Truy sát Bin Laden: Cuộc săn lùng 10 năm từ ngày 11/9 đến Abbottabad (Bài 4)

Peter l. Bergen

Trần Quang Nghĩa dịch

3 . AL-QAEDA TRONG VÙNG HOANG DÃ

BIN LADEN RÚT LUI VÀO VÙNG núi Kunar cùng với tổ chức của mình để duy trì sự sống. Al-Qaeda, có nghĩa là “căn cứ” trong tiếng Ả Rập, vừa mất đi căn cứ tốt nhất mà nó từng có. Ở Afghanistan, al-Qaeda đã điều hành một nhà nước song hành với nhà nước Taliban, thực hiện chính sách đối ngoại độc lập của riêng mình bằng cách tấn công các đại sứ quán, tàu chiến và trung tâm sức mạnh quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ, cũng như huấn luyện ồ ạt hàng nghìn binh sĩ tại các trại huấn luyện của mình.

Al-Qaeda trước ngày 11/9 là bộ máy hành chính khá phức tạp, với nhiều ủy ban khác nhau nhằm tiếp cận truyền thông, lập kế hoạch quân sự, kinh doanh và thậm chí cả nông nghiệp; CEO từ cao xuống thấp; mức lương phải trả cho nhiều thành viên; chương trình đào tạo toàn diện mà họ cung cấp cho các tân binh của mình; và các mẫu đơn đăng ký chi tiết được yêu cầu để tham dự các trại huấn luyện của trường. Nội quy của nhóm dài tới 32 trang được dịch sang tiếng Anh, bao gồm ngân sách hàng năm, tiền lương, phúc lợi y tế, chính sách dành cho thành viên al-Qaeda khuyết tật, lý do sa thải khỏi nhóm và trợ cấp nghỉ phép.

Các thủ lĩnh của Al-Qaeda là kiểu nhà quản lý vi mô quen thuộc với bất kỳ ai từng làm việc cặm cụi trong văn phòng của một tổ chức lớn. Mohammed Atef, chỉ huy quân sự của nhóm, từng gửi một bản ghi nhớ cho cấp dưới phàn nàn: “Tôi rất khó chịu với những gì anh đã làm. Tôi đã kiếm được 75.000 rupee cho chuyến đi của gia đình anh tới Ai Cập. Tôi được biết rằng anh đã không nộp chứng từ chi tiêu cho kế toán và anh đã đặt phòng trước với 40.000 rupee và giữ phần còn lại.” Tương tự, Ayman al-Zawahiri quở trách thậm tệ các thành viên của al-Qaeda ở Yemen vì đã vung tiền mua một chiếc máy fax đắt tiền. Đối với một tổ chức cống hiến cho cuộc thánh chiến cách mạng, al-Qaeda trước ngày 11/9 đôi khi cho ta cảm tưởng như một công ty bảo hiểm, mặc dù là một công ty được trang bị vũ khí đến tận răng

Cơ cấu ban bệ này đã bị phá hủy bởi quyết định liều mạng tấn công nước Mỹ của bin Laden. Vào tháng 6 năm 2002, một thành viên al-Qaeda đã viết một lá thư cho Khalid Sheikh Mohammed (KSM), chỉ huy chiến dịch ngày 11/9, khuyến cáo ông: “Đừng lao vào hành động mà nên xem xét tất cả những mặt thảm họa chết người liên tiếp xảy ra làm khổ chúng tôi trong một thời gian không quá sáu tháng.” Người viết phàn nàn việc bin Laden phớt lờ mọi lời khuyên không phù hợp với quan điểm của ông ấy cho rằng việc tấn công Hoa Kỳ là cú giáng trả bậc thầy: “Nếu ai đó phản đối ông ta, ông ta ngay lập tức đề cử một người khác đưa ra ý kiến ​​hậu thuẫn mình.” Bin Laden, người viết tiếp tục, không hiểu những gì đã xảy ra cho al-Qaeda kể từ cuộc tấn công 11/9 và tiếp tục thúc đẩy KSM hành động; trong khi đó, các nhóm thánh chiến ở châu Á, Trung Đông, châu Phi và châu Âu đều chịu tổn thất nặng nề. Người viết kêu gọi KSM dừng hoàn toàn mọi cuộc tấn công khủng bố tiếp theo “cho đến khi chúng ta ngồi xuống và xem xét thảm họa mà chúng ta đã gây ra.”

Sự phê phán nội bộ này đối với bin Laden đã được khuếch đại công khai hai năm sau đó, khi Abu Musab al-Suri công bố trên Internet cuốn lịch sử dài 1500 trang về phong trào thánh chiến. Suri là một trí thức người Syria hết sức nghiêm túc và quen biết với bin Laden kể từ những năm 1980 – có lẽ là nhà chiến lược sâu sắc nhất trong vòng thân cận của bin Laden. Ông đã dành phần lớn thời gian của thập niên 1990 sống ở Tây Ban Nha và sau đó ở London, nơi ông viết bài cho các ấn phẩm thánh chiến quân sự ít người biết đến. Vào năm trước vụ 11/9, Suri đã điều hành trại huấn luyện của riêng mình ở Afghanistan, nơi ông ta ủng hộ một cơ cấu phẳng hơn, có mạng lưới hơn cho al-Qaeda, thay vì cơ cấu thứ bậc đang có hiệu lực khi đó.

Ẩn náu sau sự sụp đổ của Taliban và biết rằng mình có thể bị bắt vào một lúc nào đó (như cuối cùng ông ta đã bị bắt ở Pakistan vào năm 2005), Suri đã dành phần lớn thời gian để chạy trốn, viết nên bộ  lịch sử đồ sộ về phong trào thánh chiến. Nó thuật lại sự tàn phá mà al-Qaeda và các nhóm đồng minh phải gánh chịu sau vụ 11/9: “Chúng ta đang trải qua những hoàn cảnh khó khăn nhất và đang sống trong đỉnh điểm của đau khổ… Người Mỹ đã loại bỏ phần lớn ban lãnh đạo phong trào thánh chiến vũ trang, cơ sở hạ tầng, những người ủng hộ và bạn bè.” Suri viết rằng ước tính chung có từ 3.000 đến 4.000 chiến binh thánh chiến đã bị giết hoặc bị bắt kể từ vụ 11/9 thực tế là môt đánh giá ở mức thấp.

Ông kết luận: “Mỹ đã tiêu diệt Tiểu vương quốc Hồi giáo [của Taliban] ở Afghanistan, nơi đã trở thành nơi ẩn náu của các chiến binh thánh chiến. Họ đã giết hàng trăm chiến binh thánh chiến bảo vệ Tiểu vương quốc. Sau đó, Mỹ đã bắt giữ hơn sáu trăm chiến binh thánh chiến từ các quốc gia Ả Rập khác nhau và Pakistan và bỏ tù họ. Phong trào Jihad đã đạt đến vinh quang vào những năm 1960, và tiếp tục trong suốt những năm 70 và 80, dẫn đến sự trỗi dậy của Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan, nhưng nó đã bị tiêu diệt sau vụ 11/9.” Đối với một người bạn thân thiết lâu năm của bin Laden và một chiến lược gia thánh chiến lớn, việc công khai nói rằng các cuộc tấn công vào Manhattan và Washington đã dẫn đến sự tiêu diệt gần như toàn bộ al-Qaeda, Taliban và các nhóm chiến binh đồng minh là thật có ý nghĩa.

Một số người trong al-Qaeda tiếp tục đưa ra ý tưởng rằng vụ 11/9 và hậu quả của nó là một thành công lớn cho phong trào. Trong một báo cáo nội bộ “hậu hành động” về các cuộc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới và Lầu Năm Góc, một người viết ẩn danh của al-Qaeda đã ca ngợi sự khôn ngoan chiến lược của vụ tấn công: “Nhắm vào nước Mỹ là một sự lựa chọn rất thông minh có tính chiến lược bởi vì xung đột với bọn người theo đuôi Mỹ trong thế giới đạo Hồi đã cho thấy rằng bọn người theo đuôi không thể cầm đầu chế độ bạo chúa của chúng nếu không có sự hỗ trợ của Mỹ. Vậy tại sao cứ tiếp tục chiến đấu với phần thân khi bạn có thể lấy đầu.” Báo cáo hậu-hành động cũng ca tụng sự chú ý của giới truyền thông mà vụ 11/9 đã tạo ra: “Cỗ máy truyền thông khổng lồ của Mỹ đã bị đánh bại trong một đòn thế giống như judo của Thủ lĩnh Bin Laden. Các máy quay CNN và những con khủng long truyền thông khác đã tham gia vào việc quay hình  các cuộc tấn công và nhân đó gieo rắc nỗi hoảng sợ mà al-Qaeda không phải trả một xu nào.”

Tương tự, Saif al-Adel, một trong những chỉ huy quân sự của nhóm, giải thích trong một cuộc phỏng vấn được công bố bốn năm sau khi Taliban sụp đổ rằng các cuộc tấn công vào New York và Washington là một phần trong kế hoạch thông minh đến mức quỷ quyệt nhằm khiến Hoa Kỳ phản ứng thái quá và tấn công Afghanistan: “Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi khi tấn công đau đớn vào đầu con rắn là thúc giục nó chui ra khỏi hang ố… Những đòn tấn công như vậy sẽ buộc kẻ thù thực hiện các hành động tùy tiện và xúi giục y mắc phải những sai lầm nghiêm trọng và đôi khi chết người… Phản ứng đầu tiên là cuộc xâm lược Afghanistan.”

Đây là hành động hợp lý hóa sau thực tế về thất bại chiến lược của al-Qaeda. Toàn bộ mục đích của vụ tấn công 11/9 là đẩy Hoa Kỳ ra khỏi thế giới Hồi giáo, chứ không phải để kích động nước này xâm chiếm và chiếm đóng Afghanistan cũng như lật đổ đồng minh tư tưởng thân cận nhất của al-Qaeda, Taliban. Trên thực tế, ngày 11 tháng 9 giống như Trân Châu Cảng. Ngay khi người Nhật giành được thắng lợi chiến thuật to lớn vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, họ cũng khởi động một chuỗi sự kiện dẫn đến sự sụp đổ cuối cùng của Đế chế Nhật Bản. Vì vậy, vụ tấn công 11/9 cũng khởi động một chuỗi sự kiện dẫn đến sự tiêu diệt phần lớn al-Qaeda và cuối cùng là cái chết của thủ lĩnh của tổ chức này.

ĐÓ LÀ MẬT DANH GREYSTONE, được cho là chương trình hành động bí mật quy mô nhất trong lịch sử của CIA. Được Tổng thống Bush cho phép sau vụ 11/9, chương trình này bao gồm việc truy lùng gắt gao các nghi phạm al-Qaeda trên toàn cầu, hàng chục người trong số họ đã bị bắt cóc từ bất cứ nơi nào họ đang sống và sau đó được đưa  lên các máy bay do CIA thuê bay tới các quốc gia như Ai Cập và Syria, nơi họ bị các cơ quan an ninh địa phương tra tấn. Chương trình này đã giới thiệu việc sử dụng cái mà CIA gọi là “kỹ thuật thẩm vấn nâng cao”, bao gồm cả trấn nước, và dẫn đến việc thành lập một hệ thống nhà tù bí mật của CIA ở Đông Âu dành cho các tù nhân “cao giá”. Luật sư hàng đầu của CIA John Rizzo nói: “Sự đồng thuận của các chuyên gia, các nhà phân tích chống khủng bố và các nhà tâm lý học của chúng tôi là đối với bất kỳ chương trình thẩm vấn các quan chức cao giá, cấp cao của al-Qaeda nào – và ở đây chúng ta đang nói đến những tên tồi tệ nhất trong những tên tồi tệ, bọn tâm thần nhất nhưng lại hiểu biết về toàn bộ hệ thống al-Qaeda – rằng để bất kỳ cuộc thẩm vấn nào có hiệu quả, điều cần thiết là bọn này phải bị giam giữ trong sự cô lập tuyệt đối, chỉ được quyền tiếp cận số lượng người ít nhất.” Sự ủy quyền của tổng thống cũng cho phép CIA tiêu diệt các thủ lĩnh của al-Qaeda và các nhóm đồng minh bằng cách sử dụng máy bay không người lái.

Tính cấp thiết của việc săn lùng bin Laden càng thêm ráo riết khi CIA phát hiện ra rằng ông ta đã gặp các nhà khoa học hạt nhân Pakistan đã nghỉ hưu vào mùa hè năm 2001 để thảo luận về khả năng al-Qaeda phát triển thiết bị hạt nhân. Tướng Richard Myers, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, nói rằng sáu tuần sau ngày 11/9, Bush đã phát biểu trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia rằng bin Laden “có thể có một thiết bị hạt nhân” đủ lớn để phá hủy một nửa Washington. Trên thực tế, al-Qaeda không có những thứ như vậy, nhưng trong hậu quả kinh hoàng của vụ 11/9, mối đe dọa đó không thể dễ dàng được coi nhẹ.

Khen thay, Tổng thống Bush đã giữ một danh sách trong ngăn kéo bàn làm việc của ông về những thủ lĩnh al-Qaeda bị truy nã gắt gao nhất. Danh sách có dạng kim tự tháp, với bin Laden ở trên cùng. Khi thủ lĩnh al-Qaeda nào bị bắt giữ hoặc tiêu diệt, Bush sẽ loại y ra khỏi danh sách. Khoảng một năm sau khi chế độ Taliban sụp đổ, Bush tin rằng ông trùm al-Qaeda có thể đã chết. Rốt cuộc, trong suốt năm 2002, không có tin tức gì từ bin Laden để xác lập “bằng chứng còn sống”. Thư ký báo chí của Bush, Ari Fleischer nhớ lại: “Tổng thống nghĩ có lẽ chúng tôi đã xóa sổ ông ta rồi. Ông ấy đã chết và chúng tôi không biết điều đó. Bị giết ở Tora Bora hay nơi nào khác”.

Sự không chắc chắn về tình trạng của bin Laden bắt đầu thay đổi vào lúc 10 giờ tối  ngày 12 tháng 11 năm 2002, khi Ahmad Zaidan, trưởng văn phòng Al Jazeera ở Pakistan, nhận được một cuộc gọi vào điện thoại di động của mình từ một số lạ. Một người đàn ông có giọng Pakistan nói bằng tiếng Anh, “Tôi có một điều thú vị và một tin sốt dẻo dành cho bạn. Hãy gặp tôi ở Chợ Melody, phía sau khách sạn Islamabad.” Zaidan liền lái xe qua một trận mưa lớn và đỗ xe ở chợ, nơi thường đông đúc người bán hàng rong và người mua sắm, nhưng giờ vắng tanh vì thời tiết xấu và trời đã tối. Ngay khi ông ấy bước ra khỏi xe, một người đàn ông quấn khăn mặt đến gần và trao cho ông một đoạn băng ghi âm và nói: “Đây là của Osama bin Laden.”

Zaidan thốt lên “Đợi đã”, nhưng người đưa tin của bin Laden đã biến mất nhanh chóng như khi xuất hiện. Zaidan nhét chiếc băng ghi âm vào máy ghi âm trên ô tô của mình và nhận ra ngay đó là giọng nói của bin Laden, và những gì thủ lĩnh al-Qaeda nói trong cuốn băng là bằng chứng rõ ràng ông còn sống sau trận chiến Tora Bora. Đó là một tin sốt dẻo đối với Al Jazeera.

Trở lại văn phòng của mình, Zaidan bắt đầu chuyển đoạn băng ghi âm của bin Laden cho trụ sở của Al Jazeera ở Qatar. Tin tức nhanh chóng lan truyền khắp thế giới: “Bin Laden Còn Sống.” Trong cuốn băng, bin Laden ca ngợi một loạt vụ tấn công khủng bố gần đây do những kẻ hậu thuẫn mình gây ra: vụ đánh bom một giáo đường Do Thái ở Tunisia, vụ tấn công một tàu chở dầu của Pháp ngoài khơi bờ biển Yemen, và vụ đánh bom liều chết tại hai hộp đêm trên đảo Bali ở Indonesia khiến 200 du khách phương Tây, chủ yếu là trẻ tuổi, thiệt mạng, và những hy vọng mong manh cho rằng  bin Laden có thể đã chết vì các vết thương mà ông ta hứng chịu ở chiến trường Tora Bora đã bị dập tắt. Vào đêm đoạn băng được tung ra, Cố vấn An ninh Quốc gia Condoleezza Rice đã gọi điện cho Tổng thống Bush tại Nhà Trắng để báo cho ông tin xấu rằng bin Laden vẫn còn sống nhăn và vẫn khỏe mạnh.

Bin Laden còn sống, nhưng ông ta ở đâu? Sự nhất trí trong chính phủ Hoa Kỳ trong vài năm đầu sau vụ 11/9 là y đang ẩn náu trong hoặc xung quanh các khu vực bộ tộc của Pakistan, nơi al-Qaeda đã bắt đầu tự xây dựng lại sau Trận chiến Tora Bora. Một số quan chức tình báo cũng cho rằng y có thể đang sống ở vùng cực bắc Pakistan, ở vùng núi Chitral dân cư thưa thớt. Phân tích này một phần dựa trên nhóm  cây cối có nguồn gốc trong khu vực được nhìn thấy trong đoạn video năm 2003 về bin Laden, và dựa trên khoảng thời gian dường như cần thiết để các đoạn băng ghi âm của bin Laden đến được với các cơ quan truyền thông như Al Jazeera. Khi bin Laden bình luận về các sự kiện tin tức quan trọng, thông thường phải mất khoảng ba tuần để các đoạn băng được tung ra công luận. Nhưng ngay cả mô hình đó đôi khi cũng thay đổi. Sau đó Cánh quân Ả Rập Saudi của al-Qaeda đã tấn công lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Jeddah vào đầu tháng 12 năm 2004, giết chết 5 nhân viên, bin Laden đã công bố một đoạn băng ghi âm ca ngợi chiến thắng này được lên sóng chỉ sau hơn một tuần. Có lẽ rốt cuộc y không có mặt trong vùng Chitral?

_______

SAU KHI TALIBAN SỤP ĐỔ, trên thực tế, nhiều thủ lĩnh của al-Qaeda đã không đặt chân đến các khu vực bộ tộc ở Pakistan. Một số trốn sang Iran, nhưng hầu hết thích ẩn náu ở Karachi, một trong những thành phố lớn nhất trên thế giới. Một trong những con trai lớn của bin Laden, Saad bin Laden, người gần đây đã đảm nhận một vai trò lãnh đạo trong al-Qaeda, đã dành 6 tháng đầu năm 2002 sống ở Karachi. Y đã giúp một bà dì của mình  và một số đứa con của cha di chuyển từ Pakistan tới Iran, ở đây sau đó họ đã bị quản thúc tại gia trong nhiều năm. Saad đã đến với họ ở Iran cùng với một số nhà lãnh đạo nổi tiếng của al-Qaeda, chẳng hạn như Saif al-Adel, một cựu sĩ quan đặc nhiệm Ai Cập đã chiến đấu chống lại Liên Xô ở Afghanistan. Từ Iran, Adel ủy quyền cho chi nhánh al-Qaeda ở Ả Rập Saudi bắt đầu một loạt vụ tấn công khủng bố ở vương quốc Ả Rập Xê Út bắt đầu ở Riyadh vào tháng 5 năm 2003, một chiến dịch đã giết chết 20 người.

Từ một ngôi nhà an toàn của họ ở Karachi, hai trong số những người lập kế hoạch chủ chốt của vụ 11/9, KSM và Ramzi bin al-Shibh, đã có một cuộc phỏng vấn bao quát với một phóng viên Al Jazeera vào mùa xuân năm 2002, trong đó trình bày chi tiết cách họ lên kế hoạch. các cuộc tấn công vào New York và Washington. Vài tháng sau, vào ngày kỷ niệm đầu tiên của vụ 11/9, bin al-Shibh bị bắt ở Karachi cùng với các thành viên khác của al-Qaeda.

Được tìm thấy trong ngôi nhà an toàn của họ là 20 gói hộ chiếu và tài liệu của vợ con bin Laden, nhấn mạnh vai trò quan trọng của Karachi đối với gia đình bin Laden và giới thân cận sau khi Taliban sụp đổ.

Karachi, thủ đô kinh doanh của Pakistan, cũng là nơi al-Qaeda thực hiện các hoạt động ngân hàng. Trong khi bin Laden đang kẹt tiền ở Tora Bora vào mùa đông năm 2001 thì ở Karachi vào năm sau, KSM thường xuyên phải xử lý hàng trăm nghìn đô la. Ví dụ: KSM đã đưa ra 130.000 đô la tới nhóm khủng bố Đông Nam Á Jemaah Islamiya, sau vụ tấn công khủng bố thành công ở Bali vào tháng 10 năm 2002.

Tại Karachi, KSM lên kế hoạch cho đợt tấn công thứ hai vào phương Tây, kế hoạch cho máy bay đâm vào sân bay Heathrow và lên kế hoạch sử dụng các thiết bị nổ điều khiển từ xa giấu bên trong hộp trò chơi Sega mà al-Qaeda lúc đó đang phát triển. Y cũng hy vọng khởi động lại chương trình nghiên cứu bệnh than còn non trẻ của al-Qaeda, thảo luận khả năng này với Yazid Sufaat, một người Malaysia đã nghiên cứu về hóa sinh tại Đại học Bách khoa bang California và trước đó đã cố gắng phát triển loại bệnh than “được vũ khí hóa” cho al-Qaeda nhưng không thành công. Sufaat tâm sự với KSM rằng mình đã tiêm vắc-xin phòng bệnh than để không bị ảnh hưởng khi nghiên cứu cho al-Qaeda, nhưng chương trình chưa bao giờ cất cánh.

Âm mưu của KSM đột ngột kết thúc khi y bị bắt ở Rawalpindi vào ngày 1 tháng 3 năm 2003, trong một cuộc đột kích lúc 3 giờ sáng tại thành phố nơi đặt trụ sở của quân đội Pakistan. Y bị bắt nhờ sự giúp đỡ của một người cung cấp thông tin đã lẻn vào phòng tắm của ngôi nhà nơi tên khủng bố đang ở, sau đó nhắn tin cho các chỉ huy người Mỹ của anh ta, “Tôi đang ở bên cạnh KSM.” Tối hôm đó, “giám đốc hoạt động đối ngoại” của al-Qaeda đã bị bắt.

VIỆC BẮT ĐƯỢC KSM đã mang lại cho CIA một kho thông tin tình báo. Y không chỉ mang theo ba bức thư của bin Laden, một trong số đó gửi cho các thành viên gia đình ở Iran, mà CIA còn lấy được máy tính của y. Trên ổ cứng 20 gigabyte, trong một tài liệu có tựa đề “Lịch trình của người bán”, các sĩ quan tình báo đã tìm thấy danh sách 129 thành viên al-Qaeda và bản kê khai các khoản trợ cấp hàng tháng của họ. Bảng tính trên máy tính liệt kê những gia đình đã nhận hỗ trợ tài chính từ nhóm khủng bố; còn có danh sách các “tử đạo” bị thương hoặc bị giết và ảnh trong hộ chiếu  của các đặc vụ.

Tuy nhiên, không điều nào trong số này đưa CIA đến gần bin Laden hơn.

Vào tháng 10 năm 2003, bin Laden kêu gọi tấn công các nước phương Tây có quân đội đang chiến đấu ở Iraq; sau đó, bọn khủng bố đã đánh bom lãnh sự quán Anh ở Thổ Nhĩ Kỳ và những người đi làm trên đường đến nơi làm việc ở Madrid. Và trước thềm cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2004, bin Laden bất ngờ xuất hiện trong một đoạn băng video chế nhạo Bush vì đang đọc câu chuyện về chú dê cưng cho các học sinh tại trường tiểu học ở Florida trong khi vụ tấn công 11/9 đang diễn ra. Trong đoạn băng đó, bin Laden cũng đáp lại lời tuyên bố thường xuyên của Bush rằng al-Qaeda tấn công Hoa Kỳ vì các quyền tự do của nước này chứ không phải vì chính sách đối ngoại của nước này, ông nói một cách mỉa mai: “Trái ngược với tuyên bố của Bush cho rằng chúng tôi ghét tự do. Nếu điều đó là sự thật thì hãy để ông ta giải thích cho chúng tôi tại sao chúng tôi không tấn công Thụy Điển?” Vào tháng 12 năm 2004, bin Laden kêu gọi tấn công vào các cơ sở dầu mỏ của Ả Rập Saudi, và sau đó là một loạt các cuộc tấn công vào các nhà máy lọc dầu của các công ty năng lượng.

Bất chấp những đoạn băng video chế nhạo, một số thành viên chủ chốt của al-Qaeda đã bị tiêu diệt từ năm 2002 đến năm 2005. Tất cả bọn họ đều bị bắt tại các thành phố đông đúc của Pakistan. Các thành viên của al-Qaeda phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan: nếu họ ngừng sử dụng điện thoại hoặc Internet, điều đó sẽ khiến họ khó bị tìm ra hơn nhiều nhưng cũng khiến việc lập kế hoạch tấn công khủng bố và liên lạc trở nên khó khăn hơn với đồng bọn. Cuối cùng, rất ít thành viên al-Qaeda vứt bỏ điện thoại di động hoặc ngừng sử dụng Internet. CIA đã sử dụng các công nghệ định vị địa lý mới xuất hiện để theo dõi những chiếc điện thoại đó và định vị  các địa chỉ IP mà các đặc vụ đó sử dụng. KSM bị theo dõi một phần thông qua việc hắn sử dụng thẻ SIM điện thoại di động Thụy Sĩ, loại thẻ rất phổ biến trong giới hoạt động al-Qaeda vì chúng có số phút trả trước và người mua không cần cung cấp tên.

CIA cũng sử dụng phần mềm tương đối mới để lập bản đồ những kết nối tiềm năng giữa những kẻ bị tình nghi là khủng bố và số các chiếc điện thoại di động bị nghi ngờ, chẳng hạn chương trình có tên là Sổ tay Nhà Phân tích. Một thiết bị của Thung lũng Silicon tên là Palantir đã trở thành công cụ yêu thích của  cơ quan tình báo Hoa Kỳ, kiếm hàng trăm triệu đô la kinh doanh mỗi năm vì khả năng đối chiếu thông tin từ nhiều cơ sở dữ liệu và tạo ra một bức tranh đầy đủ như có thể về nghi phạm. Và một lĩnh vực công việc hoàn toàn mới đã được tạo ra tại CIA: công việc của “người nhắm mục tiêu”, người hỗ trợ những đặc vụ săn khủng bố bằng cách tập hợp bất kỳ mẩu thông tin nào từ “ống xả kỹ thuật số” của nghi phạm, nghĩa là từ điện thoại di động, giao dịch ATM và bất kỳ thông tin có sẵn nào khác. Các nguồn lực bổ sung dành cho việc tấn công al-Qaeda nhanh chóng được chuyển tới CIA. Trong năm đầu tiên sau ngày 11/9, Trung tâm Chống Khủng bố của Cơ quan đã tăng từ 340 lên 1.500 đặc vụ và nhà phân tích.

Mối quan hệ giữa CIA và cơ quan tình báo quân sự Pakistan, ISI, khá tốt trong những năm đầu tiên sau vụ 11/9. Xét cho cùng, al-Qaeda là kẻ thù chung cũng nhắm mục tiêu vào tổng thống Pakistan, Tướng Pervez Musharraf, người là đối tượng của hai vụ ám sát nghiêm trọng của nhóm khủng bố vào tháng 12 năm 2003. Tướng Asad Munir, người phụ trách các hoạt động của ISI tại Tỉnh Biên giới Tây Bắc trong những năm đầu tiên sau 9 năm /11, nhớ lại về CIA “Chúng tôi rất tin tưởng vào tất cả người của họ. Không có gì che giấu cả.” Munir nói rằng trong hàng chục chiến dịch vào năm 2002, ông đã hợp tác chặt chẽ với CIA, nơi có ít sĩ quan tại hiện trường và cần nhân lực mà ISI có thể cung cấp. Đặc vụ al-Qaeda bị bắt ở các thành phố của Pakistan trong những năm đầu tiên sau vụ 11/9 bao gồm Abu Zubaydah, kẻ cung cấp nguồn hỗ trợ hậu cần cho al-Qaeda; Walid bin Attash, người đóng vai trò trong vụ tấn công tàu USS Cole ở Yemen; Ahmed Khalfan Ghailani, một trong những kẻ chủ mưu vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ ở Châu Phi năm 1998; và Abu Faraj al-Libi, nhân vật thứ ba của al-Qaeda, kẻ đã bị bắt giữ bởi các sĩ quan cảnh sát cải trang trong bộ khăn trùm đầu. Như đã nói, Pakistan đã bàn giao 369 phiến quân bị tình nghi cho Hoa Kỳ trong 5 năm sau các cuộc tấn công vào New York và Washington, nhờ đó chính phủ Pakistan đã kiếm được tiền thưởng hàng triệu đô la.

Các thủ lĩnh còn lại của al-Qaeda phải đối mặt với một quyết định mang tính sống còn: ở lại các thành phố của Pakistan, nơi họ có thể dễ dàng giữ liên lạc với các đồng nghiệp trong nước và với các chiến binh khác trên khắp thế giới, hoặc rút lui về nơi trú ẩn an toàn trong các khu vực bộ tộc của Pakistan, nơi việc giao tiếp với thế giới bên ngoài khá khó khăn, nhưng tầm với của CIA và các cơ quan tình báo Pakistan ở mức tối thiểu hoặc không tồn tại.

Các thủ lĩnh của Al-Qaeda giờ đây chọn sự sống còn hơn là thông tin liên lạc hiệu quả.

Bình luận về bài viết này