Lược sử các Giáo Hoàng- Bài 14

Christopher Lascelles

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 13

Cao điểm Quyền lực của Giáo hoàng

Vì bản chất con người ẩn dưới tấm áo giám mục, với khuynh hướng mạnh mẽ lạm dụng quyền lực được giao phó cho nó; và quyền lực càng lớn thì sự cám dỗ càng mạnh mẽ và sự lạm dụng càng tồi tệ hơn”.

Philip Schaff, Lịch sử Giáo hội Cơ đốc giáo, Tập 3, ch 5

Người kế vị Celestine III, Innocent III (1198-1216), ở tuổi 37, là một trong những giáo hoàng trẻ nhất thời trung cổ. Sức trẻ và nghị lực của ông là yếu tố quan trọng trong cuộc bầu cử của ông và cũng cho phép ông đảm nhận một vai trò tích cực hơn nhiều trong các công việc của Giáo hội. Hơn nữa, một giáo triều có thời gian tồn tại ngang bằng với thời gian của 5 vị tiền nhiệm cộng lại – đã cho phép ông có thời gian để thực hiện các kế hoạch của mình, và khoảng trống quyền lực ở châu Âu khiến ông về cơ bản không bị đế quốc can thiệp. Với sân khấu đã được thiết lập, ông ta có thể đã đạt được rất nhiều. Tuy nhiên, thật không may,  giáo triều của ông được đặc trưng bởi sự tập trung không ngừng vào việc áp đặt quyền lực của mình đối với Giáo hội và xóa bỏ dị giáo, điều mà ông coi là hai mặt của cùng một đồng tiền.

Sinh ra trong một gia đình Ý giàu có, Innocent III ban đầu được chú của ông, Giáo hoàng Clement III (1187-91) phong làm hồng y. Ngôi vị giáo hoàng sau đó cũng sẽ được chiếm giữ bởi cháu trai của Innocent, Gregory IX (1227-41), và cháu con ông chú của ông, Alexander IV (1254-61). Mặc dù gia đình ông rõ ràng có sở trường nắm giữ quyền lực một khi họ có được nó, nhưng Innocent vẫn là một cá nhân ấn tượng theo đúng nghĩa của ông: ‘không chỉ là một luật gia xuất sắc, một nhà quản lý, một nhà ngoại giao, một nhà thần học tài năng, sắc sảo và một nhà hùng biện mà còn là một nhà cai trị bẩm sinh với bản năng quyền lực. Gia đình chắc chắn đã không tiếc bất cứ chi phí nào cho việc học hành của ông, trả tiền cho ông học thần học ở Paris và giáo luật ở Bologna.

Quyền tự do hành động tương đối của Innocent là kết quả của cái chết đột ngột của Henry VI vào năm 1197, tiếp theo là cái chết của vợ ông, Constance xứ Sicily, vào năm 1198. Con trai sơ sinh của họ, Frederick II (cháu nội của Frederick I Barbarossa), trở thành người giám hộ của Innocent III. Vì các đại cử tri Đức từ chối xác nhận Frederick II làm hoàng đế và không thể thống nhất ai là người kế vị Henry VI, nước Đức vẫn bị chia rẽ cho đến năm 1208. So với những người tiền nhiệm, đây là một vị trí đáng ghen tị, đặc biệt đối với một giáo hoàng tin rằng mình ‘thấp hơn Chúa nhưng cao hơn con người… người phán xét tất cả và không bị ai phán xét.’ Theo cách tương tự, ông tuyên bố ngay sau khi kế vị: ‘Giống như Mặt trăng lấy ánh sáng từ Mặt trời, và thực sự thấp hơn nó về số lượng và chất lượng, về vị trí và quyền lực, quyền lực hoàng gia cũng vậy, có được vẻ huy hoàng về phẩm cách của mình từ quyền lực giáo hoàng.’ Một trường hợp quá đáng của folie de grandeur (tiếng Pháp: tính ngông cuồng tự đại.) Nếu ông ta buộc phải đối phó với một vị hoàng đế mạnh mẽ chứ không phải là một đứa trẻ đơn thuần, người ta có thể dễ dàng đoán trước được hậu quả gì có thể xảy ra.

Innocent III có lòng căm thù bệnh hoạn đối với bất kỳ ai thách thức quyền lực của mình. Sau này trong triều đại của ông, vào năm 1209, ông đã ra vạ tuyệt thông Vua John của nước Anh vì từ chối công nhận ứng viên của Innocent III cho chức Tổng giám mục Canterbury và đặt toàn bộ nước Anh dưới sự cấm đoán. Khi John cuối cùng tuân theo ý muốn của giáo hoàng, Innocent III đã ủng hộ nhà vua bằng cách tuyên bố vô hiệu hóa Magna Carta (Đại Hiến chương) năm 1215, theo đó các quý tộc Anh đã cố gắng kiềm chế hành động cướp bóc của nhà vua của họ, và từ đó đã trở thành biểu tượng quốc tế của tự do. Đó là, Innocent III nói,  ‘một sự xâm phạm bất hợp pháp vào các đặc quyền của vị vua được Chúa chỉ định.’ Sự kiện triều đại của John được đặc trưng bởi nạn tống tiền và bạo lực như thường lệ, không quan trọng lắm với Giáo hoàng.

Trong khi Innocent III thực sự tin rằng dị giáo thậm chí còn nguy hiểm hơn Hồi giáo – một con rắn lục ẩn nấp trong cái nôi của Cơ đốc giáo đang lôi kéo các linh hồn rời xa Giáo hội – nó cũng là một cái cớ thuận tiện để tấn công những phe phái chống lại việc củng cố quyền lực của giáo hoàng. Sự bất đồng với giáo hoàng bây giờ có thể được coi là dị giáo và được giải quyết thich đáng. Giáo dân Cathar, với niềm tin không chính thống và từ chối nộp thuế thập phân, do đó đã khiêu khích gấp đôi, và ông quyết định rằng họ phải bị tiêu diệt trước khi lây nhiễm cho người khác, như thể họ là những con chuột mang bệnh dịch hạch.

Cuộc thập tự chinh của người Albigensian

Các khu vực Languedoc miền nam nước Pháp, nơi người Cathar tụ tập, được kiểm soát bởi một số gia đình quyền lực, trung thành với nhiều vị vua châu Âu bao gồm cả các vị vua của Pháp và Aragon ở Tây Ban Nha ngày nay. Innocent III đã rất tức giận khi chủ đất chính của vùng Raymond VI ở Toulouse từ chối đàn áp những kẻ dị giáo trên vùng đất của mình. Sự tức giận của ông ta càng tăng lên khi Vua Philip II của Pháp, dù sau đó được Innocent III viết thư hứa hẹn dâng toàn bộ Languedoc để đổi lấy cuộc chiến chống lại những kẻ dị giáo, vẫn nhất định  từ chối. Philip đang bận tiến hành một cuộc chiến tốn kém với người Anh và, dù thế nào đi nữa, việc gây chiến với các chư hầu của mình đơn giản không phải là việc nên làm.

Không có sự trợ giúp từ địa phương, Innocent III đã bổ nhiệm ba tu sĩ dòng Xitô do Arnaud Amaury, người đứng đầu giáo phái của họ với tư cách là đại diện cao cấp của giáo hoàng, lãnh đạo để đưa người Cathar trở lại với nền nếp Thiên chúa giáo. Nhiều cuộc tranh luận công khai đã được tổ chức nhằm thuyết phục người Cathar từ bỏ đường lối dị giáo của họ, nhưng kế hoạch đã thất bại. Sự tương phản giữa những giáo sĩ thích sống lạc thú thừa mứa với phong cách sống nghèo khó, giản dị của những người thuyết giáo Cathar không làm gì được để thúc đẩy chính nghĩa của Giáo hội. Cuối cùng, một tu sĩ người Tây Ban Nha, Domingo de Guzmán, đã khuyến nghị các quan chức đại diện giáo hoàng áp dụng những cách khổ hạnh hoàn hảo của phái Cathar để chống lại bất kỳ lời chỉ trích nào, nhưng đã quá muộn để có bất kỳ tác dụng nào.

Khi sự thuyết phục nhẹ nhàng thất bại, các quan chức giáo hoàng chuyển sang biện pháp gây sợ hãi, đe dọa giới quý tộc địa phương – nhiều người trong số họ theo Cathar – sẽ bị rút phép thông công và gánh chịu cơn thịnh nộ của La Mã trừ khi họ chịu truy lùng và bắt bớ những kẻ dị giáo. Khi một giáo sĩ trong đoàn bị sát hại, tình hình trở nên xấu đi và Amaury phẫn nộ đã tìm kiếm sự ban phép của giáo hoàng để rao giảng một chiến dịch chống lại toàn bộ khu vực. Innocent III đã chấp thuận yêu cầu và cho biết rằng bất kỳ ai tham gia cuộc thập tự chinh chống lại người Cathar sẽ nhận được đất đai thuộc sở hữu của những kẻ dị giáo cũng như nhận được “sự xá tội’ (tức được giảm thời gian luyện ngục một cách hiệu quả – xem ghi chú ở cuối chương này). Lời đề nghị này rất hấp dẫn nhất là vì nó có nghĩa là người ta có thể chiến đấu với những kẻ dị giáo ở gần nhà hơn và không phải đối mặt với cuộc hành trình gian khổ đến Palestine để lãnh nhận đặc ân xá tội. Chẳng bao láu, Philip II của Pháp đã chịu áp lực từ các quý tộc của mình nhượng bộ cho họ tham gia cuộc thập tự chinh.

Được đặt theo tên thị trấn Albi ở khu vực Languedoc ở miền nam nước Pháp, nơi được cho là điểm nóng của dị giáo Cathar, các cuộc Thập tự chinh  Albigensian kéo dài hơn 20 năm và người Cathar vẫn bị săn lùng cho đến tận thế kỷ 14. Toàn bộ ngôi làng bị san bằng và hàng trăm người bị thiêu cháy.

Năm 1209, quân thập tự chinh đến thị trấn Béziers. Mặc dù chỉ có vài trăm cư dân trong thị trấn là người Cathar, vài nghìn đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã bị tàn sát. Chính tại Béziers, Arnaud Amaury được cho là đã đưa ra tuyên bố đáng nhớ nhất trong toàn bộ cuộc thập tự chinh. Khi được quân thập tự chinh hỏi làm thế nào để phân biệt giữa người dị giáo và người Thiên chúa giáo tốt trong thị trấn mà họ sắp xâm chiếm, Arnaud được cho là đã nói với quân thập tự chinh: ‘Hãy giết tất cả bọn chúng, Chúa sẽ biết rõ ai là con chiên của ngài’. Vụ thảm sát chắc chắn đã phục vụ được mục đích của nó. Khi tin tức về nó lan truyền, hết thị trấn này đến thị trấn khác đơn giản là xin đầu hàng thay vì chịu chung số phận như Béziers.

Innocent III đã hoàn toàn nhận thức được hậu quả đẫm máu của các cuộc thập tự chinh; quân thập tự chinh đã chiến đấu được một thế kỷ vào thời điểm ông được bầu. Ông chỉ cần nhìn lại những báo cáo về cuộc thập tự chinh đầu tiên vào cuối thế kỷ 11.

Các giáo hoàng kế nhiệm đã kêu gọi một cuộc thập tự chinh để giành lại Jerusalem kể từ khi thành phố này bị chiếm lại vào năm 1187 bởi chiến binh Ả Rập nổi tiếng và người Kurd, Salah ad-Din Yusuf ibn Ayyub (Saladin). Frederick I Barbarossa đã đáp lại lời kêu gọi vào năm 1189 nhưng đã chết trên đường đến Thánh địa, được cho là đã rơi xuống sông khi mặc áo giáp, và người Đức coi đây là một điềm xấu nên đã quay lại. Richard the Lionheart của Anh và Philip II của Pháp đã tiếp tục cuộc thập tự chinh vào năm sau, nhưng hai vị vua đã cãi nhau, và mặc dù Richard vẫn tiếp tục tiến về Jerusalem nhưng ông đã không chiếm được thành phố.

Cuộc thập tự chinh thứ tư Khi Innocent III trở thành giáo hoàng vào năm 1198, việc chiếm lại Jerusalem là mục tiêu hàng đầu trong chương trình nghị sự của ông, và trong vòng hai năm, ông bắt đầu yêu cầu các nhà cai trị châu Âu lãnh đạo một cuộc thập tự chinh. Lần này nó quyết định tấn công từ phía nam bằng tàu (qua Ai Cập) thay vì đi theo đường bộ từ phía bắc. Doge (thủ lĩnh) của Venice đồng ý đóng góp tàu để chở quân thập tự chinh, nhưng ông có một điều kiện: quân thập tự chinh phải giúp Cộng hòa Venice khẳng định lại yêu sách của mình đối với thành phố Zara (ngày nay là Zadar ở Croatia), một thành phố chư hầu nổi loạn đã đặt mình dưới sự bảo vệ của Vua Hungary. Innocent III đã cấm cuộc tấn công, đặc biệt là vì Vua Hungary đã tự mình thực hiện lời thề thập tự chinh, nhưng ông đã bị quân thập tự chinh phớt lờ.

Sau một thời gian ngắn và chiến dịch thành công, một quyết định được đưa ra ở Zara để giúp người thừa kế hợp pháp ngai vàng Byzantine – Hoàng tử Alexius Comnenus –  đánh bật một kẻ giả danh khỏi Constantinople. Quyết định này thật dễ dàng. Hoàng tử Alexius đã hứa với quân thập tự chinh, những người luôn thiếu tiền mặt, không chỉ trả lương cho họ mà còn cung cấp thêm quân cho họ cho chiến dịch chiếm lại Jerusalem. Hơn nữa, ông còn đề xuất giao Giáo hội Byzantine cho La Mã, điều mà Innocent III chắc chắn sẽ rất vui mừng. Zara đã bị khuất phục sau hai tuần và quân thập tự chinh có thể đã nghĩ rằng Chúa đứng về phía họ.

Điều họ không thể lường trước được là việc mưu tính đến với người dân Constantinople một cách rất tự nhiên. Quân thập tự chinh thực sự đã thành công trong việc tạm thời đưa Alexius trở lại ngai vàng vào năm 1203, nhưng ông đã bị phế truất trong một cuộc đảo chính cung đình vào tháng 1 năm 1204 và người chiếm giữ ngai vàng mới từ chối trả tiền cho quân thập tự chinh mà Alexius đã hứa với họ. Mệt mỏi, đói khát và giận dữ, quân thập tự chinh đáp trả bằng cách cướp phá thành phố. Vấn đề là họ đã làm không nương tay và kết quả là cuộc thập tự chinh thứ tư đã đi vào sử sách như một cơn cuồng loạn hủy diệt. Quân thập tự chinh không chỉ giết chóc và hãm hiếp một cách không kiềm chế, hoàn toàn coi thường lời thề thập tự chinh của họ, mà họ còn lột sạch kho báu của thành phố nhằm cố gắng đền bù cho số tiền mà họ đã được Alexius hứa. Norwich nói với chúng ta, ‘Chưa bao giờ kể từ cuộc xâm lược man rợ, châu Âu lại chứng kiến ​​​​một cuộc tàn phá và tàn bạo như vậy; chưa bao giờ trong lịch sử lại có nhiều vật phẩm đẹp đẻ, nhiều công trình thủ công điêu luyện lại bị phá hủy một cách trắng trợn đến vậy chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.’

Chất nặng kho báu, thay vì tiến tới giải phóng Jerusalem, đội quân thập tự chinh lại quay về quê hương. Trước khi rời đi, họ đã thay thế thượng phụ chính thống của Constantinople bằng một thượng phụ La tinh, qua đó phá hủy mọi vết tích thiện chí còn sót lại giữa các Giáo hội Đông phương và Tây phương.

Công đồng Lateran Thứ tư

 Năm 1213 Innocent III triệu tập một công đồng Giáo hội ở La Mã. Công đồng Lateran thứ tư hay Lateran IV – vượt quá quy mô của tất cả các công đồng trước đó và là công đồng có ảnh hưởng nhất thời trung cổ. Innocent muốn tập trung cải cách việc tiêu chuẩn hóa Giáo hội, niềm tin Cơ đốc và một lần nữa là khôi phục Thánh địa. Ông cũng nhân cơ hội này để lên án người Cathar, kêu gọi các vị vua theo đạo Thiên chúa tiêu diệt tận gốc những kẻ dị giáo trên vùng đất của họ. Để chắc chắn gấp đôi về lòng trung thành của tất cả con chiên Thiên chúa giáo, công đồng đã ra quyết định rằng  tất cả những giáo dân Thiên chúa phải đi xưng tội ít nhất mỗi năm một lần.

Cùng với việc thực hiện các biện pháp chống lại những kẻ dị giáo, Lateran IV cũng loại trừ người Do Thái nắm giữ các chức vụ dân sự trong hành chính, và yêu cầu họ mặc quần áo đặc biệt để dễ nhận biết, tránh ‘sự pha trộn đáng nguyền rủa’ giữa người Do Thái và người Cơ đốc. Đây chỉ là một trong nhiều sự sỉ nhục mà các Kitô hữu gây ra cho người Do Thái trong suốt nhiều thế kỷ. Những vụ thảm sát liên tục của quân thập tự chinh sau đó còn cộng thêm việc trục xuất toàn diện khỏi các nhà nước: người Do Thái bị trục xuất khỏi Pháp năm 1182 và một lần nữa vào năm 1306, khỏi Anh năm 1290, khỏi Hungary năm 1360, khỏi Vienna năm 1421, khỏi Tây Ban Nha năm 1492 và khỏi Bồ Đào Nha năm 1497. Có cả một danh sách dài các giáo hoàng đã áp đặt các hạn chế đối với người Do Thái, mặc dù, với thói đạo đức giả, nhiều giáo hoàng khá vui vẻ tận dụng các cơ sở cho vay tiền của người Do Thái đã bị tịch thu để tiếp tục những dịch vụ vốn bị cấm đối với những người Thiên Chúa theo luật của Giáo hội.

Mặc dù Innocent III đột ngột qua đời vào năm 1216, những người kế vị ông vẫn tiếp tục kêu gọi tiến hành một cuộc thập tự chinh chống lại người Cathar cho đến khi Vua Louis VIII của Pháp dẫn đầu một cuộc thập tự chinh gây hoang tàn cho toàn bộ khu vực. Languedoc cuối cùng đã được sáp nhập vào vương quốc Pháp vào năm 1229. Sau này, vào thế kỷ 18, nhà văn Khai sáng Voltaire đã bình luận rằng ‘chưa bao giờ có điều gì bất công như cuộc chiến chống lại người Albigensians’.

Cuộc chiến chống Giáo hoàng

Innocent III được kế vị bởi Honorius III (1216-27), người từng là gia sư cho Frederick II của Đức khi ông còn nằm dưới sự bảo vệ của giáo hoàng. Năm 1220, Honorius III làm lễ đăng quang Hoàng đế La Mã cho Frederick II (ngoài danh hiệu Vua nước Đức, mà ông đã nắm giữ từ năm 1212) với điều kiện ông phải tiến hành một cuộc thập tự chinh để giải phóng Thánh địa. Việc  Frederick II cứ trù trừ không sẵn lòng thực hiện việc đó đã khiến ông không chỉ một mà là hai lần bị rút phép thông công bởi người kế vị Honorius III, Gregory IX (1227-41), cháu trai của Innocent III. Tuy nhiên, điều này dường như không khiến Frederick II bận tâm nhiều: ông đã dành phần lớn cuộc đời mình được bao quanh bởi người Do Thái và người Hồi giáo và ông bị nghi ngờ sâu sắc bởi những người theo chủ nghĩa cơ yếu trong Giáo hội Thiên chúa. Ông là một trong những nhân vật hấp dẫn nhất thời Trung Cổ: có trình độ học vấn cao, nói được nhiều ngôn ngữ, có tính quốc tế và là người bảo trợ cho nghệ thuật và khoa học, ông luôn khao khát kiến ​​thức và ưa thích bằng chứng khoa học hơn là niềm tin tôn giáo, khác biệt với các vị vua đương thời. Vào thời của ông, ông được biết đến với cái tên Stupor mundi (Kỳ quan của thế giới).

Sau khi trở thành hoàng đế, Frederick II dành rất ít thời gian ở Đức, tạo cho nước này một hình thức tự trị một cách hiệu quả và dường như có ý định thiết lập cơ sở quyền lực của mình ở Ý. Điều này khiến ông mâu thuẫn với giáo hoàng, người luôn lo sợ bất kỳ mối đe dọa nào đối với quyền lực của mình. Cuối cùng, khi ông thực hiện chiến dịch thập tự chinh vào năm 1228 sau khi bị rút phép thông công vào năm 1227 vì không tham gia vào năm đó, ông đã thương lượng thành công việc trả lại Jerusalem mà không đổ máu và đã thêm Vua Jerusalem vào các danh hiệu khác của mình. Mặc dù vậy, phần thưởng của ông từ Gregory IX không phải là lời cảm ơn vì đã giành lại được Thành phố Thánh, mà là một vạ tuyệt thông thứ hai vì đã tham gia cuộc thập tự chinh trong thời gian bị vạ tuyệt thông trước!

CHÂU ÂU, khoảng 1250

Hơn nữa, khi trở về từ Jerusalem, Frederick II phát hiện ra rằng Gregory IX đã giải thoát  thần dân của Frederick khỏi lời thề trung thành và tung tin đồn rằng ông đã chết. Gregory IX thèm muốn Vương quốc của hai Sicilia (Sicily và miền nam nước Ý), và sự vắng mặt của Frederick II đã cho ông cơ hội giành quyền kiểm soát nó một cách khá lén lút. Mặc dù vậy, Frederick II đã làm hòa với giáo hoàng, dù chỉ là tạm thời, vì điều đó cho phép ông tự do khẳng định quyền lực của mình ở miền bắc nước Ý. Khi Gregory IX phát hiện ra rằng Frederick II đã cố gắng thuyết phục một số hồng y của mình để phế truất ông ta, Gregory ngay lập tức liên minh với các thành phố ở miền bắc nước Ý, nơi đã thành lập một liên minh phòng thủ chống lại hoàng đế và kêu gọi các vị vua châu Âu giúp đánh bại hoàng đế trong một thập tự chinh của người Cơ đốc chống lại người Cơ đốc. Tức giận, Frederick II đáp trả bằng cách kêu gọi các hoàng thân của Cơ đốc triều đoàn kết chống lại giáo hoàng, yêu cầu ông từ bỏ quyền lực thế tục và đưa Giáo hội trở lại lý tưởng đã mất về lối sống nghèo khó của các tông đồ. Năm 1241, ông bao vây La Mã và bốn tháng sau Gregory IX qua đời.

Cái chết của Gregory IX không được mọi người thương tiếc. Nếu có thì cái chết của ông được chào đón bởi những người La Mã phản đối triều đại giáo hoàng và bởi những người ủng hộ Frederick II. Đó chắc chắn là một phước lành cho những ai từng trải qua Tòa án dị giáo.

Không tin rằng các giám mục địa phương có lòng nhiệt thành cần thiết để truy lùng những kẻ dị giáo, Gregory IX, trong sắc lệnh Excommunicamus, năm 1231 đã thành lập các tòa án thẩm vấn chịu trách nhiệm trực tiếp trước giáo hoàng, trái ngược với các tòa án giáo hội địa phương vẫn là chuẩn mực từ trước đến nay. Do đó, Tòa án dị giáo thời Trung cổ đã bắt đầu (đừng nhầm lẫn với Tòa án dị giáo Tây Ban Nha thế kỷ 15-19 hoặc Tòa án dị giáo La Mã thế kỷ 16-19 xem bên dưới). Năm 1233, ông đã chỉ thị cho Dòng Anh em Thuyết giáo Đa Minh (Dòng Đa Minh) – dòng do Domingo de Guzmán người Tây Ban Nha thành lập năm 1216 – lãnh đạo Tòa án dị giáo ở tất cả các giáo phận ở Pháp. Những tu sĩ lang thang này – hoàn toàn vâng phục giáo hoàng – trở nên rất lo sợ rằng mình sẽ bị gọi là Domini Canes, ‘chó săn của Chúa’.

Các tu sĩ đi vào làng theo từng cặp, tỏ lòng thương xót đối với những kẻ dị giáo đã đến trình diện để thú nhận tội lỗi của mình, và tìm kiếm những ai không đến. Dân làng được khuyến khích thông báo về hàng xóm của họ như một cơ hội hoàn hảo để đáp trả những thù oán cũ. Còn ai không thú nhận ngay lập tức sẽ phải hứng chịu toàn bộ sức nặng của pháp luật mà không có khả năng kháng cáo. Các thầy tu không tham gia vào bất kỳ vụ hành quyết nào, tất nhiên, vì hành quyết liên quan đến việc đổ máu, và điều độ không phải là Cơ đốc giáo. Nếu các thầy tu xét thấy hình phạt là cần thiết, thì sau đó kẻ dị giáo bị kết án sẽ ‘được bàn giao cho quyền lực thế tục’ – tức được bàn giao cho chính quyền thế tục để trừng phạt – và phải chịu ‘món nợ hận thù’, có thể bao gồm bất cứ điều gì từ tù chung thân đến hành quyết. Nhờ đó, Giáo hội phủi sạch mọi trách nhiệm trực tiếp thi hành hình phạt không khác gì ‘vụ thể hiện phi thường’ trong thời hiện đại [một uyển ngữ chỉ việc đưa các nghi phạm khủng bố Hồi giáo ra nước ngoài để thẩm vấn bằng cách tra tấn ở một quốc gia khác nơi luật pháp về đối xử với tù nhân ít nghiêm ngặt hơn: ND]   và tự lừa dối rằng tay mình không vấy máu.

Người kế vị Gregory IX, Celestine IV (1241) được chọn chỉ sau hai tháng và chịu áp lực đáng kể. Nhưng người mà họ chọn chỉ sống được vài tuần, và các hồng y phải bắt đầu quá trình này một lần nữa, lần này mất trọn 18 tháng trước khi bầu được cựu phó phòng hành chính giáo triều, lấy tên là Innocent IV (1243-54).

Giáo hoàng Innocent IV cho phép tra tấn

Innocent IV là một giáo hoàng có tư tưởng mạnh mẽ, giống như những người tiền nhiệm, quyết tâm xóa bỏ dị giáo và chống lại sự can thiệp của hoàng gia vào công việc của giáo hoàng. Vào đầu triều đại của ông, vào năm 1244, khoảng 200 người Cathar đã bị thiêu chết sau khi tìm nơi ẩn náu trong lâu đài Montségur, nằm cách 100 km về phía nam của thành phố Toulouse. Quy mô khủng khiếp về sự kiện này chỉ nhằm mục đích thuyết phục Giáo hoàng rằng hoạt động điều tra của thập kỷ trước là chưa đủ và cần có các biện pháp mạnh mẽ hơn. Năm 1252, Innocent IV ban hành sắc lệnh extirpanda, đặc biệt cho phép sử dụng tra tấn để lấy lời thú tội từ những kẻ dị giáo, với điều kiện là họ không bị giết hoặc bị gãy tay hoặc chân. Giá đỡ, cấm ngủ, trấn nước và ‘đi tàu bay’ đều được sử dụng. ‘Đi tàu bay’ là lối tra tấn bằng cách trói các nạn nhân quắp tay ra sau lưng và sau đó dùng tay nâng cơ thể lên khỏi mặt đất và để cơ thể rơi xuống tự do. Nó thường dẫn đến ngạt thở do trật khớp nghiêm trọng. Không phải vô cớ mà nó được gọi là ‘Nữ hoàng Tra tấn’.

Innocent IV không phải là người Cơ đốc đầu tiên khai thác nỗi sợ hãi và nỗi đau đớn như một phương tiện để đưa mọi người vào nề nếp Thiên chúa giáo. Vinh dự đó thuộc về vị giám mục thế kỷ thứ năm (sau này là thánh!) Augustine thành Hippo, người đã đưa ra lý thuyết thần học cho rằng việc sử dụng vũ lực có thể chính đáng để cứu người khỏi bị đoa địa ngục. ‘Nhiều kẻ phải trước tiên được triệu hồi về với Chúa của họ bằng những lằn roi để cọ rửa tính trần tục, và ở một mức độ nào đó, giống như bọn nô lệ xấu xa hoặc những tên đào thoát mạt hạng’, ông tuyên bố. Rốt cuộc, chẳng phải Jesus cũng đã ép buộc Paul phải tin đạo trên đường đến Damasus bằng cách làm ông ta mù mắt sao? Chẳng phải người chủ đã nói với tên hầu của mình trong một  dụ ngôn của Jesus rằng, ‘Đi ra các đường tỉnh, đường làng cố ép mời mọi người vào để cho đầy nhà ta’ hay sao? Duy nhất Augustine đưa ra lời biện minh cho các giáo hoàng tương lai về bạo lực của các cuộc thập tự chinh, sự khủng bố của Tòa án Dị giáo và tất cả các cuộc chiến tranh tôn giáo.

Các nhà biện hộ Thiên chúa giáo tuyên bố rằng số người phải chịu đựng trong Tòa án dị giáo đã được thổi phồng quá cao; rằng tư duy thời trung cổ đã khác; rằng những vụ giết người cần phải được hiểu trong bối cảnh thời đại; rằng chính quyền thế tục đã làm hại nhiều người hơn, v.v., nhưng họ đã hiểu sai vấn đề. Sự thật vẫn là hàng ngàn người đã bị tra tấn và chết với sự cho phép rõ ràng của Giám mục La Mã, thông qua một sắc lệnh của giáo hoàng chứ không ai khác. Hầu như không có thông điệp về hòa bình, sự tha thứ và tình yêu mà tôn giáo này dựa vào đó để thành lập. Nhà sử học Giáo hội Döllinger Ignaz von đã mô tả Tòa án dị giáo là ‘[mâu thuẫn] với những nguyên tắc sơ đẳng nhất của công lý Cơ đốc giáo và tình yêu thương đối với người xóm giềng chúng ta.’

Nỗi sợ hãi và hoang mang do các phương pháp của Tòa án Dị giáo tạo ra đã vang vọng trong lịch sử gần đây. Các vụ bắt giữ vào ban đêm, không có người đại diện pháp lý chứng kiến, những hành động đe dọa, theo dõi, tra tấn, tịch thu tài sản và giữ kín thông tin về người tố giác hoặc thậm chí về bản chất các lời buộc tội đã được áp dụng bởi bất kỳ chế độ toàn trị và nhà nước cảnh sát nào. Hàng nghìn người may mắn thoát khỏi hình phạt nhục hình đã bị buộc phải đeo thánh giá màu vàng, không khác gì những huy hiệu màu vàng mà người Do Thái bắt buộc phải đeo theo lệnh của các giáo hoàng sau này. Điều buồn cười ở đây là Giáo hội bắt đầu với những nguyên tắc cao cả như vậy đã trở thành một chế độ chuyên chế côn đồ khác. Những người không thích sự so sánh giữa chế độ giáo hoàng và chế độ toàn trị chỉ cần tra từ ‘toàn trị’ trong từ điển: ‘liên quan đến một hệ thống chính quyền tập trung và chuyên quyền, đòi hỏi phải phục tùng hoàn toàn nhà nước trong đó các biểu hiện văn hóa và chính trị đối lập bị đàn áp bằng các biện pháp.là cưỡng bức.”

Sự kết thúc của đế chế

Không hài lòng với nhiều thành công của Frederick II, Innocent IV lấy cớ Frederick II từ chối nhường đất mà ông đã có được kể từ lần bị vạ tuyệt thông trước đó để rút phép thông công lần nữa. Hơn nữa, ông còn tuyên bố phế truất Frederick II và giải phóng thần dân của mình khỏi mối ràng buộc trung thành với ông.

Frederick II trả lời bằng cách viết thư cho các vị vua  theo đạo Thiên chúa rằng họ có nguy cơ phải đối mặt với sự đối xử tương tự: ‘Các ông có mọi thứ để lo sợ trước sự xúc phạm của một ông hoàng  của giới tăng lữ khi ông ta bắt đầu phế truất chúng ta, những người đã được tôn vinh một cách thiêng liêng bởi vương miện của hoàng gia’. Trong khi khẳng định rằng mình sẽ nắm giữ vương miện nhờ ân điển của Chúa và rằng ‘cả giáo hoàng … lẫn ma quỷ cũng sẽ không thể giật lấy được nó khỏi tôi’, nhưng cuối cùng, bệnh tật đã cướp đi vương miện của ông và ông qua đời vào năm 1250.

Với cái chết của Frederick II các cuộc đối đầu lớn giữa giáo hoàng và các hoàng đế, triều đại Hohenstaufen và thực tế là toàn bộ đế chế thời Trung cổ, tất cả đều đã kết thúc. Con trai của Frederick II, Conrad, chỉ sống sót được bốn năm và cháu trai của ông bị chặt đầu vào năm 1268 ở tuổi 16. Các vị vua của Pháp đặc biệt mong muốn ngăn chặn sự thống trị của Đức trên lục địa và sự phát triển của các công quốc, vương quốc và quốc gia độc lập, có nghĩa là không có vị hoàng đế tương lai nào chia sẻ quyền lực và ảnh hưởng như những người tiền nhiệm thời Trung cổ của họ.

Năm 1273, Rudolph I của Nhà Habsburg lên ngai vàng nước Đức. Tuy nhiên, vị hoàng đế mới này chỉ đơn thuần là người đứng đầu trên danh nghĩa của một liên minh lỏng lẻo gồm các nhà nước và công quốc và đã từ bỏ yêu sách của những người tiền nhiệm đối với các vùng đất ở miền trung và miền nam nước Ý.

Trong ngắn hạn, những tuyên bố về quyền lực của Giáo hoàng sẽ chỉ gia tăng. Nhưng mặc dù đế chế không còn là một thế lực đáng kể nữa, nhưng nó sẽ chứng tỏ chỉ là một chiến thắng trống rỗng cho giáo hoàng, vì sau đó ông ‘đã thất bại trong nỗ lực khẳng định vị trí của mình trong đế chế với tư cách là người đứng đầu chắc chắn đối với các dân tộc đang trỗi dậy ở Châu Âu.

Innocent IV sống lâu hơn Frederick II chỉ bốn năm. Người kế vị ông, lấy tên là Alexander IV (1254-61), là cháu trai của Gregory IX và cháu trai gọi Innocent III là ông bác. Không phải tự nhiên mà danh từ ‘nepotism’ (gia đình trị) – chỉ sự ưu ái đối với các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè – bắt nguồn từ tiếng Ý có nghĩa là  ‘nipote’ (cháu trai), Không chỉ các cháu trai của giáo hoàng được hưởng lợi; anh em, con trai, cháu trai và chắt của các giáo hoàng đều tự mình trở thành giáo hoàng. Đây có phải là một phần trong kế hoạch tổng thể của Chúa không? Hay câu trả lời tầm thường hơn một chút là các giáo hoàng đề cao một thành viên gia đình nhằm nâng cao lợi ích của gia đình họ? Điều này không có nghĩa là một số cháu trai của giáo hoàng này không có năng lực cao, nhưng rõ ràng là nhiều hồng y được tạo ra không phải vì họ sở hữu bất kỳ phẩm chất tuyệt vời nào, mà vì lý do đơn giản là họ có mối liên hệ gia đình với giáo hoàng đương nhiệm.

Lưu ý về việc xá tội

Giáo lý Thiên chúa giáo dạy rằng khi con người phạm tội thì phải bị trừng phạt. Nếu người có tội xưng tội với Chúa bằng tấm lòng thống hối, Chúa sẽ tha thứ hình phạt đời đời, nhưng vì đã xúc phạm đến Chúa nên phải chịu hình phạt tạm thời. Hình phạt này chỉ có thể được giảm bớt hoặc loại bỏ bằng cách sám hối (theo truyền thống là một hành động cầu nguyện hoặc tự hành xác như cạo đầu hoặc mặc bao tải một thời gian để chứng tỏ sự ăn năn) hoặc bằng cách chịu đau khổ trong.lò luyện ngục, một trạng thái trung gian giữa cuộc sống trần thế và cuộc sống vĩnh hằng trong đó những người không bị đày xuống địa ngục có thể chuộc tội và được thanh tẩy trước khi bước vào nước Chúa.

Chỉ có Jesus mới xứng đáng rũ bỏ hình phạt đời đời, nhưng Giáo hội khẳng định mình có thẩm quyền làm giảm bớt, hoặc thậm chí hủy bỏ, thời gian ở trong lò luyện ngục của các con chiên tội lỗi nếu y thực hiện các hành vi bác ái hoặc hiếu kính đẹp lòng Thiên Chúa như đọc kinh cầu, ăn chay, đi hành hương, v.v. Để công nhận, Giáo hội ban hành một ‘sự xá tội’, theo đó Giáo hoàng tha thứ hình phạt tạm thời đối với tội lỗi. Hơn nữa, Giáo hội có vô số phép xá tội để phân phát nhờ kết quả cuộc sống của các vị thánh tốt đến mức họ đã thực hiện nhiều công đức hơn mức cần thiết cho sự cứu rỗi của chính họ – để lại một ‘kho công đức’ cho Giáo hội để có thể phân phát lại khi thích  hợp.

Ân xá có thể là từng phần hoặc toàn bộ. Ân xá toàn bộ, chỉ có thể được Giáo hoàng đích thân ban phép, hủy bỏ toàn bộ nghĩa vụ hiện có, trong khi ân xá từng phần chỉ giải quyết một phần.. Chúng có thể được ban cho người sống, nhưng cũng có thể rút ngắn nỗi đau khổ của những người đang ở trong lò luyện ngục. Vì vậy, người sống có thể xin ân xá cho những người ở lò luyện ngục để rút ngắn thời gian ở đó. Việc nhận được ơn toàn xá ngay trước khi chết sẽ loại bỏ hình phạt phải ở trong lò luyện ngục và ngay lập tức được cất lên thiên đường.

Ân xá từng phần cũng có thể được ban bởi các giám mục và tổng giám mục trong giáo phận của họ, và bởi các giáo sĩ khác, được sự cho phép cần thiết của Giáo hội. Ân xá có thể mang tính phổ quát (có thể xin được ở bất kỳ nơi nào trên thế giới) hoặc tại địa phương; thường xuyên (có thể xin được bất cứ thời gian nào) hoặc tạm thời (chỉ vào những ngày nhất định hoặc trong những khoảng thời gian nhất định); thực tế (được gắn với một đồ vật như cây thánh giá hoặc chuỗi tràng hạt) hoặc cá nhân (không cần đồ vật).

Sự ân xá chỉ trở thành một học thuyết được Giáo hội công nhận vào thế kỷ 11, khi khái niệm về lò luyện ngục bắt đầu được áp dụng rộng rãi hơn và lần đầu tiên được phổ biến rộng rãi khi chúng được ban hành như một động lực khuyến khích việc tham gia vào các cuộc thập tự chinh. Cuối cùng, chúng cũng được trao cho những người tham gia vào các cuộc chiến không chỉ chống lại những kẻ dị giáo Cơ đốc  mà còn chống lại những kẻ thù chính trị của giáo hoàng.

Tại một thời điểm nào đó, Giáo hội chấp nhận đóng góp tài chính thay vì sự sám hối hoặc một hành động sùng đạo. Việc này có nghĩa là những ai không thể tham gia trong cuộc thập tự chinh giờ đây có thể trả tiền cho  ai đó đi thay họ.

Chẳng bao lâu, việc mua một phép xá tội đã đến lúc được coi là đủ để được tha thứ tội lỗi, ngay cả khi điều này chưa bao giờ là chủ đích ban đầu của Giáo hội. Ngoài ra, Giáo Hội nhanh chóng nhận ra lợi ích tài chính của việc bán phép ân xá. Đức Giáo Hoàng Boniface VIII đã nảy ra ý tưởng về Năm Thánh, trong đó con chiên Thiên Chúa giáo được ban phép xá tội toàn bộ nếu họ đến thăm thánh tích La Mã.

Người hành hương đóng góp quá hậu hĩnh đến nỗi những giáo hoàng sau cứ xướng lên Năm Thánh bất cứ khi nào kho bạc cạn kiệt.

Vào thế kỷ 15, Giáo hoàng Sixtus IV (1471-84) đã khẳng định một niềm tin từ lâu đã phổ biến rằng mọi người có thể thỉnh các phép xá tội vì lợi ích của các linh hồn trong lò luyện ngục. Thị trường xá tội mới này tỏ ra cực kỳ sinh lợi, mặc dù Giáo hội chia sẻ lợi nhuận với các ông hoàng, những người nhận được một phần thu nhập từ việc cho phép bán trò ân xá trên đất của họ.

Nhiều giáo hoàng đã ban hành phép ân xá để lấy tiền chi trả cho các chương trình xây dựng của họ. Thật vậy, chính tiền công xá tội – ban đầu được  Julius II ban hành và sau đó được ban hành lại dưới thời Leo X để quyên tiền xây dựng lại Nhà thờ Thánh Peter, điều này đã làm dấy lên sự chỉ trích của Martin Luther đối với toàn bộ hệ thống, dẫn tới cuộc Cải cách. Việc trả tiền ân xá cuối cùng đã bị bãi bỏ vào năm 1567.

Tuy nhiên, tệ ân xá không biến mất cùng với cuộc Cải cách. Một số giáo hoàng của thế kỷ 20 và 21 (bao gồm Paul VI, John Paul II, Benedict XVI và Francis) đã ban phép ân xá nhiều lần. Quả thực, chính việc được ban ân xá đã khuyến khích hàng trăm ngàn giáo dân Thiên chúa đến thăm La Mã trong các Năm Thánh 2000 và 2016. Đức Francis thậm chí còn tuyên bố rằng tất cả những người tham dự Ngày Tuổi trẻ Thế giới ở Brazil vào tháng 7 năm 2013 sẽ xứng đáng được hưởng ân xá tội. Ai không thể tham dự cũng có thể nhận được ân xá nếu họ theo dõi các sự kiện trên mạng xã hội. Đó chắc chắn là một cách để có được nhiều người theo dõi.

Các Giáo hội Tin lành và Chính thống bác bỏ học thuyết về sự xá tội, cho rằng cái chết của Jesus đã hoàn toàn đáp ứng tội lỗi và do đó tội nhân không cần phải làm việc gì thêm nữa. Họ tuyên bố quan điểm cho rằng tội lỗi vẫn không được tha thứ sau khi xưng tội trừ khi tội nhân phải chịu hình phạt tiếp theo là không có cơ sở kinh thánh. Cả hai Giáo hội này cũng bác bỏ hoàn toàn học thuyết về lò luyện ngục.

Luther gọi việc bán ân xá là sự lừa đảo tôn giáo (buôn thần bán thánh) đối với các tín hữu, coi chúng như một cách lợi dụng tài chính của những kẻ cả tin, và thật khó để không đồng ý với ông. Thật đáng lo lắng khi vẫn còn có người ở thế kỷ 21 tin rằng mình có thể dùng tiền mua được một hình phạt tưởng tượng nào đó bằng cách bước qua cửa của một nhà thờ cụ thể, lần hạt Mân côi, đọc Kinh thánh trong nửa giờ, thăm nghĩa trang hoặc làm dấu thánh. Khi bị thách thức về tính hiệu quả của các phép ân xá, Giáo hội trả lời rằng Giáo hội biết rằng các ân xá có tác dụng vì Giáo hội, thông qua các hội đồng của mình, đã tuyên bố điều đó; nếu chúng không có tác dụng thì chúng sẽ vô dụng, và Giáo hội sẽ giảng dạy sai lầm cho dù Christ đã hướng dẫn điều đó. Chúng ta sẽ gặp lại lý luận lòng vòng yếu ớt này khi nói đến vấn đề tránh thai ở chương 22.

Bất chấp nguồn gốc từ thời trung cổ, học thuyết về ân xá là một phần trong giáo lý không thể sai lầm của Giáo hội, trong đó mọi giáo dân Thiên Chúa phải tuyên xưng đức tin nếu không sẽ bị vạ tuyệt thông. Để biết thêm những cách nhận được ân xá tội ngày nay, bạn có thể tham khảo ‘The Enchiridion (hoặc sổ tay) về Ân Xá’, sổ tay chính thức của Giáo hội về những hành động và lời cầu nguyện sẽ mang lại sự ân xá.

‘Đức Mẹ Đồng Trình và các linh hồn nơi Lò Luyện ngục’ của Pedro Machuca, mô tả Mary, với sự tiếp tay của Jesus hài đồng, vắt sữa mẹ cho những linh hồn đáng thương trong lò luyện ngục (1517)

Bình luận về bài viết này