đại đế, nhà cai trị Moscow và là một trong nhiều hậu duệ của các ông hoàng ở Kyiv đã thiết lập sự cai trị của Moscow đối với một vương quốc rộng lớn trải dài từ Nizhnii Novgorod ở phía đông đến Đại Novgorod, hay đơn giản là Novgorod, ở phía tây. Chính trong bối cảnh cuộc chiến của Ivan chống lại Novgorod, một trong những người thừa kế của Kyivan Rus’, mà huyền thoại về nguồn gốc xứ Kyiv của Nga đã ra đời, ban đầu là một xác nhận triều đại. Ivan tự tuyên bố mình là người thừa kế các ông hoàng xứ Kyiv, khẳng định quyền cai trị Novgorod trên cơ sở đó. Ông đã đánh bại người Novgorod trong Trận Shelon năm 1471 và sáp nhập nước cộng hòa vào vương quốc của mình vào năm 1478. Nhà nước Nga độc lập, ra đời từ cuộc đấu tranh giữa Moscow và Novgorod, là kết quả thắng lợi của chủ nghĩa độc tài đối với nền dân chủ.
Chiến thắng quân sự của Ivan trước người Novgorod cũng khiến ông hoàn toàn độc lập khỏi các vị Hãn người Tatar, hậu duệ của Đế chế Mông Cổ, những kẻ cai trị Muscovy dần trở nên ngày càng hữu danh vô thực. Người Tatar đã cố gắng ngăn cản Ivan chiếm Novgorod – trớ trêu thay, nhằm bảo vệ nền dân chủ của Nga – nhưng đã thất bại và phải rút lui. Cuộc chinh phục Novgorod cũng tượng trưng cho chiến thắng của quyền xác lập triều đại Ivan là người thừa kế hợp pháp duy nhất của các ông hoàng xứ Kyiv. Trong những năm tới, ông sẽ sử dụng địa vị đó nhiều lần để đòi thêm đất đai của Nga, Ukraine và Belarus. Huyền thoại lịch sử mạnh mẽ về nguồn gốc xứ Kyiv của triều đại Nga đặt nền tảng cho chính sách của Muscovy mới giành được độc lập – một chính sách chinh phục.
Ivan III là người cai trị đầu tiên của Muscovy muốn tự xưng mình là “sa hoàng”, một từ tiếng châu Âu có nghĩa là “hoàng đế”, tức nhà cai trị của những nhà cai trị, bắt nguồn từ tên của Julius Caesar. Nhưng nhà cai trị đầu tiên thực sự được trao vương miện sa hoàng là cháu trai của ông, Ivan Bạo chúa. Ivan III đã truyền lại cho người thừa kế của mình không chỉ thể chế độc đoán của quyền lực hoàng gia, mà người cháu trai đã thành công biến thành một hình thức chuyên chế, mà còn cả huyền thoại về nguồn gốc xứ Kyiv. Ivan IV (Bạo chúa) tuyên bố mình là hậu duệ của Hoàng đế Augustus, một liên kết phả hệ mà ông đã cố gắng truy tìm từ các ông hoàng của Kyiv đến các hoàng đế của Byzantium và những người tiền nhiệm La Mã của họ. Ông cũng tìm cách mở rộng vương quốc Muscovy vượt ra ngoài tài sản của ông nội mình.
Vào những năm 1550, Ivan IV đã chinh phục các hãn quốc Kazan và Astrakhan, vốn, giống như chính Muscovy, là những quốc gia kế thừa của đế chế Mông Cổ hùng mạnh một thời. Ông sẽ tính những năm cai trị của mình với tư cách là chủ nhân của các hãn quốc Muscovy, Kazan và Astrakhan một cách riêng biệt, cho thấy việc ông chinh phục các hãn quốc Volga này là thành tựu then chốt biện minh cho tuyên bố của mình về danh hiệu sa hoàng.
Sau khi khuất phục các hãn quốc đó, ông quay về phía tây, cố gắng tiếp cận Biển Baltic và tiến hành chiến tranh trên bộ chống lại Đại công quốc Litva trên lãnh thổ của các quốc gia Baltic ngày nay và Belarus –một bộ phận khác của Kyivan Rus’ hùng mạnh trước đây. Nhưng nỗ lực của Ivan nhằm mở rộng quyền cai trị của Muscovy về phía tây đã thất bại trong bối cảnh Chiến tranh Livonia (1558-83) trong đó Muscovy phải đối đầu với liên minh các quốc gia bao gồm Ba Lan-Litva, Thụy Điển và Đan Mạch.
Thế kỷ 17 bắt đầu với việc quân đội Ba Lan và đồng minh của họ, người Cossack Ukraine, chiếm được Moscow. Trong “Thời kỳ rối ren” này và sau đó, Muscovy đã tách khỏi Kyiv và các vùng đất Ukraine và Belarus không chỉ về mặt chính trị mà còn về mặt tôn giáo. Người Muscovy không còn coi người Kyiv là những người theo Chính thống giáo, tuyên bố rằng họ đã bị tha hóa khi chấp nhận sự cai trị của các vị vua Công giáo và trở nên cởi mở hơn với phương Tây. Bị đánh bại trên chiến trường và bị suy yếu bởi xung đột nội bộ, Muscovy đã dừng lại trong nỗi ám ảnh của mình với Kyiv, lịch sử của mình và lý do biện minh cho việc tiếp tục cuộc chinh phục. Nhưng đây chỉ là một khoảng nghỉ tương đối ngắn chứ không phải là sự kết thúc của giấc mộng đế quốc.
Vào thế kỷ 19, các nhà sử học Nga, bao gồm cả những nhân vật có ảnh hưởng nhất trong số họ, Vasilii Kliuchevsky, tuyên bố rằng “việc tập hợp các vùng đất của Nga” hoặc “việc thống nhất lại Kievan Rus‘” sau cuộc xâm lược của người Mông Cổ bởi các ông hoàng Moscow và sau đó là các sa hoàng là đặc điểm tinh túy của quá trình lịch sử Nga. Cách diễn giải lịch sử đó, bắt nguồn từ huyền thoại về nguồn gốc xứ Kyiv của Nga, được cho là sẽ đạt đến đỉnh cao trong việc thống nhất thắng lợi vùng đất Rus thành một quốc gia Nga, hay “Nước Nga, thống nhất và không thể chia cắt”. Theo Kliuchevsky, quá trình đó phần lớn đã hoàn tất vào giữa thế kỷ 19.
Không có yếu tố nào của câu chuyện thống nhất được các nhà sử học đế quốc coi là quan trọng hơn việc thiết lập quyền kiểm soát của Muscovy đối với miền đông Ukraine vào giữa thế kỷ 17. Những người kế nhiệm Liên Xô của họ đã ca ngợi đó là “sự thống nhất của Ukraine với Nga” – trên thực tế, cực điểm của lịch sử Ukraine với sự hoàn toàn bị Nga đồng hóa. Về phần mình, nhiều nhà sử học Ukraine gọi “sự thống nhất” là một liên minh quân sự, liên hiệp cá nhân hoặc thậm chí là sự nô dịch hoàn toàn.
Một trong những kết quả của Chiến tranh Livonia thế kỷ 16, trong đó Ivan Bạo chúa thất trận, là sự hợp nhất của Vương quốc Ba Lan với Đại công quốc Litva, bao gồm các vùng đất Ukraine và Belarus của công quốc này, trước mối đe dọa của Muscovy. Liên minh Lublin (1569) đã thành lập Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva, một quốc gia hiện đại ban đầu với quyền lực hoàng gia hạn chế và các quốc hội hoặc chế độ nghị viện trung ương và địa phương mạnh mẽ. Là một phần của thỏa thuận Khối Thịnh vượng Chung, Ba Lan đã thiết lập quyền kiểm soát đối với Ukraine và Kyiv, trong khi các vùng đất Belarus vẫn nằm trong Đại công quốc Litva. Sự phân chia này sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của người Ukraine và Belarus hiện đại như những quốc tịch riêng biệt.
Vai trò lãnh đạo trong việc hình thành nên nước Ukraine hiện đại được đảm nhiệm bởi những người Cossacks – những người tự do và nông nô bỏ trốn, đã nổi lên vào cuối thế kỷ 16 như một lực lượng quân sự hùng mạnh ở hạ lưu sông Dnieper trong “vùng đất không người” giữa Vương quốc Ba Lan và Hãn quốc Crimea, một họ hàng xa hơn của Đế chế Mông Cổ. Dưới sự lãnh đạo của mình, Hetman Bohdan Khmelnytsky, người Cossack đã nổi loạn chống lại sự cai trị của Ba Lan vào năm 1648, tìm cách thiết lập các quyền tự do chính trị của mình như một trật tự xã hội và thực hành niềm tin Chính thống giáo mà không bị cản trở. Cuộc nổi loạn đẫm máu này, trong số những nạn nhân có người Do Thái ở Ukraine, đã lên đến đỉnh điểm trong việc thành lập một nhà nước Cossack.
Nhà nước mới cần có đồng minh nếu muốn chống lại lực lượng Ba Lan và Litva áp đảo đã dàn trận chống lại mình. Sau hơn 5 năm chiến tranh, Khmelnytsky đã tham gia vào một liên minh với Muscovy, công nhận chủ quyền của sa hoàng để đổi lấy sự bảo vệ quân sự của ông ta chống lại kẻ thù của Ukraine.
Thỏa thuận được ký kết giữa Khmelnytsky và các đại diện toàn quyền của sa hoàng tại thành phố Pereiaslav của Ukraine vào tháng 1 năm 1654. Mục tiêu trước mắt của Muscovy khi tham gia cuộc chiến chống lại Khối Thịnh vượng Chung Ba Lan-Litva là giành lại những vùng đất đã mất vào tay Ba Lan trong Thời kỳ Rối ren. Nhưng những ký ức về di sản xứ Kyiv đã sớm được hồi sinh, và Chính thống giáo Ukraine một lần nữa được coi là những người đồng đạo. Sự bảo vệ của những người anh em Chính thống giáo chống lại các vị vua Công giáo Ba Lan và sự hồi sinh của nguồn gốc xứ Kyiv của triều đại Muscovy đã trở thành khẩu hiệu hợp pháp hóa của chiến dịch mới hướng về phía tây.
Người Ba Lan đã sớm bị đánh bại. Sau đó, người Muscovy di chuyển vào Belarus và thành lập các đơn vị đồn trú của họ ở Cossack Ukraine, bao gồm cả thành phố Kyiv. Việc sáp nhập lâu dài nhà nước Cossack Ukraine vào đế quốc Sa hoàng Moskva, và sự xâm phạm vào cái mà người Cossack gọi là “quyền lợi và tự do” của họ – các thành tố của nền văn hóa chính trị dân chủ của họ – đã bắt đầu. Giới tinh hoa Cossack Ukraine thấy những điều kiện mới là không thể chấp nhận được, và vào năm 1708, thủ lĩnh mới của họ, Ivan Mazepa, đã lãnh đạo một cuộc nổi loạn chống lại sa hoàng Muscovy, sau đó là hoàng đế Peter I. Chính Peter là người đã đổi tên đất nước của mình từ Muscovy thành Nga, một cái tên bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Byzantine, và tuyên bố thành lập Đế chế Nga vào năm 1721.
Mazepa gia nhập lực lượng tiến công của Vua Charles 12 của Thụy Điển, chỉ để bị đánh bại cùng với người bảo hộ mới của mình trong Trận Poltava (1709), diễn ra tại trung tâm vùng đất Cossack của Ukraine. Chiến thắng của Moscow trong trận chiến đó đã dẫn đến chiến thắng trong Chiến tranh phương Bắc (1721), đưa Đế chế Nga lên vị thế của một cường quốc châu Âu với các vùng đất ở Baltic và Trung Âu, nơi nó đã thu hẹp Khối Thịnh vượng Chung Ba Lan-Litva thành vùng bảo hộ trên thực tế của mình. Ở Ukraine, Peter đã hạn chế quyền tự chủ của dân Cossack bằng cách bãi bỏ chức vụ hetman (thủ lĩnh quân đội Cossack) và đặt nhà nước Cossack, được các nhà sử học gọi là Hetmanate, dưới quyền tài phán của một cơ quan hành chính của Nga có tên là Little Russian Collegium (Xã hội Tiểu Nga.)
Nữ hoàng Catherine II, người trị vì từ năm 1762 đến năm 1796, đã hoàn thành việc phá hủy Hetmanate và sáp nhập chính thể Cossack vào Đế chế Nga, mà bà thừa hưởng từ Peter I. Điều này đã được hoàn thành trong bối cảnh chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ vào cuối thế kỷ 18, đã đưa những vùng lãnh thổ rộng lớn ở miền nam Ukraine ngày nay vào tay kiểm soát của Nga. Crimea đã bị sáp nhập, và khi không còn mối đe dọa nào từ các cuộc xâm lược của người Tatar Crimea, không còn lý do gì để dung thứ cho người Cossack Ukraine và các thể chế dân chủ của họ nữa. Các trung đoàn Cossack đã được sáp nhập vào quân đội đế quốc Nga, và các thể chế Cossack cuối cùng đã bị xóa bỏ khi Nga tấn công Quân đoàn Zaporizhian ở vùng hạ lưu Dnipro (1775).
Trong ba lần phân chia Khối Thịnh vượng Chung Ba Lan-Litva [giữa Đế chế Nga, ,Vương quốc Phổ và Nhà Habsburg Áo, chủ quyền Ba Lan và Litva bị loại bỏ trong 123 năm], Catherine đã tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Belarus và hầu hết các vùng đất của Ukraine. Bà đã đúc một huy chương nhân dịp phân chia lần thứ hai năm 1772, dòng chữ khắc trên đó là Ottorzhennaia vozvratikh (Tôi đã đem về những gì đã bị cướp đi). Một lần nữa, sự ám chỉ này lại nhắc đến những vùng đất từng thuộc về nhà nước Kyiv. Các vùng lãnh thổ của Ukraine, dù trước đây do người Cossack hay người Ba Lan cai trị, ngoại trừ các vùng đất phía tây Ukraine rơi vào tay chế độ quân chủ Habsburg, giờ đây đã được đưa vào Đế chế Nga như những tỉnh đơn thuần không có quyền hoặc đặc quyền cụ thể nào.
Người Cossacks, với nhà nước và các thể chế của họ, đã mất. Nhưng ký ức của họ thì không. Vào thế kỷ 19, ký ức đó sẽ trở thành một công cụ mạnh mẽ trong tay những người đã tạo ra quốc gia Ukraine hiện đại. Họ sẽ tạo ra một bài quốc ca Ukraine mới bắt đầu bằng những từ “Ukraine vẫn chưa diệt vong”. Nội dung ám chỉ đến sự tồn tại liên tục của quốc gia bất chấp sự phá hủy ngôi đền tâm linh của nó, nhà nước Cossack.
Sự Trỗi Dậy của Một Quốc Gia
Mãi đến thế kỷ 19, Đế quốc Nga mới gặp phải kẻ thù mà nó không thể đánh bại. Tên của kẻ thù là chủ nghĩa dân tộc. Nó xuất hiện đầu tiên trong hai cuộc nổi dậy của Ba Lan làm rung chuyển Đế chế Nga. Tuy nhiên, về lâu dài, chính chủ nghĩa dân tộc Ukraine, được đánh thức bởi các chiến dịch của đế quốc nhằm đàn áp cuộc tổng nổi dậy của Ba Lan, đã gây ra mối đe dọa chính đối với chế độ nhà nước đế quốc Nga. Nếu người Ba Lan chống lại sự cai trị của đế quốc, thì người Ukraine đã đe dọa sự thống nhất của đế chế Catherine “đã thống nhất” bằng cách tuyên bố một bản sắc khác biệt với người Nga.
Đế chế Nga đã phải đối mặt với vấn đề dân tộc với cuộc nổi dậy đầu tiên của người Ba Lan năm 1830-31. Người Ba Lan, mà quốc gia đa sắc tộc Ba Lan-Litva của họ đã bị Nga, Phổ và Áo Habsburg phân chia vào nửa sau thế kỷ 18, đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa dân tộc hiện đại chống lại tất cả các đế chế xâu xé vào đầu thế kỷ 19. Họ là những người đầu tiên đưa ra ý tưởng rằng một quốc gia có thể đấu tranh cho chủ quyền chính trị ngay cả khi không có bộ máy nhà nước. Ý tưởng đó được thể hiện trong lời mở đầu của quốc ca Ba Lan, được dùng làm mẫu cho bài quốc ca Ukraine: “Ba Lan vẫn chưa diệt vong”
Đế chế đã phản công bằng cách tạo ra một mô hình chủ nghĩa dân tộc Nga có liên hệ chặt chẽ với đế chế của mình. Năm 1832, sau cuộc nổi dậy đầu tiên của Ba Lan, thứ trưởng giáo dục mới được bổ nhiệm, Bá tước Sergei Uvarov, đã đề xuất một công thức ba phần với Hoàng đế Nicholas I có thể đóng vai trò là nền tảng của một bản sắc Nga mới được hình thành thông qua hệ thống giáo dục. Công thức này bao gồm ba khái niệm mà một thần dân trung thành của sa hoàng sẽ phải tuân theo: Chính thống giáo, Chuyên chế và Dân tộc. Trong quá khứ, thần dân Nga đã buộc phải trung thành với Chúa, với Nhà vua và với Tổ quốc. Dân tộc thay thế cho “tổ quốc”, vừa là phản ứng với chủ nghĩa dân tộc Ba Lan đang trỗi dậy vừa là nỗ lực noi theo việc xây dựng quốc gia Đức. Uvarov đặc biệt chịu ảnh hưởng bởi các ý tưởng của nhà sử học và nhà ngữ văn người Đức Karl Wilhelm Friedrich Schlegel, theo chân Johann Gottfried von Herder, hình dung ra một nhà nước Đức thống nhất dựa trên quốc gia Đức thống nhất về ngôn ngữ và phong tục.
Đối với Uvarov, hình dung dân tộc tính chắc chắn là người Nga, nhưng sẽ bao gồm cả những người thừa kế Đông Slav khác của Kyivan Rus’, tức người Ukraine và người Belarus. Dân số của hai nhánh nhỏ hơn chủ yếu theo Chính thống giáo, nhưng một nhóm thiểu số đáng kể thuộc về Giáo hội Uniate, được thành lập vào cuối thế kỷ 16. Những người theo đạo này, sống ở vùng biên giới phía đông của Ba Lan bị phân chia, tuân theo nghi lễ Chính thống giáo nhưng thừa nhận quyền tối cao của Giáo hoàng La Mã. Trong mắt Uvarov, họ là người Nga nhưng không theo Chính thống giáo, và nhiều người tin rằng họ dễ bị Ba Lan tuyên truyền nổi loạn. “Vấn đề” đã được giải quyết trước cuối những năm 1830, khi các giáo phái Uniate bị ép “tái hợp” với Giáo hội Chính thống giáo Nga. Quốc gia Nga, được hợp nhất bởi lòng trung thành với sa hoàng, giờ đây cũng được thống nhất bởi tôn giáo.
Các sách giáo khoa lịch sử được viết dưới sự giám sát của Uvarov đã hợp pháp hóa việc thành lập một quốc gia Nga, hiện đã thống nhất trong biên giới đế quốc và chịu sự chi phối của quyền trượng sa hoàng. Câu chuyện đế quốc hình dung ra nguồn gốc của quốc gia Nga ở Kyiv thời trung cổ của thời đại các ông hoàng. Quốc gia đó đã bị chia cắt bởi những kẻ xâm lược nước ngoài từ người Mông Cổ đến người Ba Lan nhưng đã được thống nhất bởi các sa hoàng Nga để một lần nữa trở nên thống nhất và bất khả chiến bại.
Mô hình một quốc gia Nga thống nhất vẫn luôn bị thách thức trong một thời gian dài. Học theo người Ba Lan, người Ukraine đã sớm giương cao ngọn cờ của phong trào dân tộc của riêng mình. Đế chế đã gặp phải thách thức từ hàng ngũ của quốc gia Nga mà họ đang cố gắng xây dựng để chống lại Ba Lan. Vào những năm 1840, giới trí thức xứ Kyiv do một giáo sư lịch sử tại trường đại học địa phương, Mykola Kostomarov, và một giảng viên dạy vẽ tại cùng trường đại học, Taras Shevchenko, lãnh đạo, đã thành lập một tổ chức bí mật tuyên bố sự tồn tại của một quốc gia Ukraine riêng biệt. Dựa trên truyền thống lịch sử Cossack và biên niên sử lịch sử, họ say mê ngôn ngữ Ukraine và truyền thuyết cũng như văn hóa dân gian. Theo Herder và những người theo ông, đó là cội nguồn của bản sắc dân tộc.
Dự án quốc gia Ukraine hiện đại đã ra đời, và nó đe dọa Đế quốc Nga mạnh hơn nhiều so với cuộc nổi dậy của Ba Lan. Kostomarov hình dung ra một liên bang gốc Slav để thay thế chế độ quân chủ và đế quốc Romanov và Habsburg. Đế quốc cảm thấy buộc phải điều chỉnh mô hình của quốc gia Nga thống nhất. Nó đã làm như vậy sau cuộc nổi dậy thứ hai của Ba Lan (1863-64), một lần nữa đặt lòng trung thành không chỉ của người Ba Lan mà còn của người Ukraine và người Belarus vào vòng nghi vấn. Mô hình mới của quốc gia Nga thống nhất là ba thành phần, đưa ra giả thuyết về sự tồn tại của các “bộ tộc” riêng biệt: Đại Nga, Tiểu Nga (người Ukraine) và Bạch Nga (người Belarus). Họ nói các “phương ngữ” khác nhau của tiếng Nga, nhà báo bảo thủ người Nga Mikhail Katkov, cùng những người khác, lập luận, nhưng đó không phải là lý do để nghi ngờ sự thống nhất của quốc gia ba thành phần. Để đảm bảo rằng nó sẽ vẫn thống nhất, chính quyền đã quyết định ngăn chặn sự phát triển của các ngôn ngữ riêng biệt Ukraine và Belarus. Lệnh cấm đầu tiên đối với việc xuất bản bằng tiếng Ukraine bất cứ thứ gì trừ văn hóa dân gian – bao gồm Kinh thánh, các văn bản tôn giáo và sách vỡ lòng ngôn ngữ, cùng với sách giáo khoa – được giới thiệu vào năm 1863 và vẫn có hiệu lực, với một số sửa đổi, cho đến thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20. Sau đó, nó đã bị bãi bỏ trong tình trạng hỗn loạn do Cách mạng năm 1905 gây ra ở Đế quốc Nga. Lệnh cấm các ấn phẩm bằng tiếng Ukraine đã làm chậm sự phát triển của dự án quốc gia Ukraina hiện đại nhưng không thể ngăn chặn nó. Người Ukraine ở Galicia, một phần của Ukraine bị Áo tiếp quản trong vụ phân chia Ba Lan, tiếp tục xuất bản bằng tiếng Ukraine không chỉ các tác phẩm của riêng họ mà còn cả các tác phẩm của những đồng bào từ Ukraine do Nga cai trị.
Chính quyền đế quốc Nga coi những diễn biến ở vùng đất gốc Slav ở nhà nước đối thủ chính của mình, chế độ quân chủ Habsburg (được cải tổ thành chế độ quân chủ kép Áo-Hung sau khi Áo bị Đức đánh bại năm 1866), với sự nghi ngờ tột độ. Đặc biệt quan ngại là người Ukraine ở ba tỉnh, Galicia, Bukovyna và khu vực ngày nay gọi là Transcarpathia, do người dân tộc Ukraine định cư. Họ tự gọi mình là người Rusyn và trong suốt thế kỷ 19, đã phát triển không chỉ một mà là ba dự án xây dựng quốc gia. Dự án xuất hiện sau Cách mạng năm 1848 coi họ là dân tộc Rusyn hoặc Ruthenian riêng biệt, trung thành với nhà Habsburg và duy trì ít mối quan hệ với phần còn lại của Ukraine. Nhà Habsburg ủng hộ phong trào Ruthenian như một lực lượng đối trọng với phong trào Ba Lan năng động hơn nhiều, nhưng vì trở nên suy yếu đối với người Hung mà họ vốn đang chia sẻ quyền lực; họ quay ra ưu ái người Ba Lan và ghét bỏ người Ruthenia. Để đáp lại, một số nhà lãnh đạo người theo Ruthenia đã tìm kiếm sự ủng hộ từ St. Petersburg, tuyên bố mình là thành viên của quốc gia Nga. Cái gọi là phong trào thân Nga đã ra đời. Nhưng thế hệ các nhà hoạt động Ruthenia mới đã từ bỏ cả dự án Habsburg lẫn Nga, xác định lại người Ruthenia ở Áo-Hung là người Ukraine và xây dựng cầu nối với phong trào Ukraine trong Đế quốc Nga.
Đế chế Nga đã thực hiện nhiều nỗ lực để hỗ trợ phong trào thân Nga ở Galicia và các tỉnh khác của Habsburg. Họ thậm chí còn trợ cấp cho tờ báo thân Nga hàng đầu và chấp nhận những người lãnh đạo phong trào bị chính quyền Áo truy tố làm người tị nạn (người Áo nghi ngờ họ là điệp viên của Sa hoàng). Bất chấp sự hỗ trợ này của đế quốc, những người thân Nga phần lớn bị phe chủ trương dự án Ukraine gạt ra ngoài lề về mặt chính trị khi thế kỷ 19 kết thúc.
Người Ukraine ở Galicia đã tạo điều kiện cho các tác giả Ukraine từ Đế quốc Nga xuất bản các tác phẩm tiếng Ukraine của họ và chào đón những trí thức Ukraine chủ chốt muốn chuyển đến Galicia. Nhân vật nổi tiếng nhất trong số họ, nhà sử học Mykhailo Hrushevsky, đã chuyển đến Lviv (Lemberg của Áo) để trở thành giáo sư tại trường đại học địa phương. Ông đã tạo ra một tường thuật chính mới về lịch sử Ukraine và sau khi Đế quốc Nga sụp đổ, ông đã trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên của một nhà nước Ukraina độc lập.
Sự Sụp Đổ của Đế Chế
Trong khi Đế quốc Nga không sử dụng chủ nghĩa dân tộc sắc tộc để làm suy yếu chế độ quân chủ Habsburg đối địch và bảo vệ mình trước sự trỗi dậy của phong trào Ukraine, thì những nỗ lực của St. Petersburg nhằm sử dụng dân tộc tính và tôn giáo để chống lại đối thủ khác của mình, Ottoman Porte, đã chứng tỏ là thành công hơn nhiều.
Sự suy tàn của Đế chế Ottoman có thể bắt nguồn từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 17, nhưng đó là sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc trong số những dân tộc bị khuất phục vào thế kỷ 19, thế kỷ đã giáng đòn chí mạng vào đế chế. Thế kỷ đó đã chứng kiến nhiều cuộc nổi dậy của các thần dân Chính thống giáo và gốc Slav ở bán đảo Balkan chống lại sự cai trị của Ottoman. Người Serb và người Hy Lạp là những người đầu tiên nổi dậy, thành lập các quốc gia độc lập trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ. Người Nga đã có mặt ở đó để giúp đỡ, được thúc đẩy bởi địa chính trị và sự gần gũi tôn giáo nhiều hơn là bởi các ý thức về dân tộc. Sự công nhận cả hai quốc gia diễn ra sau cuộc chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1828-29) gần như biến Đế chế Ottoman thành một vùng phụ thuộc của Nga.
Sự trỗi dậy của chủ nghĩa toàn Slav ở Nga và tôn giáo Chính thống của các thần dân Ottoman ở Balkan đã trở thành những yếu tố quan trọng để Nga biện minh cho việc can thiệp vào các vấn đề của Ottoman, điều này tiếp tục trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Năm 1875, người Slav ở Herzegovina nổi dậy chống lại sự cai trị của Ottoman, cũng như người Bulgaria. Họ được tiếp nối bởi người Serb ở các vùng của Serbia và Montenegro vẫn do người Ottoman kiểm soát. Mặc dù người Ottoman đã dập tắt các cuộc nổi loạn, nhưng đến năm 1877, người Nga đã chuyển quân vào các thuộc địa của Ottoman, đánh bại quân đội của vị sultan. Thỏa thuận hòa bình được ký kết tại Đại hội Berlin năm 1878 bao gồm sự công nhận quốc tế về nền độc lập của Romania, Serbia và Montenegro, cũng như quyền tự chủ của Bulgaria, một quốc gia chỉ bao gồm một phần nhỏ lãnh thổ của Bulgaria.
Sự hậu thuẫn của Nga dành cho Serbia, lần này không phải chống lại người Ottoman mà là chống lại Áo-Hung, đã trở thành một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra Thế chiến thứ nhất, nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa dân tộc và mối đe dọa mà nó gây ra cho các đế chế. Trong tất cả các quốc gia tham chiến, bao gồm cả Đế quốc Nga, chiến tranh thế giới bắt đầu với sự gia tăng chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa sô vanh từ phía các quốc gia cầm quyền. Ở Áo-Hungary đã có một cuộc đàn áp chủ nghĩa dân tộc Slav, bao gồm cả phong trào thân Nga trong số những người Ukraine ở Galicia thuộc Áo. Ở Đế quốc Nga, chính quyền đã đóng cửa các tổ chức và thể chế Ukraine.
Trong khi đàn áp chủ nghĩa dân tộc thiểu số trong nước, các bên tham chiến đã cố gắng hết sức để chơi lá bài dân tộc chống lại nhau để huy động các phong trào dân tộc đằng sau tiền tuyến. Người Nga hứa trao quyền tự chủ và quyền lập quốc cho người Ba Lan trong biên giới Đức và Áo; người Áo hứa trao quyền lập quốc cho người Ukraine. Khi chiến tranh kéo dài, các đế chế hiếu chiến tìm cách làm suy yếu kẻ thù của họ bằng cách công nhận các yêu sách của các nhóm dân tộc thiểu số trên lãnh thổ của mình thậm chí bằng cách thành lập các quốc gia dân tộc trên các lãnh thổ đó. Người Đức dẫn đầu cuộc tấn công, cùng với người Áo, tuyên bố thành lập Vương quốc Ba Lan vào năm 1916.
Sự sụp đổ của triều đại Romanov ở Nga vào tháng 3 năm 1917 do kết quả của Cách mạng tháng Hai đã mở ra cánh cổng cho việc thành lập các chính thể tự trị trên lãnh thổ của Đế quốc Nga. Cuộc đảo chính của những người Bolshevik vào tháng 10 năm đó đã dẫn đến sự phá hủy hơn nữa các thể chế đế quốc và hình thành các quốc gia độc lập trên nền tảng của các quyền tự trị mới. Nhưng những người Bolshevik đã xoay xở để khôi phục lại sự thống nhất của các vùng đất đế quốc trước đây bằng cách kết hợp sức mạnh quân sự của họ với các nhượng bộ văn hóa cho các dân tộc, tuyển dụng những người ủng hộ trong giới trí thức và sự công nhận quyền tự chủ về chính trị và quyền sử dụng ngôn ngữ quốc gia của họ trong việc điều hành các vấn đề công cộng.
Đối thủ cạnh tranh chính của những người Bolshevik là các tướng lĩnh Bạch vệ tận tụy với ý tưởng về nước Nga, một nước Nga thống nhất và không thể chia cắt. Vì họ quan niệm nước cộng hòa Nga tương lai là một quốc gia dân tộc Nga, họ không thể hy vọng thu hút được các dân tộc không phải Nga, và mô hình quan hệ xã hội trước chiến tranh của họ đã khiến nông dân và công nhân xa lánh. Về phần mình, những người Bolshevik đã không thành công trong việc giành lại quyền kiểm soát Phần Lan, Ba Lan và vùng Baltic dưới ngọn cờ cách mạng thế giới. Họ cũng mất một phần Ukraine và Belarus vào tay Ba Lan và tỉnh Bessarabia trước đây của Nga (Moldova sau này) vào tay Romania. Nhưng họ đã chinh phục và giữ lại hầu hết phần còn lại của đế chế.
Vào đêm trước cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine tháng 2 năm 2022, Vladimir Putin tuyên bố rằng chính những người Bolshevik, đặc biệt là Vladimir Lenin, đã tạo ra một nhà nước Ukraine và thực sự là chính Ukraine hiện đại. Ngay cả một sự hiểu biết sơ lược về lịch sử Cách mạng Nga và sự sụp đổ đồng thời của Đế chế Nga cho thấy rằng nhà nước Ukraine hiện đại ra đời không phải nhờ Lenin mà là trái với ý muốn của ông ta.
Vào tháng 5 năm 1917, ngay sau khi chế độ quân chủ sụp đổ, Hội đồng Trung ương (Rada), quốc hội cách mạng của Ukraine, được thành lập tại Kyiv và do nhà sử học Mykhailo Hrushevsky lãnh đạo, đã tuyên bố quyền tự chủ của Ukraine trong một nước cộng hòa Nga tương lai. Nhưng chỉ sau cuộc đảo chính của những người Bolshevik ở Petrograd vào mùa thu 1917, Hội đồng Trung ương tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Ukraine, bao gồm hầu hết lãnh thổ Ukraine ngày nay trong biên giới của Đế quốc Nga, bao gồm cả vùng khai thác mỏ Donbas. Nhà nước mới muốn duy trì quan hệ liên bang với Nga, nhưng cuộc xâm lược của những người Bolshevik vào tháng 1 năm 1918 đã khiến điều đó trở nên bất khả thi.
Hội đồng Trung ương tuyên bố nền độc lập của Ukraine và tham gia vào liên minh chống Bolshevik với Đức và Áo-Hung. Người Bolshevik đã tiến hành chiến tranh với chính phủ Ukraine dưới chiêu bài Cộng hòa Nhân dân Ukraine của riêng mình – một hành động hư cấu được tạo ra nhằm cung cấp một mức độ hợp pháp cho việc tiếp quản Ukraine của người Bolshevik. Binh sĩ Bolshevik đã thảm sát dân chúng Kyiv, giết chết hàng trăm nếu không muốn nói là hàng nghìn công dân của thành phố, bao gồm cả Tổng Giám mục Vladimir (Bogoiavlensky) của Giáo hội Chính thống giáo. Chỉ huy Bolshevik ở Kyiv, Mikhail Muraviev, đã gửi cho Lenin một bức điện tín: “Trật tự đã được lập lại ở Kyiv.”
Hội đồng Trung ương phải rời khỏi Kyiv nhưng sớm quay trở lại sau khi ký một thỏa thuận với Đức và Áo-Hung, quân đội của họ tiến vào Ukraine vào mùa xuân năm 1918 và đẩy người Bolshevik ra khỏi lãnh thổ của mình, bao gồm cả Donbas. Người Đức đã sớm thay thế Hội đồng Trung ương Rada dân chủ bằng chế độ độc tài của thủ lĩnh quân sự Pavlo Skoropadsky, nhưng Cộng hòa Nhân dân Ukraine dân chủ đã được khôi phục khi người Đức rút khỏi Ukraine vào cuối năm 1918. Người Bolshevik lại tiến vào một lần nữa, lần này dưới ngọn cờ là kẻ thù của Cộng hòa Nhân dân Ukraine, lúc đó đã chính thức độc lập khỏi Nga.
Vào thời điểm người Bolshevik tái xuất hiện ở Ukraine và phát động chiến dịch quân sự để đưa các tỉnh của Ukraine thuộc Đế chế Nga cũ trở lại dưới sự kiểm soát của trung ương, ý thức dân tộc Ukraine đã lan rộng đến mức Vladimir Lenin cảm thấy buộc phải thay đổi chiến lược của mình. Ông kết luận rằng khát vọng độc lập của Ukraine rất mạnh mẽ, không chỉ trong số người Ukraine nói chung mà ngay cả trong chính những người Bolshevik gốc Ukraine, đến mức đòi hỏi phải cấp cho họ một mức độ tự chủ và một địa vị bình đẳng với nước Nga. Người Ukraine không chỉ được công nhận là một dân tộc riêng biệt (cũng như người Belarus), không còn là một “bộ tộc” của một quốc gia Nga ba thành phần như thời Sa hoàng, mà còn được công nhận về mặt hình thức là nền độc lập cho một nhà nước Ukraine bù nhìn của Liên Xô, và tiếng Ukraine trở thành ngôn ngữ chính thức của nước này.
Nhận ra rằng các phong trào dân tộc lên nắm quyền do ảnh hưởng của Thế chiến I và Cách mạng năm 1917 sẽ phải được điều chỉnh, những người Bolshevik đã nỗ lực giành được sự hợp tác của giới chính trị và giới tinh hoa văn hóa mới của Ukraine. Sự điều chỉnh này cuối cùng đã vượt ra ngoài các vấn đề về ngôn ngữ, văn hóa và tuyển dụng cán bộ địa phương vào các chính quyền chiếm đóng trên thực tế. Nó cũng bao gồm việc thành lập các thể chế nhà nước và công nhận nền độc lập có tính hình thức của các quốc gia bù nhìn do Bolshevik kiểm soát được thành lập để làm mất tính hợp pháp của các quốc gia và chính phủ mới thực sự độc lập được thành lập bởi các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng biên giới của đế chế cũ.
Liên Bang Cộng Sản
Đóng góp chính của Vladimir Lenin vào lịch sử quan hệ Nga-Ukraine không phải là việc hình thành một nhà nước Ukraine hiện đại. Mà đúng hơn, đó là việc ban tặng cho nước Nga, hay Liên bang Nga – cái tên Liên bang Xô viết mà nước này gia nhập vào đó – một lãnh thổ và các thể chế riêng, lần đầu tiên sau nhiều thế kỷ, khác biệt với lãnh thổ và các thể chế của đế chế mà những người Bolshevik đang tìm cách bảo tồn. Nếu Lenin có làm điều gì, thì đó chính là việc đặt nền móng cho sự hình thành của nước Nga hiện đại, chứ không phải Ukraine.
Năm 1922 Lenin đã đụng độ với Joseph Stalin về cấu trúc của nhà nước Xô Viết khi đó đang được hình thành. Các nước cộng hòa thành phần của Liên Xô —các quốc gia độc lập về mặt hình thức thực sự do Đảng Bolshevik kiểm soát—sẽ được sáp nhập vào Liên Xô do Nga lãnh đạo như thế nào? Các chính thể không liên quan đến Nga là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Ukraine, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Belarus và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Ngoại Kavkaz, bao gồm Gruzia, Armenia và Azerbaijan. Stalin đề xuất đưa tất cả các nước này vào Liên bang Nga như các vùng tự trị, nhưng những người Bolshevik Ukraine và Gruzia phản đối vì điều đó sẽ hạn chế đáng kể quyền hạn của họ với tư cách là người cai trị các nước cộng hòa độc lập trên danh nghĩa.
Lenin đứng về phía người Ukraine và người Gruzia, đề xuất một Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết mà Liên bang Nga sẽ tham gia trên cơ sở bình đẳng với các nước khác. Ông đã giành chiến thắng và hiệp ước chính thức thành lập Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết đã được ký kết vào ngày 30 tháng 12 năm 1922. Stalin cũng đồng thuận. Vì tương lai của mối quan hệ Nga-Ukraine, cũng như mối quan hệ của Nga với tất cả các dân tộc và sắc tộc khác của đế chế cũ, việc thành lập Liên Xô sẽ chứng tỏ là định mệnh. Lần đầu tiên trong lịch sử, Nga đã có được một lãnh thổ và các thể chế tách biệt khỏi các cơ quan quản lý đế quốc của Sa hoàng. Chức năng đế quốc giờ đây sẽ do toàn Liên bang thực hiện chứ không phải các thể chế cộng hòa Nga.
Bất chấp sự thành lập của Liên Xô, những người Bolshevik Nga vẫn giữ quyền kiểm soát các nước cộng hòa khác thông qua tổ chức quan trọng nhất – Đảng Cộng sản. Ban đầu được gọi là Đảng Cộng sản Nga và sau đó là Đảng Cộng sản toàn Liên bang của những người Bolshevik, nó vẫn có tính tập trung cao độ, dần dần biến cấu trúc liên bang của Liên Xô mang một tính chất hình thức đơn thuần. Không giống như các nước cộng hòa khác, Nga không có một đảng cộng sản của riêng mình mà kiểm soát đảng toàn Liên bang, trong đó các đảng của các nước cộng hòa không được trao nhiều quyền hơn các tổ chức cộng sản cấp tỉnh của Liên bang Nga. Mặc dù mặt tiền liên bang vẫn được duy trì, Liên Xô đã có được một hệ thống chính quyền tập trung dưới hình thức một đảng toàn Liên bang.
Liên Xô bắt đầu cuộc sống của mình bằng hành động khẳng định mạnh mẽ đối với các nền văn hóa không phải của Nga bên ngoài Liên bang Nga. Nhưng quá trình Nga hóa văn hóa của vùng biên giới đã quay trở lại vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, khi Stalin nổi lên như người kế nhiệm duy nhất của Lenin và bắt đầu chuẩn bị đất nước cho chiến tranh. Một lý do cho sự thay đổi này là công nghiệp hóa, với sự kiểm soát của Nga đối với toàn bộ đảng Liên bang, đi kèm với sự phát triển của tiếng Nga như ngôn ngữ của chính quyền, khoa học và công nghệ. Một lý do khác là chấp nhận người Nga là dân tộc lớn nhất trong đế chế Xô Viết hiện nay, cùng với mối quan tâm hòa nhập các dân tộc không phải người Nga về mặt văn hóa để họ không đổi phe trong cuộc chiến sắp tới.
Ở Ukraine, nước cộng hòa lớn nhất không phải là người Nga của Liên Xô, sự thay đổi chính sách dân tộc được báo hiệu bằng các phiên tòa xét xử giới trí thức Ukraine. Phiên tòa đầu tiên như vậy, diễn ra vào năm 1929, tiếp theo là một cuộc tấn công vào các cán bộ đảng Ukraine và giai cấp nông dân, đạt đến đỉnh điểm trong thời kỳ Holodomor, tức Nạn đói Lớn của Ukraine năm 1932-33. Một số đảng viên cộng sản Ukraine chủ chốt đã tự tử, trong khi những người khác bị cách chức và bị bỏ tù. Có tới bốn triệu người đã chết đói như một phần của chiến dịch phối hợp nhằm đè bẹp sức kháng cự của nông dân đối với việc tập thể hóa và tối đa hóa việc cung cấp ngũ cốc cho quá trình công nghiệp hóa của Liên Xô. Trong tháng dẫn đến nạn đói khởi phát, Stalin đã cảnh báo các cộng sự của mình rằng cần phải có các biện pháp như vậy để ngăn chặn việc mất quyền kiểm soát Ukraine. Holodomor đã biến Ukraine, trước đây được biết đến là vựa lúa mì của châu Âu, trở thành một vùng đất bị tàn phá bởi nạn đói.
Chiến tranh thế giới thứ II đã dẫn đến một sự thay đổi khác trong chính sách của Moscow đối với các dân tộc. Mặc dù chủ nghĩa Trung tâm Nga không bị từ bỏ, nhưng nhiều biểu hiện hơn của lòng yêu nước Ukraine và các dân tộc không phải Nga khác đã được cho phép. Việc Liên Xô tiếp quản các tỉnh phía đông của Ba Lan sau Hiệp ước Molotov-Ribbentrop năm 1939 được biện minh là giải phóng những người đồng hương Ukraine và Nga khỏi sự áp bức của chủ nghĩa tư bản Ba Lan Thiên Chúa giáo. Nó cũng được tôn vinh về mặt dân tộc như sự đoàn tụ của miền tây Ukraine và miền tây Belarus với các nước cộng hòa Xô Viết tương ứng. Mô hình thống nhất đế quốc cũ đã quay trở lại, lần này khoác lên mình trang phục của người Ukraine và Belarus.
Sau khi Hitler tấn công Liên Xô vào tháng 6 năm 1941, chủ nghĩa dân tộc phi Nga lại được huy động một lần nữa, đặc biệt là ở Ukraine, để khuyến khích tinh thần kháng cự yêu nước đối với cuộc xâm lược của Đức. Khi quân Đức chiếm đóng toàn bộ Ukraine với sự hỗ trợ của các đồng minh Romania và Hungary, Moscow không ngại thúc đẩy ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử Ukraine để huy động sức đề kháng và truyền cảm hứng cho lòng trung thành của hơn sáu triệu người Ukraine bị bắt đi lính Hồng quân. Lá bài Ukraine cũng được sử dụng trong và ngoài nước để biện minh cho việc tiếp quản quân sự và sáp nhập các vùng đất phía tây Ukraine do Ba Lan, Tiệp Khắc và Romania cai trị trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh.
Năm 1914, quân đội Nga đã chiếm được thành phố Lviv, khi đó đang nằm dưới sự cai trị của Áo, biện minh rằng đó là để giải phóng cho những đồng bào Nga, thuật ngữ chính thức của chính quyền Sa hoàng dán cho dân cư địa phương. Khi Thế chiến II sắp kết thúc, Liên Xô không chơi lá bài quốc gia Nga mà là lá bài quốc gia Ukraine khi họ sáp nhập Lviv vào Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraine, mặc dù thành phố này phần lớn là người Ba Lan về mặt dân tộc, với người Do Thái (phần lớn bị tiêu diệt trong cuộc diệt chủng Holocaust) là nhóm dân tộc lớn thứ hai.
Trong khi chính quyền háo hức khai thác dân tộc Ukraine để biện minh cho sự bành trướng về phía tây của Liên Xô, họ không hoan nghênh hoặc dung thứ cho mọi biểu hiện của lòng yêu nước và chủ nghĩa dân tộc Ukraine.
Tổ chức Dân tộc chủ nghĩa Ukraine (OUN), được thành lập ở vùng đất phía tây Ukraine trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh, được coi là đặc biệt nguy hiểm. Các thành viên của tổ chức này được Liên Xô gọi là bọn Bandera: thủ lĩnh của tổ chức này, Stepan Bandera, và một số người theo ông đã bị giam giữ trong các trại tập trung của Đức sau một nỗ lực bất thành nhằm tuyên bố một nhà nước Ukraine độc lập liên minh với Đức và chống lại Liên Xô vào mùa hè năm 1941. Bọn chiếm đóng Đức Quốc xã, vốn coi người Slav là hạ đẳng, đã trục xuất hơn hai triệu người Ukraine sang Đức như những lao động nô dịch và những người yêu nước Ukraine bị đàn áp ở mọi cấp độ.
Hai nhánh của OUN, một nhánh do Bandera lãnh đạo, nhánh còn lại do đối thủ ít được biết đến hơn của ông là Andrii Melnyk lãnh đạo, đã quay lưng lại với người Đức vào cuối năm 1941. Năm 1943, phe Bandera nắm quyền lãnh đạo Quân đội Ukraine nổi dậy gồm 100.000 người, một lực lượng du kích đã chiến đấu chống lại Quân đội Nội địa Ba Lan và Đức Quốc xã và sau đó là chống lại Hồng quân để giành quyền kiểm soát miền tây Ukraine. Cuộc nổi dậy của những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine không bị dập tắt hoàn toàn cho đến đầu những năm 1950, những năm cuối dưới thời Stalin, được coi là phong trào kháng chiến mạnh mẽ và lâu dài nhất chống lại Liên Xô ở bất cứ nơi nào tại Đông – Trung Âu.
Liên Xô đã làm hết sức mình để làm mất uy tín của những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine bằng cách lên án sự hợp tác ban đầu của họ với người Đức và vạch trần sự tham gia của một số thành viên OUN vào cuộc diệt chủng Holocaust và cuộc thanh trừng sắc tộc người Ba Lan trong thời gian Đức chiếm đóng Ukraine. Họ cũng đưa ra những nhượng bộ lớn đối với tiếng Ukraine, ngôn ngữ này đã trở nên thống trị trong các thể chế chính quyền miền tây Ukraine thay thế tiếng Ba Lan. Nhưng quá trình Xô Viết hóa miền tây Ukraine chủ yếu được thực hiện bằng đàn áp. Không chỉ những chiến binh bị bắt của lực lượng nổi dậy Ukraine mà cả những thường dân bị nghi ngờ giúp đỡ quân nổi dậy cũng bị tái định cư hoặc trục xuất hàng loạt đến các trại gulag ở Liên Xô, khiến người Ukraine trở thành nhóm dân tộc tù nhân chính trị lớn nhất ở Liên Xô – một hiện tượng được Aleksandr Solzhenitsyn ghi lại trong Quần đảo Gulag của ông.
Khu Phức Hợp Nga-Ukraine
Sau cái chết của Stalin năm 1953, vận mệnh của giới tinh hoa cộng sản Ukraine, vốn đã hoàn toàn phụ thuộc vào Moscow trong thời kỳ Holodomor và sau đó bị thanh trừng trong thời kỳ Đại Khủng bố vào cuối những năm 1930, đã được cải thiện đáng kể. Tác nhân của sự thay đổi là nhân vật cao cấp trong Đảng của Stalin tại Ukraine, Nikita Khrushchev, người đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Ukraine từ năm 1938 đến năm 1949. Bây giờ ông đã sử dụng sự hậu thuẫn của các đồng chí Ukraine của mình để đánh bại các đối thủ cạnh tranh của mình tại Moscow và trở thành nhà lãnh đạo tối cao của Liên Xô. Các cán bộ người Ukraine hình thành nên cốt lõi của kim tự tháp quyền lực của Khrushchev: vì không có Đảng Cộng sản Nga riêng biệt nên họ tạo thành khối bỏ phiếu lớn nhất trong Ủy ban Trung ương toàn Liên bang, nơi có quyền bầu và bãi nhiệm các nhà lãnh đạo đảng.
Dưới thời Khrushchev, giới tinh hoa của đảng Ukraine nổi lên như là các thành viên cấp dưới của các đối tác Nga trong việc điều hành Liên Xô, phát triển thành một khu phức hợp Nga-Ukraine ở cấp lãnh đạo. Một dấu hiệu cho thấy sự nổi bật mới của Ukraine và sự trỗi dậy của nước này trong hệ thống phân cấp mang tính biểu tượng của các quốc gia Xô Viết là việc chuyển giao Bán đảo Crimea từ Nga sang Ukraine vào năm 1954, do Khrushchev chỉ đạo. Về mặt chính thức, “món quà” này đánh dấu lễ kỷ niệm 300 năm Hiệp định Pereiaslav năm 1654, hiệp định đã đưa Cossack Ukraine vào quyền kiểm soát của Muscovy, tạo nên “sự thống nhất lại của Ukraine và Nga”, như đã được ca ngợi trong tuyên truyền của Liên Xô. Điều này được trình bày với công chúng như bằng chứng về sự tin tưởng mà Nga hiện đang đặt vào Ukraine.
Trên thực tế, Bán đảo Crimea đã được gắn liền với chính quyền Ukraine đại lục nhằm đẩy nhanh quá trình phục hồi sau chiến tranh, vốn diễn ra chậm hơn so với các khu vực khác của Liên Xô châu Âu. Điều này một phần là do Stalin đã trục xuất cưỡng bức dân bản địa của bán đảo, người Tatar Crimea, những người bị cáo buộc hợp tác với Đức trong thời chiến.
Sự trỗi dậy của tầm quan trọng mang tính biểu tượng của Ukraine như là nước cộng hòa Xô Viết quan trọng thứ hai và của giới tinh hoa đảng ở Ukraine như là thành viên cấp dưới của các ông chủ đảng Nga tiếp tục diễn ra những năm 1960 và 1970 dưới thời người kế nhiệm Khrushchev, Leonid Brezhnev. Khrushchev sinh ra ở Nga đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở Ukraine, trong khi Brezhnev, là người dân tộc Nga, nhưng quê quán ở Ukraine. Brezhnev trở thành thủ lĩnh của một nhóm chính trị được gọi là “mafia Dnipropetrovsk”, được đặt theo tên thành phố công nghiệp ở Ukraine, nơi ông bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình và tuyển dụng những cán bộ trung thành với mình, bổ nhiệm họ vào các vị trí chủ chốt ở Moscow và Kyiv. Sự nổi bật mà đảng bộ và giới tinh hoa quản lý Ukraine có được ở chính phủ trung ương một phần phản ánh tầm quan trọng của Ukraine trong nền kinh tế Liên Xô. Xét cho cùng, đây là nước cộng hòa đông dân thứ hai và có năng suất kinh tế cao nhất của Liên Xô.
Năm 1967, khi chính phủ Liên Xô kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Xô, các báo cáo chính thức nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo kinh tế của Liên bang Nga. “Ngành công nghiệp của Liên bang Nga”, vào thời điểm đó được tuyên bố, “chiếm khoảng một nửa sản lượng gang, thép, sắt cán, than, khí đốt, phân khoáng, axit sunfuric và máy cắt kim loại của toàn Liên bang, hai phần ba năng lượng điện và thiết bị hóa chất, hơn 80 phần trăm sản lượng dầu và sản lượng ô tô, giấy và dệt may; ba phần tư sợi hóa học, hơn 60 phần trăm xi măng và hơn 90 phần trăm bột gỗ để xuất khẩu.”
Nhưng xếp hạng ngay sau Liên bang Nga về mặt đóng góp cho ngân khố chung của Liên bang là Cộng hòa Ukraine, sản xuất một nửa sản lượng gang, hơn 40 phần trăm sản lượng thép và sắt cán, hơn một nửa quặng sắt và một một phần ba than và khí đốt của của toàn Liên bang”, cùng một báo cáo kinh tế viết. “Gần như toàn bộ sản lượng đầu máy xe lửa diesel của toàn Liên bang đều tập trung ở Ukraine, toàn bộ sản lượng máy gặt đập liên hợp thu hoạch củ cải đường và khoảng một nửa sản lượng máy móc luyện kim, sản lượng máy cắt kim loại số lượng lớn, máy kéo và ô tô, cũng như máy móc cho ngành năng lượng, điện kỹ thuật, hóa chất, vận tải và thiết bị nâng hạ, và các máy móc khác.”
Năm 1970, Liên bang Nga có dân số khoảng 118 triệu người, trong khi Cộng hòa Ukraine có 42 triệu người. Nếu Nga chiếm 57 phần trăm dân số toàn Liên bang, gồm 208 triệu người, thì Ukraine Xô Viết chỉ chiếm 20 phần trăm. Do đó, đóng góp của Ukraine vào nền kinh tế Liên Xô nếu tính theo tỷ lệ dân số của nó: chiếm khoảng 18 phần trăm lực lượng lao động và khoảng số bách phân tương tự trong sản lượng kinh tế của Liên Xô. Vào thời điểm đó, có hơn 7 triệu người Nga đang sinh sống tại Ukraine và khoảng 3,4 triệu người Ukraine ở Liên bang Nga. Không có ngoại lệ, người Ukraine ở Nga không chỉ nói tiếng mẹ đẻ mà còn nói tiếng Nga; một số người chỉ nói tiếng Nga. Người Nga ở Ukraine chủ yếu nói tiếng Nga, cũng như nhiều người Ukraine bản địa, đặc biệt là những người sống ở các trung tâm công nghiệp lớn ở phía đông và phía nam Ukraine.
Brezhnev đã đàn áp phong trào phục hưng văn hóa Ukraine vốn bắt đầu như một phần trong nỗ lực phi Stalin hóa của Khrushchev vào cuối những năm 1950. Năm 1972, Điện Kremlin đã tước bỏ quyền lực của ông trùm đảng có đầu óc độc lập của Ukraine, Petro Shelest, một người cộng sản dân tộc kiên định, và đã phát động một chiến dịch chống lại giới trí thức Ukraine dẫn đến nhiều vụ bắt giữ và đưa vào danh sách đen nhiều nhân vật văn hóa lớn của Ukraine, bao gồm cả nhà thơ nổi tiếng Lina Kostenko. Trong số những người bị bắt có các thành viên của Nhóm Helsinki của Ukraine, đây là tổ chức thứ hai được thành lập tại Liên Xô để giám sát các hành vi vi phạm nhân quyền của chính quyền Liên Xô theo Đạo luật Chung thẩm Helsinki – một thỏa thuận, được ký bởi đại diện của 35 quốc gia chủ yếu là châu Âu, bao gồm Hoa Kỳ và Liên Xô vào năm 1975.
Vào thời điểm Mikhail Gorbachev lên nắm quyền vào năm 1985, sự phục hưng dân tộc Ukraine đã cạn kiệt từ lâu, và giới tinh hoa văn hóa Ukraine có rất ít khả năng thách thức các chính sách đến từ Moscow. Với sự tiến triển của quá trình Nga hóa ở Ukraine, đặc biệt là ở phía đông và phía nam của đất nước, giấc mơ của giới chức Liên Xô là biến người Nga và người Ukraine thành một dân tộc, ít nhất về mặt ngôn ngữ và văn hóa, có vẻ gần với hiện thực hơn bao giờ hết.
Gorbachev đã quá tin rằng “vấn đề dân tộc” của Liên Xô đã được giải quyết một lần và mãi mãi đến nỗi ông quyết định bỏ qua một quy tắc bất thành văn được thiết lập ngay sau cái chết của Stalin: người lãnh đạo một tổ chức đảng ở mọi nước cộng hòa phải là đại diện cho dân tộc địa phương. Vào tháng 12 năm 1986, ông đã thay thế người đứng đầu lâu năm của Đảng Cộng sản Kazakhstan, Dinmukhamed Kunaev, bằng người trung thành của mình là Gennadii Kolbin, một người Nga gốc Urals. Moscow bất ngờ khi những người Kazakh trẻ tuổi đã đối đầu Kolbin bằng các cuộc biểu tình và bạo loạn – trường hợp đầu tiên về hành động quần chúng do tính dân tộc thúc đẩy ở Liên Xô trong nhiều thập kỷ. Gorbachev đã lùi bước và cuối cùng đã cho phép nhà lãnh đạo địa phương người Kazakh Nursultan Nazarbaev thay thế Kolbin.
Đó chỉ là sự khởi đầu. Vào năm 1988, một cuộc xung đột giữa người Azerbaijan và người Armenia đã bùng nổ thành các cuộc bạo loạn về số phận của Nagorno-Karabakh, một vùng đất của người Armenia ở Azerbaijan. Nhưng cho dù chính quyền trung ương xem các cuộc xung đột giữa các dân tộc và giữa các nền cộng hòa ở Caucasus và Trung Á thách thức như thế nào, chúng cũng kém xa so với phong trào đòi độc lập sẽ sớm lớn mạnh ở các nước cộng hòa Baltic (Estonia , Latvia và Litva) và sau đó là ở Ukraine, nước cộng hòa quan trọng thứ hai của Liên Xô. Việc huy động tinh thần dân tộc Ukraine sẽ đe dọa sự thống nhất không chỉ của Liên Xô mà còn của hạt nhân sắc tộc Slav của Liên Xô, giống như sự trỗi dậy của phong trào Ukraine đã từng xảy ra ở Đế chế Nga vào thế kỷ 19.
Sự Sụp Đổ của Liên Xô
Sự sụp đổ của Liên Xô bắt đầu vào thời điểm những vùng đất mới được thêm vào lãnh thổ Liên Xô – những vùng đất được sáp nhập trong Thế chiến II, đầu tiên là sau Hiệp ước Molotov-Ribbentrop và sau đó được giành lại từ Đức Quốc xã vào năm 1944-45 do các thỏa thuận Yalta. Ở đó, sức mạnh của Moscow là yếu nhất.
Đi đầu trong việc huy động chống lại trung tâm Liên Xô là các quốc gia vùng Baltic, đặc biệt là Estonia và Litva. Vào tháng 11 năm 1988, Estonia trở thành nước cộng hòa Liên Xô đầu tiên tuyên bố chủ quyền của mình, nghĩa là luật pháp của nước này được ưu tiên hơn luật pháp của Liên Xô.
Về phần mình, Litva là nước cộng hòa đầu tiên tuyên bố hoàn toàn độc lập khỏi Liên Xô. Nước này đã làm như vậy vào tháng 3 năm 1990 tại phiên họp đầu tiên của quốc hội Litva được bầu tự do. Ngay cả Đảng Cộng sản Litva cũng từ bỏ Liên Xô, tuyên bố ly khai khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô. Quyền lãnh đạo được chuyển cho đại diện của một nhóm tinh hoa thay thế từ hàng ngũ trí thức và kỹ trị, không khác gì quá trình ở Đông Âu vài năm sau đó. Nỗ lực giành lại độc lập của vùng Baltic bị mất trong ngọn lửa của Thế chiến II đã có hiệu ứng lan tỏa khắp Liên Xô. Để phản đối “Mặt trận Nhân dân” Baltic – các tổ chức ủng hộ độc lập đã đưa hàng trăm ngàn người xuống đường để đạt được mục tiêu của mình – Moscow và giới tinh hoa đảng địa phương đã tổ chức “Mặt trận Quốc tế” nhằm huy động người Nga và các nhóm thiểu số nói tiếng Nga ở các nước cộng hòa.
Sự huy động của Nga ở vùng biên giới phía tây của Liên Xô đã sớm lan sang chính nước Nga. Cách tiếp cận “Nước Nga trước tiên” đã đoàn kết những người dân tộc chủ nghĩa và dân chủ Nga, đẩy nhân vật từng được Gorbachev bảo trợ và sau này là kẻ thù không đội trời chung, Boris Yeltsin, lên vị trí đứng đầu quốc hội Nga và sau đó là tổng thống Nga.
Chiến thắng của Yeltsin là kết quả của một số cuộc huy động, đầu tiên là của những người theo chủ nghĩa dân tộc và sau đó là của những nhà hoạt động dân chủ ở các thành phố lớn. Cuối cùng, có sự ủng hộ của những công nhân mới được tổ chức đã đình công vì điều kiện kinh tế, hy vọng chính quyền Nga có thể giúp họ khi các viên chức Liên bang không làm được như vậy.
Đến tháng 6 năm 1991, Moscow đã có hai vị tổng thống, một của Nga và một của Liên Xô. Nhưng ở Nga, không giống như ở các nước cộng hòa Baltic, phe đối lập với trung tâm được lãnh đạo bởi một cựu lãnh đạo đảng, chứ không phải bởi một trí thức, như trường hợp ở Litva, nơi cựu giáo sư âm nhạc Vytautas Landsbergis đóng vai trò gần giống như Yeltsin. Mặc dù Yeltsin đã công khai từ bỏ Đảng Cộng sản và sau đó đình chỉ các hoạt động của đảng, nhưng giới tinh hoa mới của Nga không bao giờ cắt đứt hoàn toàn với quá khứ cộng sản, như những người đồng cấp của họ ở vùng Baltic đã làm. Đó là một sự khác biệt quan trọng.
Ở Ukraine, cuộc huy động bắt đầu thực sự vào năm 1989, khi Gorbachev xoay xở để hạ bệ nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản, Volodymyr Shcherbytsky, người được Brezhnev bảo trợ và là thành viên chủ chốt của “mafia Dnipropetrovsk”. Nó kết hợp các yếu tố của cuộc huy động Baltic và Nga. Ở những vùng phía tây Ukraine bị Liên Xô sáp nhập trên cơ sở Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, nó đã đi theo mô hình Baltic, tập trung vào các vấn đề về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa và chủ quyền quốc gia. Tuyên bố độc lập của Ukraine khỏi Liên Xô sau cuộc đảo chính bất thành vào tháng 8 năm 1991 tại Moscow (của các lãnh đạo đảng bảo thủ, nhằm lật đổ Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev vì các cải tổ của ông) không chỉ là kết quả của liên minh giữa những người theo chủ nghĩa dân tộc, dân chủ và công nhân đình công ở khu vực Donbas mà còn nhờ vào sự ủng hộ của bộ máy đảng, vốn đang bị đe dọa bởi việc Yeltsin đình chỉ hoạt động của Đảng Cộng sản.
Vào ngày 1 tháng 12 năm 1991, người dân Ukraine đã giáng đòn cuối cùng vào Liên Xô bằng cách bỏ phiếu áp đảo cho nền độc lập. Các nước Baltic đã thực sự biến mất vào thời điểm đó, cũng như Moldova và phần lớn Caucasus. Nhưng người Belarus và người Trung Á, vốn trông cậy vào nguồn cung cấp khí đốt và dầu được trợ cấp liên tục từ Nga, không vội vã rời đi. Ngay cả Kazakhstan giàu tài nguyên cũng do dự về độc lập, một phần vì dân số Nga và Slav đông đảo. Nhưng giới lãnh đạo Nga đã quyết định chấm dứt sự tồn tại của Liên Xô vì họ không muốn gánh vác gánh nặng kinh tế của Liên bang mà không có nguồn nhân lực và kinh tế đáng kể của Ukraine. Boris Yeltsin có thêm một lời giải thích cho quyết định của mình để công nhận cuộc bỏ phiếu của người Ukraine đòi độc lập: dân tộc và văn hóa. Ông đã nói với tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush nhiều lần rằng nếu không có Ukraine, Nga sẽ bị đánh bại trong một liên minh bao gồm phần lớn các nước cộng hòa Hồi giáo không phải gốc Slav. Cuộc bỏ phiếu áp đảo của Ukraine đòi độc lập và quyết định công nhận của Nga đã báo hiệu sự kết thúc của Liên Xô, buộc người Belarus và người Trung Á cũng phải rời đi, dù muốn hay không.
Vào ngày 25 tháng 12 năm 1991, khi Mikhail Gorbachev tuyên bố từ chức tổng thống Liên bang Xô Viết, sự tan rã của Liên Xô chưa kết thúc. Trên thực tế, nó đã bước vào giai đoạn đầy thách thức và nguy hiểm nhất của quá trình này. Khối Thịnh vượng Chung các Nhà nước Độc lập, được thành lập bởi những người kế nhiệm chính trị của Liên Xô vào tháng 12 năm 1991, đã tạo ra một cơ chế để đàm phán nhiều vấn đề liên quan đến sự tan rã của Liên Xô. Nhưng nó đã chứng minh không thể giải quyết được vấn đề quan trọng nhất trong số đó – vai trò của Nga trong không gian hậu Xô Viết và mức độ chủ quyền mà Nga đã chuẩn bị nhượng lại cho các thần dân trước đây của mình.
Nhiều nhà lãnh đạo Nga coi Khối Thịnh vượng Chung là một sự thỏa hiệp tạm thời. Như Yeltsin đã nói trong bài phát biểu trước quốc hội Nga sau hội nghị thượng đỉnh Belavezha, “Trong điều kiện hiện nay, chỉ có Khối Thịnh vượng Chung các Nhà nước Độc lập mới có thể đảm bảo duy trì không gian chính trị, pháp lý và kinh tế được xây dựng qua nhiều thế kỷ nhưng giờ đây gần như đã mất”. Gennadii Burbulis, cố vấn chủ chốt của Yeltsin tại Belavezha, đã hình dung ra kỷ nguyên mới bắt đầu trong lịch sử Nga sau cuộc đảo chính tháng Tám bất thành như một giai đoạn chuyển tiếp trong đó Nga sẽ xoay xở để tái thiết bằng cách độc quyền thu lợi nhuận từ việc bán dầu và khí đốt tự nhiên thay vì chia sẻ chúng với các thành viên khác của Khối Thịnh vượng Chung. “Chúng ta phải cứu nước Nga và củng cố nền độc lập của nước này, tách mình khỏi phần còn lại”, các cố vấn của Yeltsin lập luận ngay sau cuộc đảo chính bất thành. “Sau đó, khi [Nga] đứng vững trở lại, mọi người sẽ tập hợp lại với nhau và vấn đề [Liên bang] có thể được giải quyết một lần nữa”. Ngay sau khi Liên Xô chính thức giải thể, căng thẳng đã phát triển giữa hai quốc gia kế thừa lớn nhất của nó là Nga và Ukraine. Liệu các thành viên Khối Thịnh vượng Chung có hoàn toàn độc lập và tự do thực hiện các chính sách đối nội và đối ngoại của riêng họ hay chủ quyền của họ sẽ bị hạn chế? Nga không bao giờ từ bỏ vai trò là thành viên thống trị của Khối Thịnh vượng Chung, nỗ lực biến nó thành một liên minh chính trị, kinh tế và quân sự do Nga lãnh đạo. Ukraine, mặc dù là thành viên sáng lập của Khối Thịnh vượng Chung, chưa bao giờ chính thức gia nhập khối này, mà chỉ tham gia vào một số chương trình. Căng thẳng Nga-Ukraine tiếp tục trong suốt những năm 1990, dẫn đến một cuộc chiến tranh giành quyền lực
Căng thẳng Nga-Ukraine tiếp tục trong suốt những năm 1990, dẫn đến một cuộc chiến kéo co và sau đó là xung đột quân sự toàn diện trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Nếu sự sụp đổ của Liên Xô diễn ra đột ngột và hầu như không đổ máu, thì căng thẳng ngày càng tăng giữa hai quốc gia kế nhiệm lớn nhất của Liên Xô sẽ phát triển thành giao tranh hạn chế ở Donbas vào năm 2014 và sau đó là chiến tranh toàn diện vào năm 2022, gây ra cái chết, sự tàn phá và một cuộc khủng hoảng người tị nạn ở quy mô chưa từng thấy ở châu Âu kể từ Thế chiến thứ hai.
Nền hòa bình lừa dối
Tại sao họ không chiến đấu vào năm 1991? Tại sao Nga từ bỏ chiến tranh để bảo vệ Liên bang Xô Viết vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990? Những câu hỏi này được xem xét tốt nhất trong bối cảnh những nỗ lực thường xuyên đầy kịch tính và đẫm máu của các cường quốc đế quốc châu Âu và Âu Á nhằm bảo vệ các vùng lãnh thổ của họ trong suốt thế kỷ 19 và 20.
Như đã lưu ý ở phần đầu của chương này, sự sụp đổ của Liên Xô được những người đương thời và những người tham gia coi là về cơ bản giống với sự sụp đổ của các đế chế thế giới trước đây. Một trong những quan sát viên như vậy là cố vấn thân cận của Gorbachev, Anatolii Cherniaev. Một người tham gia đưa ra các so sánh tương tự là cố vấn trưởng kinh tế của Boris Yeltsin và là thủ tướng lâm thời được lựa chọn cẩn thận, Yegor Gaidar. Bên ngoài nước Nga, những so sánh như vậy đã được đưa ra bởi Jack F. Matlock, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, và bởi người đứng đầu của ngành Liên Xô học cỉa Hoa Kỳ, George F. Kennan.
Năm 1995, trong bài phê bình cuốn hồi ký của Matlock có tựa đề Khám nghiệm tử thi một đế chế, Kennan đã viết: “Tôi thấy khó có thể nghĩ ra bất kỳ sự kiện nào kỳ lạ và gây sửng sốt hơn, và thoạt nhìn khó giải thích hơn, so với sự tan rã và biến mất đột ngột và toàn diện khỏi bối cảnh quốc tế, chủ yếu trong những năm 1987 đến 1991, của cường quốc được biết đến lần lượt là Đế chế Nga và Liên Xô.” Kennan cho rằng quá trình sụp đổ của các đế chế trước đó là dần dần. Sự sụp đổ của Liên Xô thì không. “Vậy thì làm sao giải thích được sự đột ngột tột độ, kết thúc nhanh chóng sắc nét, và đặc biệt là không đổ máu mà Đế chế Xô Viết vĩ đại đã kết thúc trong bốn năm nói trên, mang theo những đặc thù của Đế quốc Nga trước đó mà nó đã cố gắng kết nạp vào chính mình?” Kennan tự hỏi bản thân và độc giả của mình.
Kinh nghiệm của Liên Xô có phải là duy nhất không? Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách xem xét Đế quốc Anh, thể chế hùng mạnh nhất của thời hiện đại, đã cung cấp cho người Nga một mô hình Khối Thịnh vượng Chung để từ bỏ một dự án đế quốc truyền thống. Sự tách rời của đế quốc Anh thực sự diễn ra dần dần. Có thể nói nó bắt đầu với Cách mạng Hoa Kỳ vào thế kỷ thứ 18, tiếp theo là chủ nghĩa tự trị phát triển chậm chạp ở các lãnh thổ Canada, Úc và New Zealand vào thế kỷ 19 và 20.
Những nỗ lực nhằm đàn áp các phong trào giành độc lập của Nam Phi và Ireland đã không thành công sau Thế chiến I; trong những thập kỷ sau Thế chiến II, Anh đã rút khỏi Ấn Độ và sau đó là các thuộc địa châu Phi của mình.
Sự kết thúc của Đế chế Pháp diễn ra nhanh hơn và một phần vì nó đẫm máu hơn. Các thuộc địa của Pháp ở Đông Dương đã bị Nhật Bản chiếm giữ gần như ngay lập tức sau khi Đức Quốc xã đánh bại Pháp năm 1940. Việc giành lại các thuộc địa của họ sau chiến tranh đã trở thành vấn đề tự hào dân tộc đối với người Pháp, nên họ đã tiến hành các cuộc chiến tranh tàn khốc ở Việt Nam và Đông Dương nhưng đã bị đánh bại và phải rút lui. Việc họ rút khỏi Châu Phi, đặc biệt là cuộc chiến tranh gây chia rẽ ở Algeria, đã thêm một trang đẫm máu nữa vào sự sụp đổ của đế quốc Pháp, gần như gây ra sự cáo chung của chính nền cộng hòa Pháp. Nó chỉ tồn tại bằng cách từ bỏ các thuộc địa của mình.
Đế chế Hà Lan, với các thuộc địa của mình ở Đông Ấn, đã suy yếu kể từ cuối thế kỷ thứ 18 trước khi nó thực sự sụp đổ. Việc Hà Lan rút khỏi các thuộc địa của mình, kết thúc bằng sự độc lập của Indonesia, Suriname và Antilles thuộc Hà Lan sau Thế chiến II, có thể được so sánh với sự suy tàn của Đế chế Anh.
Sự cai trị tàn bạo của Bỉ ở Congo, tiếp theo là sự rút lui sau cuộc khủng hoảng ở quốc gia đó vào đầu những năm 1960, khiến Đế chế Bỉ giống Pháp nhiều hơn là giống Anh.
Người Bồ Đào Nha, dân tộc sáng lập ra một trong những đế chế toàn cầu đầu tiên, là những người cuối cùng rút khỏi thuộc địa châu Phi của họ. Họ đã làm như vậy mà không cần chiến đấu, nhưng việc họ rút lui đã gây ra một trong những cuộc chiến đẫm máu nhất và dài nhất trong lịch sử hậu thuộc địa của Châu Phi – Nội chiến Angola kéo dài hơn một phần tư thế kỷ, từ năm 1975 đến năm 2002.
Cuối cùng, có Ottoman Porte, sự suy tàn của nó bắt đầu sớm hơn các đế chế khác, lên đến đỉnh điểm là mất lãnh thổ do thất bại trong Thế chiến I. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã chia sẻ cùng một trải nghiệm với Áo-Hung, một đối thủ khác của Nga trong khu vực. Trường hợp của Ottoman dường như đặc biệt có thể so sánh với sự sụp đổ của Liên Xô vì hậu quả của nó kéo dài trong một thời gian dài. Nếu Chiến tranh Balkan năm 1912-13 và Thế Chiến I đánh dấu sự kết thúc của Porte với tư cách là một cường quốc đế quốc, thì các vùng đất Balkan trước đây của nó lại là bối cảnh của các cuộc chiến tranh Nam Tư năm 1991-2001, trùng với thời điểm tan rã của Liên Xô.
Nam Tư, một quốc gia liên bang gốc Slav ở miền Nam được thành lập trên tàn tích của Đế chế Ottoman vào năm 1918 và được tái lập sau Thế chiến II vào năm 1945 [Sau chiến thắng của người Cộng sản, Nam Tư được tái lập thành một Liên mình gồm 6 nước cộng hòa Slovenia, Croatia, Bosna và Hercegovina, Serbia, Montenegro và Macedonia. Ngoài ra, hai tỉnh tự trị cũng đã được thành lập bên trong Serbia: Vojvodina và Kosovo], đã không còn tồn tại vào những năm 1990 khi các nước cộng hòa quan trọng ly khai.
Giống như người Nga ở Liên Xô, người Serbia ở Nam Tư là dân tộc đông dân nhất và điều hành nước cộng hòa lớn nhất của liên bang. Những nỗ lực của nhà lãnh đạo của Serbia, cựu viên chức cộng sản Slobodan Milošević, trước tiên là duy trì liên bang thống nhất và sau đó là xây dựng Đại Serbia bằng cách sáp nhập các vùng đất do người Serbia thống trị trong các khu vực khác của Nam Tư cũ, đã dẫn đến chiến tranh kéo dài và tàn phá, vi phạm tội ác chiến tranh và tội diệt chủng. Năm 1999, sự kiện này đã thúc đẩy NATO ném bom các khu vực do người Serbia kiểm soát của liên bang đã không còn tồn tại.
Xung đột quân sự ở Nam Tư bắt đầu vào tháng 6 năm 1991 với sự ly khai của Slovenia và những nỗ lực của lực lượng vũ trang Nam Tư do người Serb thống trị nhằm ngăn chặn nỗ lực giành độc lập của Slovenia. Đến tháng 8, cuộc chiến đã nhấn chìm Croatia, với quân đội Nam Tư đầu tiên bao vây thành phố Vukovar và sau đó là Dubrovnik trên bờ biển Adriatic của Croatia. Chiến tranh ở Bosnia bắt đầu vào năm 1992, tiếp theo là chiến tranh ở Kosovo vào năm 1998. Chương cuối cùng, vào năm 2001, liên quan đến xung đột vũ trang giữa lực lượng vũ trang Macedonia và các biệt đội quân sự địa phương dân Albania, những người chiếm gần một phần tư dân số của quốc gia Macedonia mới. Nhưng sự tan rã cuối cùng của Nam Tư cũ không xảy ra cho đến thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Montenegro tuyên bố độc lập khỏi Cộng hòa Liên bang Nam Tư đã không còn tồn tại—thực tế là Serbia—vào năm 2006, và Kosovo cũng làm như vậy vào năm 2008. Sự tan rã của di sản đế quốc Ottoman ở Balkans, sau gần một thế kỷ liên bang bất ổn, cuối cùng đã hoàn tất.
Thật bất ngờ và nhẹ nhõm đối với số đông, người Nga, do Boris Yeltsin lãnh đạo, đã từ chối đi theo bước chân của người Serbia, những người đã biến quân đội Nam Tư cũ thành công cụ mở rộng quyền lực của người Serbia và sau đó là diệt chủng. Người Nga cũng không bám víu vào các nước cộng hòa Xô Viết mà Nga đã thống trị, như người Pháp và người Bỉ đã làm với các thuộc địa cũ của họ. Thay vào đó, người Nga dường như đã học theo cách giải thể của đế chế Bồ Đào Nha. Cả hai đế chế đều không còn tồn tại do các cuộc cách mạng tương đối hòa bình diễn ra tại thủ đô của họ, nơi phe cải cách đã cố gắng giải thể chính quyền độc tài và khởi xướng các cải cách chính trị, kinh tế và xã hội. Ở cả hai quốc gia, sự tồn tại của đế chế là một trở ngại cho các cải cách như vậy.
Boris Yeltsin và các cố vấn của ông đã tìm cách thực hiện cải cách của họ ở Nga, không phải ở Liên Xô, nơi những nỗ lực của Gorbachev nhằm dân chủ hóa hệ thống bị phản đối bởi giới tinh hoa cộng sản bảo thủ kiểm soát hầu hết các nước cộng hòa Xô Viết. Để giải phóng những nhà cải cách Nga của mình khỏi những hạn chế do trung tâm chính trị dao động của Gorbachev áp đặt lên họ, bị cản trở bởi các phe phái ủng hộ và phản đối cải cách đấu đá nhau, Yeltsin đã liên minh với những nhà cải cách ủng hộ dân chủ ở các quốc gia Baltic và giới tinh hoa ủng hộ nguyên trạng ở Trung Á, tất cả đều nhằm nỗ lực phá hoại các thể chế Xô Viết hiện có. Yeltsin không có ý định lật đổ Liên Xô trong quá trình này, nhưng một khi làn sóng tan rã mà ông góp phần vực dậy đã phát triển thành động lực riêng của nó, ông đã đi theo. Đối thủ chính trị chính của ông, Mikhail Gorbachev, và bản thân Liên Xô đã bị cuốn trôi theo cơn lũ đó.
Kìm giữ lại những người ly khai các nước cộng hòa dưới sự kiểm soát của Nga bằng vũ lực quân sự cũng là một lựa chọn chính sách không thể xảy ra vì những lý do khác. Một trong số đó là ảnh hưởng chính trị, tư tưởng và kinh tế to lớn mà Hoa Kỳ đã gây ra đối với Liên Xô vào thời điểm này, cũng như vị thế mà Hoa Kỳ chiếm giữ trong trí tưởng tượng của những nhà cải cách thời Liên Xô, từ Gorbachev đến Yeltsin và hơn thế nữa. Washington không muốn các nước cộng hòa chiến tranh với nhau, vì lo sợ khả năng xảy ra một “Nam Tư có vũ khí hạt nhân” – một kịch bản mà Gorbachev không bao giờ chán nhắc đến trong các cuộc trò chuyện của mình với Tổng thống George H. W. Bush.
Tổng thống Nga đã chuẩn bị sử dụng vũ lực chống lại các nước cộng hòa tự trị trong Liên bang Nga nếu họ cố gắng ly khai, nhưng không chống lại những nguyện vọng tương tự của các nước cộng hòa Liên bang như Ukraine. Hơn nữa, Quân đội Liên Xô thiếu nguồn lực, và những người Nga phục vụ trong quân đội không muốn chiến đấu. Nỗ lực bất thành của Yeltsin nhằm triển khai quân đội chống lại Cộng hòa Chechnya nằm trong Liên bang Nga vào mùa thu năm 1991 đã dẫn đến việc bao vây hoàn toàn quân đội Nga đã mất tinh thần được huy động để trấn áp cuộc xung đột.
Một yếu tố chính là sự ganh đua giữa Gorbachev, người đại diện cho trung tâm Liên bang và muốn cứu đế chế Liên Xô, và Yeltsin, người đã nổi loạn chống lại Gorbachev và, theo nghĩa rộng hơn, chống lại đế chế mà ông này đại diện. Trong trường hợp Chechnya, Gorbachev đã từ chối cho phép sử dụng vũ lực, và Yeltsin không thể làm gì nhiều chừng nào Gorbachev còn nắm quyền chỉ huy tối cao của lực lượng vũ trang Liên Xô. Trong cuộc chiến giữa Gorbachev và Yeltsin để giành giật lòng trung thành của quân đội Liên Xô, không có người chiến thắng rõ ràng. Cũng không có bất kỳ triển vọng nào về việc Nga có thể triển khai lực lượng hiệu quả ra ngoài biên giới của mình trừ khi hai đối thủ này hành động cùng nhau. Với nước Nga cải cách nổi loạn chống lại trung tâm đế quốc, đã có sự bế tắc không chỉ giữa các nhà lãnh đạo mà còn giữa các lực lượng chính trị và xã hội ủng hộ họ. Nếu những người cải cách thắng thế, thì đế chế phải ra đi.
Vai trò của Ukraine trong việc dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô khó có thể được cho là phóng đại. Không chỉ là một diễn viên chính trị quan trọng thúc đẩy sự giải thể của Liên Xô, mà còn giúp đảm bảo một sự tan rã. Bằng cách tuyên bố độc lập, tập hợp sự ủng hộ áp đảo của cử tri cho độc lập, và nhấn mạnh không có gì khác hơn, Ukraine đã giết chết không chỉ dự án của Gorbachev về một Liên Xô được cải cách mà còn cả kế hoạch khiêm tốn hơn của Yeltsin về một liên bang các nước cộng hòa dưới sự kiểm soát của Nga. Đồng thời, bằng nỗ lực áp dụng thái độ khoan dung rõ ràng đối với nhóm thiểu số Nga của mình – nhóm lớn nhất bên ngoài nước Nga – Ukraine đã khiến Yeltsin dễ dàng hơn nhiều trong việc phớt lờ những áp lực phải bảo vệ dân tộc thống trị trước đây của mình ở vùng ngoại vi của đế chế.
Người Nga gốc Ukraine không lo ngại về một nhà nước Ukraine độc lập và phần đông ủng hộ nó, khiến cho sự sụp đổ của Liên Xô không chỉ là điều tất yếu mà còn diễn ra trong hòa bình.