
Tác giả : KANG CHOL-HWAN
với Pierre Rigoulot
Trần Quang Nghĩa dịch
GIỚI THIỆU
Bắc Triều Tiên—Chế độ Stalin-nit cuối cùng trên thế giới
Tháng 11 năm 1999. Đầu óc mụ mẫm bởi múi giờ chênh lệch và bốn giờ phỏng vấn, tôi mặc tình cho mình được chở đi loanh quanh trong im lặng. Kang Chol-hwan nhét đĩa CD yêu thích của mình vào dàn âm thanh trên ô tô. “La Paloma” vang lên, sau đó là “Nathalie” được chơi theo giai điệu của “Yeux noirs”. Anh vặn âm thanh lớn hơn một bậc. Âm nhạc phát ra từ hai chiếc loa đen dường như đã truyền cảm hứng cho anh. chắc hẳn đã ngốn anh ấy rất nhiều tiền; chất lượng âm thanh thật tuyệt vời. Tôi nhìn anh ấy mỉm cười và sang số trơn tru, chú tâm để không phá vỡ cơn say mê của mình.
Trước khi tôi kịp nhận ra thì chúng tôi đang ở Apkujong, khu phố nơi những thanh thiếu niên lắm bạc bước vào các cửa hiệu Gucci và Lacroix.
Đèn đỏ.
Màn đêm buông xuống khi chúng tôi đi ngang qua Ciné House và The Muses, nhà hàng sang trọng nơi những vị khách quen từng dùng bữa dưới ánh nến, thưởng thức các vở opera trực tiếp. Tôi tự hỏi tại sao nó lại đóng cửa. Kang Chol-hwan từ từ tăng tốc khi chúng tôi tiến về phía khách sạn Amiga. Căn hộ của thông dịch viên của chúng tôi, Song Okyung, chỉ cách đó vài trăm thước.
Chúng tôi đang ở Seoul, thủ đô lịch sử của Hàn Quốc với 14 triệu dân. Kang Chol-hwan có tài khoản e-mail; anh ấy lướt Internet; anh ấy trượt tuyết; anh ấy lo lắng về cổ phiếu Hyundai của mình. Kang Chol-hwan nói tiếng TriềuTiên. Anh viết tiếng Triều Tiên bằng chữ Hang’gul, một bảng mẫu tự gồm 24 chữ cái với 10 nguyên âm và 14 phụ âm được vua Se-jong phát minh ra cách đây 5 thế kỷ.
Nói tóm lại, anh ấy là người Triều Tiên. Tuy nhiên, anh ấy không xuất thân từ đây. Anh đến từ một quốc gia khác, cũng được gọi là Triều Tiên, nhưng nơi đó không ai lái xe Daewoo. Không ai có dàn âm thanh nổi trong xe của mình. Ở nông thôn, bò còn kéo xe. Không có Internet. Không có tạp chí hào nhoáng với hình ảnh của các cô gái xinh đẹp. Không có tờ báo nào có quan điểm khác nhau. Không có cơ hội lựa chọn giữa mười hoặc hai mươi đài phát thanh có sẵn, vì đài duy nhất được phép nghe là đài chính thức của chính quyền, được mặc định. Một kênh nhà nước trên truyền hình. Để di chuyển khắp đất nước, trước tiên người dân phải được sự cho phép của Đảng, sau đó là của thủ trường nơi đơn vị mình công tác.
Kang Chol-hwan đến từ miền Bắc, nghĩa là phía bắc của khu phi quân sự ngăn cách Bắc và Nam Triều Tiên. Khu vực này – rộng 4,5 dặm và dài 150 dặm – vạch ra một vết thương to lớn băng ngang trung tâm bán đảo Triều Tiên. Hai bờ của nó được bao bọc bởi hơn 300 dặm dây thép gai, hàng rào và mìn sát thương, tất cả đều giữ cho hai đất nước tách biệt nhau.
Làm sao người Triều Tiên thể chịu đựng được điều này?
Họ không thể. Tất cả họ đều ít nhiều đau buồn vì sự chia ly này. Hãy tưởng tượng hàng rào kim loại này ở Mỹ: ví dụ, nếu chúng ta lấy vĩ tuyến 36 làm đường ranh giới, nó sẽ tách Nashville khỏi Memphis và Thành phố Oklahoma khỏi Tulsa. Raleigh-Durham và Greensboro–Winston-Salem sẽ bị biến thành các thành phố biên giới đối đầu ngay giữa Bắc Carolina.
Chỉ người Đức mới có thể hiểu được nỗi xót xa của sự bất hạnh như vậy, của những người bị bắn khi cố vượt thoát chạy trốn, của những thế giới bị chia cắt một cách giả tạo trở nên thù địch với cốt lõi của mình. Tuy nhiên, ngay cả giữa hai nước Đức vẫn tồn tại một số điểm qua lại; một vài trao đổi có thể thực hiện được. Người Đông Đức ít nhất có thể xem các chương trình truyền hình phương Tây. Ở TriềuTiên, sự chia cắt là tuyệt đối: một bên là người Triều Tiên; bên kia . . . cũng là người Triều Tiên. Tuy nhiên, mỗi bên đều tuyệt đối không giao tiếp nhau. Cả hai nước đều cấm mọi hành vi qua lại lẫn nhau. Nếu bạn có anh trai ở miền Bắc, bạn sẽ không nhận được tin tức gì từ anh ấy. Nếu bạn sống ở đây và mẹ bạn sống ở đó, tốt nhất bạn nên tạm thời quên bà ấy đi. Nhưng đừng lo lắng: khu phi quân sự có thể có nhiều binh sĩ trên mỗi mét vuông hơn bất cứ nơi nào trên hành tinh.
Các quốc gia đặt ra luật pháp cho mỗi bên trong sự rạn nứt này được thành lập vào năm 1948. Sau thời kỳ thuộc địa kéo dài cả một thế hệ—từ 1910 đến 1945—và kết thúc khi Đế quốc Nhật Bản sụp đổ dưới bom nguyên tử của Mỹ, Triều Tiên, trước sự sững sờ của người dân, đã bị chia cắt làm hai. Phía bắc của nó do quân đội Liên Xô chiếm đóng, phía nam do quân đội Mỹ.
Chia cắt có lẽ không phải là từ thích hợp. Ban đầu, đó là vấn đề quản lý kép, quyền giám hộ tạm thời được thiết kế để tồn tại cho đến khi các cuộc bầu cử được tổ chức dưới sự bảo trợ của Liên hiệp quốc. Nhưng cuộc bầu cử đã không được tổ chức. Nó chưa bao giờ được tổ chức. Các chính quyền đối thủ đã xung đột về việc các đảng được phép đại diện trong cuộc bầu cử, về số lượng đại biểu được bầu. Những tranh chấp và trì hoãn đã có lợi cho Stalin vì ông không có ý định rút lui nhanh chóng. Ông đang đào tạo một đội ngũ lãnh đạo chính trị biết phục tùng ở miền Bắc, xây dựng quân đội và tổ chức một phong trào cải cách ruộng đất được công bố rộng rãi bằng cách xúi giục những nông dân nghèo nhất chống lại địa chủ của họ và huy động sự ủng hộ của nhiều đảng cánh tả trên khắp thế giới. Người của Stalin hầu như không tiến hành cải cách nông nghiệp khi thời cơ tập thể hóa đã chín muồi.
Trong suốt thời gian này, Liên Hiệp Quốc ngày càng mất kiên nhẫn. Các cuộc họp đã đưa tới các hội nghị, những thông cáo buộc tội cho đến những phản ứng buồn vui lẫn lộn – nhưng năm 1945 đã kết thúc mà không có hành động gì, rồi năm 1946 cũng vậy. Một làn sóng tị nạn tràn từ miền Bắc vào miền Nam. Đến năm 1947, việc trốn thoát trở nên khó khăn hơn. Tình huynh đệ quân sự Xô-Mỹ vừa mới đây đã chiến đấu với chủ nghĩa phát xít giờ đã trở thành một ký ức xa vời. Chiến tranh lạnh đã bắt đầu.
Ranh giới giữa hai khu vực dần dần trở thành một thứ gì đó giống như biên giới. Ở miền Bắc, “ủy ban nhân dân” được thành lập và bắt đầu vạch ra đường nét của một nhà nước mới. Ở miền Nam, người Mỹ ít dám nghĩ dám làm hơn, họ đã chọn xây dựng một lực lượng cảnh sát khổng lồ thay vì một quân đội hùng mạnh – như đối thủ Liên Xô của họ đã làm – và không nỗ lực tạo ra một chính phủ theo hình ảnh của họ, thay vào đó họ chọn cách giao lại quyền lực vào tay chính giai cấp tư sản đã bị tai tiếng trong thời gian Nhật chiếm đóng bởi mối quan hệ của họ với bọn xâm lược. Mặc dù người Mỹ chưa có cải cách lớn nào để khoa trương, nhưng họ có sự hậu thuẫn của Liên hiệp quốc, và trước sự phản đối của Liên Xô trong việc tổ chức bầu cử toàn quốc, họ đã tự tổ chức bỏ phiếu ở miền Nam. Các cuộc bầu cử, chưa đúng nghĩa phổ thông đầu phiếu, đã khiến một nửa số ghế trong Quốc hội không được lấp đầy. Tuy nhiên, Đại Hàn Dân Quốc đã ra đời. Nó bầu Rhee Syng-man (Lý Thừa Vãn), một người chính trực đã chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản, làm chủ tịch hội đồng nhà nước. Đó là vào tháng 8 năm 1948. Phản ứng từ miền Bắc đến nhanh chóng. Tháng sau, tại Bình Nhưỡng, thành phố lớn nhất khu vực phía bắc, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên được tuyên bố thành lập, với Kim Il-sung (Kim Nhật Thành), một cựu lãnh đạo du kích địa phương từng chiến đấu chống lại quân Nhật ở Mãn Châu, đứng đầu. Kim Il-sung đang chủ trì một quốc gia vốn đã là một nhà nước đủ lông đủ cánh, được xây dựng lại từ mái đến nền và trang bị lực lượng cảnh sát và quân đội đủ mạnh để cho phép quân đội Liên Xô rút lui vào mùa thu năm 1948, qua đó tước bỏ tính hợp pháp của sự hiện diện của quân đội Mỹ ở miền Nam. Đến cuối mùa đông năm sau, người Mỹ cũng rút lui.
Những điều tiếp theo không được phơi bày đầy đủ cho đến năm 1994, khi Boris Yeltsin mở các kho lưu trữ liên quan của Liên Xô. Có vẻ như lúc đó Kim Il-sung đang dậm chân vì thiếu kiên nhẫn. Ông muốn ngay lập tức tung quân tấn công miền Nam, nơi được trang bị kém, tổ chức tồi và đang phải chịu những khó khăn kinh tế khắc nghiệt nhất – chưa kể còn bị quấy rối bởi phong trào du kích do miền Bắc hậu thuẫn. Thận trọng như mọi khi, Stalin đợi thêm vài tháng nữa trước khi bật đèn xanh. Vào ngày 25 tháng 6 năm 1950, bất chấp sự đảm bảo của các nhà quan sát rằng một cuộc tấn công từ miền Bắc gần như không thể hình dung được, xe tăng Triều Tiên đã vượt qua đường phân giới dọc vĩ tuyến 38. Seoul thất thủ trong ba ngày, khi quân đội Triều Tiên tràn xuống bán đảo, hạ gục nhanh chóng đội quân nhỏ Hàn Quốc của Rhee Syng-man và vài trăm cố vấn Mỹ của lực lượng này. Triều Tiên chẳng bao lâu kiểm soát 90% bán đảo.
Đây là sự khởi đầu của Chiến tranh Triều Tiên, một cuộc xung đột có những đảo ngược đáng kinh ngạc. Tổng thống Mỹ Harry Truman đã phản ứng nhanh chóng. Đứng trước Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, ông lên án hành động gây hấn có chủ ý của Triều Tiên và kêu gọi tổ chức quốc tế non trẻ này đáp trả bằng “tất cả các phương tiện của mình”. Quyết định của Liên Hiệp Quốc càng trở nên dễ dàng hơn bởi sự phản đối giận dỗi của Liên Xô đối với việc tổ chức này tiếp nhận Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch vào Hội đồng Bảo an. Vào ngày 27 tháng 6, Liên Hiệp Quốc kêu gọi các quốc gia thành viên hỗ trợ quân sự cho Hàn Quốc. Ngày 15 tháng 9, lực lượng Mỹ dưới sự chỉ huy của tướng MacArthur đổ bộ vào hậu phương của quân đội Triều Tiên. Bị mất cảnh giác, quân Bình Nhưỡng bỏ chạy hoặc bị tiêu diệt. Dưới lá cờ xanh trắng của Liên Hiệp Quốc, quân đội Mỹ và Hàn Quốc, cùng với các lực lượng từ Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Pháp và Hà Lan, đã giải phóng thủ đô, xâm nhập miền Bắc, chiếm Bình Nhưỡng và tiến lên về phía sông Amnok. Được cả người Trung Quốc và người Mỹ gọi là Yalu (Áp Lục), con sông đánh dấu biên giới phía tây bắc giữa Triều Tiên và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Mao Trạch Đông đáp lại bằng cách tung hàng trăm nghìn quân “tình nguyện” vào trận chiến. Lực lượng Liên hiệp quốc bị tổn thất nặng nề và buộc phải rút lui vội vàng. Trận chiến bập bênh một lần nữa đổi chiều: bỏ Bình Nhưỡng, quân đội Liên hiệp quốc tụt xuống dưới vĩ tuyến 38, và Seoul cũng bị bỏ lại. Sau năm tháng chiến đấu ác liệt, mặt trận đã ổn định. Cán cân sau đó dần dần nghiêng sang hướng khác: Seoul được tái chiếm lần thứ hai và chiến tuyến bị đẩy xa hơn một chút về phía bắc.
Vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, ba năm và một triệu người chết sau cuộc tấn công bất ngờ của Kim Nhật Thành và ngay sau cái chết của Stalin, một hiệp định đình chiến đã được ký kết tại làng Bàn Môn Điếm.
Liên hiệp quốc đã ngăn cản được việc đánh chiếm nhưng không thống nhất được đất nước.
Một ngày nọ, tôi gặp một người lính Bắc Triều Tiên mới đào thoát sang miền Nam và vẫn đang hồi phục sau cú sốc. Anh ấy yêu cầu tôi, gần như cầu xin, làm rõ thắc mắc cho mình.
“Ai đã thắng trong Chiến tranh Triều Tiên?” anh ấy muốn biết. “Ở đây họ khẳng định điều ngược lại với những gì tôi được nghe ở miền Bắc!”
Tôi biết nói gì với anh ấy?
Trận hòa sẽ là một câu trả lời công bằng, vì hai đội quân ít nhiều đã kết thúc ở nơi họ bắt đầu. Tuy nhiên, điều đó có vẻ hơi thiếu tôn trọng trong khi câu hỏi được đặt ra một cách nghiêm túc. Tôi có nên nói rằng cả hai bên đều thua không? Điều đó chắc chắn đúng nếu ta xem xét những đau khổ khôn tả do chiến tranh gây ra và hàng trăm ngàn người đã chết. Tuy nhiên, một câu trả lời như vậy sẽ bỏ qua sự phát triển tiếp theo của Nam Hàn, điều này chỉ có thể thực hiện được bằng cách đẩy lùi các lực lượng Cộng sản.
Cho đến khi bắt đầu quá trình dân chủ hóa vào năm 1987, Nam Hàn đã được vận hành một cách hiệu quả như một chế độ chuyên chế – và đôi khi là độc tài. Tuy nhiên, kể từ năm 1960, nó đã dẫn đến một cuộc bùng nổ kinh tế chưa từng có. Ba mươi năm nỗ lực không mệt mỏi đã nâng nền kinh tế Nam Hàn từ ngang bằng với Bangladesh lên ngang bằng với Tây Ban Nha. Những con đường đất nện của Seoul, nơi những cô bé từng bán tóc, đã chứng kiến đường chân trời đầy những tòa nhà chọc trời và đường phố tắc nghẽn ô tô, hầu hết đều được sơn màu bạc kim loại, và hầu hết đều được trang bị dàn âm thanh hi-fi và máy điều hòa không khí sản xuất tại Hàn Quốc. Chỉ trong thời gian rất ngắn, Nam Hàn đã trở thành cường quốc công nghiệp thứ bảy trên thế giới.
Trong thời gian này, cách bốn mươi km về phía bắc, một con nhím quân sự và ý thức hệ đang được hình thành, đôi khi với sự bảo trợ của Trung Quốc thời Mao, đôi khi với sự bảo trợ của Liên Xô thời Brezhnev, nhưng luôn nằm dưới sự kiểm soát tuyệt đối của một người: Kim Il-sung. Những cuộc thanh trừng đẫm máu của ông vào những năm 1980 đã dọn đường cho sự kế vị của con trai ông, Kim Jong-il, và giúp thành lập triều đại Cộng sản đầu tiên trên thế giới.
Mối quan hệ chính trị và kinh tế giữa Triều Tiên và miền Nam “tư bản” vẫn còn phôi thai, trong khi các cuộc tấn công gần như mang tính quân sự không thường xuyên tiếp tục âm ỉ và bùng phát: năm 1968, biệt kích Triều Tiên đột kích Nhà Xanh (dinh tổng thống ở Seoul); năm 1981, một phái đoàn quan chức chính phủ Nam Hàn bị tấn công khi đến thăm thủ đô Rangoon của Miến Điện; năm 1987, một máy bay phản lực của Hãng hàng không Hàn Quốc (Nam Hàn) phát nổ giữa không trung; năm 1994, có các cuộc xâm nhập của tàu ngầm và các cuộc đột kích tiếp theo của biệt kích; vào năm 1999, đó là một trận hải chiến, v.v.
Ở Triều Tiên (Bắc Hàn), đất nước 22 triệu dân, cảnh sát kiểm soát mọi khía cạnh trong đời sống người dân. Không được du lịch nếu không có sự cho phép. Không có tin tức nào chưa được kiểm duyệt trước. Một hệ tư tưởng duy nhất cưỡng bách, đề cao khả năng tự cung tự cấp—nhưng vẫn kêu gọi viện trợ quốc tế. Những nhà tù và trại tập trung rộng lớn nằm rải rác khắp đất nước. Nền kinh tế của nước này, theo mô hình Liên Xô của Stalin—được kiểm soát, tập trung hóa, tập thể hóa—đã sụp đổ vào những năm 1970 và 1980 và suy yếu nặng nề với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô, các cuộc cải cách ở Trung Quốc và cái chết của Lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành vào năm 1994.
Nạn đói dần dần lan rộng khắp đất nước và người ta đồn rằng có 3 triệu người chết. Ngày nay Triều Tiên là một con tàu gặp nạn, đang dần chìm dưới những đợt sóng. Nhờ có sự hỗ trợ đáng kể từ cộng đồng quốc tế, nhà nước – vốn thực sự chỉ là một đảng – có thể tiết kiệm được đồng tiền mạnh mà lẽ ra họ phải sử dụng để mua sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Các nhà lãnh đạo Triều Tiên thích đầu tư nguồn lực hạn chế của mình vào việc phát triển vũ khí tinh vi. Tên lửa của họ được bán ở Iran và Syria, và mẫu tên lửa tầm xa nhất của họ sẽ sớm có khả năng vươn tới Hoa Kỳ. Với rất ít mong muốn thấy bán đảo Triều Tiên gây bất ổn cho khu vực, các cường quốc quan tâm tìm cách xoa dịu Kim Jong-il. Họ tin tưởng rằng – dù không rõ tại sao – rằng họ có thể khuyến dụ và thậm chí thuyết phục ông ta nhìn ra những ưu điểm của nền dân chủ chính trị và chủ nghĩa tự do kinh tế. Chương trình gần đây do con trai của Kim Il-sung thực hiện—một người rất hâm mộ điện ảnh—trong đó ông xuất hiện mỉm cười và vui vẻ trong cuộc gặp thượng đỉnh ngày 12 tháng 6 năm 2000 với Kim Dae-jung, tổng thống Hàn Quốc, đã chẳng đạt được điều gì để thay đổi sự thật cơ bản. Sau hội nghị thượng đỉnh, cũng như trước đây, người dân Triều Tiên tiếp tục chết vì đói và hoàn toàn không có tự do chính trị. Trẻ em còi cọc, hàng nghìn phụ nữ trẻ bị bán qua biên giới ở Trung Quốc, và quân đội diễu hành trên đường phố Bình Nhưỡng, luôn sẵn sàng bảo vệ thiên đường xã hội chủ nghĩa huyền ảo của mình.
Một số đã trốn thoát được. Kang Chol Hwan là một trong số đó. Anh rời Triều Tiên vào năm 1992, trước khi nạn đói lên đến đỉnh điểm. Anh không rời bỏ quê hương để thoát khỏi nạn đói như nhiều người dân Triều Tiên ngày nay, mà vì đã từng sống sót sau khi bị giam ở trại tập trung số 15 nên có nguy cơ bị bắt lại, lần này vì tội “nghe đài cấm”.
Mặc dù đến với khán giả phương Tây có phần muộn màng nhưng lời khai của anh đại diện cho câu chuyện mở rộng đầu tiên về cuộc sống của một thanh niên ở Triều Tiên đương đại. Đây là lời khai chi tiết đầu tiên về trại tập trung của Triều Tiên được phương Tây công bố.
Lần đầu tiên tôi gặp Kang Chol-hwan ở Seoul ngay sau khi anh đào tẩu. Tôi thường xuyên đến thăm Hàn Quốc trong khuôn khổ công việc của mình cho Tổ chức Nhân quyền Quốc tế, phỏng vấn những người tiết lộ về sự đàn áp ở Triều Tiên. Tin chắc rằng Triều Tiên đã thu được nhiều lợi ích từ sự thiếu hiểu biết của người dân đối với thế giới bên ngoài cũng như từ sự thiếu hiểu biết của công chúng quốc tế về tội ác và các mối đe dọa đối với người dân của chính họ, tôi đề nghị với Kang Chol-hwan rằng anh ấy nên nói cho thế giới phương Tây biết cuộc sống như thế nào dưới sự cai trị của Kim Il-sung và con trai ông, Kim Jong-il. Anh chấp nhận, coi đó là nghĩa vụ đạo đức của mình để làm sáng tỏ sự khủng khiếp của chế độ Bình Nhưỡng và trên hết là hệ thống trại tập trung của nó.
Chúng tôi gặp nhau năm sáu lần ở Seoul, nhốt mình trong phòng khách sạn và chỉ nghỉ ngơi để ăn trưa và ăn tối. Chúng tôi liên lạc với nhau qua người trung gian là một học giả Hàn Quốc, một chuyên gia về văn học Pháp, người có vai trò vừa thiết yếu vừa không thể thay thế. Sự khiêm tốn của cô ấy chỉ sánh ngang với sự hiệu quả của cô ấy trong việc giúp tôi hiểu được những vấn đề phức tạp của đất nước nói chung, cũng như sự coi thường nhân quyền đặc biệt của Triều Tiên.
Do đó, cuốn sách này là kết quả của nỗ lực của ba người, làm việc cùng nhau như những người bạn, với hy vọng chung là nâng cao nhận thức quốc tế. Tất cả những ai muốn giải quyết vấn đề Triều Tiên – dù là nhà ngoại giao, chính trị gia, doanh nhân – nên biết rằng người đối thoại với họ là chế độ Stalin-nit cuối cùng của hành tinh, một chế độ giam giữ từ 150.000 đến 200.000 người trong các trại tập trung, coi thường quyền tự do lương tâm, đánh đập không thương tiếc dân chúng với những tuyên truyền khoa trương, dối trá và là nguyên nhân gây ra một trong những nạn đói tồi tệ nhất cuối thế kỷ XX. Thuật ngữ phù hợp nhất để mô tả nó đã được đặt ra, nhưng tôi sẽ sử dụng nó một lần nữa ở đây: chế độ này rất ubuesque. Có nghĩa là lố bịch và khát máu.
Đọc cuốn sách này là bước đầu tiên hướng tới việc biến cuộc đàn áp ở Bắc Triều Tiên trở thành mối quan tâm lớn của những người bảo vệ nhân quyền trên toàn thế giới.

Tác giả (bên phải), tuổi 19, một năm sau khi được phóng thích từ trại khổ sai Yodok với (từ trái sang phải) chú ba, em gái Mi-ho, bà nội, và thiếm ba.
1
THỜI NIÊN THIẾU HẠNH PHÚC Ở BÌNH NHƯỠNG
Vào những năm 1960, thảm họa ở Triều Tiên vẫn chưa đến gần. Về mặt kinh tế, đất nước đang cạnh tranh gay gắt với miền Nam, và ở Bình Nhưỡng, nơi trưng bày đặc quyền của chế độ, có vẻ như lời tuyên bố về chiến thắng và lời hứa của Đảng có thể thực sự đúng. Tôi biết mình đang nói về điều gì; Bình Nhưỡng là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Tôi thậm chí còn sống những năm tháng hạnh phúc ở đó, dưới sự giám hộ của Kim Il-sung, “Lãnh tụ vĩ đại” của chúng tôi và con trai ông, Kim Jong-il, “Lãnh tụ kính yêu” của chúng ta.
Đối với tôi lúc còn nhỏ, Kim Il-sung giống như ông già Noel vậy. Hàng năm vào ngày sinh nhật ông, ông ấy đều gửi cho chúng tôi những gói quà bánh ngọt. Người Số Một yêu quý của chúng tôi đã tự tay chọn chúng, với sự quan tâm và lòng tốt đã mang đến cho những món quà ấy một hương vị thơm ngon riêng biệt. Nhờ lòng quảng đại của ông ấy, cứ đến ba tuổi chúng tôi lại có quyền được cấp đồng phục học sinh, mũ lưỡi trai và một đôi giày.
Các bà mẹ của chúng tôi cho biết những bộ đồng phục polyester này rất chắc chắn, dễ giặt và vĩnh viễn không cần ủi. Đối với những đôi giày, việc sử dụng hàng ngày cho thấy chúng có chất lượng tuyệt vời. Lễ trao đồng phục, một sự kiện long trọng nhất, được tổ chức tại hội trường lớn cạnh trường, được trang trí đặc biệt cho dịp lễ này với các khẩu hiệu và chân dung. Các bậc phụ huynh tham dự hoan nghênh bài phát biểu của hiệu trưởng và một số đại diện Đảng. Các đại biểu học sinh bước lên bục và cảm ơn Đảng bằng giọng nói trẻ con, cam kết trung thành với Đấng Sáng suốt, và chửi rủa mọi kẻ thù của chúng tôi, trong đó chủ nghĩa đế quốc Mỹ đứng đầu, “bởi vì móng vuốt của nó vẫn còn bấu chặt một phần Tổ quốc thân yêu của chúng ta”. Cuối cùng, các đại biểu học sinh được trao những món quà quý giá và họ sẽ phân phát cho các em học sinh còn lại vào ngày hôm sau.
Kim Il-sung thậm chí còn tốt bụng hơn cả Ông già Noel vì ông dường như luôn trẻ trung và toàn trí. Giống như con trai ông, Kim Jong-il, người được cho là sẽ kế vị ông, đối với chúng tôi, ông giống một vị thần hơn là Ông già Noel. Báo chí, đài phát thanh, áp phích, sách giáo khoa, giáo viên của chúng tôi: mọi người và mọi thứ dường như đều xác nhận điều này. Bằng cách kết hợp thiên tài Triều Tiên độc nhất của chúng tôi với những lý tưởng bất di bất dịch của cuộc cách mạng Cộng sản, hai bộ óc mưu trí này, hai con cưng của vũ trụ, đang xây dựng cho chúng tôi một nhà nước xã hội chủ nghĩa thiên đường. Chẳng phải sự nhạy bén về chính trị và trí tuệ vô song của Kim Il-sung đã là nguyên nhân của những điều kỳ diệu đó sao, chẳng hạn như chống lại quân xâm lược Mỹ tàn ác, kẻ mà ông đã giáng cho những thất bại nhục nhã nhất? Mãi rất lâu sau tôi mới biết chiến tranh thực sự bắt đầu như thế nào và điều gì xảy ra sau đó. Giống như hàng triệu trẻ em Bắc Triều Tiên khác, tôi được dạy rằng nhờ thiên tài quân sự của Người Hướng dẫn Vĩ đại và ở mức độ thấp hơn là sự viện trợ quốc tế của Trung Quốc, quốc gia mà chúng tôi đã đoàn kết “như môi với răng”, Quân đội Nhân dân dũng cảm của chúng tôi đã đánh bại bọn Mỹ. Kim Il-sung— biệt danh Ánh sáng Thiên tài Nhân loại, Thiên tài Vô song, Đỉnh cao Trí tuệ, sao Bắc Đẩu của nhân dân—là đối tượng của một sự sùng bái cá nhân đủ ngông cuồng để cạnh tranh với Stalin hay Mao Trạch Đông, và thực sự, thậm chí còn tồn tại lâu hơn họ. Vào năm 1998, Hội đồng Nhân dân Tối cao thậm chí còn đưa ra một quyết định đáng kinh ngạc khi gọi Kim Il-sung là chủ tịch “muôn đời”—bốn năm sau khi ông qua đời!
Trong con mắt trẻ thơ của tôi và của tất cả bạn bè tôi, Kim Il-sung và Kim Jong-il là những tạo vật hoàn hảo, không bị hoen ố bởi bất kỳ chức năng cơ bản nào của con người. Tôi và tất cả chúng tôi đều bị thuyết phục rằng cả hai đều không đi tiểu hay đi đại tiện. Ai có thể tưởng tượng được những điều như vậy với các vị thần? Nhìn vào khuôn mặt của họ, tôi tìm thấy sự an ủi và tất cả những gì che chở, bảo bọc, và niềm tự tin.
Giống như những đứa trẻ khác, tôi bắt đầu vào tiểu học ở tuổi sáu—hoặc bảy tuổi ta, theo công thức truyền thống của Triều Tiên. Trong khi thường mong muốn bảo vệ truyền thống của mình, Triều Tiên đã chính thức từ bỏ cách tính tuổi này, mặc dù nó vẫn được sử dụng rộng rãi trong đời sống riêng tư.
Tên trường tiểu học mà tôi theo học là Trường Nhân dân, và Kim Il-sung đã từng vinh danh nó bằng một chuyến viếng thăm – một sự kiện thực sự đặc biệt, mang lại uy tín lớn nhất cho các bậc phụ huynh có con theo học tại đây. Tại nơi này tôi cũng có nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi đặc biệt nhớ lại bà Ro Chong-gyu, một giáo viên rất tốt bụng và có kỹ năng sư phạm, người luôn tìm ra lời lẽ thích hợp để động viên tôi. Mặc dù tuân theo phương pháp giáo dục cộng sản, hầu hết các giáo viên mà tôi học đều rất quan tâm và kiên nhẫn với học sinh, ngay cả trong những buổi phê bình, tự phê bình. Bất cứ ai chưa từng sống ở một đất nước Cộng sản đều có thể bị sốc khi nghĩ đến việc những đứa trẻ bắt chước người lớn bị chính trị hóa và luôn tố cáo bản thân và những bạn khác vì thiếu cảnh giác cách mạng hoặc không xứng đáng với sự tin tưởng của Lãnh tụ vĩ đại. Tuy nhiên, những buổi học này nhìn chung đều kết thúc bằng những lời động viên của thầy cô chứ không phải những lời trách móc và với niềm hy vọng rằng chúng em sẽ cố gắng hơn nữa trong tương lai. Tôi không tin bất kỳ ai trong chúng tôi thực sự bị tổn thương bởi những buổi học này.
Để giúp chúng tôi bước vào thương hiệu chủ nghĩa cộng sản mang tính chất quân phiệt cao của Triều Tiên, chúng tôi đã được trao các cấp bậc khác nhau ở trường. Chúng tôi chưa đầy bảy tuổi thì đồng phục của chúng tôi lần đầu tiên bắt đầu mang những ngôi sao—hai hoặc ba ngôi sao, tùy theo cấp độ của chúng tôi. Chúng tôi đã được chỉ đạo bởi một “nhà lãnh đạo chính trị”, số một của lớp, và bởi một đại biểu, số hai, được giáo viên chỉ định và được học sinh bỏ phiếu xác nhận. Phải thừa nhận rằng tôi chưa bao giờ quan tâm nhiều đến kỷ luật quân đội: một ngày nọ, tôi đã thuyết phục được khoảng 15 bạn cùng lớp của mình bỏ học và đi sở thú. Không mất nhiều thời gian để nhận ra 15 học sinh vắng mặt, và sự việc này nhanh chóng gây xôn xao dư luận. Vì là lớp trưởng nên tôi không những bị giáng chức một cách công khai mà còn phải thực hiện việc tự kiểm điểm với lòng ăn năn sâu sắc hơn bình thường và với thái độ cực kỳ tốt.
Trong chương trình giảng dạy cũng vậy, việc đào tạo những người lính nhỏ cách mạng được ưu tiên hàng đầu. Giống như học sinh khắp nơi trên thế giới, chúng tôi học đọc và viết với ít lỗi nhất có thể; chúng tôi học số học, vẽ, âm nhạc, biểu diễn thể dục dụng cụ, v.v. Nhưng trên hết, chúng tôi được dạy về đạo đức của chủ nghĩa cộng sản và lịch sử cuộc cách mạng của Kim Il-sung và Kim Jong-il. Với tầm quan trọng đặc biệt của nó, chủ đề sau yêu cầu chúng tôi phải học thuộc lòng những câu trả lời cho những câu hỏi như: Kim Il-sung sinh vào ngày nào và giờ nào? Ông đã lập những chiến công hiển hách nào chống lại quân Nhật? Ông ấy đã có bài phát biểu nào tại một hội nghị nào vào ngày nào? Giống như các bạn học của mình, tôi nghĩ việc nhồi nhét cho mình những kiến thức quan trọng như vậy là điều hoàn toàn bình thường và việc đó mang lại cho tôi niềm vui lớn. Một nền giáo dục kiểu này mang lại sự ngưỡng mộ và biết ơn đối với các nhà lãnh đạo chính trị của chúng tôi và sẵn sàng hy sinh mọi thứ cho họ và quê hương. Giống như mọi người trong lớp, tôi đăng ký vào đội Học sinh Hồng quân. Thật là một cảnh tượng tuyệt vời khi chúng tôi tiến vào trận chiến, súng máy giả đeo lủng lẳng trên vai. Mặc dù chúng tôi hầu như chỉ học cách xếp hàng và hát trong khi hành quân, nhưng chúng tôi rất yêu thích những bài tập này và chưa bao giờ phải bị yêu cầu hai lần để thực hiện tư thế quân sự. Ngay lập tức chúng tôi cảm thấy mình là những người lính nhỏ của Kim Il-sung. Chúng tôi chưa bao giờ được yêu cầu làm bất cứ điều gì quá khắt khe. Việc huấn luyện được điều chỉnh phù hợp với độ tuổi non nớt của chúng tôi và thường bao gồm việc diễu hành quanh sân trường vài lần hoặc quanh một dãy nhà. Phải đến năm áp chót của cấp 3, chúng tôi mới được phép thực hiện những bài tập nghiêm túc và khó hơn. Các học sinh trung học đã tập leo núi, ghi nhớ các hướng dẫn không kích khẩn cấp, học cách trốn tránh máy bay địch và hướng dẫn người dân đến nơi trú ẩn không kích gần nhất.
Khi tôi không đến trường, người ta thường thấy tôi chơi đùa bên ngoài với bọn trẻ hàng xóm. Điều tôi thích nhất là gặp nhau dưới hàng liễu rũ chạy dọc theo sông Daedong cách nơi tôi ở không xa. Tôi và bạn bè biết rõ nơi này và cảm thấy hoàn toàn an toàn ở đó. Thỉnh thoảng chúng tôi có thể nghe thấy tiếng chuông chùa gần đó, tiếng chuông đã dần trở thành một phần không thể thiếu của cảnh quan. Khi thời tiết ấm áp, chúng tôi bơi lội dưới nước, bắt chuồn chuồn và các loại côn trùng khác. Và mùa đông cũng có thể tuyệt vời như vậy, chẳng hạn như trong thời gian lễ hội vào cuối tháng 12, khi các bức tượng của Kim Il-sung được trang trí bằng đèn dưới chân và treo biểu ngữ chúc chúng tôi một Năm Mới Hạnh Phúc. Kỳ nghỉ đông kéo dài từ ngày 31 tháng 12 đến giữa tháng 2, và khi mệt mỏi với những trận đấu bóng tuyết, chúng tôi sẽ quay trở lại dòng sông thân yêu để trượt băng hoặc chơi một trận khúc côn cầu trên băng.
Sẽ là một điều không tốt nếu phủ nhận rằng mình đã có một tuổi thơ hạnh phúc, nhưng gia đình tôi khá giả hơn hầu hết mọi người, sống trong một khu phố mới xây cực kỳ yên tĩnh, thoáng mát và xanh tươi. Nằm gần ga xe lửa chính, Kyongnim-dong có thể kém đẹp hơn so với các khu vực dành riêng cho quan chức cấp cao, nhưng chắc chắn nó phải đứng ở vị trí thứ hai. Trong tâm trí tôi, tôi nhớ nó giống như một công viên hơn là một khu đô thị. Căn hộ của chúng tôi đủ rộng để có thể chứa thoải mái cả bảy người chúng tôi: bố mẹ tôi; em gái tôi, Mi-ho, tên có nghĩa là “hồ xinh đẹp” và kém tôi hai tuổi; ông bà nội tôi; một người chú của tôi – “chú ba” của tôi, theo cách người TriềuTiên, xếp hạng các cô chú theo độ tuổi và thứ bậc; và tôi. Gia đình tôi được hưởng một mức độ thoải mái xa lạ so với hầu hết các gia đình ở Triều Tiên, ngay cả ở Bình Nhưỡng. Chúng tôi có tủ lạnh, máy giặt, máy hút bụi và thậm chí cả thứ xa xỉ được săn lùng nhiều nhất: chiếc tivi màu, trên đó chúng tôi có thể xem loạt phim tội phạm chính trị đầy kịch tính “Bàn tay sạch”. Ngay cả quần áo của chúng tôi cũng có vẻ sang trọng so với quần áo của những người hàng xóm, những người mà bà tôi thường cho đi những thứ chúng tôi không còn cần nữa.
Không có tình trạng nghèo đói thực sự ở khu vực lân cận của chúng tôi hay bất kỳ nơi nào khác – ít nhất là ở các thành phố lớn. Triều Tiên vẫn chưa bắt đầu phải chịu tình trạng thiếu trầm trọng lương thực và năng lượng lớn như hiện nay. Hệ thống phân phối khẩu phần hoạt động tốt, và vào đầu mỗi tháng, các gia đình đều nhận được phiếu mua thực phẩm và dầu sưởi. Ở nhà chúng tôi, mọi chuyện thậm chí còn tốt hơn. Ông tôi, người giữ vị trí giám sát trong mạng lưới phân phối hàng hóa nhà nước, có quyền tiếp cận hầu hết mọi thứ, kể cả nguồn cung cấp thịt gần như vô tận. Những ai có đủ đặc quyền để quen biết người đàn ông quan trọng này đôi khi ghé qua thăm chỉ để ra về với một chút gì đó dư thừa dưới đáy túi, một phần bổ sung cho khẩu phần do chính phủ cung cấp.
Những hình ảnh khác từ thời điểm đó quay trở lại với tôi. Chúng tôi sống cách đại sứ quán Liên Xô vài chục bước chân, và những đứa trẻ của đoàn ngoại giao đôi khi mạo hiểm đến những nơi mà tôi và bè bạn coi là lãnh thổ của mình. Chúng tôi tò mò theo dõi nhóm trẻ em tóc vàng nói tiếng nước ngoài đi ngang qua khu phố của chúng tôi. Chúng tôi quấy rối và cố giật tóc chúng, và chúng đẩy chúng tôi ra hoặc bỏ chạy; nhưng bằng cách nào đó, những cuộc khiêu khích vụng về không bao giờ bùng phát thành một cuộc ẩu đả. Tuy nhiên, khi phải đấu đá với nhau, chúng tôi không bao giờ bỏ lỡ cơ hội. Tôi là một đứa trẻ khó tính – bướng bỉnh, hiềm thù, kiên quyết – không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để so sánh bản thân với đối thủ. Cuộc chiến của tôi đôi khi bị ông nội ngăn cản, người cực kỳ yêu quý tôi. Nếu tôi sắp thua, người sẽ dừng cuộc đấu đá và gọi cả tôi và đối thủ của tôi là côn đồ, nhưng bất cứ khi nào ông thấy tôi chiếm thế thượng phong, ông sẽ đứng ngoài cuộc – rạng rỡ, tự hào.
Ở Bắc Triều Tiên, những đứa trẻ ở độ tuổi tôi được khuyến khích nuôi dưỡng tinh thần cạnh tranh. Tôi nhớ có lần học sinh trong mỗi lớp đều dán những con số thể hiện thứ hạng tương đối của họ về thể lực. Sau đó, các lớp khác nhau tổ chức cạnh tranh để so sánh vị trí số một của lớp họ với số một của các lớp khác. Người Triều Tiên có thể bạo lực, nhưng họ cũng là những con người đa cảm, dễ rơi nước mắt trước những bài hát mùi mẫn và những cuốn tiểu thuyết ướt át. Vì vậy, tôi hy vọng mình sẽ được tha thứ vì đã trân trọng một kỷ niệm khác, ký ức về một cô bé sáu tuổi. Lúc đó tôi bảy tuổi và tôi nghĩ cô ấy thật xinh đẹp. Một đạo diễn phim cũng vậy, ông đã phát hiện ra cô và đưa cô vào một trong những bộ phim của ông ta. Chắc hẳn cô ấy cũng thích tôi nhiều như tôi thích cô ấy, vì đã lâu rồi chúng tôi không thể tách rời. “Gia đình rồi sẽ sớm cưới hai chúng mày thôi,” bà tôi từng nói đùa.
Lời dự tính làm cô bé thích thú nhưng lại khiến tôi nổi cơn thịnh nộ dữ dội. Tại sao lại giận dữ như vậy? Có lẽ bà tôi đã vô tình chạm vào chỗ nhạy cảm. Tình dục là một chủ đề cấm kỵ trong hệ thống giáo dục Triều Tiên và có lẽ trong tâm trí tôi cũng vậy. Có phải sự tức giận của tôi là một nỗ lực để che giấu sự bối rối của mình? Dù lý do là gì thì mối tình đầu đó cũng có ý nghĩa rất lớn đối với cả tôi và cô bé: nhiều năm sau, khi cô học cấp 3 còn tôi ở trong quân ngũ, cô mới dám hỏi thăm sức khỏe tôi. Cuối cùng khi xuất ngũ tôi cũng đến thăm cô ấy nhưng đã quá muộn. Ku Bon-ok—”viên ngọc quý đích thực”, ý nghĩa của tên cô ấy như đã báo trước—đã kết hôn và chuyển đi nơi khác. Đến nơi mà tôi chưa hề biết.
Tôi có một tình yêu thời thơ ấu khác: cá cảnh. Nuôi chim bồ câu là sở thích phổ biến hơn của bạn bè tôi, nhưng chuyện đó chưa bao giờ tôi thích. Sở thích tôi là cá, và chúng quan trọng với tôi hơn bất cứ thứ gì. Ngay cả khi ngồi trong lớp và nghe giáo viên giảng, tôi cũng đồng cảm cho hoàn cảnh của chúng. Tôi lo rằng chúng sẽ buồn chán khi không có tôi, rằng nước trong bể cá không đúng nhiệt độ, rằng kẻ ác đã đột nhập vào nhà và làm gì đó với chúng. Hầu như tất cả những đứa trẻ tôi biết đều có một bể cá cảnh, nhưng xuất thân từ một gia đình khá giả, tôi có khoảng 10 bể xếp dọc các bức tường trong phòng tôi. Thật may mắn, cách nhà chúng tôi không xa có một cửa hàng bán cây thủy sinh, đá cuội màu và các phụ kiện khác. Để đảm bảo luôn có được những món hàng nguyên bản nhất, tôi sẽ thức dậy sớm và là người đầu tiên đến khi cửa hàng mở. Người phụ nữ điều hành cửa hàng thích vị khách trẻ tuổi siêng năng của mình và luôn mỉm cười rạng rỡ mỗi khi tôi đến và yêu cầu, theo cách nghiêm túc nhất của một đứa trẻ chín tuổi, giữ lại những loài như vậy cho chuyến hàng cá tiếp theo.
Tôi muốn sở hữu những con cá đẹp nhất trong vùng, to nhất và kỳ lạ nhất. Một ngày nọ, tôi nảy ra ý tưởng bổ sung các mẫu vật từ con sông lân cận vào bộ sưu tập của mình. Thủ thuật này chưa bao giờ được thử. Vì vậy, tôi bắt được một vài con cá, nhanh chóng mang chúng về nhà, thả vào bể cá rồi chạy ra ngoài đón bạn bè để họ chiêm ngưỡng những chú cá mới của tôi. Nhưng than ôi, khi chúng tôi quay lại, những “người” ở trọ mới đã rời bỏ thế gian này.
Sự cạnh tranh về cá cảnh cũng khốc liệt như về thể lực, và sự ghen tị gặm nhấm chúng tôi mỗi khi ai đó có được con cá đẹp hơn cá chúng tôi. Có lần, một đứa trẻ hàng xóm mời chúng tôi đến xem một con cá kỳ lạ mà nó vừa được tặng, một con cá thực sự lộng lẫy với đôi mắt to lồi. Tuy nhiên, ngay khi cậu chủ cá bước ra khỏi bể cá thì một trong những vị khách của cậu đã thọc tay vào bể cá và bứt toạc một con mắt của chú cá xấu số. Con cá quá đẹp để sống trong bể cá của người khác.

2
TIỀN VÀ CÁCH MẠNG CÓ THỂ HÒA THUẬN
Sự giàu có tương đối của gia đình tôi không chỉ nhờ vào địa vị xã hội của ông bà tôi mà còn nhờ vào việc họ đã từng sống và thịnh vượng ở Nhật Bản. Bà tôi là người đầu tiên lưu vong ở đó. Bà sinh ra ở gần cực nam bán đảo Triều Tiên, trên đảo Cheju, nơi nổi tiếng với thời tiết lộng gió, ngựa và tính cách mạnh mẽ của phụ nữ. Cho đến ngày nay, bạn vẫn thấy họ trên tivi mặc bộ đồ lặn và lặn xuống biển để tìm kiếm hải sản có vỏ cứng, trong khi ông chồng của họ ở nhà trông con.
Trên các bản đồ cũ hơn, hòn đảo thường xuất hiện dưới cái tên Quellepart. Tên gọi này bắt nguồn từ sự xuất hiện của một nhóm các nhà truyền giáo người Pháp, họ hỏi dân địa phương rằng họ đang en quelle partie—ở vùng nào—của Triều Tiên mà họ vừa đặt chân đến. Cho dù được gọi là Quellepart hay Cheju, đây là hòn đảo lớn nhất trong số nhiều hòn đảo nằm rải rác khắp bờ biển Triều Tiên, và trong những năm gần đây nó đã phát triển thành một địa điểm du lịch lớn. Trên thực tế, đây hiện là điểm đến số một của các cặp đôi mới cưới Hàn Quốc đi hưởng tuần trăng mật.
Tuy nhiên, vào những năm 1930, cuộc sống trên đảo rất khó khăn. Phần lớn dân số di cư sang Nhật Bản để tìm việc làm ở trung tâm của đế quốc mà Triều Tiên là thuộc địa từ năm 1910.
Bà nội là con gái thứ ba trong một gia đình nghèo, bữa ăn điển hình gồm khoai lang, thỉnh thoảng có cá. Năm mười ba tuổi, bà rời đảo đến Nhật Bản. Có vẻ như bà khi ấy là một đứa trẻ thông minh. Bà thường vừa cười vừa kể với tôi rằng khi còn nhỏ, cha bà luôn nói: “Chà, nếu mày là con trai, mày thực sự có thể không thua kém ai”
Bà lên đường tự lập với ý định tìm việc làm trong một nhà máy dệt ở Kyoto. Hóa ra, bà ấy quá lùn, còn thiếu một inch. Các chủ nhà máy không được phép thuê bất cứ ai dưới mười ba tuổi, và vì các cô gái không bao giờ có bất kỳ giấy tờ tùy thân nào nên các chủ nhà máy phải đánh giá độ tuổi chỉ dựa trên chiều cao. Hơi lùn so với tuổi, người chủ bảo bà tôi quay lại sau khi lớn lên một chút. Tuy nhiên, bà không muốn quay lại Triều Tiên. Bà ăn xin trên đường phố một thời gian và ngủ trong ký túc xá của nhà máy, nơi một số công nhân đồng hương đã cưu mang bà. Bà nói với tôi rằng hầu hết thức ăn của mình đều đến từ những người chăn nuôi gia cầm, họ đưa cho bà đầu gà mà khách hàng của họ không muốn lấy. Tôi có cảm nghĩ rằng đó cũng không phải là điều tồi tệ nhất. Bà sống như vậy suốt một năm, cho đến khi cao thêm một hoặc hai inch và được nhà máy thuê. Công việc vất vả nhưng bà thích nó. Bà tự hào khi kiếm được đồng lương đầu tiên và nhanh chóng trả ơn những cô gái đã giúp đỡ mình. Số tiền còn lại ít ỏi cô gửi về quê cho gia đình.
Phong trào Xã hội Chủ nghĩa đang có được chỗ đứng ở Nhật Bản, đặc biệt là trong giới giáo viên. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi bà nội lần đầu tiên được giới thiệu những ý tưởng về chủ nghĩa xã hội bởi những giáo viên lớp học ban đêm của bà. Bà tôi là một học sinh thông minh, chăm chỉ, ham học hỏi. Một số giáo viên của bà ngày càng gắn bó với bà và thông qua các cuộc thảo luận của họ, họ đã cố gắng hướng cô gái trẻ, trung thực tới chủ nghĩa xã hội.
Bà gia nhập Đảng Cộng sản Nhật Bản ở tuổi 20, cũng là khoảng thời gian bà gặp người chồng sắp cưới của mình, cũng giống như bà, là người gốc Cheju. Là con cả trong gia đình có ba người con, ống đã lên đường sang Nhật Bản để thoát khỏi cuộc hôn nhân bất hạnh do cha mẹ anh sắp đặt. Lúc đó ông mới mười lăm tuổi, vợ ông cũng tầm tuổi đó. Hai người trẻ chưa bao giờ yêu nhau và cuộc hôn nhân nhanh chóng thất bại. Cuối cùng ông nội tôi quyết định bỏ trốn, để lại vợ ở nhà với bố mẹ. Theo truyền thống Nho giáo, vẫn tiếp tục thống trị ở Triều Tiên ngày nay, người phụ nữ đã kết hôn thuộc về gia đình nhà chồng và vẫn như vậy, bất kể ly hôn hay ly thân. Nếu cô ấy muốn trở về nhà bố mẹ đẻ, chắc chắn cô ấy sẽ bị từ chối.
Ông tôi có chuyến đến Nhật Bản tốt lành hơn bà tôi. Trong một thời gian ngắn, ông tìm được việc làm ở một tiệm kim hoàn và học nghề mạ vàng. Sau khi nhanh chóng nắm vững kỹ thuật, ông thành lập cửa hàng riêng để sản xuất đồ trang sức mới lạ. Vào khoảng thời gian đó ông đã gặp bà tôi. Người đàn ông muốn làm giàu còn người phụ nữ muốn làm cách mạng yêu nhau và kết hôn. Cha tôi là đứa con đầu lòng của họ. Năm 1934, hai vợ chồng quay trở lại Cheju và chuyển đến sống cùng gia đình ông nội tôi, một bước đi có thể gây sốc cho suy nghĩ của phương Tây, nhưng điều đó không hề hiếm ở Triều Tiên. Người vợ cả không còn cách nào khác là phải âm thầm chịu đựng sự có mặt của người vợ mới dưới một mái nhà.
Sự trở lại của họ chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Ông bà tôi chẳng bao lâu lên đường trở về Nhật Bản. Tuy nhiên, trong thời gian đó, bà nội đã tận dụng tối đa thời gian lưu trú ở Cheju. Với lòng nhiệt thành của mình, bà đã cố gắng mở rộng đáng kể số lượng cảm tính viên Cộng sản và giúp tổ chức nhiều nhóm thảo luận và cuộc họp trên đảo. Mặt khác, đối với ông tôi, những ý tưởng cách mạng không được ông quan tâm; chỉ có tình yêu của ông dành cho bà tôi mới cho phép ông chịu đựng được những ý tưởng đó. Những gì ông nhìn thấy ở niềm đam mê tạo các thay đổi mang tính cách mạng của vợ mình có gì đó giống với niềm đam mê phiêu lưu tài chính của chính ông. Theo cách riêng của họ, cả hai đều tìm kiếm sự tuyệt đối. Một cuộc sống bình lặng, không lửa, không kế hoạch, không đấu tranh là điều đáng nguyền rủa đối với họ. Đó là lý do tại sao ông nội rất yêu bà nội. Khi bà nói “cách mạng”, ông nghe thấy “niềm đam mê” và cảm thấy như thể ông chưa bao giờ gần gũi hơn với bất kỳ ai. Tinh thần mà bà mang đến cho hoạt động của mình quan trọng trong con mắt mê mẩn của ông hơn là bản chất của hoạt động đó. Lòng nhiệt tình của bà đối với cuộc cách mạng Cộng sản – và niềm tin của bà – đã lấn át sự thiếu quan tâm của ông đối với chính nghĩa; ông để bà làm theo ý mình và ông cảm thấy hạnh phúc. Tuy nhiên, ông nội không bao giờ cho phép tiền bạc khiến ông phớt lờ cảnh ngộ của những người kém may mắn hơn mình. Quả thực, ông đã hào phóng giúp đỡ người nghèo đến mức thường trêu chọc vợ mình rằng hôm nay ông đã làm được nhiều điều vì công bằng xã hội hơn những gì mà chủ nghĩa cộng sản có thể làm được vào ngày mai. Ông cũng gửi rất nhiều tiền cho bà con bên vợ, giúp họ đỡ khổ khi phải vật lộn trong cảnh nghèo đói tột cùng.
Ngôi sao kinh tế và xã hội của ông nội không ngừng thăng tiến. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, ông từ bỏ công việc kinh doanh đồ trang sức mới lạ để chuyển sang buôn bán gạo sinh lợi hơn. Sau đó, ông mở một sòng bạc đối diện ga xe lửa Kyoto, một ý tưởng đầy cảm hứng và đã thành công ngay lập tức. Lợi nhuận lớn đến mức ông nội nhanh chóng mở sòng bạc thứ hai, rồi thứ ba, tất cả đều tiếp tục thu hút rất đông con bạc tham gia.
Số lượng người nhập cư Hàn quốc vào Nhật Bản tăng lên rất nhiều trong chiến tranh. Trong vòng vài năm, số lượng của họ đã tăng lên 2 triệu. Ngoài những người đến trước đó, như ông bà tôi, hàng trăm nghìn đàn ông và phụ nữ đã được đưa đến trong chiến tranh – thường là cưỡng bức – để giúp bù đắp tình trạng thiếu lao động ở Nhật. Sau khi chiến sự kết thúc, nhiều người Hàn quốc vẫn ở lại, nhưng cộng đồng lưu vong bị chia rẽ sâu sắc: một phần ủng hộ chính quyền Bắc Triều Tiên do Liên Xô hậu thuẫn, phần còn lại ủng hộ chính quyền Mỹ do Mỹ hậu thuẫn ở miền Nam. Khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào năm 1950, cảm xúc bốc cháy cao hơn. Lập trường cứng rắn. Cư dân Hàn quốc đã thành lập hai hiệp hội đối lập về mặt ý thức hệ. Tổ chức ủng hộ Nam Hàn tự gọi mình là Mindan, Hiệp hội Dân chủ, trong khi hiệp hội ủng hộ miền Bắc lấy tên mà nó vẫn giữ cho đến ngày nay, Chosen Soren (tiếng Nhật) hoặc Chochongryon (tiếng Hàn), Liên đoàn Cư dân Triều Tiên tại Nhật Bản. Nhóm thứ hai có ảnh hưởng nhiều hơn trong cộng đồng lưu vong; Miền Nam không chỉ gặp khó khăn trong việc khởi động bộ máy kinh tế, mà chính phủ của họ còn bị tai tiếng vì tiếp nhận nhiều kẻ phản động nổi tiếng và cung cấp nơi ẩn náu cho những kẻ cộng tác thân Nhật trước đây. Ngược lại, miền Bắc đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và biểu dương lòng trung thành quốc gia không dao động.
Ông bà tôi không hề biết rằng giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên, giống như giới lãnh đạo của các nền dân chủ đại chúng ở châu Âu, đã nằm dưới sự kiểm soát của Moscow và rằng các nhà lãnh đạo Cộng sản từng chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của nước ngoài đang bị loại bỏ một cách có hệ thống. Họ cũng không biết rằng những số liệu thống kê bịa đặt đã khiến nền kinh tế chỉ trung bình của Bắc Hàn trông giống như một thành tựu rực rỡ.
Ông nội đã theo vợ và những người Cộng sản Triều Tiên còn lại và gia nhập Chosen Soren, dưới ngọn cờ của họ tập hợp phần lớn những người di cư Hàn quốc nghèo nhất. Ông tôi là một trường hợp hết sức kỳ lạ. Khối tài sản khổng lồ của ông không đáng kể so với ảnh hưởng của người vợ quyền lực. Mặc dù không phải là vô cảm trước lòng yêu nước của những người đồng đội Soren được chọn của mình, điều thực sự quan trọng đối với ông là tham gia vào hoạt động sôi nổi của bà tôi. Trong khi tiếp tục công việc kinh doanh tư nhân của mình, ông đã đồng ý chỉ đạo bộ phận kinh tế của hiệp hội và thậm chí đóng góp tiền cho nó. Tôi được biết, sự phát triển của chi nhánh Chosen Soren ở Kyoto có liên quan rất nhiều đến sự hỗ trợ tài chính trực tiếp của ông.
Vào tháng 6 năm 1949, những người Hàn quốc trước đây thuộc Đảng Cộng sản Nhật Bản đã chuyển ồ ạt sang Đảng Lao động Triều Tiên mới thành lập, tên gọi của đảng Cộng sản Triều Tiên. Giống như các đối tác của mình trên khắp thế giới, Đảng Lao động Triều Tiên đã thể hiện sở trường đáng gờm trong việc tạo ra các hiệp hội có sức hấp dẫn của nền dân chủ và sự cởi mở đối với công chúng. Có các hiệp hội phụ nữ, các phong trào bảo vệ văn hóa và hòa bình, các câu lạc bộ thể thao và nhiều nhóm khác mà Đảng có thể gây ảnh hưởng từ trong bóng tối. Bà tôi là một trong những người tổ chức tích cực nhất của Đảng và cuối cùng trở thành giám đốc khu vực Kyoto. Trách nhiệm này như một sự bổ sung cho những cống hiến tích cực của bà với tư cách là một đảng viên. Nếu điều kiện cho phép, tôi chắc chắn rằng hoạt động tích cực không ngừng nghỉ của bà ấy sẽ thúc đẩy bà tham gia nhiều hiệp hội hơn nữa.
Tuy nhiên, bằng cách nào đó, bà vẫn tìm được thời gian để chăm sóc việc nuôi dạy các con mình, điều mà bà đã làm theo cách của riêng mình. Trong những năm ở Kyoto, ông bà tôi sống trong một ngôi nhà sang trọng nằm trong một khu dân cư khá giả, đẹp như tranh vẽ, rải rác những dấu tích của quá khứ lịch sử của Nhật Bản. Bọn trẻ có phòng riêng. Nhà bếp, hay đúng hơn là các nhà bếp, vì có nhiều hơn một nhà bếp, rất lớn, và nghịch lý của những nghịch lý, người hầu của họ lại là người Nhật – vào thời điểm mà hầu hết người giúp việc gia đình ở Nhật Bản đều là người Triều Tiên. Những thứ xa xỉ này đều do bàn tay của ông nội tôi tạo ra Không có gì khiến bà tôi sợ hãi hơn tác động của những tiện ích như vậy đối với bà và gia đình bà. Có gì độc hại đối với ý thức về công lý của một người hơn là sự xa hoa không cần thiết hay không? Chẳng phải những ngày tháng nghèo khó tuyệt vọng đã giúp bà hiểu biết về thế giới sao? Và đó quả là một minh chứng cho phép biện chứng Cộng sản: cái tiêu cực chuyển thành tích cực, nỗi khốn khổ đen tối thăng hoa thành ý thức cao độ, đau khổ thành tình đoàn kết! “Cuộc sống sang trọng,” bà ấy từng nói với tôi khi nhắc đến giai đoạn đó trong cuộc đời bà, “không bao giờ là chất men cho khát vọng công lý”.
Và thế là bà nội nuôi dạy các con như thể chúng rất nghèo. Cha tôi kể rằng ông và các em của ông thường đi tất cũ và mặc quần áo sờn cũ, mặc dù cha mẹ họ có đủ tiền để mua cho họ nhiều tủ quần áo mới. Một giai thoại khác xác nhận rằng những đứa trẻ trông không giống con trai và con gái của bố. Một cảnh khá hài hước đã diễn ra khi, theo phong tục Nhật Bản, giáo viên của bố tôi phải ghé qua nhà để họp với phụ huynh. Vì thầy chưa từng đến thăm nên bố tôi dẫn đường. Càng đến gần nhà, thầy càng ngạc nhiên và hoài nghi. “Chắc là em bị lạc rồi,” giáo viên nói. “Chúng ta đang đi tới khu nhà giàu mà.” “Không, không,” bố tôi vặn lại. “Nó ở ngay góc đường thôi.” Người giáo viên tiếp tục biểu lộ sự ngạc nhiên, nhưng không có nhầm lẫn nào cả, và người thầy ngơ ngác nhanh chóng nhận ra mình đang đứng trước một ngôi nhà xinh đẹp ở khu phố sang trọng nhất Kyoto. Sau này tôi được xem ngôi nhà trong một bộ phim gia đình mà bố tôi đã quay và mang theo ra Bắc. Đó là một biệt thự ba tầng sang trọng có hồ bơi và khu vườn.
Tôi luôn không hiểu tại sao ông bà tôi lại gửi con đến các trường học bình thường của Nhật Bản thay vì các trường do Chosen Soren điều hành. Những thành trì phản văn hóa này được các bậc cha mẹ ưa chuộng vì muốn con cái họ tiếp thu nguồn gốc Triều Tiên. Tại sao cha, các chú, các cô của tôi không bao giờ theo học những trường này sẽ mãi mãi là một bí ẩn.
Mạng lưới giáo dục Chosen Soren vẫn mạnh mẽ trong suốt những năm 1960 và 1970 và bao gồm khoảng 150 cơ sở trải dài từ tiểu học đến đại học. Tuy nhiên, đến những năm 1980, mạng lưới này đã bị suy yếu đáng kể do sự hội nhập của 700.000 cư dân Hàn quốc ở Nhật Bản vào nền văn hóa chính thống, cũng như do hình ảnh của Bắc Triều Tiên đang bị suy giảm trong công chúng và sự thiếu quan tâm chung đến việc trở thành “một người lính kiêu hùng của Tướng Kim Il-sung.”
Mặc dù đã mất đi phần lớn sức mạnh và vinh quang nhưng Chosen Soren vẫn tồn tại. Vào tháng 5 năm 1998, đảng tổ chức Đại hội lần thứ 18 và bầu lại vị lãnh đạo già vững vàng Han Duk-su. Chosen Soren vẫn sở hữu vài chục công ty và kiểm soát khoảng 15 cơ sở tin tức. Lợi nhuận của họ giúp củng cố nền kinh tế Bắc Triều Tiên giống như tiền từ cộng đồng lưu vong ở Miami giúp duy trì Cuba. Năm 1998, gần 80 triệu USD được cho là đã chuyển từ Nhật Bản sang Bắc Triều Tiên.
Sau khi học xong trung học, cha tôi đăng ký vào Đại học Kyoto để theo đuổi niềm đam mê nghệ thuật lớn lao của mình là nhiếp ảnh—mặc dù được dự kiến, với tư cách là con trai cả, sẽ thay thế cha mình trong công việc kinh doanh sòng bạc đang phát đạt của gia đình. Những đứa trẻ khác đều là những học sinh xuất sắc và dường như đã được định sẵn để đạt được thành công lớn. Cô đầu tiên của tôi là dược sĩ; chú đầu tiên của tôi, người đã theo học tại Đại học Waseida ở Tokyo, là một nhà báo; và các em khác học y học và sinh học.
Các nhà lãnh đạo của Chosen Soren rất mong muốn được thấy những người có trình độ học vấn cao quay trở lại Bắc Triều Tiên và họ liên tục đáp ứng nhu cầu của quê hương về những cá nhân có kiến thức và khả năng. Ở Bắc Triều Tiên, một người có thể phục vụ nhân dân và nhà nước hơn là ở Nhật Bản, con tốt của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, Chosen Soren không chỉ giới hạn trong việc tuyển dụng giới thượng lưu Hàn Quốc mà còn làm việc không mệt mỏi để hồi hương mọi tầng lớp người di cư Hàn Quốc. Kẻ chủ mưu thực sự đằng sau chiến dịch của Chosen Soren chính là nhà nước Bắc Triều Tiên. Vào những năm 1960, dưới sự chỉ đạo của Kim Il-sung, họ đã nỗ lực rất nhiều để thu hút người Hàn Quốc di cư bằng cách coi mình là niềm hy vọng cuối cùng cho sự thống nhất và bảo vệ bản sắc dân tộc: vì Hàn Quốc là kẻ phản động và là con rối của Hoa Kỳ.
Người Hàn Quốc chưa bao giờ dễ dàng hòa nhập với cuộc sống của người Nhật và thường là mục tiêu của thành kiến. Do đó, tuyên truyền của Bắc Triều Tiên đã gây được tiếng vang với nhiều người ở hải ngoại và hàng nghìn người đã hưởng ứng lời kêu gọi quay trở lại của Kim Il-sung. Những người Hàn Quốc khá giả như ông bà tôi có thể mong đợi được tán tỉnh bằng những lập luận ý thức hệ và những lời hứa hão huyền: có những vị trí quản lý đang chờ đợi họ, họ có quyền có một ngôi nhà đẹp, họ sẽ không phải lo lắng về vật chất, và con cái họ sẽ có thể học ở Moscow. Ông nội khá phản đối ý tưởng này, còn bà nội thì ủng hộ. Những cuộc trò chuyện kéo dài không ngừng nghỉ, cuối cùng bà tôi đã giành được chiến thắng. Không ai đặc biệt ngạc nhiên. Và thế là gia đình đó quyết định hướng tới Bắc Hàn.
Ôi, trí thức Việt Nam cũng như Cambodia vậy . Ngày xưa có người Bắc Hàn làm chí nguyện quân chống Mỹ ở Việt Nam
ThíchThích