
Christopher Lascelles
Trần Quang Nghĩa dịch
Chương 14 : Kết nối Pháp
“Bấy giờ, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên tòa ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào.
Matthew, 23:1-4
Đáng buồn thay, Alexander IV đã không có sức mạnh cá tính của tổ tiên mình và không thể đóng dấu quyền lực của mình lên các vấn đề khác nhau về kế thừa (Sicily, đế chế, v.v.) đang lấn át giáo triều của ông.
Ông được kế vị bởi một người Pháp, Urban IV (1261-1264), có lẽ khá đáng buồn, trao vương miện xứ Sicily – mà Innocent đã sáp nhập vào Lãnh địa Giáo hoàng vào năm 1254 khi Conrad qua đời – cho người đồng hương của ông, Vua Louis IX. Khi Louis từ chối, Urban IV đã bán vương miện cho em trai Charles của nhà vua, bá tước xứ Anjou, lấy một khoản tiền một lần và vật cống nạp hàng năm 800 lượng vàng. Để đảm bảo thanh toán đúng thời hạn, giáo hoàng đã đe dọa rút phép thông công Charles trong trường hợp không trả được nợ. Giáo hoàng đóng vai một kẻ tống tiền của bọn mafia: hãy chắc chắn bạn phải trả tiền nếu không sẽ gặp rắc rối! Ít ra thì nó có tác dụng củng cố ngân khố của giáo hoàng.
Urban IV được kế vị bởi một người Pháp khác, Clement IV (1265-68), dưới giáo triều của ông Charles xứ Anjou đã chiếm hữu vương quốc mà ông đã phải trả giá trong một cuộc chiến khác được giáo hoàng khuyến khích. Nhưng bỏ qua một bên những thương vong do chiến tranh, chẳng bao lâu La Mã chợt nhận thức được rằng Charles, hiện là vua của Naples và Sicily, có thể không phải là vị cứu tinh ngoan ngoãn như La Mã mong đợi. Giáo hoàng ‘một lần nữa được chọn vào vai Frankenstein, người đã tạo ra một con quái vật mà hắn không thể kiềm chế,’ và người Pháp giờ đây sẽ đóng một vai trò quan trọng trong nền chính trị Ý cho đến khi nước Ý thống nhất vào năm 1870.
Khi Clement IV qua đời, lòng trung thành chính trị và mối lo lắng không thể làm giàu cho gia đình người khác để gây bất lợi cho chính mình đã khiến các hồng y bị chia rẽ trong vô vọng về việc lựa chọn người kế vị. Chiếc ghế của Thánh Peter bị bỏ trống trong 2 năm 10 tháng một cách đáng kính ngạc trong khi họ tung mạnh khỏe để tranh giành vị trí. Ba vị hồng y qua đời trong cuộc bầu cử giáo hoàng dài nhất trong lịch sử. Một giáo hoàng mới, Gregory X (1271-76), chỉ được bầu ra khi các hồng y bị quản thúc chặt chẽ và khẩu phần thực phẩm của họ giảm đi đáng kể. Để tránh những sự việc tương tự trong tương lai, Gregory X đã ban hành sắc lệnh mặc dù nó hiếm khi được tuân thủ – tuyên bố rằng các hồng y sẽ họp nhau trong vòng mười ngày sau khi giáo hoàng qua đời và vẫn ở biệt lập trong gian phòng bị khóa cẩn mật – thuật ngữ “conclave” (mật nghị) có nguồn gốc từ tiếng Latin cum clavis, ‘với một chiếc chìa khóa’ với việc giảm lượng khẩu phần thức ăn hàng ngày cho đến khi họ đạt được quyết định thống nhất.
Ba vị giáo hoàng tiếp theo tại vị chưa đầy một năm và người kế vị của họ, Nicholas III (1277-80), thừa hưởng vấn đề chính của họ: làm thế nào để hạn chế ảnh hưởng của Charles xứ Anjou (hoặc Angevin) ở miền trung nước Ý. Cuối cùng, vấn đề Sicily đã được giải quyết bởi người Tây Ban Nha, những người đến cai trị Sicily theo yêu cầu của người Sicily sau khi dân địa phương tàn sát các lãnh chúa người Pháp của họ một cách bạo lực. Chính tình châu Âu cũng hủy hoại triều đại ngắn ngủi của hai giáo hoàng tiếp theo, và khi Nicholas IV (1288-92) qua đời, các hồng y bị chia rẽ đến mức họ phải cân nhắc việc bầu bán kéo dài hơn hai năm. Một lần nữa, việc trì hoãn bầu người kế vị đã gây ra một vụ bê bối khắp các nước theo đạo Cơ đốc.
Celestine và Boniface
Hai mươi bảy tháng sau cái chết của Nicholas IV, một vị hồng y đưa tin rằng vị ẩn sĩ thánh thiện và được cho là người có thể làm phép lạ, Pietro del Morrone, đã tiên tri về sự trừng phạt thiêng liêng sắp xảy ra nếu họ để trống chiếc ghế của Thánh Peter lâu hơn. Dù ông đã lên kế hoạch từ trước hay chỉ là quyết định nhất thời, cũng vị hồng y này sau đó đã đề nghị họ bầu Pietro làm giáo hoàng. Điều này mang lại một số lợi ích: lúc này ông đã 85 tuổi (khá là một kỳ tích vào thời điểm mà tuổi thọ trung bình chưa đến một nửa số đó), điều này cho thấy rằng giáo triều của ông sẽ ngắn ngủi; nhưng ông ấy cũng hoàn toàn độc lập và chưa có ai đối đầu ông, nên ông ấy là ứng viên thỏa hiệp hoàn hảo. Không mất nhiều thời gian để các hồng y nhất trí bầu ông.
Theo một nhà sử học về giáo hoàng, người đàn ông lấy tên Celestine V (1294) hoàn toàn không phù hợp với những âm mưu và trò chơi quyền lực của La Mã, vì ông ‘ngây thơ, bất tài và ít học’. Sau năm tháng hỗn loạn, bị triều đình Pháp thao túng một cách trắng trợn, ông từ chức – ông ấy không phải là vị giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử, cũng không phải là vị giáo hoàng cuối cùng từ chức.
Hồng y quỷ quyệt Benedetto Caetani được bầu thay thế ông ta, lấy tên là Boniface VIII (1294-1303). Tin đồn nhanh chóng lan truyền rằng vị tân giáo hoàng khao khát quyền lực đã thuyết phục Celestine V từ chức, thì thầm với ông xuyên qua một lỗ trên tường trong khi ông cầu nguyện để khiến ông ta nghĩ rằng mình đang nghe thấy giọng nói của Chúa. Boniface VIII cũng hiểu rằng việc có hai giáo hoàng còn sống hiếm khi kết thúc tốt đẹp, nên đã ra lệnh canh giữ người tiền nhiệm lớn tuổi của mình.
Celestine V, hiện mong muốn được biết đến với cái tên Anh Morrone, vì quá khao khát cuộc sống đơn giản trước đây của mình nên đã trốn thoát. Phải mất bảy tháng đầy ấn tượng trước khi người đàn ông 85 tuổi này bị bắt. Cuối cùng, khi bị đưa đến trước mặt Boniface VIII, ông đã thốt ra lời tiên tri nổi tiếng: ‘Ngài đã lẻn vào như một con cáo, ngài sẽ trị vì như một con sư tử và ngài sẽ chết như một con chó.’ Cuối cùng ông ta đã đánh giá được người đàn ông. Lần này Boniface không dám lơ là, ra lệnh nhốt Celestine trong một tòa tháp ở thị trấn Ferentino, cách La Mã khoảng 40 dặm về phía đông nam, nơi ông ở lại cho đến khi qua đời vào năm 1296 trong tuổi bát tuần. Quả thực là một câu chuyện buồn, nhưng lại là một vết đen nữa cho giáo triều.
Boniface VIII đã đưa thời hoàng kim của ngôi vị giáo hoàng đến chỗ sụp đổ. Như thể việc bỏ tù người tiền nhiệm thánh thiện của mình để duy trì quyền lực vẫn chưa đủ, Boniface đã sử dụng quân đội giáo triều để tấn công kẻ thù cá nhân của mình, đặc biệt là Colonna. Vào cuối thế kỷ 13, Colonna và Orsini đã thay thế Frangipani và Pierleoni trở thành những dòng họ La Mã thống trị, với Caetani theo sát phía sau. Boniface thuộc dòng họ Caetani đã thành công trong việc nắm quyền chỉ bằng cách liên minh với Orsini để chống lại Colonna, người từng ủng hộ Celestine V. Khi Boniface VIII sử dụng các nguồn lực của Giáo hoàng để chiếm đoạt phần lớn đất đai của Colonna, Colonna đã trả đũa bằng cách cướp một đoàn xe chở kho báu của giáo hoàng. Điều này có lợi cho Boniface vì nó tạo cơ hội cho ông ta rút phép thông công với hai hồng y dòng họ Colonna và yêu cầu họ giao nộp những người chịu trách nhiệm về cuộc đột kích.
Tuy nhiên, Boniface VIII đã đánh giá thấp phản ứng của các đối thủ khi mất đi hai vị trí sinh lợi và có ảnh hưởng lớn như vậy. Khi nhận được tin bị rút phép thông công, các hồng y của Colonna ngay lập tức triệu tập một hội đồng Giáo hội để điều tra tính hợp pháp của cuộc bầu cử Boniface VIII, trước khi bỏ trốn đến triều đình Pháp để được bảo vệ. Boniface phẫn nộ đã cử một đội quân giáo triều – mặc dù điều này nghe có vẻ mâu thuẫn về mặt từ ngữ – phá hủy pháo đài và chiếm giữ đất đai của họ, rồi nhanh chóng trao cho các đồng minh và gia đình của Giáo hoàng. Cuối cùng, ông ta phát động một cuộc thập tự chinh chống lại họ, ban ơn toàn xá cho tất cả những người tham gia. Nhưng ‘Ý và Châu Âu…xem cuộc thập tự chinh này đúng như bản chất của nó, một cuộc tranh chấp xấu xa giữa các nam tước La Mã, một trong số họ tình cờ sở hữu quyền lực sử dụng vũ khí của Giáo hội trong một cuộc chiến riêng tư.’ Mọi chuyện trở nên phần nào ra ngoài vòng kiểm soát, nhưng Colonna sẽ sớm trả thù.
Ngoài việc đánh bại kẻ thù của mình, Boniface còn đồng thời củng cố quyền lực và vun vén của cải cho người thân bằng cách phong bốn thành viên trong gia đình làm hồng y. Gây hấn, bốc đồng, kiêu ngạo và tham nhũng, mối bận tâm chính của ông ta dường như là tiền bạc – của cả ông ta và của Giáo hội. Giáo hoàng đã rất tức giận khi các vị vua Anh và Pháp – Edward I và Philip IV – ra sức đánh thuế giới tăng lữ của họ để tài trợ cho các cuộc chiến tranh của mình, trong khi ít nhất về mặt lý thuyết, chỉ có giáo hoàng mới có thể ủy quyền cho họ làm thế. Khi Boniface VIII ban hành giáo lệnh Clericis laicos – cấm đánh thuế tài sản của Giáo hội mà không có sự đồng ý của Giáo hoàng nếu không sẽ bị vạ tuyệt thông, Edward I coi đây là một thách thức trực tiếp đối với chủ quyền của mình và đáp trả bằng cách chiếm giữ các tài sản của Giáo hội ở Anh. Việc Boniface VIII lạm dụng phép thông công đã biến nó thành một công cụ cùn mòn. Philip IV, trong tâm trạng không muốn bị sai khiến, tỏ ra xảo quyệt hơn: ông ta cấm xuất khẩu tiền hoặc vật có giá trị từ Pháp dưới bất kỳ hình thức nào, biết rõ rằng một lượng đáng kể phần thu nhập của Giáo hoàng có được từ nguồn thu của Giáo hội Pháp. Kết quả là giáo hoàng buộc phải lxuống thang một cách nhục nhã.
Trong một nỗ lực hơn nữa để quyên tiền cúng, vào năm 1300 Boniface VIII đã làm sống lại khái niệm Cựu Ước về Năm Thánh nhằm thu hút giáo dân đến La Mã. Ông đã thông báo trên khắp cõi Cơ đốc rằng bất cứ ai đến thăm thành phố trong Năm Thánh sẽ nhận được ẩn toàn xá. Hàng nghìn rồi hàng nghìn tín đồ tràn vào La Mã và tràn ngập các nhà thờ cũng như các thánh địa bằng lễ vật với hy vọng đảm bảo cắt bớt thời gian ở lò luyện ngục. Trên thực tế, kho bạc của giáo hoàng đã được lấp đầy hậu hĩnh đến mức các giáo hoàng tiếp theo cũng thi nhau tổ chức Năm Thánh của riêng mình, giảm dần khoảng thời gian giữa các năm thánh từ 100 năm xuống còn 50 năm, và cuối cùng xuống còn 25 năm. Năm Thánh gần đây nhất là vào năm 2016, và du khách đến La Mã thậm chí lúc đó còn nhận được phép xá tội.
Unam Sanctam (1302)
Tuy nhiên, Boniface VIII được biết đến nhiều nhất với giáo lệnh, Unam Sanctam, được ông ban hành vào ngày 18 tháng 11 năm 1302 do có sự bất đồng với nhà vua Pháp về vấn đề bắt giữ một giám mục người Pháp. Giáo hoàng nhấn mạnh rằng nhà vua chỉ thực thi quyền lực khi được sự cho phép của Giáo hội, vì quyền lực thiêng liêng vượt trội so với quyền lực thế tục ‘Điều hoàn toàn cần thiết cho sự cứu rỗi’, sắc lệnh tuyên bố, ‘của mọi người là phải phục tùng Giáo hoàng La Mã.’ Mặc dù các giáo hoàng trước đây đã đưa ra những khẳng định hoành tráng tương tự, nhưng thực tế chính trị mới của các nhà nước-dân tộc giờ đây mạnh hơn, tự chủ hơn đã khiến cho sự can thiệp của giáo hoàng trở nên khó chấp nhận hơn đối với các công tước và vua chúa của Châu Âu, đối với họ điều này có mùi của một giáo lệnh khác.. Philip đã nói nhiều điều như vậy trong một bức thư: ‘Gửi Boniface, người tự xưng là giáo hoàng, ít được hoặc không được chào đón. Hãy để sự ngớ ngẩn lạ lùng của ngài biết rằng trong những vấn đề thế tục chúng tôi không phụ thuộc vào ai cả.’ Tuy nhiên, Giáo hoàng vẫn kiên quyết: ‘Những vị tiền nhiệm của chúng tôi đã phế truất ba vị vua của Pháp. Hãy biết rằng chúng tôi có thể phế truất ngươi như một cậu bé giữ ngựa nếu điều đó tỏ ra cần thiết.’
Trong trường hợp có ai nghi ngờ quyền lực của ông, vào năm 1303 Boniface VIII đã khẳng định quyền lực của mình hơn nữa bằng cách bổ nhiệm một hoàng đế La Mã mới, Albert xứ Habsburg, và cho biết rằng, trong khi hoàng đế có quyền chỉ phối đối với tất cả các vị vua khác, thì quyền lực tối cao tất nhiên sẽ thuộc về giáo hoàng. Điều này là không thể chấp nhận được đối với Philip, và ông ra lệnh bắt giữ Boniface và đưa về Pháp để xét xử. Trong số các cáo buộc được đề xuất chống lại ông ta có hành vi sai trái về tình dục, tội mua bán chức vụ và bắt cóc Celestine V. Nghe như âm nhạc du dương lọt vào tai Colonna.
Đầu tháng 9 năm 1303, một đội quân Pháp, cùng với một nhóm lính đánh thuê do Colonna chỉ huy, đã bắt được Boniface VIII, đang trải qua mùa hè ở thị trấn Anagni, cách La Mã khoảng 40 dặm về phía đông nam,. Tuy nhiên, đây là quê hương của giáo hoàng và người dân ở đó đã giải thoát cho ông. Vài ngày sau, ông được hộ tống có vũ trang trở lại La Mã nhưng toàn bộ sự việc đã chứng tỏ quá sức chịu đựng đối với vị giáo hoàng lớn tuổi và ông qua đời một tháng sau đó. Mặc dù cuộc đảo chính cuối cùng đã thất bại, nhưng điều có ý nghĩa và dấu hiệu của thời suy tàn của chế độ giáo hoàng là nhà vua Pháp đã đủ tự tin để thực hiện một vụ bắt cóc như vậy ngay từ đầu.
Suy ngẫm về cuộc đời và sự nghiệp của Boniface VIII, nhà thơ Dante gọi ông là “ông hoàng của bọn Pha-ri-si (kẻ thù của Jesus) hiện đại” và ‘một kẻ tiếm quyền đã biến Đồi Vatican thành một cái cống công cộng của tệ tham nhũng.’ Linh mục Úc Paul Collins đã gọi ông ta là một người có ‘tâm thần không ổn định’; tác giả Đức Hans Küng cho rằng ông ta có ‘các đặc điểm bệnh lý rõ ràng; và nhà sử học Giáo hội Philip Schaff nói rằng ông ấy ‘độc đoán, cố chấp, nghèo nàn lý tưởng tâm linh, và bị lòng tham muốn quyền lực vô độ và mù quáng chi phối. . . Ông ta kiêu ngạo mà không mạnh mẽ, táo bạo mà không khôn ngoan, đảm lược mà không.sở hữu trí tuệ để nhận biết các dấu hiệu của thời đại.’
Di chuyển đến Avignon
Kế thừa ngôi vị giáo hoàng sau cái chết của Boniface VIII giống như cầm một chiếc cốc có độc. Thông qua hành động của mình, Boniface đã khiến tổ chức này rơi vào tình trạng tai tiếng nặng nề, và sau đó cần phải có một hành động cân bằng thận trọng để ngăn nó tụt dốc hơn nữa.
Benedict XI (1303-4) không tồn tại đủ lâu để gây ra bất kỳ tác động lớn nào, và Clement V (1305-14) bị bệnh tật trong suốt nhiệm kỳ của mình. Tuy nhiên, một trong những quyết định của Clement V sẽ có ảnh hưởng lớn đến Giáo hội vào thế kỷ 14: ông đã chuyển triều đình đến Avignon. Việc di dời có thể một phần là do vua Pháp, Philip IV: ông chịu trách nhiệm về cuộc bầu cử Clement V, và cảm thấy rằng sẽ thuận tiện hơn nếu có Giáo hoàng ở gần hơn, nhưng xét đến việc La Mã và vùng nông thôn xung quanh nó đang trong tình hình hỗn loạn, sự an toàn của giáo hoàng và triều đình ông cũng đóng một lý do quan trọng của quyết định di dời. Không cần biết động cơ chính xác là gì, vào năm 1309 Clement V sắp xếp cho triều đình dời đến Avignon. Không ai có thể đoán được rằng nó sẽ không trở lại La Mã cho đến năm 1376.
Nhiều giáo hoàng trước đây đã cư trú tại Pháp mặc dù điều này chủ yếu là do bị phế truất và trục xuất khỏi La Mã. Nếu có điều gì đó thì chính người La Mã đã khiến việc lưu trú của một số lượng lớn giáo hoàng ở La Mã trở nên khó chịu nhất. Tuy nhiên, trong lịch sử, các giáo hoàng đã rất nỗ lực khẳng định rằng quyền lực và thẩm quyền của họ bắt nguồn từ chính việc họ là người kế vị Thánh Peter làm Giám mục La Mã
Nói đúng ra, Avignon không phải là lãnh thổ của Pháp mà nó là một trong những khu vực được ban tặng cho người Angevin, những chư hầu của Giáo hoàng, sau các cuộc thập tự chinh Albigensian chống dị giáo. Do đó các giáo hoàng có thể tuyên bố mình đang sống trên lãnh địa của mình. Tuy nhiên, việc ở gần nước Pháp đã cho phép vua Pháp áp đặt hiệu quả ý muốn của mình. Dưới áp lực của triều đình Pháp, Clement V đã đưa nhiều người Pháp vào Hồng y đoàn (trong đó có 5 người là họ hàng của ông). Sáu người kế vị ông đều là người Pháp (một lần nữa, hai trong số này có quan hệ họ hàng với nhau) cũng như hơn 4/5 số hồng y. Cho dù do ảnh hưởng hoàng gia quá mức, tính thiên vị quốc gia hay chủ nghĩa gia đình trị, chế độ giáo hoàng đã bị khuất phục trước vương miện của Pháp trong khoảng 67 năm.
Avignon trong lịch sử đã trở thành một địa chỉ tham nhũng thậm chí còn lớn hơn cả La Mã, nơi có kỷ lục khó bị đánh bại. Một số giáo hoàng ở Avignon đã đóng góp tài chính cho các hồng y đã bầu cho họ và bán các chức vụ khác trong Giáo hội để làm phình to ngân khố của mình. Nhà thơ Petrarch phàn nàn về giới tăng lữ Avignon với một người bạn:
Ở đây những nhân vật kế vị của giới ngư dân nghèo ở Galilê đang ngự trị; họ đã quên mất một cách kì lạ nguồn gốc của mình. Tôi choáng váng, khi nhớ lại những người tiền nhiệm của họ, lúc nhìn thấy những người đàn ông này đeo đầy vàng và mặc áo tím, khoe khoang về chiến lợi phẩm lấy được của các ông hoàng và các quốc gia; lúc nhìn thấy những cung điện sang trọng và những tòa tháp cao được bao bọc bởi những công sự, thay vì một chiếc thuyền đặt úp xuống để làm nơi trú ẩn.
Một bản cáo trạng đáng nguyền rủa nếu muốn có.
Gần như ngay lập tức sau khi triều đình giáo hoàng chuyển đến Avignon, Philip IV yêu cầu Boniface VIII bị đưa ra xét xử, mặc dù ông ta đã chết, những giáo lệnh của ông bị hủy bỏ và Celestine V được phong thánh. Clement V đã trì hoãn phiên tòa nhưng rồi cũng đồng ý hủy bỏ tất cả những giáo lệnh của Boniface,. bao gồm cả Unam Sanctam
Clement V và Hiệp sĩ dòng Đền
Philip sau đó ép Clement V trấn áp bọn Hiệp sĩ dòng Đền. Hiệp sĩ dòng Đền là một tổ chức quân sự được thành lập vào năm 1119 để bảo vệ dân hành hương Cơ đốc đến Jerusalem khỏi các cuộc tấn công của người Hồi giáo và để bảo vệ những thánh địa. Qua nhiều thế kỷ, tổ chức này đã trở nên vô cùng giàu có nhờ các khoản quyên góp. Philip IV đã thử nhiều cách để tài trợ cho các cuộc chiến chống lại nước Anh, bao gồm đánh thuế các giáo sĩ Pháp và thậm chí trục xuất người Do Thái khỏi Pháp để tịch thu tài sản của họ. Ông ta cũng đã vay mượn rất nhiều từ Hiệp sĩ dòng Đền. Xóa sổ dòng Đền sẽ cho phép ông ta xóa sạch các khoản nợ khổng lồ và cướp bóc khối tài sản khổng lồ của nó.
Vậy là bắt đầu từ ngày 13 tháng 10 năm 1307 và tiếp tục trong những ngày tới, tất cả các thành viên của dòng Đền ở Pháp, cùng với những thành viên phụ thuộc của họ, 15.000 người theo một số ước tính đã bị bắt với cáo buộc tiêu chuẩn vào thời điểm đó là dị giáo và trụy lạc tình dục. Những lời thú tội sai trái – bao gồm những lời từ chối Chúa Kitô, khạc nhổ trên thập tự giá, khiêu vũ với ma quỷ, đồng tính luyến ái và hôn vào mông mèo – được moi ra vì bị tra tấn và được gửi đến giáo hoàng để làm bằng chứng chống lại dòng Đền..
Vào cuối tháng 11 cùng năm, Clement V đã ra lệnh cho tất cả những người cai trị Cơ đốc giáo ở châu Âu bắt giữ các thành viên của hội và tịch thu đất đai của họ nhân danh ông ta. Kết quả là hàng ngàn người bị vây bắt, bị bỏ tù, tra tấn và hành quyết. Vào tháng 3 năm 1314, Đại sư của dòng Đền, Jacques de Molay, bị thiêu sống ở Paris. Cả Philip IV và Clement V đều chết cùng năm đó, làm dấy lên tin đồn rằng Đại sư dòng Đền đã nguyền rủa họ trước khi chết. Toàn bộ sự việc không chỉ là một vết nhơ mà còn là một vết máu trên Giáo hội Thiên chúa giáo. Để làm hài lòng vị vua Pháp tham lam, một vị giáo hoàng yếu đuối đã đàn áp một giáo phái mà các thành viên đã hy sinh mạng sống để phục vụ Giáo hội và cho những giáo dân Thiên Chúa của họ. Đó là một trong những vụ xét xử oan sai bất công lớn nhất của giáo hoàng trong lịch sử.
Người kế vị của Clement V – John ΧΧΙΙ (1316-34), đã 70 tuổi, từng một ứng cử viên thỏa hiệp sau hai năm mật nghị khác – nhận được một kho bạc trống rỗng. Trước khi chết, Clement đã phân phát số lượng tài sản kết xù của giáo hội cho các vị vua Anh, Pháp và gia đình ông như thể đó là tài sản riêng của mình.
May mắn thay, John XXII là một nhà quản lý có kinh nghiệm, trước đây từng giữ chức trưởng phòng hành chính của vua Pháp, và khi qua đời, ông để lại ngôi giáo hoàng trong tình trạng sung mãn hơn nhiều. Trước sự thất vọng chắc chắn của các hồng y, những người mà tuổi tác của ông có thể gợi ý một giáo triều ngắn ngủi, ông đã trị vì trong 18 năm, điều này giúp ông có nhiều thời gian để lấp đầy Hồng y đoàn với những người thân thích của mình.
Vào thời điểm John XXII qua đời năm 1334, triều đình giáo hoàng đã được thành lập vững chắc ở Avignon. Phần lớn các hồng y người Pháp không có ý định quay trở lại La Mã, nơi mà đám đông ồn ào và các gia đình La Mã thù địch chỉ còn là ký ức xa vời. Người đàn ông họ bầu chọn kế vị John XXII, một cựu điều tra viên của giáo hoàng lấy tên là Benedict XII (1334-42), đã thúc đẩy xây dựng một cung điện lớn của giáo hoàng, Palais Vieux, vẫn còn tồn tại ở Avignon cho đến ngày nay. Mặc dù quyết định không dời triều đình của ông chắc chắn làm hài lòng các hồng y đồng nghiệp của mình, nhưng thái độ của Benedict XII đối với nạn tham nhũng và gia đình trị lại không: ông không tán thành việc lạm dụng, từ chối bổ nhiệm bất kỳ người thân nào của mình vào các chức vụ trong Giáo hội.
Trái lại, người kế vị ông, Clement VI (1342-52), lại có khuynh hướng khác. Là người yêu thích sự xa hoa và tiêu xài hoang phí, sống giống một ông hoàng thời Phục hưng hơn là một giám mục, ông cũng phong hồng y không ít tám người thân của mình.
Các hồng y có thể một lần nữa sống buông thả, nhưng điều độ phải trả giá. Khoản vay để vua Pháp tài trợ cuộc chiến của ông ấy, và tính chi tiêu ngông cuồng (bao gồm cả quà tặng cho người thân của mình), cùng với việc giáo hoàng mua Avignon từ người dân Angevins vào năm 1348, một lần nữa kho bạc trống rỗng. Để đảm bảo giáo triều vẫn có thể hoạt động, Clement VI đã tạo mới lợi ích để bán, và gây quỹ thuế của giáo hoàng, tống tiền họ qua các mối đe dọa của vạ tuyệt thông và khi nào điều đó không hiệu quả, thì dùng đến vũ lực. Những biện pháp tuyệt vọng này gây ra nhiều bất mãn. Edward III của Anh, rõ ràng là miễn cưỡng tài trợ cho một tổ chức rõ ràng là liên kết với chế độ quân chủ Pháp, đã đáp lại một yêu cầu nổi tiếng: ‘Chúa Jesus có ý định cho con chiên ăn chứ không phải xén lông chúng!’ Tuy nhiên, đến cuối triều đại của Clement VI, dân số phải đóng thuế đã giảm xuống: Cái Chết Đen (nạn dịch hạch) đã xóa sổ từ 30 đến 60% dân số châu Âu.
Giáo hoàng quay trở lại với chính sách thắt lưng buộc bụng dưới thời Innocent VI (1352-62), người quá kinh hoàng trước chính sách xa hoa của Clement VI. Innocent VI đã dự tính quay trở lại La Mã, đi xa đến mức cử một vị hồng y cứng rắn hơn của mình – một quân nhân đã được đào tạo- để lại lập lại trật tự cho lục địa Ý; nhưng sứ mệnh không đạt được gì và gần như khiến ngôi giáo hoàng bị phá sản. Người kế vị ông, cựu tu sĩ khắc khổ Urban V (1362-70), đã quay trở lại La Mã một thời gian ngắn trong ba năm, trong thời gian đó ông đã thực hiện thành công nhiều công việc trùng tu. Tuy nhiên, cuối cùng, một phần là do sự nài nỉ của các hồng y Pháp, một phần là do ngán ngại trước tình trạng bẩn thỉu của La Mã và mệt mỏi vì những âm mưu của nó, Urban V trở lại Avignon, chết ở đó năm 1370. Chức giáo hoàng rơi vào tay người kế nhiệm ông, Gregory XI (1370-78), cháu trai của Clement VI, cuối cùng tái lập giáo triều ở La Mã.
Ngay sau khi Gregory XI được bầu, cuộc nổi dậy đã nổ ra ở phần lớn nước Ý. Một số thành phố đã thành lập một liên minh nhằm lật đổ quyền lực thế tục của giáo hoàng. Ngay cả trong thời đại mê tín đó, người ta vẫn cảm thấy khó chịu khi ách giáo hoàng trải rộng trên phần lớn bán đảo Ý. Gregory XI đã thuê hàng nghìn lính đánh thuê người Breton để dập tắt cuộc nổi dậy. Người ông trao quyền chỉ huy, Hồng y Robert của Geneva, nổi tiếng khi ra lệnh tàn sát toàn bộ người dân thị trấn Cesena ở bờ biển phía đông bắc của bán đảo. Nhận thấy quân lính của mình trù trừ tuân theo mệnh lệnh, ông nhất quyết yêu cầu họ tuân theo và kêu lên, ‘Sangue et sangue!’ (Máu và máu!). Các ước tính thận trọng về số người chết nằm trong khoảng từ 2.500 đến 5.000. Vì vai trò của mình trong việc ra lệnh thảm sát, Robert đã được mệnh danh là ‘Đồ tể của Cesena’. Đến thời điểm thích hợp ông sẽ được bầu làm giáo hoàng, mặc dù Giáo hội chỉ công nhận ông là một ngụy giáo hoàng.
Giáo hoàng trở lại La Mã
Điều cuối cùng đã thúc đẩy Gregory XI quyết tâm quay trở lại La Mã là chuyến thăm của một phụ nữ Ý đến từ Siena tên là Catherine Benicasa. Mặc dù rất có thể hơi điên – bà ấy thường xuyên tự đánh mình bằng dây xích sắt và mơ được đính hôn với Chúa Kitô, nhấn mạnh rằng bà ấy thậm chí có thể nhìn thấy một chiếc nhẫn trên ngón tay mình. Catherine đã nổi tiếng ở Châu Âu là người thực hiện các phép lạ và cuối cùng được được phong thánh và làm thánh bảo hộ của nước Ý. Sâu sắc đau khổ vì sự vắng mặt của Giám mục La Mã trong giáo phận thích hợp của ông, vào năm 1376, bà đến thăm Gregory XI ở Avignon và khuyến khích ông quay trở lại. Dù có phải do chuyến thăm của bà hay không, Gregory XI đã lên đường đến La Mã vào năm sau và đắc thắng tiến vào thành phố vào tháng 1 năm 1377. Nhận thấy Cung điện Lateran, dinh cơ truyền thống của các giáo hoàng, đã rơi vào tình trạng hư hỏng, ông đã cư trú tại Vatican. Từ ngày này trở đi, Vatican, thay vì Cung điện Lateran, trở thành nơi ở của giáo hoàng, mặc dù Vương cung thánh đường Thánh John Lateran tiếp tục (và vẫn hiện tiếp tục) là trụ sở của Giám mục La Mã. Có lẽ ông đã ước mình đừng quay lại. La Mã đang ở trong tình trạng khủng khiếp, với những tòa nhà đổ nát và cơ sở hạ tầng hư hỏng và bất chấp những nỗ lực tốt nhất của Gregory XI để lập lại trật tự, các thành bang của Ý vẫn chìm trong xung đột vĩnh viễn. Các hồng y, những người đã phản đối mạnh mẽ sự trở lại của ông, cảm thấy hoàn toàn được minh oan khi một cuộc nổi dậy buộc giáo hoàng phải rời khỏi thành phố, và cái chết của ông một năm sau đó dường như là cái cớ hoàn hảo để họ quay trở lại cuộc sống thoải mái ở Avignon. Tuy nhiên, người La Mã lại có những ý tưởng khác. Họ đã phải chịu thiệt hại về mặt kinh tế và chính trị do sự vắng mặt của giáo hoàng và không có ý định để các hồng y đưa ông trở lại Avignon. Họ muốn giáo hoàng của họ trở lại.
Ghi chú về việc phong thánh
Có bốn giai đoạn để trở thành thánh. Đầu tiên, một người được phong là Tôi tớ Chúa, có nghĩa là họ đang được Giáo hội điều tra để có thể được phong thánh. Thứ hai, người đó được tuyên bố là đáng kính, nghĩa là họ được công nhận là đã sống với ‘đức hạnh dũng cảm’, tức là thực hiện được những hành động đức hạnh phi thường. Thứ ba, người đó được tuyên phúc và được ban danh hiệu ‘Chân Phước’, có nghĩa là họ đã vào thiên đàng và có thể can thiệp thay cho những người cầu nguyện nhân danh họ. Đây là nấc thang áp chót trên bậc phong thánh. Thứ tư, người đó được phong thánh – được bổ sung vào hàng thánh. Do đó, được ở trước mặt Thiên Chúa, họ đáng được mọi người tôn thờ (trong khi những người được phong chân phước chỉ đáng được tôn kính ở địa phương).
Việc ban Chân Phước đòi hỏi bằng chứng cho thấy ít nhất một phép lạ đã được thực hiện nhờ người này phù hộ sau khi họ qua đời. Việc phong thánh thường yêu cầu bằng chứng cho ít nhất một phép lạ bổ sung sau lễ phong chân phước, mặc dù yêu cầu này có thể và thường được giáo hoàng miễn trừ.
Các vị thánh ban đầu được vinh danh sau khi họ qua đời, nhưng theo thời gian, Giáo hội nhận thấy cần phải thắt chặt quá trình phong thánh. Vào năm 1234, Giáo hoàng Gregory IX đã thiết lập các thủ tục để điều tra cuộc đời của các ứng cử viên được phong thánh và bất kỳ phép lạ nào được cho là do họ thực hiện, và quá trình này kể từ đó ngày càng trở nên mang tính pháp lý hơn.
Có một ủy ban chuyên trách ở La Mã là Ban Tuyên Thánh được thành lập năm 1588 bởi Sixtus V, mặc dù dưới một tên gọi khác (Ban Lễ nghi), nhằm điều tra các yêu cầu phong chân phước và phong thánh. Cuộc đời của bất kỳ ứng cử viên tiềm năng nào đều phải trải qua quá trình xem xét kỹ lưỡng và thu thập và xem xét càng nhiều bằng chứng càng tốt. Cho đến gần đây, Ban Tuyên Thánh bao gồm một ‘người biện hộ của ma quỷ’ – advocatus diabolus, người có vai trò kiểm tra cuộc đời và quy kết các phép lạ của những cá nhân được đề nghị phong chân phước hoặc phong thánh. Ông ta phải có cái nhìn hoài nghi về tính cách của ứng cử viên và đặt câu hỏi về bằng chứng cho bất kỳ phép lạ nào. Tuy nhiên, vai trò này đã bị bãi bỏ vào năm 1983 bởi John Paul II, người đã phong chân phước và phong thánh cho nhiều người hơn tất cả những người tiền nhiệm cộng lại. Chính John Paul II cũng được phong thánh chỉ chín năm sau khi ngài qua đời. Giáo hoàng Francis cũng không ngại việc phong thánh: tính đến tháng 4 năm 2017, ngài đã phong thánh cho 36 người, trong đó có Mẹ Teresa.
Giáo hội Thiên chúa hiện công nhận khoảng 10.000 vị thánh, mặc dù không có danh sách chính xác. Trong số 266 vị giáo hoàng cho đến nay có 83 vị đã được phong thánh. Phần lớn được tôn vinh trong thiên niên kỷ thứ nhất, và cho đến gần đây chỉ có 5 giáo hoàng trong thiên niên kỷ thứ hai được phong thánh. Tuy nhiên, gần đây việc phong thánh đã trỗi dậy. Trên thực tế, bảy trong số mười vị giáo hoàng gần đây nhất đã được phong thánh hoặc đang trong quá trình xét phong thánh. Đó là tiến trình mất thời gian và tốn kém – nhà báo người Ý Gianluigi Nuzzi vào năm 2015 đã ước tính chi phí trung bình là 500.000 euro – và thậm chí quy trình này đã bị ô nhiễm bởi nạn tham nhũng.