
Neal Bascomb
Trần Quang Nghĩa dịch
6
EICHMANN MUỐN ra khỏi rừng. Mười tám tháng làm thợ rừng, giả vờ là một người lao động bình thường không có gia đình, tham vọng hay địa vị nào đeo bám mình. Lần duy nhất y mạo hiểm ra khỏi rừng là đi uống rượu vào Chủ nhật tại quán rượu ở Celle và thỉnh thoảng gặp gỡ Nellie Krawietz. Mặc dù Eichmann được an toàn ở Lüneburg Heath, nhưng y cảm thấy mình giống như một con chuột chũi hơn là một người đàn ông. Y muốn có một cuộc sống mới.
Y chợt nhớ về cuộc sống ngày xưa của mình được đăng trên mặt báo. Việc bắt giữ và thú tội của chỉ huy trại Auschwitz Rudolf Höss đã một lần nữa đưa tên “kẻ giết người hàng loạt” Eichmann lên mặt báo. Höss thậm chí còn cung cấp nhiều bằng chứng hơn về sự tham gia của Eichmann vào các trại tử thần, kể chi tiết về những chuyến thị sát thường xuyên của y, các cuộc thảo luận của y về tính phù hợp của Zyklon B (thuốc trừ sâu Xyanua) đối với các phòng hơi ngạt, và nỗi ám ảnh hoàn toàn của y về việc “tiêu diệt mọi người Do Thái mà y có thể mó tay đến”.
Một ngày nọ, Eichmann đọc được tin một toán người Do Thái đã bắt giữ mình tại một căn nhà gỗ ở Áo, đưa hắn ta bằng xe jeep vào rừng rồi bắn hạ. Theo những người báo thù, hắn ta vẫn bất chấp cho đến cùng. Eichmann thích thú với chi tiết cuối cùng đó, tin chắc rằng bản thân mình cũng sẽ tỏ ra dũng cảm không kém khi đối mặt với cái chết. Tuy nhiên, đáng lo ngại hơn là một báo cáo ghi lại chuyến bay của y từ Ober-Dachstetten, bao gồm cả ngày trốn thoát chính xác của y. Người phụ tá của y là Jänisch hoặc một trong những sĩ quan SS ở trại đã nói với các nhà điều tra rằng tên Otto Eckmann trốn thoát thực sự là Adolf Eichmann. Ít nhất là không có sự đề cập nào về danh tính mới của y, và người ta báo cáo y đang trên đường kết nối với vị đại giáo sĩ của Jerusalem
Khi cơn bão mùa đông đầu tiên năm 1947 quét qua Lüneburg Heath, Eichmann quay sang suy nghĩ cách thức và nơi y có thể xây dựng cuộc sống mới cùng gia đình mình mà không sợ bị phát hiện bất cứ lúc nào. Y bắt đầu hỏi thăm xung quanh một cách kín đáo xem có ai biết đường ra khỏi châu Âu hay không. Y còn mưu tính tìm cách đưa tên mình ra khỏi danh sách truy nã. Tin đồn về việc y bị nhóm người báo thù Do Thái sát hại không đủ để thuyết phục các nhà điều tra tội ác chiến tranh
Vào tháng 12 năm 1947, Simon Wiesenthal tới trụ sở CIC ở Bad Ischl, Áo, sau khi một đặc vụ CIC gọi anh họp khẩn. Người đại diện nói với Wiesenthal tin tức đáng lo ngại rằng Vera Eichmann vừa nộp đơn lên tòa án địa phương để chồng cô được tuyên bố là đã chết hợp pháp “vì lợi ích của các con cô ấy”. Theo bản khai có tuyên thệ của Karl Lukas người Tiệp Khắc kèm theo đơn, Eichmann đã bị những người đồng đảng bắn chết ở Praha vào ngày 30 tháng 4 năm 1945. Đây là câu chuyện mà các đặc vụ CIC đã nghe được từ gia đình Eichmann trong năm qua, nhưng giờ họ đã có nhân chứng chứng thực.
Từ chính cuộc điều tra của mình, Wiesenthal biết rằng việc này là không thể nào. Anh đã thẩm vấn cộng sự của Eichmann, người đã gặp y ở Altaussee vào tháng 5 1945, ngay trước khi y biến mất. Anh cũng đã có đọc các tin tức về cuộc trốn thoát khỏi Ober-Dachstetten của y, và anh đã nghe nói về Lời khai tội ác chiến tranh ở Nuremberg từ sĩ quan Đức Rudolf Scheide, người đã thề với các nhà điều tra Mỹ rằng vào ngày 15 tháng 6 năm 1945, một tù nhân đầu tiên tiết lộ danh tính là Eichmann muốn được biết đến với cái tên Eckmann trước khi y đến được Ober-Dachstetten. Danh tính được xác nhận hai lần này đã được phân phát cho tất cả các văn phòng điều tra của Đồng minh, nhưng không có kết quả. Bây giờ Eichmann ắt hẳn đã đổi tên lần nữa. Tuy nhiên, các báo cáo đã chứng minh rằng y chắc chắn không bị giết ở Praha khi chiến tranh kết thúc. Nếu Vera Eichmann thành công trong yêu cầu ra tòa của mình, Adolf Eichmann sẽ biến mất khỏi danh sách truy nã của quân Đồng minh và cảnh sát Áo. Người ta không tìm kiếm một tên đã chết. Wiesenthal chắc chắn rằng Vera nộp đơn không phải để tái hôn hay nhận tiền trợ cấp của một góa phụ mà vì cô muốn cuộc săn lùng chồng mình kết thúc, và có lẽ cô đang hành động theo lệnh của y. Mặc dù cảnh sát đã chặn tất cả thư từ của cô nhưng Wiesenthal vẫn tin rằng Eichmann có thể đã chuyển lời cho cô qua các kênh khác nếu y muốn.
Đặc vụ CIC đã gây ấn tượng với Wiesenthal rằng anh ta có thể thuyết phục thẩm phán trì hoãn phiên điều trần chỉ trong thời gian một tháng. Wiesenthal nhanh chóng hành động, cử một trong những trợ lý của mình đến Praha để điều tra tên Karl Lukas này. Mười ngày sau, anh nhận được tin Lukas đã kết hôn với Maria Liebl, em gái của Vera. Thẩm phán đã hủy bỏ đơn đăng ký ra tòa.
Đó là một chiến thắng nhỏ nhưng lại là một chiến thắng quan trọng trong bối cảnh Wiesenthal theo đuổi Eichmann không có kết quả trong hai năm rưỡi qua. Hồ sơ của anh về Đức Quốc xã đã tăng lên. Anh đã thẩm vấn hầu hết mọi nhân viên của Eichmann. Anh đã dành nhiều tuần ở Nuremberg để lùng sục hồ sơ tòa án có đề cập đến Eichmann, một công việc vất vả đã tiết lộ cho anh mức độ thực sự mà Eichmann tham gia vào Giải pháp Cuối cùng. Kể từ đó, Wiesenthal đã phát hiện ra nhiều tài liệu của Đức Quốc xã về chương trình tiêu diệt cũng như vai trò của Eichmann và thuộc hạ của y trong việc thực hiện nó. Ở Linz, người dân ngoài đường gọi thợ săn Đức Quốc xã là “Eichmann- Wiesenthal” vì anh nổi tiếng là người không ngừng tìm kiếm manh mối và theo dõi gia đình.
Nhưng việc không tìm được Eichmann đang đè nặng lên tâm trí anh, và trong chuyện này anh không đơn độc. Manus Diamant đã kể cho anh nghe về một sự việc vài tháng sau khi anh thành trong việc có được bức ảnh tại ngôi nhà của Maria Mösenbacher. Mặc dù bức ảnh được phân phối rộng rãi và Diamant liên hệ chặt chẽ với gia đình Eichmann (cũng bởi anh đóng giả là cựu sĩ quan SS Hà Lan), vẫn không có thêm manh mối nào về nơi ở của y, và Diamant đã vô cùng bực tức vì tình trạng thiếu tiến triển của họ. Một buổi chiều Diamant đi ra ngoài hồ với ba đứa con của Eichmann, giờ đây gọi anh là “Chú Henry.” Ngồi trên thuyền, anh bỗng choáng ngợp bởi hồi ức về những cảnh tượng mình đã chứng kiến trong chiến tranh: những hài nhi bị tước đoạt khỏi vòng tay mẹ; người Do Thái chạy trốn trước đám SS mặc đồng phục đen đang rầm rập trên đường phố; bắn giết và bắn giết và bắn giết.
Khi đầu óc tỉnh táo trở lại, anh thấy mình đang nắm chặt một mái chèo và nhìn chằm chằm vào Dieter Eichmann, đang cười đùa dưới ánh nắng mùa hè. Diamant bỗng muốn hạ gục ngay Dieter và hai cậu bé khác để trả thù. Adolf Eichmann xứng đáng phải trả ít nhất cái giá này cho hành động của mình, trong lòng Diamant nổi lên cơn phẫn nộ. Nhưng sau đó anh thả tay ra khỏi mái chèo và quay trở lại bờ hồ. Vera Eichmann đón anh khi anh trở về, nhận xét rằng anh trông có vẻ căng thẳng. “Không có chuyện gì xảy ra cả,” Diamant trấn an cô. “Bọn trẻ đều cư xử rất tốt.” Anh thề sẽ không bao giờ quay lại ngôi nhà đó nữa.
Tháng 12 năm đó, Diamant rời Áo. Sau nghị quyết của Liên Hiệp Quốc ngày 27 tháng 11 năm 1947, phân chia Palestine để thành lập một nhà nước Do Thái, Arthur Pier giải tán nhóm đặc vụ Haganah của mình và trở về Palestine cùng với Diamant. Dự kiến sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh chống lại các quốc gia Ả Rập phản đối việc thành lập nhà nước Israel, và họ cần phải mua lậu vũ khí và chuẩn bị phòng thủ.
Wiesenthal cũng thấy rõ rằng phần còn lại của thế giới đang tiếp tục phát triển. Sự khởi đầu của chiến tranh lạnh đã làm cạn kiệt ý chí và nguồn lực của quân Đồng minh để truy đuổi tội phạm chiến tranh. Những lời kết án tại Nuremberg đã làm hài lòng nhiều nhà lãnh đạo chính trị rằng hình phạt thích đáng đã được đưa ra cho những hành động tàn bạo của Đức Quốc xã. Các phiên tòa tiếp theo chống lại các chỉ huy Einsatzgruppen (Biệt đội tử thần của SS chịu trách nhiệm những vụ giết người hàng loạt) , bác sĩ trại tập trung và các thẩm phán của Đệ tam Đế chế , cùng những người khác, đang được tiến hành. Cuối cùng, những phiên xét xử này chỉ truy tố 185 bị cáo. Có rải rác các phiên tòa khác và các thủ tục tố tụng tại tòa án phi phát xít hóa dành cho những tù binh bị giam trong các trại sau chiến tranh. Khoảng 9.600 cựu thành viên Đức Quốc xã đã phải ngồi tù vì tội ác của mình, thường chỉ phải chịu các bản án ngắn hạn.
Những con số này chỉ đại diện cho một phần nhỏ trong số 160.000 người Đức mà Wiesenthal và những người khác ước tính có liên quan đến tội ác chiến tranh, từ các nhà lãnh đạo như Heinrich Müller và Adolf Eichmann; cho đến những nhân vật khét tiếng như Josef Mengele, tên giám sát các cuộc sàng lọc ở Auschwitz và tiến hành các thí nghiệm thú tính trên tù nhân; tới những hàng ngũ binh sĩ, cảnh sát và lính SS đã tham gia vào các hành động tàn bạo. Họ hoặc được thả ra khỏi trại tù binh hoặc chưa bao giờ bị bắt ngay từ đầu. Rất ít người tỏ ra quan tâm hơn nữa đến việc đưa những tên tội phạm này ra trước công lý.
Chỉ còn Tuviah Friedman ở lại Vienna để tiếp tục cuộc săn lùng với Wiesenthal. CIC và cảnh sát Áo đã giúp đỡ họ, nhưng các tổ chức này chỉ đối phó nhiều hơn là chủ động. Hai người lao động ngày đêm để thu thập lời chứng thực của người sống sót và bất kỳ bằng chứng nào họ có thể tìm thấy chống lại tội phạm chiến tranh. Mặc dù họ điều hành các trung tâm tài liệu riêng biệt nhưng họ thường làm việc cùng nhau, trao đổi thông tin và truy tìm những cá nhân trong danh sách truy nã, gần đây nhất là một số kẻ có liên quan đến trại tử thần Belzec.
Eichmann thường xuyên lảng vảng trong tâm trí họ, nhưng họ đã đi hết ngõ cụt này đến ngõ cụt khác khi truy đuổi y. Y dường như đã biến mất như một bóng ma, và mong muốn tìm ra manh mối về nơi ẩn náu của y vẫn chưa được thực hiện vào cuối mỗi ngày.
Một buổi chiều mùa đông ảm đạm, khi năm 1947 sắp kết thúc, Wiesenthal ngồi trong văn phòng của mình, xung quanh là những báo cáo về những vụ giết người, tra tấn và những nỗi kinh hoàng khác chất đầy tủ hồ sơ và chất thành từng chồng trên bàn làm việc của anh. Trên bức tường đối diện là một tấm bản đồ thế giới lớn, với vài đường vẽ bằng bút chì tượng trưng cho những con đường anh nghe nói tội phạm chiến tranh đã đi để đến Trung Đông và Nam Mỹ. Tháng trước, Wiesenthal đã gặp một cựu sĩ quan tình báo Đức Quốc xã, người này đã kể cho anh nghe về một tổ chức bí mật do các sĩ quan SS thành lập để đưa bọn Đức Quốc xã ra khỏi châu Âu. Nhìn vào bản đồ, Wiesenthal không khỏi nghĩ rằng nếu Eichmann đã đi theo một trong những tuyến đường đó thì y sẽ không bao giờ được tìm thấy.
____
Tại Altensalzkoth, một ngôi làng ở Lüneburg Heath, Eichmann ngồi ở bàn làm việc và viết một lá thư từ biệt gửi Nellie Krawietz đề tháng 4 năm 1950. Y cảm ơn sự giúp đỡ và đồng hành của cô và giải thích rằng y sẽ đến lãnh thổ Liên Xô với hy vọng rằng người Nga sẽ tuyển dụng y. “Nếu em không nhận được tin tức gì từ anh trong vòng bốn tuần tới,” y viết, “em có thể gạch chéo tên anh ra”
Buổi sáng khởi hành, Eichmann mặc vest và đeo cà vạt lần đầu tiên sau một thời gian dài. Trong hai năm qua, y đã thuê một căn phòng trong nhà của Anna Lindhorst, một góa phụ chiến tranh sống với cậu con trai tuổi teen. Sau khi công ty khai thác gỗ phá sản và y mất việc, y đã thuê một lô đất của cô và bắt đầu mở một trang trại nuôi gà. Vì bị kiểm soát giá cả, y bán trứng của mình ở chợ đen, chủ yếu cho cộng đồng Do Thái ở Belsen gần đó, nơi từng là trại tập trung trước đây. Y thấy việc này thật mỉa mai. Y thường xuyên đi ngang qua bọn lính Anh trong vùng này và thỉnh thoảng còn bán trứng cho họ, nhưng y không hề lo lắng. Không ai nghi ngờ y là ai khác ngoài một người chăn nuôi gà. Eichmann tiết kiệm tiền và chờ đợi.
Đã đến lúc y phải trốn thoát. Năm trước, người Anh đã tuyên bố ngừng nỗ lực xét xử tội phạm chiến tranh và người Mỹ đang bận tâm đến người Nga, đặc biệt là với Berlin bị chia cắt. Thẻ căn cước của Eichmann, được cấp vào tháng 6 năm 1948, sẽ hết hạn sau sáu tuần nữa. Y đã có được nó sau khi kết nối với một số cựu sĩ quan SS ở Celle, những kẻ có liên quan đến một mạng lưới ngầm để chở lậu những kẻ đào tẩu ra khỏi châu Âu.
Trước khi ra đi, Eichmann ngồi lại với cô chủ nhà, kể cho cô nghe một câu chuyện khác với câu chuyện anh viết cho Nellie nhằm gây nhầm lẫn cho bất kỳ ai có ý định theo dõi y. Y giải thích rằng y sẽ đến Scandinavia, nơi kinh nghiệm về kỹ thuật cơ khí sẽ giúp y đảm bảo có việc làm. Y nói với cô rằng viên kiểm lâm Feiersleben sẽ đến vào ngày hôm sau để chăm sóc đàn gà của y. Kể từ lần gặp đầu tiên, Anna Lindhorst chưa bao giờ nghi ngờ có điều gì không ổn với người thuê nhà của mình, một người luôn vui vẻ với con trai cô và trả tiền thuê nhà đúng hạn. Cô tin câu chuyện của y. Sau đó Eichmann xách va li lên và bước ra khỏi bãi hoang. Sau bộ đồng phục thường ngày là quần yếm xanh nhạt, bộ quần áo mới khiến y cảm thấy mình thật nổi bật. Dưới cái tên Otto Heninger, y đi bằng tàu hỏa đến Munich, lo lắng rằng mình có thể bị lộ bất cứ lúc nào khi bước ra khỏi khu rừng tương đối an toàn.
Từ Munich, y hành trình đến một thị trấn gần biên giới Bavaria. Thử thách sẽ là vượt qua Áo, sau đó đến Ý. Eichmann đã ghi nhớ mọi điểm dừng và địa chỉ liên lạc trên tuyến đường mà đặc vụ của mạng lưới ngầm – một người đàn ông mà y đã liên hệ qua các quảng cáo được mã hóa trên báo và chỉ biết với cái tên “Günther” đã đưa cho y. Eichmann đã trả cho Günther 300 mác, 1/5 số tiền tiết kiệm được, để được giúp đỡ.
Thị trấn tràn ngập cảnh sát biên giới, rõ ràng là đang truy lùng những kẻ đào tẩu. Eichmann run rẩy khi điền vào mẫu đăng ký khách sạn, và y hoảng sợ khi người liên lạc của y bỏ lỡ điểm hẹn của họ. (Sau đó, y biết được từ cộng sự của gã đó rằng hắn ta đang ở bệnh viện.) Sau khi đợi một tuần, người liên lạc của y đã sắp xếp để một thợ săn địa phương hướng dẫn Eichmann qua biên giới. Y vui vẻ rời đi.
Eichmann khoác chiếc ba lô lên lưng và hai người đi bộ dọc theo những con đường mòn xuyên rừng và vào núi, không dừng lại cho đến khi tới một căn nhà gỗ cao trên sườn dốc. Khi màn đêm buông xuống, Eichmann nhìn xuống vùng nông thôn nước Đức: sau ngày mai, y khó có thể nhìn thấy đất nước nơi y sinh ra lần nữa.
Khi họ ăn sáng ngày hôm sau, người thợ săn nhìn ra cửa sổ và phát hiện một người lính biên phòng đang đi lên con đường. “Đừng lo lắng,” gã nói với Eichmann. “Chắc y đã nhìn thấy khói bốc lên từ ống khói rồi. Chắc y chỉ muốn uống cà phê thôi.”
Eichmann trốn trong tủ quần áo đầy bụi bặm, hóa đá, cố gắng không hắt hơi trong khi người thợ săn và người lính biên phòng trò chuyện và uống cà phê. Sau khi tên lính rời đi, Eichmann lao ra khỏi tủ, và người thợ săn dẫn y đi dọc theo một con đường quanh co, tránh xa mọi cuộc tuần tra, xuống Kufstein, Áo. Sau khi trải qua đêm trong tu viện nằm trong danh sách những địa điểm an toàn của mình, y thuê một chiếc taxi đến Innsbruck. Ở đó y có hai địa chỉ liên lạc. Người đầu tiên, một cựu trung úy SS, sai y đóng gói hành lý và nói một cách cáu kỉnh: “Họ thực sự đã gửi mọi kẻ lang thang chết tiệt theo hướng này.” Người thứ hai đưa Eichmann đến một quán trọ gần Đèo Brenner, dẫn qua dãy Alps giữa Áo và Ý. Lính Pháp hoạt động tích cực trong khu vực nên Eichmann phải ẩn náu trên căn gác xép đầy mạng nhện và đồ linh tinh của chủ quán trọ.
Vài ngày sau, người chủ quán trọ phán đoán rằng giờ đã an toàn rời đi và đưa y dọc theo rìa đèo. Lần này, Eichmann không được phép mang theo vali; chủ quán sợ sẽ gây nghi ngờ nếu gặp đội tuần tra. Cách biên giới vào nước Ý một dặm, một linh mục mặc áo choàng đen đi xe đạp gặp hai người đàn ông trên đường. Vị linh mục chở chiếc vali của Eichmann; ông ta vượt qua biên giới mà không gặp khó khăn gì.
Sau khi người chủ quán trọ trở về Áo, Eichmann và người bạn đồng hành mới cùng uống một ly rượu để ăn mừng chuyến vượt biên thành công. Vị linh mục đã sắp xếp một chiếc ô tô để đưa họ đến Merano, một ngôi làng ở phía bắc nước Ý. Eichmann đã nghỉ đêm tại một lâu đài, một nơi an toàn khác cho những tên Đức Quốc xã trốn thoát. Ngày hôm sau, y nhận được một chứng minh nhân dân mới do tòa thị chính làng Termeno lân cận cấp.
Mọi thứ đã được sắp xếp đâu vào đấy. Để đi qua Châu Âu và Đại Tây Dương để tới Nam Mỹ, Eichmann đã khai thác được một mạng lưới có tua vòi vươn khắp lục địa, trong đó có Vatican và chức vị cao nhất của chính quyền Argentin. Tên mới của y sẽ là Ricardo Klement. Đặc vụ ngầm mang giấy tờ tùy thân cho y cũng có giấy phép hạ cánh an toàn cho điểm đến cuối cùng: Buenos Aires.
____
Vào tháng 2 năm 1945, Juan Perón đã tập hợp những người đứng đầu cộng đồng người Đức có ảnh hưởng ở Buenos Aires, hầu hết trong số họ là những người ủng hộ nhiệt thành Đệ tam Đế chế. Vị phó tổng thống và bộ trưởng chiến tranh 49 tuổi của Argentina – một kẻ cơ hội xảo quyệt đối với kẻ thù của mình và một vị cứu tinh duyên dáng, lôi cuốn quần chúng đối với những người ủng hộ mình – đã tuyên bố rằng Argentina sắp kết thúc cam kết trung lập và tuyên chiến với Đức.
“Đó chỉ là một hình thức,” Perón giải thích một cách hối tiếc, để cứu đất nước khỏi sự trừng phạt khi cuộc chiến kết thúc. Có rất ít bí mật việc Argentina từng là nơi tổ chức các hoạt động thu thập thông tin tình báo và chiến tranh bí mật của Đức Quốc xã ở Tây bán cầu. Tại cuộc họp, Perón nói rõ rằng ông sẽ không bỏ rơi cộng đồng người Đức.
Perón xuất thân từ một hàng dài các sĩ quan quân đội theo chủ nghĩa dân tộc, những người theo Thiên Chúa giáo nhiệt thành và có ít khẩu vị cho các nguyên tắc dân chủ. Từ năm 1939 đến năm 1941, ông sống ở Rome với tư cách là tùy viên quân sự và rất ngưỡng mộ Benito Mussolini cũng như phe Phát xít Ý. Hai năm sau khi trở về Argentina, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính cùng với một số quân nhân khác. Bằng cách tán tỉnh các công nhân công nghiệp, ông đã đủ nổi tiếng để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống chưa đầy một năm sau chiến tranh. Đó giống như một dấu ấn chấp thuận hơn là một cuộc bầu cử, vì ông đã cai trị đất nước 15 triệu dân về mọi thứ trừ tên gọi.
Sau thất bại của Đức, Perón muốn đảm bảo sự nhập cư của các nhà khoa học và kỹ sư Đức Quốc xã để mang lại lợi ích cho nghiên cứu quân sự của đất nước ông và thúc đẩy công nghiệp hóa. Nhưng ông ấy cũng cảm thấy rằng nhiệm vụ của mình là trở thành một người bạn đối với người Đức và những người khác từ các quốc gia thuộc phe Trục, và ông ấy đã giúp đỡ bất kỳ ai muốn đến đất nước của mình để xây dựng một cuộc sống mới, bất kể họ đã làm gì trong chiến tranh. . Ông coi phiên tòa Nuremberg là một “sự phẫn nộ mà lịch sử sẽ không bao giờ tha thứ” và cam kết sẽ làm bất cứ điều gì có thể để giúp những người khác tránh khỏi số phận làm bị cáo của Nuremberg. Ông ta ít chào đón hơn những người muốn gia nhập cộng đồng Do Thái rộng lớn của đất nước, bổ nhiệm một người bài Do Thái quyết liệt làm người đứng đầu cơ quan nhập cư, đã xuất bản một cuốn sách nói rằng người Do Thái “giống như một cái u nang trong cộng đồng mà họ định cư.”
Được lãnh đạo bởi người đứng đầu cơ quan mật vụ Argentina, Rodolfo Freude, các đặc vụ của mạng lưới đào thoát đã thiết lập các căn cứ hoạt động trên khắp châu Âu. Freude là con trai của một doanh nhân giàu có người Argentina có mối quan hệ quan trọng với Đức Quốc xã, vốn đã giúp tài trợ cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Perón.
Mạng lưới bao gồm Carlos Fuldner, một người Đức gốc Argentina và là cựu đội trưởng SS thân cận với Himmler; cựu thành viên của Waffen-SS và Abwehr (một tổ chức tình báo Đức); một đại sứ Croatia tại Berlin trong chiến tranh; một nhà báo người Tây Ban Nha; và những tội phạm chiến tranh đến từ Bỉ, Pháp, Tiệp Khắc, Hà Lan và Đức, những người muốn trả món nợ tự do của mình bằng cách giải cứu những đồng đội muốn đào thoát. Nhận lệnh trực tiếp từ Freude tại dinh tổng thống Casa Rosada, trung tâm Buenos Aires, những đặc vụ này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tài trợ cho các hoạt động, đưa hối lộ cho các quan chức địa phương, sắp xếp nhà ở an toàn và phương tiện đi lại cho họ, điều động giữa văn phòng nhập cư và lãnh sự quán Argentina để xuất trình giấy phép hạ cánh cần thiết và các thủ tục giấy tờ khác, đồng thời phối hợp với các đại diện của Vatican.
Mạng lưới sẽ không bao giờ có hiệu quả nếu không có sự trợ giúp của Giáo hội Thiên Chúa giáo, đáng chú ý nhất là của Giám mục Alois Hudal, hiệu trưởng Santa Maria dell’Anima ở Rome. Từng là nơi chăm sóc cuối đời cho người nghèo nhà thờ đã trở thành trung tâm của những người Thiên chúa giáo gốc Đức ở Ý vào thế kỷ 15 và vẫn còn bay con đại bàng hoàng gia Đức trên ngọn tháp của nó. Dưới sự dẫn dắt của Hudal, một người Áo và là người tận trung với Hitler, người tự hào giơ huy hiệu vàng thành viên Đảng Quốc xã của mình, nhà thờ đã chứa chấp và đưa tội phạm chiến tranh ra khỏi châu Âu, hợp tác chặt chẽ với các đặc vụ của Perón. Năm 1948, Hudal đích thân viết thư cho Perón để xin thị thực cho 5.000 người Đức và Áo đã “dũng cảm chiến đấu” chống lại chủ nghĩa cộng sản. Ông ta không chấp nhận điều khoản “tội phạm chiến tranh”, tin rằng những người ông ta giúp đỡ đều vô tội vì họ chỉ thực hiện mệnh lệnh của cấp trên. Hudal đã được hỗ trợ trong nỗ lực của mình bởi các hồng y cấp trên và các linh mục cấp dưới. Một chuỗi tu viện và nữ tu viện ở Đức, Thụy Sĩ, Áo và Ý từng là nơi ẩn náu dọc theo đường đào thoát của bọn tội phẩm Đức Quốc xã. Giáo hoàng Pius XII không chính thức chấp thuận sự tham gia của Vatican vào mạng lưới này, nhưng chắc chắn ông đã nhắm mắt làm ngơ trước việc đó, chủ yếu là vì cam kết của giáo hội trong việc hành động như một bức tường thành chống lại sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản.
Theo một báo cáo bí mật của CIC năm 1947, châu Âu thời hậu chiến đầy rẫy những kẻ đang chạy trốn. Hộ chiếu giả, giấy tờ tùy thân giả mạo và những kẻ buôn lậu sẵn có đều dễ dàng tìm thấy. Argentina và Vatican không đơn độc trong việc cung cấp nơi trú ẩn cho các cựu thành viên Đức Quốc xã, nhiều người trong số họ đã tham gia vào các hành động tàn bạo trong chiến tranh. Quân Đồng minh cũng đưa lậu một số tội phạm chiến tranh, trong số đó có các cựu sĩ quan SS, những người này được tuyển dụng cho các hoạt động tình báo chống lại Liên Xô và các vệ tinh của nước này. Trên thực tế, Hoa Kỳ và các nước khác đã sử dụng một số các tuyến đường và nơi ở an toàn để đưa lậu các cá nhân ra khỏi châu Âu cũng như Argentina và Vatican.
Tuy nhiên, không có hoạt động đưa lậu nào được thực hiện với tính chuyên nghiệp và quy mô tương tự như hoạt động do Juan Perón tạo ra. Khi Eichmann đến từ Lüneburg Heath để tìm đường thoát khỏi nước Đức, một trong những người điều hành chính của mạng lưới, Reinhard Kops, người đóng vai trò là mối liên kết giữa Giám mục Hudal và người Argentina, ngay lập tức biết tên y. Kops từng là chuyên gia chống Mason và là đội trưởng của Abwehr, và hắn ta biết rõ về Eichmann từ Berlin và Hungary. Việc Eichmann trốn sang Argentina sẽ được hoan nghênh nhất. Vào tháng 6 năm 1948, hồ sơ nhập cư được mở cho y ở Buenos Aires. Giấy phép hạ cánh đã được cấp và ID Termeno được sắp xếp. Eichmann cần có mặt trong các bước khác của quy trình, đi theo con đường rõ ràng mà Kops đã giúp thiết lập. Eichmann chỉ là một trong số nhiều người trốn thoát được trong vòng vài tháng, bao gồm cả “Thiên thần của cái chết”, Josef Mengele; “Tên đồ tể thành Riga,” Eduard Roschmann; kẻ sát nhân hàng loạt Erich Priebke; “kẻ giết người ân huệ” của người bệnh tâm thần và tàn phế” Gerhard Bohne; và chỉ huy SS đáng sợ Josef Schwammberger. Giờ đây, Eichmann, người cuối cùng trong nhóm này rời khỏi Đức, tìm cách theo họ đến bến bờ tự do mà một quốc gia nằm ở bên kia thế giới và một người bạn của Đức Quốc xã đã mang lại.
____
Du hành với tư cách là Ricardo Klement, Eichmann rời Merano. Tối hôm đó, y đến Genoa. Ngọn hải đăng bằng đá bốn trăm năm tuổi ở đó phóng tia sáng qua bến cảng cổ xưa, chiếu sáng lối thoát của y.
Eichmann đến Nhà thờ San Antonio, nằm gần bến cảng giữa một dãy những ngôi nhà cổ màu phấn. Y gõ cửa và đợi người liên lạc tiếp theo, Cha Edoardo Dömöter, trả lời. Người tu sĩ Phanxicô già chào đón Eichmann vào nhà thờ và dẫn y vào phòng. Dömöter đã được đích thân Kops tiến cử phụ trách các hoạt động ở Genoa. Ông biết vị linh mục người Hungary đặc biệt có thiện cảm với những người Đức Quốc xã đang chạy trốn.
Ngày hôm sau, Eichmann trình diện tại trụ sở thành phố của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC). Y đưa cho viên chức này giấy phép hạ cánh và ID Termeno, cùng với thư giới thiệu từ Dömöter. Điều này nói lên rằng Ricardo Klement là một người tị nạn chiến tranh và không thể có được giấy thông hành từ bất kỳ nguồn nào khác. Không chút do dự, viên chức này đã chấp thuận đơn xin cấp hộ chiếu Chữ thập đỏ cho y. Anh ta lấy dấu vân tay và ảnh của Eichmann, đính kèm một bản sao vào hộ chiếu bằng bìa cứng và đánh dấu nó bằng một con tem ICRC đề ngày 1 tháng 6 năm 1950. Eichmann phấn khởi bước ra khỏi văn phòng với cảm giác như trở lại là một con người thực sự. Tiếp theo, y đến lãnh sự quán Argentina, nơi anh nhận được thị thực một lần nữa mà không gặp rắc rối nào. Cuối cùng, y đến văn phòng nhập cư Argentina. Họ kiểm tra giấy tờ của y và bắt y phải trải qua một cuộc kiểm tra y tế tiêu chuẩn. Bác sĩ tháo cặp kính của y ra – có lẽ, Eichmann nghĩ, để xem liệu chúng có phải là một phần của sự ngụy trang hay không. Rõ ràng là không, và y đã vượt qua bài kiểm tra.
Trong thời gian ở Genoa, Eichmann dành cả đêm để chơi cờ và uống rượu Chianti với Dömöter. Một ngày trước khi con tàu khởi hành, Eichmann đã nhận lời mời tham dự Thánh lễ của vị linh mục và nhận được phép lành của ông ta. Ngày hôm sau, 17 tháng 7 năm 1950, Eichmann xách vali đi xuống cảng. Mặc bộ vest mới, thắt nơ và đội mũ đen, y trông giống như một người bán hàng lưu động. Y lên tàu khách Giovanna C và gửi túi xách vào giường hạng ba. Sau đó, y lên tầng trên để xem tàu khởi hành. Đi cùng y trên đường tới Argentina còn có hai cựu thành viên Đức Quốc xã khác mà mạng lưới Perón đã hỗ trợ: Wilhelm Mohnke, một thiếu tướng SS từng ở cùng Hitler trong hầm trú ẩn của ông ta, và đại úy SS Herbert Kuhlmann, chỉ huy một sư đoàn Thiết giáp Thiếu niên của Hitler.

Thông hành Chữ Thập Đỏ Eichmann dùng để trốn thoát khỏi châu Âu

Eichmann trốn khỏi Châu Âu trên tàu Giovanni C, hướng đến Argentina năm 1950
Khi con tàu rời khỏi bến cảng, Eichmann không chỉ cảm thấy nhẹ nhõm mà còn cảm thấy chiến thắng khi trốn tránh những kẻ truy đuổi mình. Một khi y đến Argentina, khả năng y bị quân Đồng minh phát hiện gần như là số không, nhất là nếu y cẩn thận. Tuy nhiên, việc biết rằng mình đã vĩnh viễn đoạn tuyệt với tổ quốc đã lấy bớt niềm vui của y.
Y đút tay vào túi và lướt ngón tay qua một ít nắm đất Đức mà y đã mang theo trước khi sang Áo. Y tự hứa với mình sẽ đưa gia đình đến ở cùng sau khi ổn định cuộc sống và tìm được việc làm.
Cuộc hành trình kéo dài một tháng tới Argentina trôi qua thật chậm rãi. Nhiều hành khách lên tàu ở Naples, Barcelona và Lisbon trước khi nó đi về phía nam dọc theo bờ biển châu Phi đến Dakar. Không có sự thuyên giảm nào từ cái nóng khủng khiếp. Rồi nó vượt Đại Tây Dương, nỗi buồn chán của biển cả vô tận chỉ bị phá vỡ bởi hai cơn bão khủng khiếp đã khiến tất cả.hành khách phải mặc áo phao và bị giam trong khoang của họ.
Eichmann có nhiều thời gian đọc để tìm hiểu về nơi mình sẽ đến. Với diện tích gấp tám lần nước Đức, Argentina trải dài từ vùng đất khô cằn, lộng gió ở phía nam, đủ gần Nam Cực để hứng chịu những đợt băng giá, đến tận những khu rừng nhiệt đới ở phía bắc. Về phía tây, dãy Andes nổi lên như một con quái vật, nhiều đỉnh cao tới hơn 20.000 bộ. Và về phía đông là Đại Tây Dương và 2.500 dặm bờ biển. Trung tâm của đất nước, Pampas hay đồng cỏ màu mỡ, cung cấp nguồn sống cho 22 triệu người dân của mình. Ở vùng đồng bằng này, một nhà văn chuyên về du lịch đã viết: “Khoảng cách từ nhà này sang nhà khác quá xa nên không thể nghe tiếng chó sủa ngay cả trong đêm tĩnh lặng nhất, một đất nước mà gà chỉ gáy hai lần vì không có tiếng gáy đáp lại. Đó là đất nước trong đó cây xanh cứ xanh mãi như nước biển, và những con mòng biển theo sau những chiếc máy cày như hải âu theo sau các con tàu.” Những khoảng trống này tương phản rõ rệt với đô thị rộng 70 dặm vuông của Buenos Aires, nơi có hơn một phần ba dân số Argentina sinh sống. Ở một đất nước như thế này, Eichmann có thể ẩn náu giữa hàng triệu người thành phố ở bờ tây Río de la Plata (dòng sông bạc) hoặc ở một tiền đồn biệt lập, xa lánh sự tiếp xúc của con người.
Cuối cùng, sau một chặng dừng ngắn ở Rio de Janeiro, tàu Giovanna C đã đến Montevideo, Uruguay, khi mặt trời lặn vào ngày 13 tháng 7. Nó sẽ nghỉ đêm ở đó, bên kia sông là Buenos Aires, vì tàu chỉ được phép cập bến Buenos Aires vào ban ngày. Đứng trên mũi tàu, Eichmann nhìn chằm chằm qua mặt nước về phía ánh đèn nhấp nháy của quê hương mới của mình. Ngày hôm sau, y sẽ sử dụng danh tính thứ 5 của mình trong 5 năm. Y tưởng tượng cả năm người trong một cuộc trò chuyện nội tâm.
“Nghe này,” Barth nói với Eckmann, “tất cả những cuộc tàn sát này, tất cả những vụ giết chóc này có cần thiết không?”
“Và rốt cuộc thì cái gì đã thắng?” Heninger hỏi trước khi quay sang Klement. “Anh mong đợi điều gì khi đến Argentina?”
Nhìn về phía xa, Eichmann một lần nữa lý luận với chính mình rằng mình chỉ tuân theo mệnh lệnh, giống như bất kỳ người lính Nga, Pháp, Anh hay Mỹ nào khác đã làm. Y nhất quyết cho rằng tất cả bọn họ đều đã phạm phải những tội ác tàn bạo. Nhưng đó là trong quá khứ. Từ ngày mai trở đi, y sẽ một lần nữa có thể sống mà không phải lo sợ thường xuyên bị bắt, không cần phải tìm kiếm từng khuôn mặt mà y đi qua để thăm dò dấu hiệu cho biết mình đã bị nhận dạng.
Vào buổi sáng, Giovanna C đến gần bờ Río de la Plata màu kẹo bơ cứng, nơi Buenos Aires trải dài dọc theo một đồng bằng thấp, bằng phẳng. Nó đi qua những cỗ máy nạo vét khổng lồ khoét sâu dòng sông cạn và cập bến cảng. Eichmann xuống tàu, mang theo trong vali tất cả những gì mình có và xếp hàng vào bàn làm thủ tục nhập cảnh. Nghĩ đến các chi tiết về danh tính mới của mình, y chuẩn bị tinh thần để trả lời bất kỳ câu hỏi nào của nhân viên hải quan.
Tên? Ricardo Klement. Ngày sinh? Ngày 23 tháng 5 năm 1913. Tên mẹ? Anna. Tình trạng hôn nhân? Độc thân. Nghề nghiệp? Thợ cơ khí. Sinh ra? Bolzano, Ý. Ngôn ngữ đầu tiên? Tiếng Đức. Có biết đọc và viết không? Có. Tôn giáo? Thiên chúa giáo. Lý do di cư? Để tìm việc làm. Bạn lưu trú ở đâu? Khách sạn Buenos Aires.
Không cần phải diễn tập. Hộ chiếu của y được đóng dấu mà không có bất kỳ cuộc thẩm vấn nào, và nhân viên hải quan vẫy Eichmann vào trong xứ sở mới của mình. Y không có ý định vượt qua biên giới của nó một lần nữa.