Săn lùng Eichmann, truy nã tên quốc xã khét tiếng nhất thế giới (Bài 5)

Neal Bascomb

Trần Quang Nghĩa dịch

5

ĐÓ LÀ CUỐI THÁNG 5 NĂM 1946, Tuviah Friedman đang đợi một người đàn ông mà anh chỉ biết tên là Arthur trên đường phố Vienna. Arthur là thủ lĩnh của Haganah ở Vienna đồng thời là thủ lĩnh của tổ chức Brichah đang giúp đỡ Friedman 24 tuổi và hàng nghìn người Do Thái khác bí mật di cư đến Palestine. Việc Friedman yêu cầu gặp Arthur không liên quan gì đến cuộc hành trình này, nhưng nó có tầm quan trọng tương đương, nếu không nói là lớn hơn, đối với anh ta.

Gần cuối cuộc chiến, Friedman đã trở lại ngôi nhà nhỏ của mình ở Radom, một thành phố công nghiệp nhỏ ở trung tâm Ba Lan mà người Nga đã giải phóng trên đường tiến về Berlin. Đứng trên con đường bên ngoài ngôi nhà, anh tràn ngập những kỷ niệm thời thơ ấu: em gái anh, Itka, đạp xe đạp và dùng một tay giữ những lọn tóc vàng hoe khỏi tạt vào mặt; đứa em trai táo bạo của anh, Hershele, đang chơi trên mái nhà; chị gái anh, Bella, đang đọc một trong những cuốn sách quý giá của chị; cha anh chỉ cho anh cách hoạt động của máy in báo; mẹ anh đang vận một chiếc váy xinh đẹp mà bà may ở cửa hàng của mình. Cha mẹ anh, Itka và Hershele đều đã chết dưới tay bọn Đức Quốc xã và anh vẫn không biết liệu Bella còn sống hay không. Anh đã sống sót sau những khu ổ chuột, lao động khổ sai, sự tàn sát bừa bãi của lính canh SS, và một cuộc đào thoát được lên kế hoạch nửa vời từ một trại lao động qua đường cống. Cuối cùng anh đã trốn thoát được chỉ bằng cách cắm lưỡi lê vào cổ họng một tên lính Đức. Đứng bên ngoài ngôi nhà của mình, hiện là nơi sinh sống của một gia đình đã chuyển đến ngay sau khi người Do Thái bị quét sạch khỏi Radom, Friedman biết rằng thế giới này đã chết đối với anh. Anh sẽ không trở về nữa.

Anh gia nhập lực lượng dân quân Ba Lan và được cử đến Danzig để bắt giữ bất kỳ người Đức nào còn ở lại thành phố đổ nát. Cấp trên khuyên anh nên lấy tên là Jasinki – với mái tóc vàng, anh dễ dàng được coi là người ngoại (không phải dân DoThái.) Anh miễn cưỡng đồng ý, vì muốn có được vị trí đó. Chẳng bao lâu sau, anh nhận ra mình có sở trường về công việc cảnh sát và thẩm vấn, chưa kể đến lòng nhiệt thành thực sự, được thúc đẩy bởi nỗi đau khổ và căm thù, để khiến các tù binh SS phải có rúm người lại trước mặt anh. Khi ở Danzig, Friedman đoàn tụ với Bella, cô đã sống sót một cách kỳ diệu ở Auschwitz.

Nhiều tháng trôi qua, anh ngày càng cảm thấy khó chịu khi phải sống dối trá, giả làm Jasinki. Đầu năm 1946, anh giải ngũ, gia nhập một kibbutz (khu định cư người Do Thái) bên ngoài Danzig, và vài tháng sau anh liên lạc với Brichah và bắt đầu hành trình tới Palestine. Trên đường đi, anh gặp một người bạn cũ trên đường phố Vienna, người này đã kể cho anh nghe về một tên đàn ông SS ở đó mà họ biết từng hoạt động ở Radom. Friedman tiến thẳng đến nhà người đàn ông, biết được y  đang trốn trong trại tù binh Mỹ, anh âm thầm hoạt động bí mật để tìm ra y  và thuyết phục được y thú tội. Sau đó anh nghe tin về một sĩ quan SS khác đến từ Radom, cũng đang ẩn náu ở Vienna. Friedman yêu cầu được gặp người chỉ huy Haganah, hy vọng nhận được sự giúp đỡ của ông ta trong việc thu thập bằng chứng chống lại viên sĩ quan này.

Một chiếc sedan màu đen tấp vào lề đường và tài xế kéo rèm cửa xe bên phía hành khách xuống. Khói xì gà bốc ra. “Friedman hả?” tài xế hỏi, anh  gật đầu rồi lên xe.

Arthur Pier vừa tự  giới thiệu vừa lái xe. Anh ta cao và mảnh khảnh, nói chuyện và ăn mặc như một quý tộc. Mặc dù chỉ  hơn Friedman một vài tuổi, Pier có vẻ điềm tĩnh và có năng lực khiến Friedman ấn tượng ngay. Anh nói với Pier về mong muốn được đến Palestine.

“Còn chúng tôi thì nóng lòng muốn đưa anh đến đó,” Pier nói. “Bản thân tôi là thành viên kibbutz và chúng tôi cần những chàng trai trẻ khỏe mạnh như anh, Tadek.”

Friedman rất ngạc nhiên khi Pier biết đến biệt danh của mình nhưng anh không nói gì. Họ đến số 2 Frankgasse ở trung tâm Vienna. Tấm biển trên cửa ghi TỔ CHỨC TỊ NẠN ÁO, nhưng thực ra đó là trụ sở chính Brichah, một văn phòng sáu phòng nhộn nhịp hoạt động. Pier mời Friedman vào văn phòng của mình và đóng cửa lại. Friedman giải thích rằng trước khi đến Palestine, anh muốn được hỗ trợ để đến Stuttgart  thu thập lời khai chống lại hai sĩ quan SS.

“Tên họ là gì?”

Pier hỏi, lật từng trang cuốn sổ nhỏ màu đen trên bàn làm việc. “Cuốn sổ nhỏ này là kết quả của hai năm làm việc chăm chỉ ở Palestine… Konrad Buchmayer? Vâng, thằng này có tên trong danh sách… Có một tên sĩ quan Gestapo tên là Schokl ở Radom. Đó hẳn là người của anh, Richard Schoegl.” Anh ta dùng bút chì đỏ đánh dấu nhanh từng tên. Rồi Pier ngước nhìn Friedman. “Tadek, vài tuần trước, lãnh đạo kibbutz của anh đã kể cho tôi nghe về anh và về công việc của anh ở Danzig.”

Pier giải thích rằng anh đã di cư từ Vienna khi Đức Quốc xã tiếp quản. Sau vài năm giúp đỡ những người khác đến Palestine, Cơ quan Do Thái đã giao nhiệm vụ cho anh thu thập bằng chứng về tội phạm chiến tranh của Đức Quốc xã từ những người tị nạn đến Haifa. Trong mười tám tháng tiếp theo, anh ta đã thu thập hồ sơ về hàng ngàn người Đức, mà sau đó anh ấy đã chuyển cho OSS của Mỹ và Tòa án Tội phạm Quốc tế ở Nuremberg. Pier đã nói với Friedman rằng lúc chiến tranh kết thúc, David Ben- Gurion, thủ lĩnh của Cục Do Thái, đã tập hợp Pier và những người đứng đầu khác trong tổ chức lại với nhau và đã kêu gọi họ sang châu Âu để lãnh đạo phong trào  người Do Thái tìm về Palestine. Công việc này sẽ tiếp tục nỗ lực của họ nhằm  tạo ra một nhà nước độc lập. Ben-Gurion cũng đã chỉ thị họ tham gia cùng quân Đồng minh săn lùng tội phạm chiến tranh, sử dụng thông tin do Pier đã thu thập được. Họ phải bị đưa ra trước công lý, Ben-Gurion đã nhấn mạnh như vậy và đấm tay xuống bàn để nhấn mạnh.

Trong vai một nhà báo, Pier đến vào tháng 11 năm 1945, mang theo một chiếc cặp có đáy giả chứa cuốn sổ và tiền vàng để tài trợ cho hoạt động của mình. Anh sớm nhận ra mình bị choáng ngợp bởi trách nhiệm đưa người tị nạn đến Palestine. Anh vừa mới tập hợp một biệt đội để truy lùng bọn tội phạm chiến tranh một cách nghiêm túc và đưa chúng ra xét xử. “Đây không phải là một công việc dễ dàng. Không ai trong chúng tôi ở đây làm việc vì tiền, ” Pier nói. “Tôi biết bạn có kinh nghiệm trong việc này và tôi yêu cầu bạn hợp tác với chúng tôi để tìm ra những tên sát nhân này.”

Friedman lắng nghe. Giờ đây anh đã hiểu tại sao mình sống sót qua nỗi kinh hoàng của chiến tranh: để làm công việc này.

“Anh đã bao giờ nghe nói về Adolf Eichmann chưa?” Pier hỏi, chỉ vào một cái tên trong cuốn sổ.

Friedman nói mình không biết, cảm thấy thật ngu ngốc vì không biết y là ai.

“Anh phải tìm Eichmann. Tôi nói lại với bạn: anh phải tìm cho ra Eichmann.” Pier lại chỉ vào cuốn sổ của mình. “Tôi chỉ muốn có thể gạch một đường xóa hẳn cái tên này.”

Friedman đã nhận được sứ mệnh của mình. Anh là một trong số những người mà Pier bố trí để theo dõi tên trung tá mà Pier đã biết được lần đầu ở Vienna. Pier đã nghe nhiều câu chuyện về Eichmann trong hai năm qua, đặc biệt là về những việc làm của y ở Hungary. Anh ta muốn y bị bắt và lôi ra trước công lý.

Haganah không phải là nhóm duy nhất săn lùng Eichmann. Những người truy nã khác, hoạt động độc lập, có một số thông tin giống như Pier và tin rằng họ đã nhìn thấy mục tiêu. Tuy nhiên, không giống như Pier, họ muốn công lý được thực thi ngay lập tức chứ không phải qua xét xử.

Năm người báo thù Do Thái, mặc đồng phục quân đội Anh và trang bị súng Sten, giấu chiếc xe jeep của họ trong lùm cây bên ngoài một ngôi làng nhỏ giữa Linz và Salzburg. Họ chờ đợi tia sáng cuối cùng lịm tắt khỏi bầu trời. Đôi mắt của họ tập trung vào một căn nhà gỗ hai tầng nhỏ. Khi màn đêm bao trùm hoàn toàn, họ từ từ tiến lên sườn đồi để giết Adolf. Eichmann.

Khi họ đến gần ngôi nhà, một người trong bọn rón rén tiến tới, gầm gừ như một con chó. Anh ta đã chiến đấu với Tito trong chiến dịch du kích chống bọn phát xít ở Nam Tư và có kinh nghiệm xử lý chó giữ nhà. Ba chú chó to lớn canh gác căn nhà gỗ tiến về phía anh, và anh ném một miếng thịt tẩm thuốc độc xuống chân chúng. Vài phút sau lũ chó chết hết. Nhóm còn lại đi về phía bên của ngôi nhà. Liếc nhìn qua cửa sổ, có bốn người đàn ông đang ăn tối. Những người báo thù đã chuẩn bị sẵn sàng.

Họ đã đến Áo để tìm Eichmann vào mùa xuân năm 1946. Họ đã lần ra vợ y ở Altaussee và anh trai y Otto ở vùng lân cận Bad Aussee. Sau một tháng theo dõi, họ đã hai lần theo chân hai người đến căn nhà gỗ này. Việc vợ và anh trai của Eichmann đi những chuyến tàu khác nhau đến làng, sau đó đi đường riêng để gặp những người đàn ông này đã khiến người Do Thái nghi ngờ. Họ đã canh gác ngôi nhà gỗ trong vài tuần. Rõ ràng là có bốn người đàn ông sống trong nhà. Họ không bao giờ ra ngoài vào ban ngày và một người dân trong làng sẽ giao thức ăn và các vật dụng khác vào mỗi buổi tối. Những người báo thù tin chắc rằng một trong những người tên đó là Eichmann. Đặc điểm của y và chiều cao phù hợp với các báo cáo mà họ đã thu thập được, và các chuyến thăm của Vera và Otto Eichmann thậm chí còn khẳng định xác nhận của họ hơn.

Theo tín hiệu, hai người Do Thái dùng vai húc vào cửa căn nhà gỗ, khiến nó mở tung. Họ chĩa súng vào bốn người đàn ông không có khả năng tự vệ và bảo họ đứng dậy. Những gã  đàn ông đứng dậy khỏi bàn, cẩn thận không thực hiện bất kỳ động thái đe dọa nào.

“Mầy,” một trong những người báo thù hét lên bằng tiếng Đức. “Đến đây!”

“Tôi?” người đàn ông run rẩy trả lời. Hai người Do Thái kéo y ra ngoài nhà, trong khi những người khác chĩa súng vào những tên còn lại đứng xung quanh bàn. Khi ra khỏi căn nhà gỗ, một trong hai người Do Thái đánh gục tù nhân của họ bằng một cú đánh vào sau đầu. Họ khiêng gã lên xe jeep và lái vài dặm vào rừng thông. Bị đẩy ra khỏi xe jeep xuống vũng bùn, gã  tù tỉnh dậy.

Người chỉ huy nhóm bước ra khỏi xe jeep và đứng trước mặt gã. “Chúng tao là người Do Thái, Adolf Eichmann. Chúng tao có một vấn đề lớn cần giải quyết với mày.”

“Tôi xin thề với các anh  trước vợ con tôi, trước linh hồn của mẹ tôi rằng tôi không hề là Adolf Eichmann. Anh ta là một kẻ giết người. Tôi chỉ là một người lính. Các anh là những con người tốt,” gã cầu xin. “Hãy rũ lòng thương xót cho tôi!”

“Mày biết mày đã thể hiện lòng thương xót đến mức nào đối với người Do Thái chúng tao không?”

Gã tù thú nhận rằng mình từng là thành viên của Einsatzgruppen và mình đã giết một số người Do Thái, nhưng chỉ vì làm theo lệnh mà thôi. Gã cầu xin họ tin mình, nói với họ rằng vợ và anh trai của Eichmann là bạn của chủ ngôi nhà gỗ. Một lúc sau, giọng nói của gã chậm lại và gã nói, “Tất cả những gì các anh có thể làm là giết chết tôi.”

Sau đó, đội báo thù đã bắn nhiều phát đạn vào ngực gã.  Họ nguyền rủa sự tồn tại của gã, sau đó chôn gã trong một ngôi mộ không dấu vết.

____

Adolf Eichmann vẫn còn sống vào buổi sáng sau khi năm người báo thù Do Thái bắn gã đàn ông ở Áo. Y tỉnh dậy trong một túp lều nằm sâu trong rừng ở miền bắc nước Đức do Anh chiếm đóng cùng với 19 thợ rừng, tất cả đều là lính Wehrmacht đã giải ngũ. Sau bữa sáng, Eichmann và các đồng nghiệp lê bước vào rừng với chiếc rìu và lưỡi cưa. Họ gọi khu vực có nhiều cây cối rậm rạp ở Lüneburg Heath .này là “hòn đảo”. Đối với Eichmann, hòn đảo không có điện hay điện thoại là nơi ẩn náu lý tưởng khỏi những kẻ truy đuổi y, những kẻ mà y thấy trên một tờ báo hiếm hoi tìm được đường vào trại đã gọi mình là “kẻ giết người hàng loạt”.

Sau khi trốn thoát khỏi Ober-Dachstetten, Eichmann đã ẩn náu trong một nhà ga xe lửa bỏ hoang cách trại vài dặm cho đến sáng hôm sau. Sau đó y bắt chuyến tàu tới Munich, rồi đến Prien. Y đưa bức thư giới thiệu cho Nellie Krawietz, em gái của sĩ quan SS Bauer, một góa phụ thời chiến thu hút 24 tuổi. Cô không hỏi câu nào, cung cấp cho Eichmann một căn phòng tại một trang trại ở rìa thị trấn. Trong sáu tuần tiếp theo, họ gặp nhau gần như hàng ngày, mặc dù y chỉ tiết lộ rằng tên mình là Otto Heninger và là người cha đã ly dị của ba đứa con mà y chưa hề gặp lại kể từ khi chiến tranh kết thúc.

Quân đội Mỹ có mặt khắp nơi trong quận, và vào tháng 2 năm 1946, Eichmann ngày càng trở nên lo lắng. Y đã nhờ Nellie mua cho y hai chiếc vé đi Hamburg; cô ta phải đi cùng y  để họ trông giống như một cặp đôi đi du lịch vào cuối tuần. Điều này sẽ an toàn hơn, y đã giải thích. Phải lòng người đàn ông trầm lặng, có phần u sầu, Nellie đã đồng ý. Trong cuộc hành trình, cô khẩn khoản khuyên y hãy ra đầu thú trước tòa án Đồng minh  để y không phải sống chui rúc đến hết đời. Trong một lúc bất cẩn, y đã giải thích rằng mình từng tham gia vào trại tập trung và tên thật của y là Adolf Eichmann. Nếu bị bắt, y khẳng định với cô, y sẽ bị quân Đồng minh giam cầm không chỉ vài năm – nếu may mắn họ không xử tử y, số phận mà họ đã định sẵn cho những tội phạm trong phiên tòa Nuremberg đang diễn ra. Nellie hứa sẽ giữ bí mật về nhân thân y và sẽ đến thăm y bất cứ khi nào có thể

Vào tháng 3, Eichmann đã bước vào tòa thị chính Eversen, ở rìa phía tây nam của Lüneburg Heath, cách Hamburg 60 dặm. Y xuất trình các giấy tờ giả mạo cho các quan chức khu vực của Anh, nói rằng y là một Wehrmacht sinh ra ở Breslau, tù bình Đức được phóng thích – thông tin giống với trước đây của y. Viên thư ký không thắc mắc bất kỳ chi tiết nào và đã phê duyệt các giấy tờ cư trú của y dưới danh nghĩa Otto Heninger. Eichmann đã tìm được anh trai của sĩ quan SS Feiersleben và kiếm được công việc thợ rừng. Y đã làm việc ở đó được vài tháng.

Vào cuối một ngày dài ở khu rừng bị lửa tàn phá, Eichmann trở về trại, quần áo và khuôn mặt đen thui vì bụi than cháy. Cùng với thợ rừng khác, y tắm rửa bằng nước mưa chứa trong các thùng đạn dược cũ, rồi ra ngồi bên đống lửa trại và ăn món súp hầm. Đến tận đêm thâu, bọn thợ rừng chơi bài, uống rượu schnapps địa phương và hút thuốc điếu Lucky Strike. Họ là một nhóm người cục mịch, thô lỗ trong cách nói chuyện và hành vi. Có dịp  Eichmann cũng chơi vĩ cầm mượn của một người kiểm lâm, nhưng mặt khác y cũng cố gắng hết sức để hòa nhập. Y thích sự yên bình của khu rừng; cảm thấy được an toàn. Hiện tại, sống ở đây là tất cả những gì y ao ước.

____

Vào một buổi sáng lạnh giá ở Vienna đầu năm 1947, Arthur Pier và Tuviah Friedman bước vào nhà tù Vienna nơi Joseph Weisl, tài xế cũ của Eichmann, đang chờ xét xử vì tội ác chiến tranh. Friedman đã sắp xếp cuộc tra vấn và, như mọi khi, rất ngạc nhiên trước những cánh cửa đã mở ra khi anh đề cập  mình làm việc với chỉ huy cơ quan Haganah.

Người quản tù cho họ mượn văn phòng của mình để thẩm vấn. Một lính canh dẫn người tù hai mươi tám tuổi vào phòng. Pier ngả lưng vào ghế chỉ huy, hút xì gà, trong khi Friedman ngồi cạnh anh với cuốn sổ và cây bút. Đầu tiên, Pier dẫn dắt Weisl qua một số câu hỏi cơ bản về hoạt động chiến tranh của hắn và cách hắn trốn sang Áo. Sau đó anh hỏi thẳng thừng, “Có phải mày đang muốn nói với tao rằng Eichmann đã thiệt mạng trong chiến tranh không?”

“Không, không. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với ông ta. Tất cả những gì tôi biết là khoảng một tháng trước khi chiến tranh kết thúc, các sĩ quan SS đều thay đổi cấp bậc – không ai muốn thăng cấp cao hơn trung úy.”

“Tên ấy là loại người  thế nào, Weisl?”

“Ừ, mấy năm gần đây, mọi người đều sợ ông ấy, thực sự rất sợ hãi… Ông ấy không còn cười nữa. Tôi đoán là ông ta biết quá nhiều thứ.”

“Ông ta đã phụ trách doanh trại ở Doppl trong một thời gian dài phải không? Và Eichmann thường xuyên đến thăm Doppl, phải không?” Pier hỏi. Họ đã thu thập hồ sơ về tài xế. Vài tháng trước, Dieter Wisliceny, phó của Eichmann, đã bị chuyển đến nhà tù ở Tiệp Khắc sau phiên tòa Nuremberg. Khi đến đó, y đã cung cấp rất nhiều thông tin chi tiết về các cộng sự của Eichmann và thậm chí còn đề nghị giúp truy tìm Eichmann để giảm nhẹ sự trừng phạt cho tội ác của chính mình.

Weisl ngập ngừng trả lời câu hỏi, nhìn từ người này sang người khác. Pier mời hắn một điếu thuốc, và Friedman đặt bút xuống nhằm xoa dịu anh ta.

Weisl nói: “Tất nhiên, các ông biết rằng Eichmann có tình nhân ở Doppl. Frau Maria Mösenbacher. Cô ấy đúng là một phụ nữ  và ông ta đã dành nhiều thời gian với cô ấy”.

“Bây giờ cô ấy sống ở đâu?” Pier hỏi.

Weisl giải thích rằng cô ấy vẫn sống ở đó. Hắn lấy bút và tập giấy trên bàn và vẽ bản đồ Doppl, chỉ rõ chính xác địa điểm. “Chắc chắn cô ấy vẫn còn giữ một bức ảnh của Eichmann. Chính mắt tôi đã nhìn thấy một bức ở đó.. Cô ấy rất tự hào về ông ấy.”

“Hãy kể cho tôi nghe,” Friedman nói. “Ông ấy có thực sự biết tiếng Do Thái không?”

Weisl cười khúc khích. “Eichmann đã nói chuyện với những người Do Thái ở Vienna, những người giàu có, những người không hiểu chút  tiếng Do Thái nào. Sau đó, ông ấy thường cười về điều đó vì đã thuyết phục được người Do Thái rằng mình sinh ra ở Palestine.”

Pier đứng dậy. Anh và gia đình nằm trong số những người bị Eichmann buộc phải rời khỏi Vienna vào năm 1938.

“Hôm nay chỉ vậy thôi,” anh nói, vẫy tay với người bảo vệ ở cửa rồi quay lại với Weisl. “Bọn SS chúng mày là một lũ rất cừ, một lũ rất cừ.” anh nói một cách mỉa mai. “Nhưng tất cả đã kết thúc rồi. Kết thúc. Kaput.”

Friedman và Pier trở về trụ sở chính của họ ở số 2 Frankgasse. Trong tám tháng qua, trong khi  bắt giữ được nhiều sĩ quan SS và thu thập một kho  tài liệu khổng lồ về tội ác chiến tranh, Friedman và một số cộng sự làm việc tại văn phòng Haganah đã lần theo nhiều manh mối về Eichmann. Một số nhân viên thân cận nhất của Đức Quốc xã, trong đó có Anton Burger, đã bị bắt và thẩm vấn. Họ cũng đã lần theo gia đình Eichmann và một số tình nhân của y. Nhưng không ai biết anh ta ở đâu.

Tuviah Friedman, người săn lùng bọn Quốc xã

Friedman và Pier đã nghe tin đồn rằng y đang bị giam trong trại nhốt tù binh Đức, và họ kêu gọi quân Đồng minh điều tra tất cả các trại, nhưng họ không thể cung cấp một bức ảnh của y. Trong số hàng chục người họ đã phỏng vấn, không ai có được một bức ảnh nào. Họ có những mô tả ngoại hình khá tốt về Eichmann, nhưng điều này chẳng là gì so với một bức ảnh. Bây giờ, ít nhất, Weisl có thể đã giúp họ có được một manh mối  tốt để có được một bức ảnh.

Pier muốn Manus Diamant vào việc và Friedman biết anh đã lựa chọn đúng đắn. Ngày hôm sau, Diamant lên chuyến tàu từ Vienna đến Linz. Đẹp trai và lịch thiệp, Diamant thường vào vai đặc vụ Romeo cho đội Haganah ở Áo. Anh ấy có đôi mắt xanh và bộ ria mép chải chuốt, và anh ấy có thể đóng bất kỳ vai trò nào được giao một cách dễ dàng và tự tin. Ở một cuộc sống khác, anh ấy có thể đã là một diễn viên sân khấu xuất sắc, nhưng anh ấy sinh ra là một người Do Thái ở Katowice, miền nam Ba Lan, vào năm 1923. Khi 11 tuổi, anh ấy đã ăn trộm hình chữ thập ngoặc trên chiếc Mercedes đậu trước lãnh sự quán Đức. Khi còn là thiếu niên, anh đã chứng kiến ​​Đức Quốc xã tấn công người tị nạn Do Thái, số phận mà anh thề rằng sẽ không xảy ra với mình. Năm mười tám tuổi, anh cùng gia đình đến Warsaw và tham gia cuộc kháng chiến ngầm. Khi Đức Quốc xã dọn sạch các khu ổ chuột, Diamant đã trốn thoát khỏi thành phố với giấy tờ giả của người Aryan, nhưng anh đã không thể cứu được gia đình mình. Năm 21 tuổi, anh tới Áo giúp người Do Thái trốn thoát trong khi đóng giả bác sĩ Janowski, một nhà nghiên cứu bệnh học tại bệnh viện Graz. Từ đó anh tới Hungary, nơi anh mua vũ khí cho quân kháng chiến và phá hoại các đoàn tàu chở đạn của Đức. Bị tóm trong một cuộc vây bắt ở biên giới, anh đã bị đưa đến Auschwitz nhưng đã thuyết phục được lính canh rằng mình  là người Ba Lan.

Sau chiến tranh, Diamant đến Vienna để làm việc với Haganah. Anh đã chiếm được lòng tin của vợ Eichmann ở Altaussee, và anh ta đã tán tỉnh một số tình nhân của Eichmann. Tuy nhiên, mọi nỗ lực đều kết thúc trong thất vọng. Vera Eichmann đã được giám sát chặt chẽ nhưng không đưa ra bất kỳ gợi ý nào về tung tích của chồng cô hoặc thậm chí liệu y còn sống hay không.

Các cô nhân tình đều tỏ ra vô dụng không kém, không ai trong số họ sở hữu dù chỉ một bức ảnh chụp của người tình cũ.

Lần này Diamant cầu nguyện họ sẽ gặp may mắn hơn. Trong vai một cựu sĩ quan SS người Hà Lan, anh dừng lại ở Linz để gặp Simon Wiesenthal. Wiesenthal vẫn sống tại thị trấn với vợ, người đã sống sót sau chiến tranh. Anh ta biết rõ khu vực xung quanh. Mặc dù họ làm việc riêng biệt nhưng Wiesenthal và các điều tra viên của Haganah thường xuyên trao đổi các mưu mẹo và liên hệ. Wiesenthal đã cho Diamant một số hiểu biết sâu sắc về Doppl và đề cập đến một số người có thể kết nối trong quá trình tìm kiếm Maria Mösenbacher, tình nhân của Eichmann ở đó.

Sau một vài cuộc hỏi thăm tại Doppl, Diamant được biết Fraulein Mösenbacher là một phụ nữ bốn mươi tuổi hấp dẫn, phù phiếm, không được nhiều người yêu thích và thường khoe khoang về mối quan hệ của mình với “Adolf”, một sĩ quan cấp cao của SS. Diamant cũng phát hiện ra. rằng cô đã chuyển đi và thuê một căn hộ nhỏ có đầy đủ tiện nghi ở Urfahr, một thị trấn đối diện Linz. Trong tuần tiếp theo, anh đi theo đuôi cô, để ý xem cô đến tiệm làm tóc, cửa hàng tạp hóa, hiệu thuốc, bưu điện và khi cô trở về căn hộ của mình đối diện với cửa hàng bánh ngọt. Vì vậy, khi một số đồ tạp hóa rơi khỏi giỏ của cô ấy, Diamant đã nhanh nhẩu có mặt để nhặt chúng lên hộ. Anh nhoẻn miệng cười, tự giới thiệu mình là Henry van Diamant.

“Cảm ơn anh. Cảm ơn anh rất nhiều. Tên tôi là Maria… Cảm ơn anh.”

Anh nghiêng mũ và đề nghị theo cô về nhà. Trong vài tuần tiếp theo, anh dần dần thân thiết hơn với cô. Họ gặp nhau để uống cà phê, sau đó ăn tối, rồi đi dạo ở vùng nông thôn. Trong  bữa ăn tối, anh cố tình để ví của mình mở ra để lộ giấy tờ tùy thân SS Hà Lan giả mạo của mình, nhằm giải thích lý do tại sao mình không thể quay lại Hà Lan. Anh mua áo cánh và sôcôla cho cô. Để thuyết phục cô về niềm đam mê nhiếp ảnh nghiệp dư của mình, anh đưa cho cô xem một số ảnh phong cảnh mà anh nói dối  là tự chụp nhưng thực ra đã mua. Rồi một buổi tối tại nhà cô vài tuần sau khi họ gặp nhau, anh cho cô xem một cuốn album chứa đầy “ảnh gia đình” của mình (tất cả đềuđược mua).

“Tôi cũng có một album” Mösenbacher tự hào nói, lấy ra một cuốn album viền vàng từ một kệ sách. Cô lật từng trang, chỉ vào hình ảnh của anh trai và bố mẹ cô.

Ngày qua ngày, Diamant đã dung túng cho ả phụ nữ nhạt nhẽo này, vốn hay  nói nhiều lời ác ý về người Do Thái, để mong đi đến mục đích của mình. Anh cầu nguyện cho cô có được bức ảnh chụp Eichmann.

“Anh biết không, em có rất nhiều người ngưỡng mộ.” Cô dừng lại trước bức ảnh chụp một người đàn ông khoảng ngoài ba mươi với chiếc mũi khoằm và đôi môi mím lại. “Đây là Adolf… Anh ấy là bạn trai thân của em. Ai biết được chuyện gì đã xảy ra với anh ấy. Có lẽ anh ấy đã không sống sót sau chiến tranh, nếu không thì anh ấy chắc chắn đã cho em biết anh còn sống.”

Trong hai giờ tiếp theo, nán lại ăn tối và uống rượu với Mösenbacher, Diamant chỉ muốn rời đi để có thể tiến hành kế hoạch chụp lại bức ảnh.

Sáng hôm sau, anh đến cảnh sát Áo mang theo một lá thư giới thiệu của Arthur Pier. Vài giờ sau, cảnh sát đến  thu giữ các cuốn album với lý do có người mách tin rằng Mösenbacher đang giấu những thẻ khẩu phần bị đánh cắp bên trong các cuốn album. Diamant không khỏi run tay khi cầm bức ảnh lên.

Anh quay lại Vienna và đưa nó cho Pier và Friedman xem. “Anh đã làm rất tốt, Manus. Đây là kẻ sát hại người dân của chúng tôi.” Hàng trăm bản sao đã được in ra  và phân phát cho cảnh sát và các nhà điều tra của Đồng minh trên khắp châu Âu. Diamant đích thân giao một bản sao cho Wiesenthal, người này nói với anh, “Bây giờ chúng ta đã biết y trông như thế nào. Đây là bước đầu tiên để sờ được gáy y.”

Bình luận về bài viết này