Người Nhật đã học được gì từ những người phương Tây đầu tiên đến Nhật? (Phần 1)

Trần Thanh Ái

Trong lời giới thiệu quyển Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa của Yoshiharu Tsuboi, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Đầu thế kỷ XIX, Việt Nam, Nhật Bản hình như chưa cách biệt nhau là mấy, đến Tự Đức thì thời kỳ này ở Việt Nam đại để cũng là thế kỷ của Minh Trị ở Nhật Bản, hai nước đều phải ‘đối diện’ với một loạt vấn đề. Thế mà trước bão táp Âu – Mỹ, nước Nhật Bản giữ vững độc lập và nhanh chóng trở thành cường quốc ngang hàng với các nước lớn mạnh Âu – Mỹ, còn Việt Nam thì suy đốn không cứu chữa nổi, bị Pháp lấn áp, gặm dần, nuốt trộng, rốt cục trở thành thuộc địa, xiềng chân gông cổ cho đến đỗi cái tên Việt Nam cũng bị biến mất khỏi bản đồ thế giới” (Tsuboi Y. 1999).

Thật khó để xác định độ cách biệt nhau giữa Việt Nam và Nhật Bản vào đầu thế kỷ XIX, vì chúng ta không có những số liệu về kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học của hai nước vào thời ấy để có sự so sánh đáng tin cậy. Thế nhưng chúng ta lại có không ít thông tin liên quan đến thái độ của người Nhật đối với nền văn minh vật chất và tinh thần của người châu Âu từ những ngày đầu tiếp xúc, cũng như những nỗ lực của họ để tiếp thu nền văn minh ấy. Đó cũng là những chỉ dấu rất quan trọng cho phép chúng ta nhận ra những điều kiện cơ bản giúp người Nhật thực hiện được những tiến bộ thần kỳ ngày nay. Thế nhưng khi nói về việc canh tân của nước Nhật, đa số tài liệu ở Việt Nam chỉ nói về thời kỳ Minh Trị Thiên hoàng từ nửa sau thế kỷ XIX mà thôi, như thể là trong các thế kỷ trước đó người Nhật quay lưng lại hoàn toàn với nền văn minh phương Tây. Trong bài viết này chúng tôi sẽ cố gắng giới thiệu những nỗ lực của họ trong việc tiếp thu nền khoa học – kỹ thuật phương Tây trước khi áp dụng chính sách tỏa quốc năm 1639, giai đoạn mà D. Kikuchi gọi là Thời kỳ thứ nhất của trào lưu học hỏi phương Tây (Kikuchi D. 1915, tr. 55-59), còn Sugimoto M. & Swain D. L. thì gọi là làn sóng văn hóa phương Tây thứ nhất (1989, tr. 156).

  1. Vài nhận xét của người phương Tây về người Nhật

Như đã nói trong bài viết trước(1), năm 1543 người Bồ Đào Nha đã cập bến Tanegashima, đồng thời đã mở ra thời kỳ mới cho đất nước Nhật Bản, được đánh dấu bằng việc mang đến nhiều điều mới lạ, đồng thời cũng gây ra nhiều biến động trên đất nước này. Sáu năm sau cái mốc lịch sử đó, năm 1549, Francis Xavier và nhiều nhà truyền giáo dòng Tên lần lượt đặt chân lên xứ Mặt Trời mọc. Họ làm nhiệm vụ truyền giáo nhưng cũng gián tiếp phổ biến những kiến thức khoa học của châu Âu thời bấy giờ. Khi tiếp xúc với họ, người Nhật mới dần dần biết được rằng trái đất hình tròn, và lần đầu tiên họ chứng kiến các thủ thuật y học của châu Âu, kể cả các ca giải phẫu, mà nền y học Trung Hoa không hề có, như Nhật hoàng Akihito đã xác định (Akihito 1992, tr. 578). Thật vậy, người châu Âu đã mang đến Nhật nhiều điều mới lạ đến khó tin đối với rất nhiều người: mãi đến năm 1600, khi tiếp chuyện với hoa tiêu W. Adams của chiếc thuyền Hà Lan de Liefde cập bến Nhật Bản, lãnh chúa Ieyasu vẫn không thể tin là ông ta từ châu Âu đến Nhật bằng cách đi về hướng Tây Nam để vòng qua eo biển Magellan rồi chuyển hướng lên Tây Bắc, hoàn toàn khác với các nhà buôn Bồ Đào Nha và các nhà truyền giáo trước đó phải đi về hướng Đông (Boxer C. R. 1950, tr. 2).

Fr. Xavier là người đầu tiên đã có những nhận xét về người Nhật; ông đã nhận ra là họ có nhiều ưu điểm mà nhiều dân tộc khác không có. Trong thư đề ngày 3 tháng 11 năm 1549 gửi các cha và sư huynh dòng Tên ở Goa(2), Xavier đã viết như sau:

“Trước hết ở những nơi trên đất Nhật Bản mà tôi đã tiếp xúc, họ hơn hẳn những dân tộc mà chúng ta vừa mới khám phá về tính trung thực trong phong tục tập quán, đến độ mà tôi cho rằng không có một dân tộc nào hơn người Nhật về lòng tốt. Khí chất của họ hiền hòa, thành thật và không lừa dối, lại trọng danh dự, đến độ mà họ yêu thích nó hơn hẳn mọi thứ. Thật sự là đa số họ khá nghèo; nhưng cái nghèo không bị ai khinh rẻ. Vì họ cố giữ một điều mà tôi không biết các tín đồ Thiên Chúa ở nơi nào đó có làm được như vậy không, đó là các quý tộc nghèo luôn sống trong danh dự do phẩm chất của họ mang lại, cũng như khi họ giàu có” (Xavier Fr. 1660, tr. 334).

Ông cũng rất ấn tượng về số người biết chữ ở Nhật: trong thư trên, ông cho biết là phần lớn họ đều biết đọc biết viết, không cờ bạc, không trộm cắp, sống ngay thẳng (tr. 336-337). Sau gần ba năm truyền giáo trên đất Nhật, Xavier đã hiểu thêm nhiều về đất nước và con người ở đó, và nhận thấy người Nhật rất tò mò muốn tìm hiểu những điều mới lạ, đặc biệt là những gì liên quan đến thế giới xung quanh. Vì thế, để cho việc truyền giáo được thuận lợi, trong thư đề ngày 9 tháng 4 năm 1552 gửi cho người sáng lập dòng Tên Ignatius Loyola(3), Xavier đã lưu ý là các nhà truyền giáo được cử đến Nhật cần phải được trang bị kỹ lưỡng không những về kiến thức thần học và triết học, mà còn phải rành về khoa học tự nhiên như vũ trụ học hay thiên văn học:

“Một việc rất quan trọng là họ [các nhà truyền giáo sắp sang Nhật] phải thật tinh thông về thần học và triết học; nhưng đặc biệt là về sự tinh tế của phép biện luận. Cũng rất mong rằng những linh mục này phải thành thạo về thiên văn, vì người Nhật rất tò mò muốn biết các hiện tượng nguyệt thực và nhật thực xảy ra như thế nào, nhất là tại sao mặt trăng lại thay đổi hình dáng thường xuyên đến vậy, […] các sao chổi, sấm chớp, mây trời, mưa đá, giông tố được hình thành như thế nào: những lời giải thích về các hiện tượng ấy sẽ làm cho họ hài lòng biết bao nhiêu, và kiến thức về những điều bí mật mà ta cho họ biết sẽ khiến họ mở lòng hơn, và họ sẽ sẳn sàng tin vào những sự thật khác của đức tin của chúng ta” (Xavier Fr. 1660, tr. 509-510).

Năm 1561, huynh Juan Fernández là người tháp tùng cùng Xavier đến Nhật năm 1549 cũng đã bình luận về khả năng trí tuệ của người Nhật: ông nhận thấy rằng người Nhật tiếp thu bài học dễ dàng hơn người Tây Ban Nha (Moran J. F. 2004, tr. 151). Nhà truyền giáo dòng Tên Lourenco Mexia (1540–1599) cũng có nhận xét về người Nhật:

“Người Nhật nói chung rất khỏe mạnh, vì khí hậu ôn hòa và trong lành, và cũng vì họ ăn uống rất ít và không bao giờ uống nước lạnh, là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Khi ngã bệnh, chỉ một lúc sau là họ hồi phục mà gần như không uống thuốc gì cả. […] Họ ngủ rất ít và giấc ngủ rất nông, và để được như vậy thì họ uống trà. Cũng vì ăn uống thanh đạm mà họ có đầu óc rất tinh tế và minh mẫn. Chỉ trong hơn một tháng họ có thể hiểu được chữ viết của chúng ta, và họ có trí nhớ tuyệt vời, bất cứ đứa trẻ nào cũng có thể nhắc lại một tin nhắn vừa được nói với nó, dù cho rất dài” (Cooper M. 1965, tr. 241).

Năm 1611, trong bức thư gửi về châu Âu sau khi thoát chết trong vụ chìm tàu ở Nhật, W. Adams cũng có nói về người Nhật: “Dân chúng ở đây bản chất rất tốt, phong cách rất nhã nhặn, và can trường trong chiến đấu. Luật lệ của họ được thi hành rất nghiêm khắc, không thiên vị đối với những ai vi phạm pháp luật. Họ được cai trị rất văn minh, tôi muốn nói là không có nước nào trên thế giới được cai trị tốt hơn (Danvers F. C. 1896, tr. 151).

  1. Những học hỏi ban đầu

Người Nhật dùng cái tên khinh miệt Nanban-jin 南蛮人 [Nam man nhân] tức người man di phương Nam, để gọi người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, vì họ đến Nhật từ hướng Nam. Tuy nhiên, họ lại rất thán phục các trang bị của những người xa lạ này, cũng như các kỹ năng về hàng hải, phẫu thuật và cả về nghệ thuật. Vì thế mà họ tìm cách học tập để sử dụng và chế tạo: những thứ mà người Nhật học đầu tiên ở người phương Tây, là những thứ có thể ứng dụng ngay lập tức vào đời sống, như vũ khí để chống kẻ thù, y học để chữa trị thương tích và bệnh tật, các dụng cụ thiên văn để làm lịch và đi biển, v.v. Theo Klaus A. Vogel, việc truyền bá kiến thức khoa học và kỹ thuật của châu Âu vào Nhật Bản lên đến cao trào vào thời gian mà nhà truyền giáo Alessandro Valignano hoạt động ở đây, bắt đầu từ năm 1579 (Vogel A. K. 2008, tr. 829). Tuy nhiên, đến năm 1630 Mạc phủ ra lệnh cấm nhập sách vở, mà chủ yếu là sách truyền bá đạo Thiên Chúa. Nhưng việc phân biệt sách truyền giáo và sách về kiến thức khoa học phương Tây không hề dễ dàng nếu không biết tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, vì thế việc tiếp cận với kiến thức cũng rất hạn chế. Một số nhà truyền giáo có kiến thức và kinh nghiệm về y học và giải phẫu, và cách chữa trị vết thương của họ dường như được đặc biệt ưa chuộng, nên có lẽ người Nhật đã học tập được từ họ những kiến thức cơ bản về giải phẫu (Kikuchi D. 1915, tr. 58). Thế là qua trung gian người Hà Lan mà sách vở về thiên văn, y học, toán học và kỹ thuật quân sự của phương Tây được mang vào nước Nhật, và nguồn kiến thức này chẳng những được đánh giá cao mà còn được dịch ra tiếng Nhật, và được háo hức đón nhận (Szczesniak B. 1944, tr. 52).

2.1. Về kỹ thuật quân sự phương Tây

Theo Hideomi Tuge, việc người Bồ Đào Nha mang súng hỏa mai vào nước Nhật năm 1543 là bước khởi đầu của thời kỳ thứ hai trong lịch sử khoa học Nhật Bản (Janeira A. M. 2015, tr. 225). S. Arima thì gọi đó là kỷ nguyên mới (Arima S. 1964, tr. 352), vì loại vũ khí mới này làm thay đổi nhiều thứ, từ cơ cấu quân đội (giảm kỵ binh) đến đối tượng tuyển quân (tuyển cả nông dân), chiến thuật quân sự (hệ thống pháo đài), v.v.

Như chúng ta đã biết, năm 1543 người Bồ Đào Nha đến Tanegashima cùng với nhiều đồ vật lạ lẫm, trong đó có súng hỏa mai; nó đã khiến người Nhật rất tò mò, nhất là sau khi chứng kiến hiệu quả của thứ vũ khí mới mẻ này trong buổi biểu diễn tại lãnh địa của Tokitaka. Ngay từ những ngày đầu tiếp xúc với súng hỏa mai, vị lãnh chúa này nhận ra ngay lập tức rằng đây chính là thứ mà ông ta cần phải có để tái chiếm đảo Yakushima, và tìm cách chế tạo những khẩu giống như vậy (Lidin O. G. 2004, tr. 3). Về việc này, hoàng thân Akihito đã cho biết chỉ trong vòng mấy năm người Nhật trên đảo Tanegashima đã chế tạo được nhiều khẩu súng(4), và các kỹ thuật chế tạo đã bắt đầu lan truyền khắp nước Nhật (Akihito 1992, tr. 578), còn D. Kikuchi thì xác định rõ là năm 1553 tướng quân Yoshiteru của vùng Anato tỉnh Omi đã có thể tự làm ra những khẩu súng như vậy (Kikuchi D. 1915, tr. 56). Chẳng những họ đã biết cách chế tạo loại vũ khí này, mà chất lượng còn được cho là tốt hơn cả sản phẩm của người Bồ Đào Nha: Yin Xiaodong (2008) dẫn lại từ Chouhai tubian 籌海 [Trù Hải viên biên] của Zheng Ruozeng 鄭若曾 [Trịnh Nhược Tăng, 1503-1570] cho biết rằng trong một trận đánh năm 1548, viên chỉ huy người Trung Hoa tên là Lutang 盧鏜 [Lư Thang] đã tịch thu được của người Nhật nhiều súng hỏa mai. Nhận thấy rằng sản phẩm của người Nhật tốt hơn của phương Tây, nên chính quyền ra lệnh cho người Trung Hoa học cách chế tạo súng (Yin Xiaodong 2008, tr. 49).

Ban đầu việc chế tạo súng chỉ được thực hiện ở đảo Kyushu, nơi mà thuyền người Bồ Đào Nha đã tấp vào, nhưng chỉ mấy năm sau các thợ rèn từ đảo lớn cũng đến đó để nghiên cứu cách chế tạo loại vũ khí mới này. Thậm chí các thợ đúc súng nổi tiếng còn mở trường dạy nghề này, và những người thợ học việc sau đó mở cửa hàng súng ở tận các làng mạc xa xôi. Sakai ở tỉnh Izumi, Yokkaichi và Kunitomo ở tỉnh Kai đã trở nên nổi tiếng như là những trung tâm sản xuất vũ khí thời bấy giờ (Brown M. D. 1948, tr. 238). Tuy nhiên việc tự sản xuất vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu trang bị thứ vũ khí mới này khi mà nước Nhật đang trong giai đoạn quyết liệt của thời Chiến quốc (Sengoku, kéo dài từ 1467 đến 1615): theo một ghi chép của người Bồ Đào Nha, năm 1550 lãnh chúa Tanegashima đã cử một sứ giả đến Phó vương ở Goa (Ấn Độ) để xin viện trợ 500 tay súng để tấn công đảo Ryukyu, tuy nhiên phó vương đã từ chối (Takekoshi Y. 1930, tr. 287). Nhiều tài liệu cổ của Nhật cho biết là trong chiến dịch tấn công Triều Tiên từ năm 1592 đến 1598, một nửa đội quân viễn chinh Nhật được trang bị loại súng này (Brown M. D. 1948, tr. 238-240). Ngay từ những năm cuối thế kỷ XVI, người Nhật đã biên soạn tài liệu về cách sử dụng súng Inatomi Ryu Kajutsu 稲富流火術 [Đạo phú lưu hỏa thuật] (Janeira A. M., tr. 225), hoặc Inatomi-ryu teppo denshō 稲富流鉄砲伝書 [Đạo phú lưu thiết pháo truyền thư] vào năm 1595 (Boxer 1936).

Hai trang trong sách dạy kỹ thuật bắn súng năm 1595 tại trường huấn luyện Inatomi (Inatomi-ryū teppō densho 稲富流鉄砲伝書). Nguồn: New York Public Library, Spencer Collection, Japanese M. 53

Súng đại bác cũng sớm chiếm một vị trí quan trọng trong nghệ thuật quân sự của người Nhật: họ bắt đầu làm quen với đại bác từ năm 1551, khi Ōtomo được “Vua La Mã” gửi tặng 2 khẩu pháo dã chiến. Họ liền bắt tay vào việc chế tạo thử, nhưng nhiều thập kỷ sau đó họ chưa thể chế tạo những chi tiết phức tạp (Brown M. D. 1948, tr. 241). Khoảng năm 1558, để bảo vệ pháo đài dọc theo bờ biển Uma chống lại lãnh chúa Mōri của tỉnh Aki, Michinao Kōno lãnh chúa vùng Iyo cũng đã thử chế tạo đại bác với nòng súng bằng thân cây thông được đục rỗng ruột rồi dùng đay thép niềng bên ngoài vì chưa biết cách đúc nòng súng bằng thép (Takekoshi Y. 1930, tr. 288).

Năm 1568, trong một bức thư gửi cho một nhà truyền giáo dòng Tên ở Trung Hoa, Ōtomo Sorin mong muốn có được súng đại bác của người Bồ Đào Nha. Ông cho biết rằng trước đó ông đã được tặng một khẩu, nhưng trên đường từ Malacca về nó đã bị rơi xuống biển. Ōtomo nói rằng ông ta đang bảo vệ giáo dân đạo Thiên Chúa và các tu sĩ dòng Tên trong lãnh địa của mình, và rất cần có một khẩu khác để chống lại kẻ thù. Ông ta hy vọng rằng nếu bảo vệ tốt lãnh địa của mình thì nhà thờ, giáo dân, các nhà truyền giáo và người Bồ Đào Nha cũng sẽ được an toàn hơn (Brown M. D. 1948, tr. 242). Không thấy tài liệu nào nói về kết quả của thư cầu viện này.

Khi Bồ Đào Nha đặt thương điếm ở Macao năm 1557 và Nagasaki mở cửa khoảng năm 1570 thì việc buôn bán giữa hai hải cảng này trở nên thường xuyên, trong số hàng hóa có vũ khí là mặt hàng được các lãnh chúa săn đón nhiều nhất. Các lãnh chúa đua nhau trang bị súng ống cho quân đội của mình, nhất là lãnh chúa Kyushu. Các lãnh chúa liền cho người thân tín học cách chế tạo vũ khí, kể cả bằng cách vào đạo Thiên Chúa để nắm được bí mật chế tạo từ người Bồ Đào Nha (Boxer C. R. 1931, tr. 70). Có lẽ Oda Nobunaga là người đầu tiên dùng pháo binh và súng hỏa mai trong các chiến dịch quân sự: năm 1571 ông đã đặt hàng cho các thợ đúc súng ở vùng Kunitomo chế tạo một khẩu súng có thể nạp được 750 gr thuốc đạn. Trong trận đánh Noguchi vào năm 1578 cũng như trong các trận vào cuối đời của Nobunaga (1582), đại bác đã có mặt ở những tỉnh xa xôi như Etchū và Nōto. Sau năm 1582, pháo binh đóng vai trò quan trọng trong tất cả các cuộc chiến bao vây thành trì: trong trận đánh năm 1589 chống lại Hōjō Ujinao, Hideyoshi đã ra lệnh dùng 20 khẩu đại bác. Hōjō cũng dựa vào thứ vũ khí này trong việc bảo vệ lâu đài của ông ở Odawara (Brown M. D. 1948, tr. 242-243).

Sau đó, đến khi thuyền Liefde của W. Adams gặp nạn phải tấp vào bờ biển nước Nhật năm 1600, toàn bộ trang bị trên thuyền bị tịch thu, trong đó có nhiều vũ khí như 19 khẩu đại bác bằng đồng và 5000 quả đạn, 500 khẩu súng hỏa mai. Lãnh chúa Ieyasu đã mang đi tất cả súng ống và trang thiết bị của thuyền gặp nạn Liefde và đã sử dụng rất hiệu quả trong trận chiến thắng Sekigahara vào tháng 10 năm 1600 (Boxer 1931, tr. 73), dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của đội quân miền Tây vào năm 1615 bằng trận công thành Osaka, và Chiến quốc thời đại chính thức kết thúc.

Mặc dù nước Nhật đã được thống nhất dưới thời Mạc phủ, hòa bình đã được thiết lập và kéo dài hơn hai trăm năm, nhưng không vì thế mà người Nhật ít quan tâm đến vũ khí phương Tây. Trong vụ dẹp loạn Shimabara (1638-1639), Mạc phủ đã yêu cầu thương điếm Hà Lan ở Hirado hỗ trợ về đại bác, và người Hà Lan đã gửi đến Arima những khẩu đại bác lớn nhất mà họ có trong tay, như trong bức thư đề ngày 15 tháng 2 năm 1638 của Nicolaes Koeckebacker, trưởng thương điếm Hirado cho biết (Geerts, 1883, tr. 75). Sau khi đã dẹp yên cuộc nổi dậy Shimabara, viên tổng chỉ huy quân đội Mạc phủ đã đến Hirado và hối thúc viên trưởng thương điếm mới là Fr. Caron hướng dẫn ông ta làm quen với chiến thuật châu Âu dùng trong việc tấn công pháo đài, và cách sử dụng súng cối. Vì muốn mối quan hệ với người Nhật được thuận lợi, Fr. Caron bèn hướng dẫn cho họ kỹ thuật súng cối (Arima S. 1964, tr. 355).

2.2. Về y học phương Tây

Trong số những thứ mà người Nhật quan tâm, y học chiếm vị trí quan trọng, nhất là giải phẫu, vì các cuộc chiến tranh giữa các lãnh chúa đã gây ra nhiều người bị thương tích. Về y học cổ truyền Nhật Bản, nhà truyền giáo dòng Tên Valignano nhận xét như sau: “Thuốc men và cách chăm sóc bệnh nhân của họ hoàn toàn khác với chúng ta; những thứ mà chúng ta cho phép bệnh nhân thì họ lại cấm, và những thứ chúng ta cấm thì họ lại cho bệnh nhân dùng (Cooper M. 1965, tr. 239).

Trong giai đoạn đầu, người Nhật học hỏi cách chữa trị bệnh tật ở người Bồ Đào Nha. Nhưng đến năm 1639, người Bồ Đào Nha bị trục xuất, và người Hà Lan trở thành nguồn thông tin duy nhất về nền khoa học và kỹ thuật phương Tây mà người Nhật có thể học tập.

2.2.1. Học hỏi người Bồ Đào Nha

Trong một tài liệu do Sugita Genpaku (1733-1817) biên soạn năm 1815, tựa là Rangaku kotohajime 蘭学事始 [Lan học sự thủy], có đoạn nói về người Bồ Đào Nha mang kỹ thuật y học của họ đến đất Nhật: “Chuyện kể rằng […] nước Nam ban gửi đến [Nam-ban-ji](5) Nhật Bản hai bác sĩ nổi tiếng; họ sống ở Hiko ở miền Nam cùng với Futen Bateren, một đồng đạo của Urugan, người đã đến Nhật trước đó” (Whitney W. N. 1885, tr. 307). Whitney giải thích rằng Futen có lẽ là tên mà người Nhật gọi nhà truyền giáo Louis Froez (hoặc Luís Fróis, 1532-1597), còn Urugan là Organtin Gnecchi (1530 – 1609) vì chữ Bateren chính là biến âm của chữ padre (cha) trong tiếng Bồ Đào Nha, để gọi các linh mục(6). Sách này cũng cho biết là trường học đầu tiên ở Nhật của ngành Tây y có tên là Nam-ban-riū 南蛮流 [Nam man lưu] tức Trường Nam man. Trường này được các phẫu thuật viên thực hành theo kỹ thuật mà người Bồ Đào Nha đã truyền dạy, đặc biệt là khoảng thời gian trước năm 1580 (Whitney W. N. 1885, tr. 310).

Thật ra, tài liệu phương Tây cho biết là người thầy thuốc đầu tiên hành nghề ở Nhật là Luis de Almeida người Bồ Đào Nha. Khi ấy, chỉ có tầng lớp trên người Nhật mới có thể được chăm sóc sức khỏe, còn dân chúng thì không, lại thêm chịu dịch bệnh hoành hành và khốn cùng do nội chiến. Những cảnh phá thai thương tâm và việc trẻ sơ sinh bị bỏ rơi gần như đã trở thành phổ biến. Vì các nhà truyền giáo tận tình chăm sóc sức khỏe cho dân nên họ được chào đón nồng nhiệt (Otori R. 1964, tr. 256). Almeida đến Funai (nay là Oita) năm 1555, ông được lãnh chúa ở đây cho phép chữa bệnh cho dân chúng. Ông rất thành công trong việc giải phẫu các vết thương do súng đạn gây ra. Dựa theo tài liệu còn lưu giữ đến ngày nay, người ta đã xác định được là vào năm 1556, Ōtomo Sōrin lãnh chúa vùng Bungo, một tín đồ tân tòng đã xây một bệnh viện ở Funai để chữa bệnh cho dân địa phương, và đặt nó dưới quyền của Almeida (Okuma S. 1909, tr. 289). Năm 1558, ông còn nhận đào tạo các học viên là tu sĩ dòng Tên và cả người Nhật; họ được dạy về lý thuyết lẫn thực hành (Cook J. H. 2007, tr. 341). Trong số các trường Nam man này có thể kể đến trường Kurizaki do Kurizaki Dozen sáng lập, và trường Yoshida do Yoshida Jikyu sáng lập (Boxer C.R. 1950, tr. 44).

Về tài liệu y khoa, bộ sách xưa nhất nói về y học của người Nam Man hiện còn được lưu giữ là bộ Mangai shūyō(7) 萬外集要 [Vạn ngoại tập yếu] do Yamamoto Gensen biên soạn vào năm 1619 (Michel W. 2008, tr. 287). Ngoài ra, một công trình gồm ba quyển của một tác giả chưa biết tên, và cũng chưa biết chính xác năm hoàn thành, nhưng các nhà nghiên cứu xác định là nó xuất hiện trong thời kỳ Azuchi-Momoyama (1569-1615), với tựa là Namban-ryu mokuishū 南蛮流目集 [Nam man lưu mục y tập] mô tả các bài giảng về mắt trong trường học của người Bồ Đào Nha (Mestler G. E., 1956, tr. 329).

Tượng Luis de Almeida đặt tại Trung tâm Y khoa Almeida, Oita. Bộ Mangai shūyō 萬外集要 (1619) được số hóa và lưu trữ tại Đại học Kyoto. Bộ Namban-ryu mokuishū 南蛮流目集 được số hóa và lưu giữ tại Đại học Kyoto.

Tuy nhiên, theo Mestler G. E., có lẽ người để lại dấu ấn lâu dài đến nền y khoa Nhật Bản vào thời ấy là một người Bồ Đào Nha tên Christovão Ferreira, với trường Nam man được dựng lên tại tỉnh Omi, nơi ông đã dạy phẫu thuật cho người Nhật. Trước khi đến Nhật, ông chưa hề viết sách về y học hay giải phẫu, nhưng vào khoảng năm 1600 dưới tên Chūan Sawano(8), ông viết một sách phẫu thuật bằng tiếng Nhật có tựa là Nambanryū geka-sho, gồm các bài giảng trong trường của người Bồ Đào Nha (Mestler E. G. 1957, tr. 1005).

Năm 1587, việc quân đội của lãnh chúa Satsuma phá hủy bệnh viện của Almeida đã đánh dấu chấm hết cho kế hoạch nhiều triển vọng nhằm kết hợp y học truyền thống phương Đông và phẫu thuật phương Tây. Bên cạnh đó, các bề trên của dòng Tên ra lệnh các nhà truyền giáo trực thuộc không được tham gia vào việc chữa bệnh, và phải bàn giao lại các cơ sở y tế cho các dòng tu khác. Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố khác khiến ảnh hưởng của người Nam man ngày càng suy yếu dưới mắt người Nhật, như tin chiến hạm Armada của Tây Ban Nha bị người Anh đánh bại năm 1588, sự xung đột thường xuyên giữa các nhà truyền giáo dòng Tên và dòng Phan Sinh ở Nhật (Fodstad H., Hariz I. M., Hirabayashi H., Ohye C., 2002, tr. 1019). Những thập niên tiếp theo, nhiều vụ cấm đạo Thiên Chúa khiến cho các hoạt động y học của người Bồ Đào Nha phải hoàn toàn chấm dứt (Michel W. 2005, tr. 173). Tuy nhiên, qua thư từ của các nhà truyền giáo, người ta biết được là những kỹ năng y khoa của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vẫn được lưu truyền trong xã hội, ngay cả sau khi bệnh viện ở Funai bị đóng cửa vào năm 1587 (Michel 2008, tr. 287).

Khi đạo Thiên Chúa gần như bị xóa sạch bằng các biện pháp khắc nghiệt của chính quyền, hoạt động y khoa của người Nam man cũng dần suy yếu, nhưng nó vẫn chưa chết hẳn; một số nơi còn duy trì cho tới những năm đầu của thời Mạc phủ (Ōtori R. 1964, tr. 254).

Trong thời kỳ trước khi áp dụng chính sách tỏa quốc, người ta còn ghi nhận là có ít nhất hai người Nhật ra nước ngoài để học về phẫu thuật phương Tây: đó là Handa Jun’an đi Macao trong khoảng 1596-1624, và Kurisaki Dōki (1566-1651) có lẽ cũng đi học ở Macao và trở về làm việc ở Nagasaki (Sugimoto M.  & Swain D. L. 1989, tr. 220)

  1. Ōtori cho rằng y học của người Nam Man có ảnh hưởng đến y học Nhật Bản ở chỗ nó khơi mào cho người Nhật quan tâm đến nền y học phương Tây. Tuy nhiên, nếu xét về từng mảng kiến thức chuyên ngành mà giới y học Nhật Bản thực sự hiểu biết và phổ biến thì ảnh hưởng ấy không đáng kể trong ngành nội khoa (Ōtori R. 1964, tr. 258-259).

2.2.2. Học hỏi người Hà Lan

Mặc dù người Hà Lan đến sau người Bồ Đào Nha hơn nửa thế kỷ nhưng họ gặp nhiều thuận lợi hơn người Bồ Đào Nha, một phần vì họ không truyền đạo khiến chính quyền Mạc phủ an tâm hơn, và một phần vì họ linh hoạt trong ngoại giao. Sau nhiều vụ phiền toái do người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha gây ra, nhất là lo sợ đạo Thiên Chúa phát triển quá nhanh, nên người Nhật ngày càng ưu ái người Hà Lan; bên cạnh những kiến thức và kỹ năng về bản đồ, hải hành, đóng tàu và quân sự của người Hà Lan, họ còn quan tâm đến mảng y học (Joshi J.S. & Kumar R. 2002, tr. 1062). Sau khi đặt thương điếm ở Deshima, các bác sĩ Hà Lan đã truyền cho họ nhiều bài học về thực hành phẫu thuật và y học phương Tây. Sự kiện này cho phép họ lập một trường huấn luyện phẫu thuật viên. Ban đầu học viên đọc tài liệu và quan sát các bác sĩ Hà Lan thực hành, và họ chỉ được phép ghi lại theo trí nhớ sau khi đọc tài liệu. Sugita Genpaku cho biết là vào năm 1632, nhiều thầy thuốc và phẫu thuật viên đã đến Nhật trên thuyền của Công ty Hà Lan và đã dạy cho họ về phẫu thuật và sinh lý học (Whitney W. N. 1885, tr. 310).

Phương pháp phẫu thuật mà người Hà Lan mang vào nước Nhật chỉ là sự tiếp nối của Namban Ryū Geka, mặc dù tên gọi của nó được đổi thành Kōmō Geka [紅毛外科 Hồng Mao ngoại khoa], hoặc Oranda Ryū Geka [和蘭流外科 Hòa Lan lưu ngoại khoa]. Sự thay đổi tên gọi này nhằm mục đích tránh mọi sự liên tưởng đến đạo Thiên Chúa mà Mạc phủ đã cấm đoán (Sugimoto M. & Swain D. L., 1989, tr. 220). Bác sĩ Hà Lan đầu tiên ở thương điếm Hirado là Hermanus Kerkenaar được ghi tên trong niên giám của công ty Đông Ấn Dagh-Register năm 1630, mà người Nhật gọi là Rankan Nikki 蘭館日 (Ozaki T. N. 1979).

Năm 1631, một bác sĩ giải phẩu tên là Pieter Stamper đến Nhật trên chiếc thuyền Furede đã được cử đến chữa trị cho một Edo Machi Bugyō 江戸町奉行 tức quan cai trị vùng kinh đô, tên là Shimada Toshimasa 島田利正 (Ozaki T. N. 1979, tr. 106). Sự cộng tác này càng phát triển mạnh sau năm 1639, khi Hà Lan là quốc gia Tây phương duy nhất được phép buôn bán ở Nhật Bản.

(còn tiếp)


(Bài đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 2/2024)

Tài liệu tham khảo và trích dẫn

Akihito, 1992. Early Cultivators of Science in Japan. Tạp chí Science, số 258, ngày 23 tháng 10 năm 1992.

Arima S. 1964. The Western Influence on Japanese Military Science, Shipbuilding, and Navigation. Tạp chí Monumenta Nipponica, Vol. 19, No. 3-4.

Boxer C. R. 1931. Notes on Early European Military Influence in Japan (1543-1853). Trong Dutch Merchants and Mariners in Asia 1602-1795 (in lại từ tạp chí Transactions of the Asiatic Society of Japan, 2nd Series, Vol. 8)

Boxer C. R. 1936. Some Aspects of Portuguese Influence in Japan, 1542-1640. http://www.icm.gov.mo/rc/viewer/20017/978. Reprinted from the Transactions of the Japan Society of London, Vol. XXXIII. London: Kegan Paul, Trench, Trübner and Co.

Boxer C. R. 1950. Jan Companie in Japan 1600-1850. The Hague: Springer Science+Business Media Dordrecht.

Brown M. D. 1948. The Impact of Firearms on Japanese Warfare, 1543-98. Tạp chí The Far Eastern Quarterly, Vol. 7, No. 3 (May, 1948).

Cieslik H. 1974. The Case of Christovão Ferreira. Tạp chí Monumenta Nipponica, Vol.29, No.1.

Cook J. H. 2007. Matters of exchange. New Haven & London: Yale University Press.

Cooper M. 1965. They came to Japan. Beckeley and Los Angeles: University of California Press.

Danvers F. C. 1896 (ed). Letters received by the East India Company from its servants in the East. London: Sampson Low, Marston & Company.

Fodstad H., Hariz I. M., Hirabayashi H., Ohye C., 2002. Barbarian Medicine in Feudal Japan. Tạp chí Neurosurgery Vol. 51 No. 4. (October 2002).

Geerts, A. J. C. 1883. The Arima Rebellion and the Conduct of Koeckebacker. Tạp chí Transactions of the Asiatic Society of Japan, Vol. 11.

Janeira A. M. 2015. Old and New Sources of Japanese Progress. Trong Boscaro A., Gatti F., Raveri M. (ed.) 2015 Rethinking Japan V. 2. New York: Routledge.

Joshi J. S. & Kumar R. 2002. The Dutch Physicians at Dejima or Deshima and the Rise of Western Medicine in Japan. Trong Proceedings of the Indian History Congress, Vol. 63 (2002).

Kikuchi D. 1915. The Introduction of Western Learning into Japan. Tạp chí The Rice Institute Pamplet, số 2 October 1915.

Lidin O. G. 2004. Tanegashima – The Arrival of Europe in Japan. Copenhagen: NIAS Press.

Mestler G. E., 1956. A Galaxy of Old Japanese Medical Books with Miscellaneous Notes on Early Medicine in Japan, Part IV: Ophthalmology, Psychiary, Dentistry. Tạp chí Bulletin of the Medical Library Association, 1956 Jul; 44(3).

Mestler E. G., 1957. Introduction to Western Influences in Pre-Meiji Japanese Medicine. Tạp chí Proceedings of the Royal Society of Medicine, Vol. 50.

Michel W. 2005: Western Medicine and Pharmaceutics in 17th Century Japan. Trong Proceedings of the Tenth International Conference on the History of Science in East Asia. Shanghai Jiao Tong University Press.

Michel W. 2008. Medicine and Allied Sciences in the Cultural Exchange between Japan and Europe in the 17th Century. Trong Hans Dieter Ölschleger (ed.) Theories and Methods in Japanese Studies: Current State and Future Developments. Bonn: Bonn University Press.

Moran J. F. 2004. The Japanese and the Jesuits. London and New York: Routledge.

Morris J. H. 2018. Anti-Kirishitan Surveillance in Early Modern Japan. Tạp chí Surveillance & Society 16(4).

Nakayama S. 1969. A history of Japanese astronomy – Chinese background and Western impact. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Okuma S. 1909. Fifty years of New Japan, Vol. 2. New York: E. P. Dutton & Co.

Ōtori R. 1964. The Acceptance of Western Medicine in Japan. Tạp chí Monumenta Nipponica, Vol. 19, No. 3/4 (1964).

Ozaki T. N. 1979. Conceptual Changes in Japanese Medicine during the Tokugawa Period. Luận án tiến sĩ bảo vệ tại University of California at San Francisco.

Sugimoto M. & Swain D. L., 1989. Science and Culture in Traditional Japan. Rusland, Vermont & Tokyo: Charles E. Tuttle Company.

Szczesniak B. 1944. The Penetration of the Copernican Theory into Feudal Japan. Tạp chí The Journal of the Royal Asiatic Society of Great Britain and Ireland, No. 1 (Apr., 1944).

Takekoshi Y. 1930. The Economic Aspects of the History of the Civilization of Japan, vol. 1. London: George Allen & Unwin Ltd.

Tsuboi Y. 1999. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa. TP. HCM: Nxb Trẻ.

Vogel A. K. 2008. European Expansion and Self-Definition. Trong Park K. & Daston L. (ed.). The Cambridge History of Science, Vol. 3: Early Modern Science. New York: Cambridge University Press.

Whitney W. N. 1885. Notes on the History of Medical Progress in Japan. Tạp chí Transactions of the Asiatic Society of Japan, số XII.

Xavier Fr. 1660. Lettres de S. Francois Xavier de la Compagnie de Iesvs, Apotre dv Iapon (Lovys Abelly dịch sang tiếng Pháp). Paris: Chez Georges Iosse.

Yin Xiaodong 2008. Western Cannons in China in the 16th—17th centuries. Tạp chí Icon, Vol. 14 (2008).

Chú thích:

(1) Xem bài “Những người châu Âu đầu tiên đến Nhật Bản” trên tạp chí Xưa & Nay số tháng 7 năm 2023.

(2) C. R. Boxer không cho biết ông đã dựa vào tài liệu nào khi ghi là thư đề ngày 5 tháng 11 năm 1549 (1967, tr. 37), và sau đó rất nhiều tài liệu viết bằng tiếng Anh viết theo ông. Chúng tôi ghi theo các bản dịch tiếng Pháp của Lovys Abelly (1660) và có tham khảo bản của Léon Pagès (Q. 2, 1855, tr. 141-174).

(3) Một số tác giả như Nakayama S. (1969, tr. 81), Sugimoto M. & Swaim L. D. (1989, tr. 200) ghi là thư gửi Ignace Loyola đề ngày 29 tháng 1 năm 1552. Chúng tôi ghi theo các bản dịch tiếng Pháp của Lovys Abelly (1660) và của Léon Pagès (Q. 2, 1855, tr. 299).

(4) F. Mendez Pinto viết rằng chỉ 5 tháng rưỡi sau đó người Nhật đã chế tạo được hơn 600 khẩu, và đến năm 1556 khi ông trở lại Nhật mang quà tặng của Phó vương Bồ Đào Nha ở Ấn Độ cho vua Bungo, con số này lên đến hơn 30.000 khẩu súng (Pinto, bản tiếng Anh của H. C. Gent năm 1653, tr. 173, bản tiếng Pháp của B. Figuier, năm 1830, Q. 2 tr. 328). Bản tiếng Anh của H. Cogan (1892, tr. 265) thì dịch là khoảng 300.000 khẩu, và M. D. Brown (1948) tham khảo H. Cogan nên cho là con số này không đáng tin cậy. Thật ra, nguyên bản tiếng Bồ Đào Nha (1614, Q. 1 tr. 160b) ghi là trinta mil, tức 30.000.

(5) 南蛮寺 Nam ban tự, tức nhà thờ của người Bồ Đào Nha theo cách gọi của người Nhật vào thế kỷ XVI.

(6) Thật vậy, sắc lệnh do Tướng quân thứ hai Tokugawa Hidetada ký năm 1614 được gọi là Bateren tsuihō no fumi 伴天連追放之文 tuyên bố về việc trục xuất các cha cố (Morris J. H. 2018, tr. 410).

(7) Một số tài liệu như Rethinking Japan Vol. 2 (Boscaro A., Gatti F., Raveri M. (ed.) 2015 tr. 224) phiên chuyển là Bangai Shuyu.

(8) Gordon E. Mestler phỏng đoán thời gian quá xa với thực tế: theo Cieslik (1974) thì mãi đến năm 1609 Ferreira mới đến Nhật, và ông chỉ dùng tên Nhật Chūan Sawano khi đã bỏ đạo Thiên Chúa vì không chịu nổi nhục hình khi bị bắt năm 1633. Vì thế việc biên soạn tài liệu y khoa của ông được thực hiện từ năm này đến khi ông mất, năm 1650.

Bình luận về bài viết này