
Christopher Lascelles
Trần Quang Nghĩa dịch
CHƯƠNG 15 : Sự ly giáo
“Trong tất cả các chế độ chuyên chế, chế độ chuyên chế nào được thực hiện vì lợi ích của nạn nhân của nó có thể là chế độ áp bức nhất. Có lẽ sống dưới những tên trùm cướp tốt hơn là dưới những kẻ soi mói đạo đức toàn năng. Tính tàn ác của tên trùm cướp đôi khi có thể ngủ yên, lòng tham của hắn đến một lúc nào đó có thể đã thỏa mãn; nhưng những kẻ hành hạ chúng ta vì lợi ích của chúng ta sẽ hành hạ chúng ta không ngừng, vì họ làm như vậy với sự chấp thuận của lương tâm họ.”
C.S. Lewis
Theo quy định của luật Giáo hội, mật nghị bầu người kế vị Gregory XI đã diễn ra tại La Mã. Một đám đông khổng lồ nhanh chóng tụ tập lại, lớn tiếng yêu cầu các hồng y bầu chọn một giáo hoàng người La Mã: ‘Chúng tôi muốn có một giáo hoàng người La Mã, hoặc ít nhất là một người Ý. Nếu không, chúng tôi sẽ chặt các người ra từng mảnh’, họ hét lên. ‘Hãy cho chúng tôi một người La Mã nếu không chúng tôi sẽ khiến đầu các ngài đỏ hơn mũ các ngài. Điều đó chắc chắn đã thu hút được sự chú ý của các hồng y. Vấn đề là chỉ có bốn vị hồng y người Ý tham dự mật nghị và vì nhiều lý do (quá già, quá trẻ…), không ai trong số họ phù hợp với chức vụ này. Trong số các hồng y khác, 11 người là người Pháp và một người là người Tây Ban Nha, trong khi 6 người vẫn ở Avignon để trông coi công việc kinh doanh của giáo hoàng.
Dưới áp lực ngày càng tăng, các hồng y quyết định bầu một người thậm chí không có mặt: Tổng giám mục Bari, Bartolomeo Prignano. Mặc dù không phải là người La Mã nhưng Pignano đã làm việc ở Avignon và dường như là một lựa chọn an toàn với tư cách là người mà họ có thể kiểm soát được; ít nhất họ sẽ không làm giàu cho một hồng y đồng nghiệp. Sau khi ông chấp nhận, lấy tên là Urban VI (1378-89), các hồng y đã viết thư cho các hồng y đồng nghiệp của họ ở Avignon để thông báo rằng họ đã nhất trí bầu ra giáo hoàng mới.
Tuy nhiên, chỉ trong vài tuần, họ nhận ra rằng mình đã phạm phải một sai lầm khủng khiếp. Prignano đã biến đổi từ một người quản lý Giáo hội hiệu quả thành người mà một tác giả Thiên chúa giáo mô tả là ‘kẻ điên cuồng la hét, và một tác giả khác cho rằng ông ta đã trở nên mất thăng bằng về mặt tâm trí sau cuộc bầu cử. Trong những cơn giận dữ bộc phát, tân giáo hoàng đã chỉ trích sự vô đạo đức, giàu có và hoang phí của các hồng y, yêu cầu họ phải chấp nhận cải cách Giáo hội hoặc rời bỏ nó. Không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả những lời chỉ trích đều công chính, nhưng các giám mục của Giáo hội có thói quen không thân thiện với những người chỉ trích mình, và những lời chỉ trích chỉ nhằm mục đích khiến họ xa lánh và chống đối. Urban VI sau đó đã rút phép thông công các hồng y phạm tội mua bán chức vụ, một con số đáng kể.
Trong suốt mùa hè, những người ở lại dần dần rời khỏi La Mã và tụ tập lại để xem xét tình trạng khó khăn của mình, dường như ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Sau đó, họ lập một kế hoạch để tuyên bố rằng họ đã bị ép buộc phải bầu chọn Urban VI dưới sự ép buộc, điều này, nếu đúng, sẽ khiến cuộc bầu chọn ông ta trở nên vô hiệu. Bây giờ mạng sống của họ không còn bị đe dọa nữa, họ sẽ từ chối cuộc bầu cử ông, kêu gọi ông thoái vị và bầu một giáo hoàng khác. Vì vậy, vào đầu tháng 9, họ tổ chức một mật nghị khác, bầu không ai khác ngoài Hồng y Robert xứ Geneva, cựu ‘Đồ tể của Cesena’, người lấy tên là Clement VII (– nay được coi là một giáo hoàng đối lập). Việc ông tình cờ là một người Pháp và là anh họ của vua Pháp chắc chắn đã làm cho cuộc thảo luận của họ trở nên dễ dàng hơn.
Thật không may, Urban VI đã từ chối ra đi một cách lặng lẽ, viện cớ khá hợp lý rằng vì cuộc bầu cử của ông đã được tiến hành đúng cách nên ông không thể bị yêu cầu thoái vị. Đúng hơn là ông nhấn mạnh rằng Clement VII nên từ bỏ yêu sách của mình. Tuy nhiên, về phần mình, Clement cũng không sẵn sàng từ bỏ một vai trò có quá nhiều lợi thế, và khi biết rõ rằng Urban sẽ không từ chức, Clement quay trở lại Avignon, nơi ông thành lập một giáo triều đối lập và bổ nhiệm các hồng y. từ khắp châu Âu, giống như Urban VI. Cả hai người ngay lập tức tìm kiếm sự hỗ trợ từ các quốc gia châu Âu. Tuy nhiên, với việc cả hai giáo hoàng đều được bầu bởi nhiều hồng y giống nhau, ban đầu vẫn chưa rõ yêu cầu hỗ trợ ai là chính đáng hơn. Cuối cùng, lợi ích chính trị, chứ không phải tôn giáo, mới là yếu tố quyết định: người Pháp và các đồng minh của họ (Naples, Scotland, Sicily và phần lớn Iberia) ủng hộ Clement VII, người ở lại Avignon; trong khi kẻ thù của Pháp (Anh, Đế chế La Mã Thần thánh và hầu hết người Ý) ủng hộ Urban VI ở lại La Mã. Thế giới lúc này có hai giáo hoàng (mặc dù họ đã rút phép thông công lẫn nhau), hai Hồng y đoàn riêng và hai cơ quan hành chính. Cả hai giáo hoàng đều không sẵn lòng từ bỏ yêu sách của mình đối với ngôi vị giáo hoàng và mỗi người vẫn giữ được lòng trung thành của các hồng y được bổ nhiệm, những người có lẽ lợi ích cá nhân của họ lớn hơn bất kỳ sự cân nhắc nào khác.
Urban VI trị vì được 11 năm, trong thời gian đó ông ngày càng hoang tưởng về những âm mưu hạ bệ mình. Vào năm 1386, sáu vị hồng y thực sự đã âm mưu chống lại ông, nhưng họ đã bị phát hiện và tra tấn với sự cho phép rõ ràng của ông ta. Năm người trong số họ cuối cùng đã biến mất. Nếu giáo triều của ông đã bắt đầu với những ý định tốt đẹp thì những ý định này chắc chắn đã bị dập tắt vào thời điểm này. Dường như có một kẻ điên đang ngồi trên ngai của Thánh Peter.
Urban VI là vị giáo hoàng đầu tiên qua đời, được cho là do ngã ngựa khi chạy trốn bạo lực ở La Mã. Thay vì chấm dứt cuộc ly giáo bằng cách công nhận Clement VII – điều có thể gây nghi ngờ về tính hợp pháp của việc bổ nhiệm mình, các hồng y do Urban VI bổ nhiệm nhất quyết bầu người kế vị. Trong khi mỗi giáo hoàng lần lượt bày tỏ mong muốn được hợp nhất, nhưng không ai thực hiện điều đó vì sợ mình bị phế truất. Cuối cùng, cả hai giáo hoàng đều có người kế vị được bầu chọn bởi Hồng y đoàn tương ứng của họ, điều đó có nghĩa là cuộc ly giáo càng kéo dài. Urban VI, ở La Mã, được kế vị bởi ba người Ý, Boniface IX (1389-1404), Innocent VII (1404-6), và Gregory XII (1406-15) trong khi Clement VII, ở Avignon, được kế vị bởi một người Pháp, Benedict XIII (1394-1417). Tệ hơn nữa là sự lạm dụng tài chính của giáo hoàng đã tăng gấp đôi.
Một giải pháp cho cuộc ly giáo chỉ xuất hiện khi một số hồng y của cả hai bên đều vỡ mộng trước sự bế tắc đang gây tổn hại đến danh tiếng của Giáo hội. Năm 1409, họ tập trung tại Pisa, trên bờ biển phía Tây nước Ý, nơi họ tuyên bố có quyền triệu tập một Đại hội đồng để khôi phục sự hòa hợp. Cả Gregory XII và Benedict XIII đều được triệu tập đến tham dự nhưng từ chối vì sợ bị phế truất. Dù sao thì hội đồng cũng phế truất họ và bầu ra một giáo hoàng mới, một tu sĩ dòng Francis, người lấy tên là Alexander V (1409-10). Kitô giáo bây giờ đã có ba vị giáo hoàng, một ở La Mã, một ở Avignon và một ở Pisa, điều mà ít nhất phải nói là rất khó hiểu.
Alexander V bị cấm vào La Mã và qua đời ở Bologna một năm sau đó. Người kế vị ông là Baldassare Cossa đầy màu sắc nhưng vô đạo đức, lấy tên là John XXIII (1410-15) (đừng nhầm lẫn với vị giáo hoàng cùng tên xuất sắc của thế kỷ 20). Kinh nghiệm trước đây của John với tư cách là một tên cướp biển và chỉ huy quân sự đã được một phe phái hồng y tiến cử, họ giờ đây có lẽ nghĩ rằng ‘một người đàn ông nổi tiếng về kỹ năng quân sự hơn là lòng mộ đạo có thể đánh đuổi và đánh bại các đối thủ của giáo hoàng. Chắc chắn rồi, chẳng bao lâu sau, ông đã rao giảng một cuộc thập tự chinh chống lại Vua của Naples, người ủng hộ đối thủ của ông ở La Mã, ông già Gregory XII.
Hội đồng Constance
John XXIII cuối cùng đã bị vua Đức Sigismund thuyết phục triệu tập một hội đồng nhằm chấm dứt cuộc ly giáo và cải tổ Giáo hội. Được tổ chức tại thị trấn Constance từ năm 1414 đến năm 1418, đây là hội đồng lớn nhất từng được chứng kiến ở phương Tây. Nhưng khi John nhận ra rằng mình cũng sẽ bị yêu cầu từ chức, tình hình càng trở nên tồi tệ hơn; y chỉ đơn giản là cải trang chạy trốn, hy vọng rằng hội đồng sẽ lúng túng nếu không có thẩm quyền của y. Bị xúc phạm, hội đồng tuyên bố rằng quyền lực của nó đến từ Chúa Kitô, không phải từ giáo hoàng, và vì nó đại diện cho Giáo hội hoàn vũ nên tất cả những người theo đạo Thiên chúa bao gồm cả giáo hoàng – đều phải tuân theo các phán quyết của nó.
Các hồng y đã tuyên bố một cách hiệu quả rằng thẩm quyền thực sự trong Giáo hội không nằm ở giáo hoàng mà nằm ở toàn thể Giáo hội, tức là các giám mục khi họ đến với nhau trong một hội đồng. Nói cách khác, giáo hoàng là tôi tớ của Giáo hội chứ không phải ngược lại, và rằng toàn bộ lớn hơn các bộ phận của nó. Trong khi một số giáo hoàng sau đó chỉ nói suông về quan điểm này, họ lo lắng hành động của mình có thể bị hội đồng hạn chế, và vì lý do này mà bất kỳ sự ve vãn nào với ý tưởng này đều rất ngắn ngủi . Cuối thế kỷ đó, vào năm 1460, Giám mục La Mã lúc bấy giờ, Đức Pius II (1458-64), đã ban hành một giáo lệnh – Execrabilis – tuyên bố ý tưởng cho rằng một Đại hội đồng của Giáo hội vượt trội hơn giáo hoàng là nột tuyên bố có tính dị giáo và tuyên bố mọi lời kêu gọi thành lập một hội đồng đều là ‘sai lầm và khả ố’. Ông tiếp tục ra quyết định rằng bất cứ ai triệu tập một hội đồng sẽ phải chịu ‘sự sự phẫn nộ của Thiên Chúa toàn năng.’ Nói cách khác, không ai sẽ chỉ dạy ông ta – hoặc bất kỳ giáo hoàng nào về vấn đề đó – phải làm gì. Ngay khi các giám mục tụ tập ở Constance nhận ra John XXIII đã bỏ trốn, họ ra lệnh bắt lại và đưa về xét xử. Họ đã đưa ra quan điểm của mình về y rất rõ ràng: y là: ‘một tên buôn chức vụ khét tiếng’ và ‘một quản trị viên xấu ác’, người đã ‘gây tai tiếng cho Giáo hội của Chúa và giáo dân Cơ đốc bởi cuộc sống và đạo đức ghê tởm và bất lương của mình, cả trước khi được thăng chức lên giáo hoàng và sau đó.’ Họ kết luận rằng y nên bị phế truất như một kẻ không xứng đáng, vô dụng và đáng nguyền rủa. John XXIII cuối cùng đã bị bắt, bị xét xử và bị cầm tù, nhưng y đã mua được tự do vài năm sau đó và được bổ nhiệm làm Hồng Y Giám Mục Tusculum ngay trước khi y chết. Cho đến ngày nay, không hiếm các quan chức bị thất sũng của Giáo hội hưởng cuộc sống hưu trí thoải mái ở La Mã.
Hội đồng cũng thuyết phục Gregory XII thoái vị và phế truất Benedict XIII mặc dù ông chưa bao giờ công nhận thẩm quyền làm điều độ của hội đồng và tiếp tục tuyên bố mình là giáo hoàng thực sự cho đến khi ông qua đời vào năm 1423. Vào tháng 11 năm 1417, các hồng y cuối cùng đã chọn được một giáo hoàng mới, một thành viên của gia đình Colonna quyền lực, lấy tên là Martin V (1417-31). Trong số những điều khác, ông đồng ý với yêu cầu của các hồng y rằng các hội đồng sẽ họp thường xuyên sau đó trong 5 năm, 7 năm và sau đó cứ 10 năm một lần để thúc đẩy cải cách. Vào tháng 4 năm 1418, Công đồng Constance cuối cùng đã kết thúc. Sau khoảng 40 năm ly giáo, sự thống nhất cuối cùng đã được khôi phục.
Sự phụ thuộc của các giáo hoàng vào sự hỗ trợ của những người cai trị giáo dân trong thời kỳ ly giáo chỉ góp phần làm suy yếu thêm chế độ giáo hoàng và, như sử gia Barbara Tuchman đã chỉ ra, ‘dẫn đến đủ loại mặc cả, nhượng bộ và liên minh với các vị vua và hoàng thân’. Hơn nữa, do thu nhập đã được phân chia nên việc tạo ra doanh thu càng trở thành mối quan tâm lớn hơn bao giờ hết. Kể từ thời điểm này trở đi, ‘việc bán mọi món hàng tinh thần hoặc vật chất dưới sự cho phép của Giáo hội, từ sự giải tội và cứu rỗi cho đến các chức giám mục và tu viện trưởng, đã phát triển thành nền thương mại vĩnh viễn.’ Hậu quả là nạn tham nhũng gia tăng sẽ dẫn tới cách mạng và cải cách.
*
Bốn năm là một thời gian dài đối với một cuộc họp của Giáo hội và những người tham dự đã có nhiều thời gian để thảo luận về những vấn đề khác ảnh hưởng đến Giáo hội. Hai lĩnh vực chính khác cần thảo luận, như thường lệ, là làm thế nào để xóa bỏ dị giáo và làm thế nào để cải cách tình trạng tham nhũng trong Giáo hội. Điều trớ trêu là những người mà Giáo hội coi là dị giáo chính là những người đã yêu cầu cải cách nó.
Một mục tiêu trút giận của họ là giáo sĩ và học giả Kinh thánh người Anh hiện đã quá vãng, John Wycliffe (1330-84). Trong số những điều khác, Wycliffe đã tấn công sự giàu có và suy đồi của Giáo hội, lên án sự lạm dụng thần thánh và bác bỏ ý kiến cho rằng sự cứu rỗi phụ thuộc vào niềm tin đối với quyền tối cao của Giáo hội La Mã. Ông đã chế nhạo khái niệm về ân xá và quyền tối cao của giáo hoàng, đồng thời rao giảng thẩm quyền chính của Kinh thánh (mà ông đã dịch sang tiếng Anh để cung cấp cho nhiều độc giả hơn) so với thẩm quyền của giáo hoàng. Không phải tự nhiên mà ông được gọi là ‘ngôi Sao mai của cuộc Cải cách’. Điều đáng kinh ngạc là ông cũng dạy rằng có thể rao giảng lời Chúa mà không cần sự cho phép của La Mã. Giáo hoàng Gregory XI đã lên án ông nhưng ông có những người bảo vệ đầy quyền lực ở Anh, điều đó có nghĩa là ông đã tránh được việc bị bắt. Nhờ đó, sự giảng dạy của ông đã gây được tiếng vang và thu hút được nhiều người theo dõi. Do đó, hội đồng quyết định rằng “ảnh hưởng độc hại” của ông ta cần phải được ngăn chặn. Hội đồng lên án những suy nghĩ của Wycliffe là ‘quá dị giáo, sai lầm, nổi loạn, tai tiếng và báng bổ’ và ‘xúc phạm đến tai những người sùng đạo.’ Sau đó, nó cấm bất kỳ ai đọc, dạy hoặc trích dẫn bất kỳ cuốn sách nào của ông trừ khi nó nhằm mục đích cụ thể là bác bỏ chúng, đồng thời yêu cầu tìm kiếm và đốt chúng một cách công khai. Cuối cùng, nó tuyên bố ông ta là một kẻ dị giáo và tuyên bố rằng nếu chính quyền địa phương không tuân theo những mệnh lệnh này thì chính họ sẽ bị coi là những kẻ cổ vũ tà giáo. Không thể tự tay thiêu sống Wycliffe, thay vào đó họ đã dàn xếp, ra lệnh phân hủy xương cốt của ông ta và đốt cháy. Hành động hèn hạ này không tốt chút nào để giải quyết vấn đề.
Mục tiêu tiếp theo của hội đồng là Jan Hus (1370-1415), một nhà cải cách còn sống khỏe mạnh, và do đó có khả năng là mối nguy hiểm còn lớn hơn Wycliffe. Với tư cách là một nhà thuyết giáo và giáo sư tại Đại học Praha ở Bohemia, Hus nhận thấy các bài viết của Wycliffe đặc biệt thích hợp trong thời kỳ Đại Ly giáo phương Tây vốn đã làm mất uy tín rất lớn của thẩm quyền Giáo hội Thiên chúa. Hus nhắc lại nhiều lời dạy của Wycliffe và phủ nhận quyền cầm kiếm để bảo vệ Giáo hội của Giáo hoàng, vì những người theo đạo Cơ đốc được kêu gọi tha thứ cho kẻ thù của mình. Ông cũng tuyên bố rằng nhiệm vụ của giáo dân là nổi dậy chống lại một vị giáo hoàng sai lầm.
Được triệu tập trước hội đồng để bảo vệ quan điểm của mình, Hus đồng ý đi chỉ vì Sigismund, vua Đức và hoàng đế tương lai, đã hứa với ông sẽ được an toàn. Nhưng lời bảo đảm này tỏ ra vô giá trị và ông đã bị bắt ngay khi đến nơi. Hội đồng tuyên bố: ‘Vì cây xấu thường sinh ra trái xấu’, hội đồng tuyên bố, ‘vì vậy John Wycliffe, với ký ức bị nguyền rủa, bằng lời dạy chết chóc của mình, giống như một cái rễ độc, đã sinh ra nhiều đứa con độc hại.’ Công đồng rõ ràng chia sẻ với Giáo hội khả năng đã ăn sâu trong việc nhắm mắt làm ngơ trước những khiếm khuyết lịch sử của chính mình. Hus bị buộc tội rao giảng những giáo lý ‘sai lầm’, ‘tai tiếng’ và ‘nổi loạn’, và khi ông từ chối rút lại quan điểm của mình, hội đồng đã lên án ông là một kẻ dị giáo và ra lệnh ‘giao ông cho triều đình thế tục’. Vào tháng 7 năm 1415, Sigismund, người đã đảm bảo an toàn cho Hus, đã thiêu sống Hus. Lời hứa với người dị giáo rõ ràng là không cần phải giữ.
Một câu chuyện rất có thể là ngụy tạo – rằng khi tên hành quyết châm lửa đốt, y nói ‘Bây giờ chúng ta sẽ nướng con ngỗng này’ (Hus trong tiếng Bohemian có nghĩa là ‘ngỗng’), Hus trả lời, ‘Đúng, nhưng sau 100 năm nữa sẽ xuất hiện một con đại bàng mà nhà ngươi không sao với tới được.’ Một thế kỷ sau, Martin Luther xuất hiện. Ngoài những chuyện lời tố cáo khác, ông còn bị buộc tội là Hussite, một tín đồ của Jan Hus.
*
Khi hội đồng chính thức đóng cửa và cuộc ly giáo chấm dứt, Martin V (1417-31) phải chịu trách nhiệm lập lại trật tự cho Giáo hội và các Nhà nước Giáo hoàng, phần lớn trong số đó đã rơi vào tình trạng hỗn loạn. Đó là thước đo cho sự hỗn loạn ngự trị ở La Mã, khi xuất thân từ một gia đình La Mã quyền lực, Martin V đã không thể vào thành phố trong ba năm. Cuối cùng, khi vào được vào năm 1420, ông đã nhanh chóng đảm bảo rằng gia đình mình, giống như gia đình những người tiền nhiệm, sẽ không bỏ lỡ cơ hội làm giàu.
Năm 1423, Martin V triệu tập một hội đồng ở Pavia để thực hiện lời hứa của mình về chương trình cải cách đề ra ở Constance. Tuy nhiên, ông ấy đã sớm giải tán nó. Điều này bề ngoài là do thiếu người tham dự, nhưng thực tế là vì ông sợ cải cách. Dưới áp lực, cuối cùng ông đã đồng ý ấn định ngày cho hội đồng tiếp theo diễn ra ở Basel vào năm 1431, nhưng qua đời chỉ ba tuần trước khi hội đồng khai mạc.
Người được bầu kế vị ông, Eugene IV (1431-47), là cháu trai của Gregory XII. Ông ta ngay lập tức bắt đầu thu hồi những vùng đất mà người tiền nhiệm đã ban tặng cho những người thân ở Colonna của mình, nhưng Colonna không sẵn sàng từ bỏ chúng mà không chiến đấu, và các Nhà nước của Giáo hoàng nhanh chóng trở lại tình trạng hỗn loạn.
Năm 1434, Eugene IV xét xử và xử tử Thomas Connecte, tu sĩ và nhà truyền giáo nổi tiếng của dòng Carmelite, người dám bày tỏ sự ghê tởm trước tình trạng sa đọa đạo đức của giới giáo sĩ và tình trạng tham nhũng trong Giáo triều. Cuối năm đó, có thể vì phẫn nộ trước số phận của Connecte, một cuộc nổi loạn ở La Mã do gia đình Colonna xúi giục đã buộc Eugene IV phải cải trang chạy trốn khỏi thành phố – kỳ lạ thay không phải là giáo hoàng đầu tiên cũng như không phải là giáo hoàng cuối cùng làm như vậy, và ông chỉ có thể trở về khoảng chín năm sau.
Eugene IV sử dụng cuộc nổi dậy như một cái cớ để đình chỉ hội đồng tại Basel, do Martin V ấn định triệu tập, ra lệnh triệu tập lại hội đồng ở Bologna ở miền bắc nước Ý. Nhưng điều này đã khiến những người tham dự tức giận – Hội đồng Constance đã nói rất rõ ràng rằng giáo hoàng phải tuân theo hội đồng chứ không phải ngược lại. Họ bác bỏ việc đình chỉ và ra lệnh cho giáo hoàng tham dự dưới sự đe dọa bị phế truất. Tuy nhiên, Eugene IV đã phớt lờ mệnh lệnh, lần này kêu gọi hội đồng họp tại Ferrara ở miền bắc nước Ý. Ông tuyên bố hoàng đế Byzantine đã bày tỏ sự quan tâm đến việc hợp nhất hai Giáo hội, nhưng không thể đến Basel để thảo luận. Đây là con át chủ bài của Eugene IV: Giáo hội La Mã đã tìm cách tái hợp với Giáo hội phương Đông trong khoảng 400 năm và đối với phần lớn các giáo sĩ, đây là một cơ hội quá tốt để bỏ lỡ, bất chấp mọi nghi ngờ mà họ có thể có về Eugene IV. Một số lượng lớn nhanh chóng rời đi để đến Ferrara, còn lại một thiểu số ở Basel, tức giận vì Giáo hoàng đã phớt lờ họ. Để trả thù, họ đã bầu ra giáo hoàng của riêng mình, Felix V (ngụy giáo hoàng). Tuy nhiên, thời thế của họ đã trôi qua và Felix không bao giờ nhận được bất kỳ sự ủng hộ thực sự nào, mặc dù ông ta đã giành được một vị trí trong sử sách vì là giáo hoàng phản diện cuối cùng. Mặt khác, Eugene IV đã phớt lờ thành công các sắc lệnh của Hội đồng Constance và những người kế vị ông cũng sẽ làm như vậy, đó là ác cảm của họ đối với bất kỳ nỗ lực nào nhằm hạn chế quyền lợi của họ.
Diệt chủng nhân danh Chúa Kitô
Người kế vị trực tiếp của Eugene IV, Nicholas V (1447-55), đã giành được hòa bình ở các Nhà nước Giáo hoàng thông qua ngoại giao. Ông cũng là một trong những vị giáo hoàng đầu tiên là người bảo trợ cho nghệ thuật, khiến một số nhà sử học gọi ông là vị giáo hoàng thời Phục hưng thực sự đầu tiên. Tuy nhiên, danh hiệu này cũng có thể phản ánh sự sẵn sàng sử dụng bạo lực để đạt được mục đích chính trị của ông: vào năm 1453, ông ra lệnh xử tử một người đã lên kế hoạch lấy mạng ông, cùng với những kẻ đồng mưu. Nicholas có vinh dự đáng ngờ khi đã ban hành hai sắc chỉ của giáo hoàng – Dum diversas (1452) và Romanus pontifex (1455) cho phép và khuyến khích việc nô dịch hóa những người không theo đạo Thiên chúa để đổi lấy việc truyền bá đức tin Kitô giáo. Những sắc lệnh này đã góp phần trực tiếp vào hàng thế kỷ nô lệ và nạn diệt chủng nhân danh Chúa Kitô.
Tuy nhiên, sự kiện đặc trưng cho giáo triều của ông là việc người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm được Constantinople vào tháng 5 năm 1453, khoảng bốn tháng sau cuộc tấn công nhằm lấy mạng ông. Kinh hoàng trước tin này, Giáo hoàng đã cố gắng thuyết phục các nhà cai trị châu Âu hợp lực để chiếm lại thành phố, nhưng không đánh thức được họ – họ có những vấn đề riêng cần phải giải quyết, và bên cạnh đó, lời kêu gọi vũ trang của Giáo hoàng đơn giản là không còn trọng lượng như trước nữa. Người kế vị ông, người Catalan lớn tuổi, Alfonso de Borja, lấy tên là Callistus III (1455-58) là giáo hoàng Tây Ban Nha đầu tiên, cũng không thành công hơn. Vị giáo hoàng tiếp theo, Pius II (1458-64), cũng nhận được phản ứng cực kỳ tiêu cực trước lời kêu gọi tiến hành một cuộc thập tự chinh của ông. Mặc dù vậy hoặc bởi vì vậy mà ông quyết định làm gương, tìm cách tham gia cùng các con tàu đã tập trung theo yêu cầu của ông tại Ancona trên bờ biển Adriatic của Ý, nhưng đã chết trước khi thập tự quân rời cảng.
Người kế vị của Pius, Paul II (1464-71), là cháu trai của Eugene IV và là cháu gọi Gregory XII là ông bác, một sự kế vị giáo hoàng có phần tinh ranh khác, đặc biệt khi cho rằng ông ta là người kiêu ngạo và ngu ngốc, nhìn thấy những âm mưu ở khắp mọi nơi và không ngại bắt giữ và tra tấn người dân dựa trên rất ít bằng chứng. Ông đã làm các hồng y của mình thất vọng khi ngay lập tức từ bỏ một số lời hứa mà ông đã đưa ra với họ lúc bầu cử. Đặc biệt, ông đã hứa chỉ bổ nhiệm một thành viên trong gia đình mình vào Hồng y đoàn – nhưng ông đã bổ nhiệm đến ba người – và hứa triệu tập hội đồng trong vòng ba năm sau cuộc bầu cử – nhưng ông không triệu tập bất kỳ hội đồng nào. Hầu như không có gì lạ khi các giáo hoàng luôn thất hứa trong mật nghị: Innocent VI và Eugene IV đã phạm tội này, và Benedict XIII, đã hứa tìm kiếm một giải pháp cho cuộc Đại Ly giáo phương Tây nếu được bầu, nhưng chưa bao giờ làm vậy. Tương tự như vậy, Pius II đã thể hiện thói đạo đức giả phi thường, khi còn trẻ ông đã bảo vệ một cách xuất sắc quyền lực của một hội đồng nhưng lại ban hành sắc lệnh Execrabilis – vào tháng 1 năm 1460, chỉ sau hai năm làm giáo hoàng, lên án quyền lực của hội đồng đối với quyền lực của giáo hoàng. Giới giáo hoàng có rất nhiều ví dụ như thế.
Vào thời điểm này, uy tín của giáo hoàng đã bị tổn hại không thể thay đổi được, quá nhiều giáo hoàng và những kẻ giả danh giáo hoàng đã chứng tỏ là những kẻ bịp bợm. .
CHƯƠNG 16 Phục hưng
“Nhưng chừng nào ngưởi ta không được huấn luyện để từ chối phán xét khi không có bằng chứng, họ sẽ bị những nhà tiên tri kiêu ngạo dẫn dắt lạc lối, và rất có thể những người lãnh đạo của họ sẽ là những kẻ cuồng tín thiếu hiểu biết hoặc những kẻ bịp bợm không trung thực.”
Bertrand Russell, Tiểu luận không được ưa chuộng
Nicholas V (1447-55) thường được gọi là giáo hoàng thời Phục hưng đầu tiên, đánh dấu sự chuyển đổi từ thế giới thời trung cổ sang thế giới hiện đại, nhưng giáo hoàng thời Phục hưng thực sự, với ‘việc theo đuổi không nao núng, không che giấu, không ngừng nghỉ những lợi ích cá nhân và quyền lực chính trị’, bắt đầu với Francesco della Rovere, lấy tên là Sixtus IV (1471-84). Ông và những người kế nhiệm sẽ đưa việc tự đề cao bản thân, gia đình trị và thế tục hóa chế độ giáo hoàng lên một tầm cao mới.
Với tư cách là Hồng y vùng della Rovere, ông chưa bao giờ là một người được yêu thích rõ ràng. Chỉ nhờ một số ‘khích lệ tài chính’ lớn được giao cho các hồng y đồng nghiệp của mình mới đảm bảo được cuộc bầu cử thắng lợi của ông. Đây không phải là một chiến thuật mới, nhưng nó sẽ trở nên cực đoan trong vài triều đại giáo hoàng tiếp theo. Sự tham nhũng cũng chưa dừng lại ở đó: Sixtus IV đã làm nhiều hơn bất kỳ vị giáo hoàng tiền nhiệm nào nhằm làm giàu cho người thân của mình, phong hồng y cho 5 cháu trai và một con trai của cháu ông. Hai người ở độ tuổi hai mươi khi được bổ nhiệm, và một người đã trở thành giáo hoàng vào năm 1503 với tư cách là Julius II. Các thành viên khác trong gia đình được hưởng các quyền lợi, được kết hôn với nhiều gia đình cầm quyền khác nhau, hoặc được ban tặng các lãnh thổ của Giáo hoàng mà Sixtus IV rõ ràng coi là tài sản riêng của mình.
Sixtus IV cũng vung tiền của giáo triều vào các dự án phù phiếm; một phần ba thu nhập trong một năm được chi cho vương miện của giáo hoàng, và những khoản tiền khổng lồ khác được chi cho xây dựng nhà thờ và nghệ thuật. Chính Sixtus IV là người đã ủy quyền xây dựng Nhà nguyện Sistine, mặc dù chính một trong những người kế vị ông, Julius II, là người đã ủy quyền cho Michelangelo vẽ trần nhà vào năm 1508. Tất nhiên, tất cả việc này đều cần có tài chính, và ông ấy đã sử dụng các phương pháp gây quỹ quen thuộc: lấy tiền trợ cấp của nhà thờ, tăng thuế của giáo hoàng và moi tiền càng nhiều càng tốt từ các tín đồ. Ông cũng khởi xướng một nguồn doanh thu hoàn toàn mới, phán quyết rằng có thể mua ân xá cho các linh hồn đã ở trong lò luyện ngục để đẩy nhanh cuộc hành trình lên thiên đàng của họ. Với điều này, những kẻ cả tin thậm chí còn đổ nhiều tiền hơn vào kho bạc của nhà thờ. Ai lại không hy sinh nếu biết rằng mình có thể rút ngắn nỗi đau khổ của cha mẹ, anh chị em, anh chị em họ và cả bạn bè? Tiềm năng doanh thu cho Giáo hội là vô tận.
Sixtus IV đã không ngần ngại gây chiến và đưa ra vạ tuyệt thông cũng như các biện pháp trừng phạt tinh thần khác đối với bất kỳ người nào hoặc bất kỳ thành phố nào dám thách thức ông ta hoặc tham vọng của ông ta. Ông ta cũng không đứng ngoài những âm mưu của các ông hoàng thời Phục hưng. Ví dụ, ông gần như chắc chắn đã biết về âm mưu vào năm 1478 của gia đình Pazzi ở Florence nhằm thay thế gia đình Medici trở thành người cai trị Florence. Một cuộc đảo chính thành công sẽ cho phép cháu trai của ông ta, Girolamo Riario, được hưởng lợi. Trong sự kiện, những kẻ chủ mưu đã thành công trong việc sát hại Guiliano de’ Medici – cha của giáo hoàng tương lai Clement VII, và là anh trai của Lorenzo de’ Medici, người cai trị Florence nhưng âm mưu thất bại và những kẻ chủ mưu bị bắt đều bị xử tử. Tuy nhiên, trong số những người bị hành quyết có Giám mục của Florence, người được Sixtus IV đề cử, và khi Sixtus IV phát hiện ra hành vi vi phạm quyền miễn trừ giáo sĩ này, ông đã ra vạ tuyệt thông các nhà lãnh đạo Medici, đặt toàn bộ Florence dưới lệnh cấm và liên minh với Naples chống lại Cộng hòa Florentine trong một cuộc chiến kéo dài hai năm.
Tòa án dị giáo Tây Ban Nha
Với ác cảm của mình trước những thách thức đối với quyền lực của Giáo hội, Sixtus IV không mất nhiều thời gian để đồng ý với yêu cầu của các quốc vương theo Thiên chúa giáo Ferdinand và Isabella của Castile và Aragon mới thống nhất gần đây để xúc tiến một Tòa án dị giáo của riêng họ trên bán đảo Iberia. Ảnh hưởng của phe Thiên Chúa giáo theo đường lối cứng rắn đã thúc đẩy nhà vua và hoàng hậu thanh lọc tất cả những người không theo đạo Thiên chúa trên bán đảo Iberia bằng cách trục xuất họ hoặc buộc họ chuyển sang đạo Thiên chúa. Những người Do Thái và Hồi giáo cải đạo sang Cơ đốc giáo được coi là đặc biệt không đáng tin cậy và là mối đe dọa lớn hơn đối với trật tự xã hội so với những người đã từ chối thẳng thừng việc cưỡng bức cải đạo. Bây giờ là lúc để nhổ tận gốc họ.
‘Tòa án dị giáo Tây Ban Nha’ khét tiếng, bắt đầu vào năm 1478, nhanh chóng trở nên man rợ đến mức chỉ trong vài năm, ngay cả Sixtus IV cũng yêu cầu kiềm chế những hành vi lạm dụng khủng khiếp. Tuy Sixtus bạn phép lành cho nó, nhưng Tòa án là một định chế nhà nước, chỉ báo cáo trực tiếp với nhà vua Tây Ban Nha và giáo hoàng chưa bao giờ có được bất kỳ quyền kiểm soát nào với nó.
Vào thời điểm nó kết thúc, khoảng 350 năm sau, quyền tài phán của Tòa án Dị giáo bao gồm tất cả các vùng lãnh thổ dưới sự kiểm soát của Tây Ban Nha. Vài nghìn người bị hành quyết, và hàng chục nghìn người bị bắt, trong đó một số lượng lớn bị tra tấn. Sixtus IV chịu nhiều trách nhiệm. Như một tác giả đã nói, vào thời điểm ông qua đời, ông “không đạt được gì cho tổ chức mà ông đứng đầu ngoại trừ việc làm mất uy tín”. Một văn bia vĩ đại khác của giáo hoàng dành cho Vị Đại diện Chúa Kitô. Sau cái chết của ông vào năm 1484, La Mã tràn ngập niềm vui.
*
Innocent VIII (1484-92), người kế vị Sixtus IV, thường bị coi là một kẻ tầm thường ngu ngốc, nhất là khi so sánh với người kế vị ông, nhưng ông không hề ngốc. Không ác cảm với việc xây dựng triều đại, ông gả một trong những đứa con trai ngoài giá thú của mình cho con gái của Lorenzo de’ Medici – người cai trị không thể tranh cãi của Florence để đổi lấy việc phong cho cậu con trai 13 tuổi của Lorenzo, Giovanni, làm hồng y. Giovanni sau này tự mình trở thành giáo hoàng với tên gọi Leo X vào năm 1513. Hôn nhân sinh lời về mặt tài chính đã được tổ chức một cách xa hoa ở Vatican bằng quỹ của giáo hoàng.
Lorenzo đã dặn dò kỹ lưỡng Giovanni, trước khi lên đường đến La Mã, hãy cảnh giác trước ‘sự dụ dỗ làm điều ác’ của các hồng y khác, những kẻ mà ông gọi là ‘pkém giá trị’. Đây là một bản cáo trạng đáng buồn đối với cơ quan cầm quyền của Giáo hội Thánh thiện, mặc dù điều này hầu như không có gì đáng ngạc nhiên khi bạn xem xét thực tế rằng việc bổ nhiệm Innocent VIII vào Hồng y đoàn là có động cơ chính trị và trước khi được bổ nhiệm, nhiều người trong số họ thậm chí còn chưa có sự nghiệp trong Giáo hội.
Chính Innocent VIII khét tiếng mê tín, vào năm 1484, đã ban hành sắc lệnh Summis desiderantes, trong đó ông ta chính thức coi phép thuật phù thủy là một tà giáo và ra lệnh cho Tòa án dị giáo ở Đức tiến hành chống lại những người được cáo buộc đã thực hành nó. Việc giáo lệnh không dựa trên điều gì khác ngoài sự mê tín ngu dốt nhất đã không ngăn cản được hai Thẩm phán Dominica bị rối loạn tâm thần, đưa nó làm lời tựa cho cuốn sổ tay săn phù thủy nổi tiếng của họ, Malleus Maleficarum (1487) – Chiếc búa của phù thủy. Họ viết, phụ nữ kém hơn nam giới cả về tinh thần lẫn đạo đức và sự yếu đuối của họ khiến họ dễ bị cám dỗ hơn và ‘dễ bị quyến rũ trước sự dụ dỗ của Satan’, kẻ mà họ giao cấu. Các cuộc săn lùng phù thủy vĩ đại ở châu Âu sẽ đạt đến đỉnh cao một thế kỷ sau, với nhiều giáo sĩ nhắc đến Malleus Maleficarum và trích dẫn kinh thánh ‘Ngươi không được để một phù thủy sống sót’ để biện minh cho sự tàn ác của chúng trong việc tra tấn và hành quyết những nạn nhân vô tội.
Trong khi đó, ngân khố đã được lấp đầy bởi nhiều kế hoạch bán ân huệ, chức vụ mới và ân xá do Phó phòng hành chính và giáo hoàng tương lai của Innocent, Hồng y tài giỏi Rodrigo Borja, nghĩ ra. Như Borja đã nhanh chóng chỉ ra: ‘Chúa không muốn tội nhân chết mà muốn tội nhân phải trả giá và được sống’.
Giáo hoàng Borgia
Rodrigo Borja có thể là vị giáo hoàng khét tiếng nhất trong lịch sử – kế vị Innocent VIII với tên Alexander VI (1492-1503). Borja đã trở thành hồng y ở tuổi 26, được chú của ông thăng chức khi lên ngôi giáo hoàng với tên gọi Callistus III, một ví dụ điển hình khác về chủ nghĩa gia đình trị của giáo hoàng. Tại một thời điểm nào đó, tên của ông ấy đã được Ý hóa thành Borgia. Alexander VI thật đặc biệt: rất thông minh, năng nổ, sắc sảo về chính trị và thu hút. Nhưng ông ta cũng hoàn toàn vô đạo đức và hoàn toàn bại hoại; ông đã giành được chiếc ghế giáo hoàng chỉ nhờ mức độ hối lộ chưa từng có. Một nhà sử học đương thời cáo buộc rằng ông ta đã tặng bốn con la bằng bạc cho một vị hồng y, và hứa hẹn những chức vụ chủ chốt trong chính quyền giáo hoàng cho những người khác để đổi lấy phiếu bầu của họ. Từng là phó phòng hành chính (thực tế là người chỉ huy thứ hai) cho năm giáo hoàng, khả năng thao túng của ông ta là vô song. Khi cuộc bầu cử của ông được biết đến, Giovanni de’ Medici, Giáo hoàng tương lai Leo X, được cho là đã kêu lên ‘Chạy trốn! Chạy trốn! Chúng ta đang ở trong tay một con sói.”

Chân dung Giáo hoàng Alexander VI
Việc Alexander VI có lối sống phóng đãng được nhiều người biết đến: ông có ít nhất bảy người con với nhiều tình nhân, những phụ nữ, mà theo một người cùng thời với ông, đã bị ông thu hút ‘mạnh hơn cả sắt bị nam châm hút’. Mối quan hệ của ông với Vannozza dei Cattanei – mẹ của bốn đứa con của ông, ít nhất hai trong số đó được sinh ra khi Vannozza kết hôn với một người đàn ông khác – kết thúc vào năm 1486, khi ông thay thế bà bằng Giulia Farnese, một người mẫu trẻ hơn khoảng 40 tuổi. kém ông nhiều tuổi, sống công khai với ông ở Vatican. Chắc hẳn cô ấy đã làm ông hài lòng lắm vì ông đã bổ nhiệm anh trai cô là Alessandro Farnese vào Hồng y đoàn cùng với con trai riêng của ông, Cesare, và bốn thành viên khác trong đại gia đình của ông. Hai trong số những người con của Alexander VI với Vannozza là Cesare và Lucrezia sẽ nổi tiếng nhờ chính bản thân họ: Cesare vì hành vi bạo lực và hung hãn; Lucrezia vì bị cha cô lợi dụng như một con tốt để tiếp tục tạo lợi ích của gia đình ông trên bán đảo Ý. Alessandro Farnese sẽ tiếp tục trở thành Giáo hoàng Paul III, một sự kế vị tông đồ đáng ngờ nếu có.
Alexander VI trở thành giáo hoàng trong năm quan trọng khi Columbus khám phá ra Châu Mỹ. Dưới áp lực từ Tây Ban Nha, ông đã đưa ra một giáo lệnh tuyên bố rằng các quyền đối với tất cả vùng đất mới phát hiện là thuộc về người Tây Ban Nha. Vẽ một đường tưởng tượng từ cực này sang cực khác, cách Quần đảo Cape Verde 100 dặm ngoài khơi bờ biển phía tây châu Phi, ông nói thêm, trong Hiệp ước Tordesillas, rằng bất kỳ vùng đất mới được phát hiện nào ở phía đông đường ranh giới sẽ thuộc về Bồ Đào Nha. Ông cảm thấy rõ ràng đó là đặc quyền của Giáo hoàng trong việc quyết định tước hiệu cho những vùng đất mới được phát hiện. Một lần nữa thực tế lại trần trụi hơn: ông chắc chắn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi số lượng lớn vàng của Tây Ban Nha và có thể do Tây Ban Nha đất nước nơi ông sinh ra. Dù sao đi nữa, lời tuyên bố có rất ít ảnh hưởng chính trị vì nó đã bị các nước châu Âu khác phớt lờ.
Tính trần tục gây sốc của Alexander VI và các hồng y của ông dễ hiểu đã thúc đẩy nhiều lời kêu gọi cải cách cả ở Ý và nước ngoài. Tại Pháp, Vua Charles VIII lấy đó làm cái cớ để xâm lược Ý, mặc dù ý định thực sự của ông là chiếm lấy vương quốc Naples mà ông có quyền sở hữu. Ông được tiếp tay bởi Hồng y della Rovere, cháu trai của Sixtus IV và Giáo hoàng tương lai Julius II – người đã nuôi dưỡng lòng căm thù sâu sắc đối với Alexander VI đến mức ông đã phải sống lưu vong trong phần lớn triều đại giáo hoàng của Alexander.
Năm 1494, quân đội Pháp vượt dãy Alps và tiến xuống bán đảo Ý, vừa đi vừa cướp bóc. Chỉ thông qua một số cuộc đàm phán suôn sẻ và nặng nề, Alexander VI mới có thể nói chuyện để thoát khỏi việc bị phế truất khi quân đội Pháp tiến vào La Mã vào cuối năm đó trên đường đến Naples. Người Pháp cuối cùng đã phải chiến đấu để thoát khỏi Ý khi một liên minh các thành bang Ý, với sự hỗ trợ của Tây Ban Nha và đế quốc, hợp lực để đẩy họ ra khỏi bán đảo.
Trong khi đó, một tu sĩ dòng Dominican đến từ Florence tên là Giralomo Savonarola giống như Arnold de Brescia trước ông đang dẫn đầu những lời kêu gọi cải cách giáo hoàng ở Ý. Tố cáo sự tham nhũng của Giáo hội và của chính giáo hoàng – người mà ông cáo buộc đã mua chức vụ của mình và bán cho những người hưởng lợi. Savonarola liên tục kêu gọi thành lập hội đồng Giáo hội. Ông tuyên bố: “Các giáo hoàng và các giám mục lên tiếng chống lại lòng kiêu hãnh và tham vọng, nhưng họ vẫn đắm chìm trong đó.” Ông ta nhanh chóng thu hút được một lượng lớn người theo dõi trong số những người đồng hương Florentines của mình, mặc dù yêu cầu họ đốt những vật có giá trị và sống một cuộc sống khắc khổ. Ban đầu, Alexander VI chỉ rút phép thông công ông ta, nhưng sau đó, hoàn toàn hiểu lầm đối thủ của mình, đề nghị phong ông ta làm hồng y nhằm cố gắng bịt miệng ông ta. Savonarola trả lời rằng chiếc mũ duy nhất mà ông chấp nhận là chiếc mũ mà Chúa ban cho các vị thánh của ngài, một chiếc mũ màu đỏ thẫm, nhuốm đầy máu! Cuối cùng, Savonarola đã bị chính quyền Florentine bắt giữ và tra tấn, sau đó các điều tra viên của Giáo hoàng do La Mã cử đến đã tuyên bố ông phạm tội dị giáo và giao ông ta cho cánh tay thế tục để trừng phạt. Ông bị treo cổ và sau đó bị thiêu cháy, số phận của bất kỳ ai dám cho rằng Giám mục La Mã đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình với tư cách là sứ thần của Chúa Kitô.
Alexander VI đã nhất thời tán tỉnh việc cải tổ giáo hoàng sau vụ sát hại con trai ông là Juan, người được tìm thấy ở Tiber vào tháng 6 năm 1497 với vết cắt ở cổ họng và nhiều vết đâm. Ông ta tuyên bố rằng vụ giết người là hình phạt thiêng liêng cho mọi tội lỗi của anh ta, nhưng anh ta ‘thiếu sức chịu đựng về mặt đạo đức để đi theo một con đường dài, khó khăn và buồn tẻ khi xung quanh anh ta là một thế giới rực rỡ để tận hưởng. Ông ta nhanh chóng ngừng săn lùng kẻ sát nhân mà nhiều người cho là Cesare, anh trai của Juan – và mọi cuộc thảo luận về cải cách đều lặng lẽ gác lại.
Cesare đã tận dụng cơ hội để từ bỏ chức vụ hồng y của mình – ơn gọi thiêng liêng chưa bao giờ phù hợp với y – và nắm quyền kiểm soát quân đội của giáo hoàng, sau đó y tiếp tục sử dụng lực lượng này để giúp y thành lập một công quốc của riêng mình ở Ý, tất nhiên là với sự hỗ trợ của cha y. Những cuộc chiến mà y tham gia khiến cả bán đảo sợ hãi và ghê tởm, và khi y và ông bố phát ốm sau khi tổ chức một bữa tối vào năm 1503, ít ai nghi ngờ rằng cả hai đều đã bị kẻ thù đầu độc. Cesare đã bình phục, tuy đã yếu đi nhiều nhưng Alexander VI qua đời ở tuổi 73, sau khi cơ thể ông sưng tấy và chuyển sang màu tím, dấu hiệu chắc chắn của ngộ độc thạch tín. Hai tin đồn nhanh chóng lan truyền. Thứ nhất cả hai đều ăn nhằm thuốc độc dành cho một hồng y khác. Thứ hai là quỷ vương đã hiện lên bên giường bệnh của Alexander VI, và y đang ‘trả cái giá mà y đã hứa với hắn về món quà là chức giáo hoàng 12 năm trước. Trong cơn phẫn nộ cuối cùng, vị chủ trì nghi lễ của Giáo hoàng Alexander VI đã báo cáo rằng thi thể sưng tấy của ông không còn được nhét vừa vào quan tài đã được thiết kế cho ông ta. Vì vậy thi thể của ông được cuộn lại trong một tấm thảm cũ và người ta phải dùng nắm đấm để nhét vào đó. Có lẽ một kết thúc phù hợp?
Alexander VI đã trở thành một điển hình cho sự đồi trụy và tham nhũng trong giáo triều. Nếu chỉ đơn thuần là một nguyên thủ quốc gia, ông ấy sẽ được ca ngợi như một tấm gương tuyệt vời của một ông hoàng thời Phục hưng. Ông là một chiến lược gia bậc thầy, thông minh sâu sắc và luôn thành công trong việc xoay chuyển tình thế có lợi cho mình. Ông ta truyền cảm hứng cho nỗi kính sợ và sợ hãi ở mức độ ngang nhau, và sẵn sàng sử dụng mọi cách để đạt được mục đích của mình. Ông cũng xây dựng một triều đại thông qua cuộc hôn nhân của các con mình, điều mà vô số vị vua châu Âu tìm cách làm. Trớ trêu thay, triều đại của ông không tồn tại lâu dài là kết quả của sự thành công của ông trong việc củng cố quyền lực của mình trên bán đảo Ý. Việc ông liên tục can dự một cách tàn nhẫn vào công việc của các quốc gia Ý khác khiến họ sợ ông vì thực tế, giáo hoàng lo sợ bất kỳ quyền lực nào trở nên quá mạnh trên bán đảo. Nhưng một lần nữa, nếu không có ông, các quốc gia láng giềng và cường quốc châu Âu khác có thể đã phá hủy thể chế giáo hoàng. Vì tất cả tội lỗi của mình, ông đã được bầu lên nắm quyền ngay khi giáo triều cần ‘một nhà lãnh đạo mạnh mẽ để kiểm soát các quyền lực khác.
Julius II – Giáo hoàng chiến binh
Khi Alexander VI qua đời, cháu trai của Pius II, lấy tên là Pius III để vinh danh chú mình, chỉ cai trị được 26 ngày. Như thường lệ, việc một ứng viên bị ốm vào thời điểm diễn ra mật nghị có lợi cho ông: cơ hội đắc cử của một người thực sự được cải thiện nếu các hồng y tin rằng triều đại giáo hoàng sẽ ngắn ngủi, vì điều này sẽ mang lại cho họ một cơ hội khác trong cuộc bầu cử nhân cái chết của giáo hoàng. Sau cái chết của Đức Pius III, ngôi vị giáo hoàng cuối cùng đã rơi vào tay Giuliano della Rovere – cháu trai của Sixtus IV, kẻ thù truyền kiếp của Alexander VI và là tai họa của các ông hoàng Ý. Những hồng y ban đầu ủng hộ một ứng cử viên khác đã nhận được tiền đút lót theo thông lệ, nhưng ngay cả khi không có số tiền này thì ông ấy cũng có thể đã thắng cử. Alexander VI có rất ít bạn bè và các hồng y lo sợ ảnh hưởng tiếp tục của đứa con trai sa đọa và ương ngạnh của ông, Cesare. Ai tốt hơn để bầu cho kẻ thù không đội trời chung của Alexander?
Họ gọi ông là Đức cha Đáng sợ!’ (‘il papa terribile!’) – Giuliano tự xưng là Julius II (1503-13) theo tên Julius Caesar, và tương tự như vậy, ông đã dành thời gian trị vì để tiến hành chiến tranh. Mục tiêu bao trùm của ông là giành lại những lãnh thổ đã mất vào tay các gia đình quý tộc Ý và các thành bang dưới thời những người tiền nhiệm. Đôi khi người ta thấy ông đứng đầu quân đội của Giáo hoàng, một hành động khiến người ta phải nhíu mày ngay cả trong những thời điểm đặc biệt đó. Julius II nhận ra rằng nếu không có một vương quốc thế tục tính độc lập tôn giáo của giáo hoàng sẽ bị đe dọa; người ta chỉ cần nhìn lại lịch sử trong quá khứ để thấy các Nhà nước Giáo hoàng có vẻ hấp dẫn như thế nào đối với các vương quốc hùng mạnh ở Châu Âu. Hơn cả những người tiền nhiệm, ông không hề có ý định trở thành đại diện cho vua Pháp hay bất kỳ vị vua nào khác về vấn đề đó.

Giáo hoàng Julius II khi về già, được miêu tả bởi họa sĩ thời Phục hưng Rafael
Julius II không chỉ giành lại các lãnh thổ của Giáo hoàng mà còn loại bỏ dứt khoát mối đe dọa tấn công của chính đội quân Pháp mà trước đây ông đã khuyến khích trong cuộc xâm lược Ý. Fuori i barbari! (“Đuổi bọn mọi rợ đi!”) đã trở thành tiếng kêu gọi tập hợp của ông khi ông tắm máu trên bán đảo Ý. Để kỷ niệm ngày giải phóng Bologna của giáo triều mà ông đã đích thân lãnh đạo quân đội của giáo hoàng, ông đã đặt làm một bức tượng khổng lồ của chính mình. Khi nhà điêu khắc Michelangelo hỏi có nên đặt một cuốn sách vào tay trái của tượng không, ông được cho là đã trả lời: ‘Hãy đặt một thanh kiếm vào đó vì tôi không biết gì về văn chương cả’. Một câu trả lời gây sửng sốt ngay cả từ một vị giáo hoàng, người đã tham chiến gần như hàng năm trong triều đại của mình.
Ông cũng quyết tâm mang lại vinh quang cho La Mã bằng cách thực hiện một số lượng lớn các dự án nghệ thuật trong thành phố. Michelangelo, Raphael và Bramante chỉ là ba trong số những nghệ sĩ được ông kêu gọi phục vụ để trang trí La Mã trong triều đại giáo hoàng của mình. Là một phần trong chương trình trùng tu La Mã, ông quyết định xây dựng một vương cung thánh đường mới của Thánh Peter, viên đá nền tảng được ông đặt vào tháng 4 năm 1506. Quyết định này đóng một vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng xé nát Cơ đốc giáo vào thế kỷ 16 .
Triều đại của Julius II, cũng như các triều đại tiền nhiệm của ông, đã chứng kiến nhiều lời kêu gọi thành lập một hội đồng Giáo hội để cải tổ Giáo hội. Điều trớ trêu vẫn không mất với ông là chỉ khoảng một thập kỷ trước đó ông đã kêu gọi thành lập một hội đồng chống tham nhũng. Hội đồng mà cuối cùng ông triệu tập được – Công đồng Lateran thứ năm – đã kéo dài sang triều đại giáo hoàng của người kế vị ông, Leo X (1513-21), nhưng không đạt được điều gì đáng chú ý ngoài việc ra sắc lệnh rằng giáo hoàng ‘có toàn quyền đối với các hội đồng, và có thể triệu tập, đình chỉ hoặc giải tán chúng theo ý muốn của mình.’
Bất chấp những lời chỉ trích gay gắt về thói trụy lạc và gia đình trị của Alexander VI, Julius II vẫn có một cô con gái ngoài giá thú và phong bốn thành viên của gia đình della Rovere làm hồng y. Nhà nhân văn người Hà Lan, Erasmus, đã viết một đoạn đối thoại rất thú vị một năm sau cái chết của Julius, trong đó ông trình bày cuộc trò chuyện giữa Julius II và Thánh Peter tại cổng thiên đường sau khi ông chết. Julius chỉ trích Thánh Peter vì đã không cho ông vào thiên đàng và thậm chí còn cố gắng rút phép thông công Thánh Peter. Khi Julius phân trần mình đã tuyệt vời như thế nào khi còn trên trần thế, Erasmus đã cho Thánh Peter lên lớp với giáo hoàng:
Chống lại một loại giáo hoàng như ngươi vừa mô tả – một tên tội phạm công khai, một kẻ say rượu, một kẻ giết người, một kẻ buôn thần bán thánh, một tên đầu độc, một kẻ khai man, một kẻ hèn nhát, một kẻ bị vấy bẩn trong mọi khía cạnh của cuộc đời mình với những dục vọng tàn bạo và ghê tởm nhất, và hoàn toàn không biết xấu hổ về tất cả những điều đó. Ta sẽ không đề xuất một đại hội đồng xét tội ngươi mà đề xuất một cuộc nổi dậy của nhân dân: dân chúng nên tự trang bị đá và trục xuất vĩnh viễn một bệnh dịch truyền nhiễm như ngươi ra khỏi công đồng.
Ông ta có thể đã phục vụ một mục đích nào đó vào thời điểm đó, nhưng cũng như nhiều người tiền nhiệm, ông ta là một sự lựa chọn cực kỳ không phù hợp cho ngai tòa Thánh Peter.
Giáo Hoàng Leo X
Khi Julius II qua đời vào năm 1513, ông được nhiều người thương tiếc như một nhà lãnh đạo vĩ đại, nhưng các hồng y, ở giai đoạn này đã quen với một giáo triều thế tục, khao khát một người kế vị ít hiếu chiến hơn. Giovanni de’ Medici – con trai trẻ tuổi, giàu có, dễ tính và hòa đồng của Lorenzo de’ Medici – dường như là ứng cử viên rõ ràng. Nhận được một nền giáo dục thời Phục hưng tốt nhất, ông được biết đến là người có thái độ phóng khoáng đáng chú ý đối với các vấn đề tâm linh. Ông ấy cũng bị bệnh và dự kiến sẽ không sống lâu. Mặc dù ông có thể đã làm họ thất vọng vì sống thêm đến tám năm nữa, ông ấy đã bù đắp bằng cách khác: khi trở thành giáo hoàng, Leo X được cho là đã kêu lên với em trai mình: ‘Chúa đã ban cho chúng ta ngôi vị giáo hoàng, bây giờ chúng ta hãy tận hưởng nó.’ Bản thân lời nói có thể là ngụy tạo, nhưng hành động của ông ấy trong suốt triều đại giáo hoàng của mình đã minh họa rõ ràng thái độ đằng sau chúng.
Chân dung Giáo hoàng Leo X của Raphael, trong đó Leo được vẽ cùng với anh họ của mình, Giulio, Giáo hoàng tương lai Clement VII, ở bên phải.
Ngoài tật đồng tính luyến ái được công nhận, Julius II và Leo X có một số đặc điểm khác biệt. Trong khi Julius II nghiêm khắc thì Leo X lại vui tính, khiến người dân La Mã thích thú với các sự kiện và các buổi biểu diễn công cộng. Julius II là người tiết kiệm, trong khi Leo X thì phung phí, chi tiêu những khoản tiền khổng lồ mà không cần suy nghĩ và đánh bạc bằng các khoản quyên góp dành cho người nghèo. Chẳng bao lâu kho bạc của giáo hoàng trống rỗng và Leo X buộc phải vay những khoản tiền khổng lồ và thành lập các chức vụ giáo hội mới, được bán đấu giá công khai cho ai trả giá cao nhất. Giống như những người tiền nhiệm, ông ta đã xục mõm vào máng đến mức không thể chấp nhận được. Từ điển Oxford về các Giáo hoàng – nói chung là một nguồn thông tin không thiên vị về chủ đề này – gọi ông là ‘một chính trị gia quỷ quyệt, hai lưỡi và là một nhà gia đình trị thâm căn cố đế’.
Tương tự, Leo X cũng đảm bảo rằng gia đình ông sẽ được hưởng lợi từ triều đại giáo hoàng của mình. Không hài lòng với việc phong năm thành viên trong gia đình làm hồng y, ông đã chiếm đoạt đất đai cho người cháu yêu thích của mình, Lorenzo. Để mắt tới Công quốc Urbino, thuộc sở hữu của Francesco della Rovere, cháu trai của Julius II – ông chỉ đơn giản trục xuất công tước hiện tại và ban tước vị cũng như đất đai cho Lorenzo.
Dù vì lý do này hay vì lý do chính trị khác, vào năm 1517, một nhóm nhỏ hồng y đã âm mưu ám sát ông. Vào thời điểm âm mưu bị phát hiện, những kẻ chủ mưu đã bị bắt và bị tra tấn. Người cầm đầu, Hồng y Alfonso Petrucci xứ Siena được cho là người tình cũ của Leo X, đã bị siết cổ bằng một chiếc thòng lọng màu đỏ hồng y dưới bàn tay của một người Moor ‘vì nghi thức không cho phép một người theo đạo Cơ đốc giết chết một ông hoàng của Giáo hội.’ Đáng buồn thay, đây không phải là lần đầu tiên một vị hồng y bị xử tử theo lệnh của Giám mục Rôma. Các vị hồng y khác được tha với điều kiện họ phải nộp những khoản tiền phạt khổng lồ chắc chắn là một sự bổ sung đáng hoan nghênh cho kho bạc của Giáo hoàng đang cạn kiệt.
Để ngăn chặn bất kỳ sự lên án nào đối với hành vi này, Leo X đã biện minh cho mình trước các giáo sĩ tụ tập để bế mạc Công đồng Lateran thứ năm bằng cách tuyên bố rằng Peter và những người kế vị ngài là đại diện của Chúa trên trái đất, và ‘bất cứ ai không tuân theo họ sẽ phải chịu tội chết. Đó là cách thuận tiện nhất để bịt miệng những người chỉ trích ông.
Việc chiếm giữ Công quốc Urbino cho cháu trai của ông ta và âm mưu Petrucci có thể đã là nét đặc trưng của giáo triều Leo X nếu không có tật hoang phí vô độ của ông ta. Việc buôn bán các chức vụ nhà thờ và các chức vụ hồng y không làm giảm bớt sự cạn kiệt ngân khố không ngừng của ông. Để bù đắp một phần chi phí xây dựng lại Nhà thờ Thánh Peter, Leo X đã ban hành lại các ân xá mà ban đầu được Julius II cho phép, nhưng lần này đã mở rộng phạm vi của chúng sang cả Đức. Hậu quả là vô cùng to tát.
CHƯƠNG 17 Cải cách
“Khi truyền thống trở thành bức tường ngăn cản tự do, khi quyền lực thoái hóa thành chuyên chế, thì chính phước lành đó lại biến thành lời nguyền rủa, và lịch sử bị đe dọa trì trệ và chết chóc. Vào những thời điểm hiếm hoi như vậy, Thượng Đế đã nâng đỡ những người tiên phong tiến bộ, những người có trí tuệ và lòng dũng cảm về mặt đạo đức để vượt qua những hạn chế có nguy cơ đến tính mạng của họ và mở ra những con đường mới cho bước tiến tiếp theo của lịch sử.”
Sử gia Giáo hội, Philip Schaff nói về Martin Luther
Vào thế kỷ 16, quỹ ân xá đã trở thành một nguồn thu nhập đáng kể cho cả Giáo hội và chủ sở hữu những vùng đất mà ở đó chúng được rao bán cho giáo dân. Trong số tiền được trả để mua ân xá, thường một nửa đến một phần ba được chuyển đến La Mã, trong khi phần còn lại được chia cho chủ đất và các đại lý bán phép ân xá.
Đối với Albrecht xứ Brandenburg, con trai thứ của Tuyển hầu tước, người cai trị địa phương, dường như việc bán ân xá có thể giúp ông ta thoát khỏi rắc rối. Trong khi nắm giữ một tòa giám mục ở Magdeburg tây bắc nước Đức – ông đã vay với lãi suất cắt cổ từ ngân hàng của gia đình Fugger, triều đại ngân hàng nổi tiếng của Đức, để mua một tòa giám mục thứ hai của Mainz, ở phía tây nam. . Sự hấp dẫn của việc nắm giữ cả hai chức giám mục là gấp đôi: Albrecht có thể thu được doanh thu nhờ làm tổng giám mục của cả hai thành phố – một khoản tiền không phải không đáng kể – và ông ta có thể ngăn chặn tham vọng của các gia tộc đối địch hy vọng giành được chức giám mục Mainz, nơi nắm giữ quyền lực đáng kể liên quan đến việc bầu chọn Hoàng đế La Mã Thần thánh. Đổi lại việc cho vay, người ta đã đồng ý rằng ông ta sẽ cho phép bán ân xá trên địa phận của mình, thu nhập từ đó sẽ được chia cho Gia đình Fugger để trả nợ và giáo hoàng, trừ đi một khoản cắt giảm nhỏ cho những đại lý bán lẻ ân xá. Càng bán được nhiều ân xá, ông ta càng có thể nhanh chóng thoát khỏi nợ nần. Giáo luật cấm nắm giữ nhiều chức vụ giám mục, nhưng Leo X là một người chi tiêu nhiều và luôn cần tiền, vì vậy trong trường hợp này, ông ấy sẵn sàng cho phép một nguồn tài chính kha khá vượt qua những vụn vặt pháp lý.
Một tu sĩ dòng Dominican và là người bán hàng bậc thầy tên là Johann Tetzel đã được chọn để lãnh đạo một băng những tay vui vẻ bán ân xá. Tetzel tuyên bố rằng không có tội lỗi nào nghiêm trọng đến mức không thể được tha thứ bằng cách mua một phép ân xá, và sự tha thứ thậm chí có thể được mua cho những tội lỗi chưa phạm. Ông tuyên bố, một sự ân xá có thể tha thứ cho ai đó, ngay cả khi người đó đã xúc phạm đến mẹ Thiên Chúa. Để đảm bảo rằng những người có trình độ học vấn thấp nhất có thể hiểu được khái niệm này, ông đã phát triển những cụm từ hấp dẫn như, ‘Ngay khi đồng xu rơi vào rương, linh hồn bay vút đến thiên đường!’ Tetzel thậm chí còn tuyên bố rằng ông đã cứu được nhiều linh hồn khỏi lò luyện ngục nhờ những lá đơn ân xá hơn cả Thánh Peter đã làm được nhờ lời rao giảng của mình. Tetzel đã thực hiện một giao dịch rầm rộ và Albrecht dường như đã nhanh chóng thoát khỏi khoản nợ của mình.
Quả thực, ông có thể đã thoát khỏi nếu thông tin về những tay đại lý bán ân xá này không đến tai Martin Luther, một linh mục Thiên Chúa, tu sĩ dòng Augustine và giáo sư thần học tại trường Wittenberg ở một lãnh thổ lân cận xứ Sachsen, mà người cai trị, Frederick III đã cấm bán những mặt hàng ân xá này trên vùng đất của mình. Luther kinh hoàng trước những lời hứa kỳ quặc của Tetzel và nhận ra rằng càng ngày càng có ít người đến xưng tội hơn do đánh đồng việc mua ân xá với việc tha tội. Ông cảm thấy ghê tởm việc các linh mục sử dụng bài giảng của mình để rao giảng về lợi ích của việc mua phép xá tội thay vì rao giảng phúc âm. Vào tháng 10 năm 1517, ông đã viết ra 95 luận điểm về sự ân xá mà ông muốn đưa ra trong cuộc tranh luận học thuật. Bài viết của ông có tựa đề Tranh luận về sức mạnh và hiệu quả của sự ân xá mặc dù nó thường được gọi vắn tắt là 95 luận đề. Ông ta đã gửi một bản sao cho cấp trên của mình, bao gồm cả Albrecht ở Brandenburg, và có thể ông ta đã đóng đinh một bản sao lên cửa Nhà thờ Các Thánh của Lâu đài ở Wittenberg, nơi đóng vai trò như một loại bảng thông báo công cộng và là một nơi tốt để quảng bá một cuộc tranh luận.

Chân dung Martin Luther
Luther tuyên bố rằng chỉ có học thuyết phàm trần mới dạy rằng tiền có thể mua con người thoát khỏi lò luyện ngục trong khi trên thực tế, việc đóng góp tiền chỉ làm tăng thêm lòng tham và thói hám lợi. Những ai tin rằng những đơn ân xá sẽ đảm bảo sự cứu rỗi cho họ là đang bị lừa đảo. Thay vào đó, ông nói rõ rằng chỉ có sự ăn năn thực sự mới giúp Cơ đốc nhân được xóa bỏ hoàn toàn hình phạt và tội lỗi. Ông viết: “Những ân xá của Giáo hoàng phải được rao giảng một cách thận trọng, kẻo mọi người lầm tưởng rằng chúng thích hợp hơn những việc làm lành và yêu thương khác”. Nói cách khác, sự xá tội dẫn đến tính tự mãn trong việc làm từ thiện. Ông thậm chí còn sốc hơn khi những nông dân nghèo và cả tin bị thuyết phục cống hiến tất cả những gì họ có để cứu người thân khỏi lò luyện ngục trong khi Leo X, người dù sao cũng xuất thân từ gia đình Medici giàu có, có lẽ đã có đủ tiền để tự mình xây dựng lại Nhà thờ Thánh Peter.
95 luận đề có tác động lớn hơn nhiều so với những gì Luther dự đoán. Là một người Thiên Chúa tốt, vốn vẫn tin vào lò luyện ngục – mặc dù cuối cùng ông sẽ bác bỏ ý tưởng này – ông không có ý định thách thức quyền lực của giáo hoàng. Ông chỉ đơn giản muốn mở ra một cuộc thảo luận. Những luận đề của ông ban đầu được viết bằng tiếng Latinh, sau đó được dịch, sao chép và phân phối rộng rãi nhờ sự ra đời của máy in. Thời điểm của ông cũng rất tình cờ vì luận điểm của ông xuất hiện vào thời điểm Giáo hội đã lãng phí phần lớn thẩm quyền đạo đức của mình thông qua các vụ bê bối và ly giáo của giáo hoàng. Nhiều người ít cả tin hơn và có xu hướng phán xét Giáo hội hơn, và những nhà cai trị địa phương ít có khuynh hướng chấp nhận quyền lực của La Mã hơn những người tiền nhiệm của họ.
Khi tin tức đến tai Leo X về sự náo động mà luận văn đã gây ra, ông ta phản ứng chậm chạp, ban đầu coi Luther chỉ là một gã người Đức say rượu. Luther nhận được lệnh triệu tập đến La Mã với cáo buộc dị giáo chỉ mười tháng sau đó, khi rõ ràng là nguồn thu nhập chính của nhà thờ đang bị đe dọa. Luther đáp lại lời triệu tập bằng cách kêu gọi Frederick cho điều trần trên đất Đức. Vì một số lý do, yêu cầu này đã được Giáo hội ở La Mã chấp nhận, đồng ý cho Luther được một giáo sĩ cao cấp của giáo hoàng phỏng vấn trên lãnh thổ Đức. Thật không may, người đại diện của giáo hoàng, đã phỏng vấn Luther vào tháng 10 năm 1518, không quan tâm đến việc tranh luận và chỉ yêu cầu Luther từ bỏ lỗi lầm của mình và phục tùng giáo hoàng. Luther từ chối.
Vào tháng 6 năm 1520, gần ba năm sau khi công bố luận đề, – một thước đo tốc độ làm việc của La Mã – Luther đã biết được từ một sắc lệnh của giáo hoàng – Exsurge Domine – rằng La Mã đã lên án 41 sai sót trong các bài viết của ông. Điều đáng ngạc nhiên là trong số này có việc ông tố cáo hành động thiêu sống những người dị giáo là trái với thánh linh. Sách của ông sẽ bị đốt; những người Cơ đốc bị cấm đọc, in hoặc xuất bản chúng; và ông phải ngừng rao giảng. Nếu không rút lại trong vòng 60 ngày, ông sẽ bị vạ tuyệt thông.
Giáo hội đã nhiều lần đối mặt với những lời chỉ trích trước đây và không có ý định xem xét nghiêm túc những lời huênh hoang của một tu sĩ giận dữ. Các giáo hoàng trước đây đã nói rất rõ ràng rằng ‘họ coi sự biểu tình chỉ là sự bất đồng quan điểm cần bị đàn áp, chứ không phải là một thách thức nghiêm trọng đối với giá trị của họ,’ và trường hợp này cũng không khác. Một lời đe dọa rút phép thông công chắc chắn sẽ có tác dụng. Nhưng La Mã đã đánh giá thấp tác động khích lệ mà lời đe dọa tuyệt thông này sẽ gây ra đối với Luther. Ngay sau đó, sau khi gọi giáo lệnh là ‘đáng nguyền rủa, trơ tráo và quỷ quyệt’, ông bắt đầu phản đối quyền lực của chính giáo hoàng. Đây là sự khởi đầu thực sự của cuộc Cải cách Đối kháng, mặc dù từ ‘Đối kháng’ [Protestant, sau này trở thành tên của tôn giáo mới ta gọi là Tin lành: ND]. chỉ được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1529 tại Nghị viện Speyer, khi các hoàng thân theo Luther ở Đức phản đối quyết định của đa số Thiên Chúa giáo không cho phép những nhà cai trị quyết định họ và thần dân của sẽ theo đức tin nào.
Luther đã viết ba chuyên luận lớn trong suốt những năm còn lại, đều hùng biện và dữ dội, chỉ trích nhiều học thuyết của nhà thờ, cho đến lúc đó chủ yếu vẫn chưa bị thách thức. Những tài liệu này sẽ là những nguyên tắc cơ bản của cuộc Cải cách. Không cần lựa lời, ông ta đã tấn công đích thân giáo hoàng, gọi y là kẻ phản Chúa: ‘không phải là thánh thiện nhất mà là tội lỗi nhất.’ Ông nói tiếp: “Qua miệng và ngòi bút của ngài, Satan dối trá như chưa bao giờ dối trá trước đây, dạy ngài vặn vẹo và làm hư hỏng kinh thánh theo ý muốn tùy tiện của riêng ngài. Ở nơi khác, ông viết rằng nhà thờ La Mã ‘trước đây là nơi linh thiêng nhất trong tất cả các nhà thờ, nay đã trở thành sào huyệt vô pháp nhất của bọn trộm cắp, bọn vô liêm sỉ nhất trong tất cả các nhà thổ, vương quốc của tội lỗi, cái chết và địa ngục; để ngay cả Tên Chống Chúa, nếu hắn xuất hiện, hắn cũng không thể nghĩ ra thêm bất kì trò độc ác bổ sung nào’.
Mọi khả năng rút lui còn lại đều bị mất vào tháng 12 đó, khi Luther công khai đốt sắc lệnh giáo hoàng cùng với các giáo luật khác, các luận văn chống Luther và các tài liệu khác.
Giáo hoàng đã ra lệnh đốt sách của ông, vì vậy đó là điều công bằng khi lửa đáp trả lửa. Có thể dự đoán được, vào tháng 1 năm 1521, Leo X dứt khoát trục xuất ông ta. Vào thời điểm này Frederick III lại đứng ra bảo vệ ông, yêu cầu rằng Luther không bị đặt ngoài vòng pháp luật trước khi có cơ hội tự bào chữa cho.mình. Vị hoàng đế mới được bầu, Charles V, đã đồng ý, cho phép Luther bảo vệ quan điểm của mình tại Nghị viện Worms, một cuộc họp chính thức của những nhà lãnh đạo tôn giáo và thế tục Đức, sẽ được tổ chức vào tháng 4 năm đó tại thị trấn Worms, ngay phía nam Frankfurt. Hoàng đế cũng đảm bảo cho Luther hành vi an toàn, mặc dù việc đối xử với Jan Hus tại Hội đồng Constance đã đặt ra một tiền lệ không mấy đáng khích lẹ.
Trên hành trình đến Worms, Luther đã thu hút rất đông người dân nhiệt tình đi theo, nóng lòng muốn gặp kẻ dám thách thức giáo hoàng. Khi đến nơi, Luther đã bị thẩm vấn trong nhiều ngày trước khi được yêu cầu rút lại quan điểm của mình. Nhưng ông đã từ chối:
Trừ khi tôi bị thuyết phục bởi lời chứng của Kinh thánh hoặc bởi lý do rõ ràng (vì tôi không tin vào giáo hoàng hay vào các hội đồng, vì ai cũng biết rằng họ thường xuyên sai lầm và mâu thuẫn với chính mình), tôi bị ràng buộc bởi Kinh thánh. Tôi đã trích dẫn và lương tâm của tôi bị giam cầm trong Lời Chúa. Tôi không thể và sẽ không rút lại bất cứ điều gì, vì việc đi ngược lại lương tâm là không an toàn cũng như không đúng đắn. Xin Chúa giúp tôi. Amen.
Vào tháng 5 năm 1521, Hoàng đế Charles V ban hành Sắc lệnh Worms, trong đó tuyên bố Luther là kẻ ngoài vòng pháp luật: ‘một chi bị cắt khỏi nhà thờ của Chúa’. Ông ta sẽ bị bắt giữ và giao cho hoàng đế ngay khi thời hạn ứng xử an toàn đã hứa sẽ kết thúc. Nhận thấy mối nguy hiểm đang đối mặt với Luther, Frederick III lại can thiệp một lần nữa, lần này bắt ông trên đường trở về Wittenberg và đưa đến Lâu đài Wartburg, nơi ông bị giam giữ cho đến khi mối nguy hiểm trước mắt do sắc lệnh của hoàng đế chống lại ông qua đi. Chính tại đây, Luther đã dịch Tân Ước sang tiếng Đức từ nguyên bản tiếng Hy Lạp để mọi người có thể tự mình hiểu được thông điệp Kitô giáo thay vì dựa vào lời dạy của các linh mục. Ông cũng sử dụng thời gian của mình ở đó để viết nhiều luận đề đặt câu hỏi về quan điểm của Giáo hội rằng những người theo đạo Cơ đốc phải được hướng dẫn bởi sự kết hợp giữa kinh thánh, truyền thống thiêng liêng và những lời dạy của giáo hoàng. Ông tuyên bố rằng phần lớn truyền thống của Giáo hội là trái với Kinh thánh và các giáo hoàng là những kẻ hướng dẫn tâm linh đáng ngờ nhất. Ông viết, những người Cơ đốc chỉ nên nhìn vào Kinh thánh Sola Scriptura và bỏ qua những phần còn lại. Ông tố cáo giáo huấn của Giáo hội về sự cứu rỗi là sự kết hợp giữa ân sủng của Thiên Chúa, công đức tích lũy qua việc làm tốt và công đức sinh ra do việc làm tốt là vô nghĩa. Chỉ nhờ đức tin – Sola Fide và ân sủng của Thiên Chúa – Sola Gratia – mà các Kitô hữu mới có thể được cứu rỗi. Giáo hội dạy rằng giáo dân có thể cầu nguyện với Chúa thông qua người trung gian như các vị thánh, nhưng Luther tuyên bố rằng Chúa Kitô nên được cầu nguyện trực tiếp – Solus Christus – vì không cần có người trung gian nào khác. Hơn nữa, ông phủ nhận rằng giáo hoàng có bất kỳ quyền lực đặc biệt nào đối với những người Cơ đốc khác.
Việc Luther cố gắng sống trọn cuộc đời trong an bình cho thấy đế chế đã trở nên yếu kém như thế nào. Ông qua đời năm 1546, 25 năm sau khi xuất hiện tại Nghị viện Worms. Luther gặp may mắn ở ba điều: thứ nhất, dân chúng địa phương của ông có thiện cảm nồng nhiệt với ông; thứ hai, hoàng đế Charles V đã bị phân tâm giữa các trận chiến năm 1521 và 1530 ở Tây Ban Nha nên ít có khuynh hướng thực thi ý chí của mình; thứ ba, nhiều hoàng thân và lãnh đạo khác coi cuộc nổi dậy của Luther là cơ hội để làm suy yếu quyền lực của giáo hoàng trong lãnh thổ của họ nên không sẵn lòng thực hiện mệnh lệnh của giáo hoàng.
Martin Luther có thể không mấy dễ chịu – vừa theo trào lưu cơ yếu vừa theo chủ nghĩa bài Do Thái, ông đề xuất đốt phá các giáo đường Do Thái và đuổi người Do Thái ra ngoài, đồng thời ông cũng ủng hộ địa chủ đối với những nông dân đã nổi dậy chống lại họ, nhưng ông là chất xúc tác cần thiết để bắt đầu cuộc Cải cách. Nếu Giáo hội không phản đối việc cải cách hành vi mua chuộc và tham nhũng của mình thì một biến động tầm cỡ này có thể đã tránh được. Tuy nhiên, một thể chế mà nạn tham nhũng bắt đầu từ cấp cao nhất khó có thể tự cải thiện được. Thay vào đó, Giáo hội đã làm việc sở trường nhất của họ: lên án bất cứ ai dám thách thức mình.
Các giáo hoàng thời Phục hưng đặc biệt không sẵn lòng thay đổi: ‘giả điếc không nghe lời bất mãn, giả mù không thấy những ý tưởng tiến bộ nảy sinh, trơ lỳ trắng trợn trước các thách thức, dửng dưng trước những hành vi đáng thất vọng của mình và sự phẫn nộ ngày càng tăng đối với những hành xử sai trái của họ, cố chấp không buồn thay đổi, gần như bướng bỉnh một cách ngu ngốc trong việc duy trì một hệ thống hiện có đã hỏng hóc. Ta cũng có thể thêm vào thói đạo đức giả hoàn toàn trơ trẽn khu buộc các giáo sĩ phải sống độc thân trong khi mình là giáo hoàng lại không hề áy náy việc làm cha những đứa con, cả hợp pháp lẫn ngoài giá thú.
Nhà sử học Barbara Tuchman đã đề xuất một lời giải thích đơn giản cho thói không khoan nhượng của họ, cho thấy rằng là một trong chỉ có năm bang lớn của Ý vào thời điểm đó, đều bị khóa chặt trong một chu kỳ xung đột không bao giờ kết thúc, bất kỳ dấu hiệu yếu kém nào của Nhà nước của Giáo hoàng có thể được coi là lời mời gọi xâm lăng. Hơn nữa, vào thời điểm ‘các vụ chiếm đất, âm mưu đầu độc, phản bội, giết người và huynh đệ tương tàn, bỏ tù và tra tấn là những phương pháp được sử dụng hàng ngày không hề cắn rứt, các giáo hoàng chỉ đơn giản là những con người của thời đại họ, áp dụng lối sống và giá trị của các ông hoàng đồng bào của họ. Cuối cùng, bà tiếp tục, ‘quyền lực tùy tiện, dễ dàng dẫn đến sự lạm dụng và không kiềm chế và những mối nghi ngờ kinh niên về đối thủ, có xu hướng hình thành những kẻ chuyên quyền thất thường và tạo ra những thói quen bạo lực vô lý’, và giáo hoàng cũng không miễn nhiễm với những tệ nạn này.
Việc lục địa Ý nhiều lần có nguy cơ bị xâm lược chỉ làm tăng thêm cảm giác bấp bênh này, và chính điều này đã thúc đẩy chính sách của La Mã đối với đế quốc và các cường quốc khác, luôn gây ra thế đối đầu giữa nước này với nước kia. Người ta lo ngại rằng nếu một quyền lực trở nên quá mạnh trên bán đảo thì Giám mục La Mã sẽ trở thành tay sai của nó. Sau hết, giáo hoàng đã tránh được trong gang tấc việc trở thành một giám mục Đức dưới thời Otto Đại đế và một giám mục Pháp dưới thời Charles VIII.
Tiền cũng đóng một vai trò quan trọng. Ngoài tiền thuế thập phân, phần lớn doanh thu của Nhà nước Giáo hoàng đến từ tiền cho thuê đất thế tục, thuế giáo hoàng, v.v. và nó không thể để mất khả năng trả tiền cho quân đội để bảo vệ lợi ích của mình hoặc hối lộ để thoát khỏi rắc rối. Điều này giải thích, ít nhất một phần, quyết tâm của Julius II nhằm giành lại quyền kiểm soát càng nhiều lãnh thổ của Giáo hoàng càng tốt. Cuối cùng, sự vắng mặt của giáo hoàng ở La Mã trong phần lớn thế kỷ 14 và sức mạnh của phong trào công đồng, có nghĩa là các giáo hoàng phải quyết đoán hơn đáng kể để được coi trọng.
Các quốc gia Ý khác hoàn toàn nhận thức được khả năng hành xử hèn hạ của giáo hoàng, và việc phản đối giáo hoàng trong một cuộc chiến không nhất thiết gây ra bất kỳ lo lắng nào. Nhà sử học Christine Shaw cho biết người Ý đã quen với việc phân biệt giữa vai trò kép của giáo hoàng là nhà lãnh đạo tinh thần và người cai trị thế tục. Do đó, ‘sự tôn trọng đối với người đứng đầu tinh thần của Giáo hội đã được giảm bớt bởi một nhận thức quá rõ ràng rằng người đương nhiệm của Tòa Thánh Peter cũng là một cá nhân dễ mắc sai lầm, tham gia vào cùng một thế giới chính trị – và tuân theo nhiều luật lệ giống nhau – như các ông hoàng khác.
Tuy nhiên, Luther là một loại kẻ thù rất khác, và không một chiến thuật trần tục nào từng phục vụ tốt cho các giáo hoàng trong quá khứ lại có thể giúp ích được cho họ ở đây. Đúng hơn, chúng sẽ chỉ cung cấp cho đối thủ nhiều đạn dược hơn để chống lại họ. Phản ứng của La Mã chỉ làm tăng thêm thiện cảm của người Đức đối với cuộc Cải cách và ác cảm của các hoàng thân Đức đối với giáo hoàng. Nó cũng dẫn đến việc mất Hà Lan, Thụy Sĩ, Anh, Scotland và Scandinavia khỏi phe Thiên chúa giáo trong cuộc chiến giành lấy linh hồn của Châu Âu.
*
Khi Leo X qua đời vào năm 1521, ông đã để lại nước Ý ‘trong tình trạng hỗn loạn thường thấy, Bắc Âu bên bờ vực của một cuộc cách mạng tôn giáo, và chế độ giáo hoàng ở mức độ suy thoái sâu sắc nhất’. Ông ta cũng để lại một kho bạc trống rỗng, bất chấp những nỗ lực hết sức để lấp đầy nó bằng việc bán phép ân xá. Không có sự lựa chọn rõ ràng nào về người kế nhiệm, các hồng y cuối cùng đã chọn Hồng y Adrian xứ Utrecht, cựu gia sư của Charles V, người đang phục vụ với tư cách là phó vương của ông ở Tây Ban Nha vào thời điểm đó. Sự vắng mặt của ông ở Ý có thể là yếu tố quyết định trong cuộc bầu cử của ông, vì ông có rất ít cơ hội để gây thù chuốc oán ở La Mã. Giữ lại tên rửa tội của mình, ông trở thành Adrian VI (1522-23), vị giáo hoàng Hà Lan đầu tiên và cuối cùng. Ngài cũng là vị giáo hoàng cuối cùng không phải người Ý trong hơn 450 năm, điều này đặt ra câu hỏi liệu Thiên Chúa có cảm thấy rằng người Ý có phải là quốc gia duy nhất mà từ đó Ngài có thể tìm được một nhà lãnh đạo xứng đáng cho Giáo hội của Ngài trên trái đất trong thời kỳ này hay không.
Adrian VI không hề ảo tưởng rằng Giáo hội cần cải cách, và nỗ lực khuyến khích đức công chính ở các hồng y đồng nghiệp của mình. Mặc dù nhấn mạnh rằng phải có hành động chống lại Luther, ông thừa nhận rằng chính tội lỗi của giới giáo sĩ đã gây ra cuộc khủng hoảng:
Chúng ta biết rõ rằng trong nhiều năm, những điều đáng ghê tởm đã tụ tập quanh Tòa thánh; những điều thiêng liêng đã bị lạm dụng, các giáo lễ bị vi phạm, đến nỗi trong mọi sự đều có những thay đổi tồi tệ hơn. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi căn bệnh này đã len lỏi từ người đứng đầu đến các thành viên, từ các giáo hoàng xuống đến các cấp bậc dưới. Tất cả chúng ta, những vị giám mục và giáo sĩ, đều đã lạc lối, và từ lâu không có ai làm điều tốt; không, không phải một. Vì vậy, đối với Thiên Chúa, chúng ta phải dâng mọi vinh quang và hạ mình xuống trước mặt Ngài; mỗi người chúng ta phải xem xét mình đã sa ngã như thế nào và sẵn sàng tự phán xét mình hơn là bị Đức Chúa Trời phán xét trong ngày thịnh nộ của Ngài. Vì vậy, nhân danh chúng ta, hãy hứa rằng chúng ta sẽ dùng mọi nỗ lực siêng năng để cải tổ Giáo triều Rôma, nơi mà có lẽ tất cả những tệ nạn này đều có nguồn gốc từ đó; do đó việc chữa lành sẽ bắt đầu từ nguồn gốc của bệnh tật.
Nhưng các hồng y đã bác bỏ những nỗ lực của ông nhằm xâm phạm lối sống dục lạc và cơ hội thu lợi riêng của mình. Kẻ man rợ này là ai mà đã gây khó khăn cho cuộc sống của họ? Họ đã quen với một vị giáo hoàng có mối quan tâm chính là duy trì lối sống xa hoa, nhưng Adrian VI không có ý định noi gương này, thậm chí còn được phép sử dụng nguồn lực của giáo hoàng. Dù thế nào đi nữa, triều đại giáo hoàng của ngài rất ngắn: ngài chết không đến một năm sau khi nhậm chức, đạt được rất ít kết quả và vấn đề Luther vẫn chưa được giải quyết.
Clement VII và vụ cướp phá thành La Mã
Sau cái chết của Adrian, người anh em họ đầu tiên của Giulio de’ Medici Leo X trở thành Clement VII (1523-34).Leo đã kéo ông ta về dưới trướng của mình sau vụ cha của Giulio bị sát hại trong Âm mưu Pazzi dưới thời trị vì của Sixtus IV, và đã đề bạt cho ông ta làm hồng y và phó phòng hành chính giáo triều.
Khi trở thành giáo hoàng, Clement VII có ít thời gian để tập trung vào những gì đang xảy ra ở Đức: Kitô giáo đang bị tấn công từ Đế chế Ottoman dường như không thể ngăn chận, và các cuộc nội chiến tôn giáo đang đe dọa an ninh nội bộ của một số quốc gia châu Âu khác. Một đạo Tin lành cực đoan ngày càng được củng cố từ Thụy Sĩ bởi các thủ lĩnh như Ulrich Zwingli (1448-1531) và John Calvin (1509-64). Calvin dẫn đầu cuộc Cải cách ở Pháp và giới thiệu một chế độ thần quyền toàn trị ở Geneva, trớ trêu thay, lại bắt chước Giáo hội Thiên chúa giáo trong việc chuẩn bị xử tử những người thách thức hệ thống chính thống mới. Giáo hội Thiên chúa giáo rõ ràng không có độc quyền về chủ nghĩa tôn giáo chính thống ngu dốt. Nhà thờ Cải cách của Calvin cũng sẽ trở thành tôn giáo thống trị ở Hà Lan và Scotland,
Ý trở thành chiến trường trong cuộc chiến giữa người Pháp và đế quốc. Cả hai bên đều tìm kiếm sự ủng hộ của giáo hoàng, nhưng Clement VII đã khiến họ chống lại nhau, đề nghị hỗ trợ hoàng đế chống lại người Pháp trong khi đồng thời tình nguyện hỗ trợ đối thủ của mình – với kết quả thảm hại.
Người Pháp cuối cùng thua trận và bị trục xuất khỏi Ý, nhưng khi hoàng đế phát hiện ra sự phản bội của Giáo hoàng, ông đã xâm chiếm bán đảo, quyết tâm trả thù. Vào tháng 5 năm 1527, quân đội đế quốc đã cướp phá La Mã trong khoảng thời gian mười tháng với sự tàn ác sánh ngang, hoặc thậm chí có thể vượt quá, sự tàn ác tồi tệ nhất của các cuộc xâm lược man rợ vào thế kỷ thứ năm. Vào thời điểm những kẻ xâm lược rời khỏi thành phố bị cướp phá, dân số của nó đã giảm đi một nửa. Châu Âu bị sốc, nhưng Luther vui mừng vì giáo hoàng đã bị sửa trị một trận, tuyên bố: ‘Chúa Kitô đã trị vì theo cách là vị hoàng đế đã ngược đãi Luther vì giáo hoàng giờ đây buộc phải tiêu diệt giáo hoàng vì Luther.
Trong thời gian thành phố bị cướp phá, Clement VII buộc phải ẩn náu tại Castel Sant’Angelo, chỉ để đầu hàng ngay sau đó. Sau khi trả một khoản tiền chuộc khổng lồ để đổi lấy mạng sống của mình, ông bị giam ở đó sáu tháng trước khi cuối cùng trốn khỏi La Mã bằng cách ngụy trang. Đây không phải là cách hiếm gặp để các giáo hoàng thoát khỏi cơn thịnh nộ của kẻ thù. Bất chấp sự kiện khủng khiếp này, Clement VII và Charles V bằng cách nào đó đã cố gắng khắc phục những khác biệt của nhau và giáo hoàng đã làm lễ đăng quang Hoàng đế La Mã Thần thánh cho Charles V ở Bologna vào năm 1530, đây là trường hợp cuối cùng mà một giáo hoàng đăng quang cho một hoàng đế.
Clement VII bị coi thường vì đã mang lại tai họa như vậy cho La Mã, và khi ông qua đời vào năm 1534, thi thể ông bị kéo lê trên đường phố. Một nghệ sĩ vẽ tranh graffiti ở thế kỷ 16 đã khéo léo thay đổi dòng chữ trên lăng mộ của ông từ Clemens Pontifex Maximus thành Inclemens Pontifex Minimus (Giáo hoàng Nhỏ nhoi Khắc nghiệt).