
Peter l. Bergen
Trần Quang Nghĩa dịch
2. TORA BORA
BẤT CHẤP PHẢI RÚT LUI, bin Laden dường như không hề nản lòng. Tại thành phố nhỏ Jalalabad, các thủ lĩnh và chiến binh của al-Qaeda tập hợp lại, và bin Laden đã có những buổi nói chuyện sôi nổi với người của mình và những người ủng hộ địa phương. Vào khoảng đầu tháng chay Ramadan, vào ngày 17 tháng 11, anh cùng Ayman al-Zawahiri và một đội vệ sĩ khởi hành trên chuyến đi gập ghềnh kéo dài ba giờ đồng hồ trên một con đường đất và đá hẹp đến vùng núi Tora Bora, nơi họ dự định đào hào và đối mặt với cuộc tấn công dữ dội sắp tới của người Mỹ.
Tora Bora là căn cứ lý tưởng cho chiến tranh du kích. Lực lượng thánh chiến Afghanistan thường xuyên tiến hành các chiến dịch tấn công rồi rút chạy chống lại Liên Xô từ căn cứ đó trong suốt những năm 1980 vì họ có đường thoát dễ dàng bằng cách rút quân đến Parachinar, một vùng của Pakistan nhô ra như một mỏ vẹt vào Afghanistan. Và bin Laden đã đánh trận lớn đầu tiên chống lại Liên Xô vào năm 1987 tại Jaji, một thung lũng cách đó không xa, cách Tora Bora hai mươi dặm về phía tây. Mặc dù Tora Bora từng là mục tiêu của một số cuộc tấn công của bộ đội Nga, một trong số đó có sự tham gia của hàng nghìn binh sĩ, hàng chục máy bay trực thăng vũ trang và một số máy bay chiến đấu MiG, nhưng những hang động nằm sâu trong Dãy núi Spin Ghar bao quanh Tora Bora kiên cố đến mức các cuộc tấn công của Liên Xô đã bị ngăn chặn bởi một lực lượng không quá một trăm chiến binh Afghanistan.
Năm 1987, bin Laden bắt đầu mở một con đường thô sơ từ Jaji đến Jalalabad, lúc đó bị Liên Xô chiếm đóng; nó đi trực tiếp qua dãy núi Tora Bora. Đó là một nhiệm vụ đầy thử thách, ông phải sử dụng máy ủi do công ty xây dựng của gia đình mình cung cấp. Phải mất hơn sáu tháng để xây dựng con đường mà chỉ xe bốn bánh mới có thể di chuyển.
Khi bin Laden phải lưu vong khỏi Sudan vào năm 1996, ông chọn sống ở khu định cư Tora Bora của Milawa, nằm cao trên núi, trong một ngôi nhà bằng bùn kiểu Afghanistan được bao quanh bởi các trạm canh gác. Ông ấy nói với những vị khách đến thăm nơi nghỉ dưỡng ở Tora Bora của mình: “Tôi thực sự cảm thấy an toàn khi ở trên núi. Tôi thực sự tận hưởng cuộc sống của mình khi ở đây.” Chính ở Milawa mà bin Laden đưa các con trai lớn của mình đi bộ đường dài thám hiểm cả ngày, khuyên nhủ họ: “Chúng ta không bao giờ biết khi nào chiến tranh sẽ xảy ra. Chúng ta phải biết đường ra khỏi núi.”
Ba người vợ và hơn chục đứa con của ông ta không chia sẻ niềm vui của bin Laden khi sống cuộc sống của những người nông dân thời trung cổ ở một nơi mà ánh sáng duy nhất vào ban đêm là từ đèn khí và mặt trăng, và hơi nóng duy nhất – ở nơi có bão tuyết khốc liệt là điều thông thường – đến từ một bếp kim loại đốt củi. Cái đói là người bạn đồng hành thường xuyên của các con cái bin Laden, những đứa trẻ sống bằng chế độ ăn cầm cự gồm trứng, phô mai mặn, cơm và bánh mì. Ngay cả những vị khách danh dự, chẳng hạn như nhà báo hàng đầu của Palestine Abdel Bari Atwan, cũng chỉ được đãi ăn theo chế độ gồm phô mai mặn, trứng rán và bánh mì lấm tấm cát.
Gần một thập niên rưỡi sau trận Jaji, bin Laden đã vận dụng những hiểu biết sâu sắc của mình về Tora Bora và những con đường đèo ở đó. Khi biết rõ rằng Hoa Kỳ đang lên kế hoạch tấn công nghiêm trọng vào Afghanistan, ông đã hình dung Tora Bora là nơi ông có thể tái hiện tư thế lẫm liệt của mình khi chống lại Liên Xô. Trong trận giao tranh tại Jaji năm 1987, cũng đã diễn ra trong tháng chay Ramadan, bin Laden và khoảng 50 chiến binh Ả Rập đã cầm chân một nhóm binh sĩ Liên Xô lớn hơn nhiều, bao gồm cả Lực lượng Đặc nhiệm Liên Xô, trong một trận chiến kéo dài khoảng một tuần trước khi bin Laden và đồng bọn của mình buộc phải rút lui. Tư thế của Bin Laden trong trận Jaji đã nhận được sự chú ý đáng kể trong thế giới Ả Rập, đánh dấu sự thăng tiến của ông ta từ một nhà tài trợ thánh chiến đơn thuần lên chỉ huy quân sự và trở thành một phần trung tâm trong hình ảnh anh hùng của ông ta.
Trước khi tới Tora Bora, bin Laden đã cử Walid bin Attash, một trong những người lên kế hoạch đánh bom tàu USS Cole ở Yemen, để chuẩn bị cho chuyến đi của mình. Khoảng đầu tháng 11, một số vệ sĩ của bin Laden bắt đầu dự trữ lương thực và đào hào và đường hầm giữa một số hang động nhỏ nằm rải rác trên dãy núi Tora Bora.
Cũng vào lúc đó, CIA đang theo dõi chặt chẽ hành tung của bin Laden. Quan chức hàng đầu của Cơ quan tại thời điểm đó là Gary Berntsen, một sĩ quan điều hành CIA, người nói tiếng Dari, một trong những ngôn ngữ địa phương.
Ngay sau khi Kabul thất thủ, Berntsen nhận được một loạt báo cáo tình báo cho thấy bin Laden và một nhóm thuộc hạ của ông đã rút lui từ Kabul đến khu vực Jalalabad. Vài ngày sau, Berntsen nhận được “nhiều tin nóng” từ các nguồn tin thực địa cho biết bin Laden đã chuyển đến khu phức hợp hang động ở Tora Bora.
Thông tin về một đội quân lớn các chiến binh al-Qaeda đang di chuyển đến Tora Bora đã được chuyển về trụ sở Trung tâm Chống Khủng bố CIA ở Virginia, nơi nó được nạp vào một bản đồ điện tử phủ lên dữ liệu của Taliban và các vị trí của al-Qaeda cũng như vị trí của Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ và sĩ quan CIA trên thực địa cũng như của các lực lượng đồng minh Afghanistan. Bản đồ đó sau đó được sao chép tại Bộ Tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), trụ sở quân sự Hoa Kỳ ở Tampa, Florida, nơi đang điều phối nỗ lực chiến tranh. CIA hiện dự đoán rằng “bin Laden đóng quân dọc theo các đỉnh phía bắc của dãy núi Spin Ghar” tại một nơi được gọi là Tora Bora.
Vào tuần cuối cùng của tháng 11, bin Laden đã có bài phát biểu trước người của ông đang ẩn náu ở Tora Bora, nói với họ rằng sẽ là một “sai lầm nghiêm trọng và điều cấm kỵ nếu rời đi trước khi trận chiến kết thúc.” Thủ lĩnh của Al-Qaeda một lần nữa có bài phát biểu tương tự với những người ủng hộ mình ở Tora Bora vào đầu tháng 12. Là chỉ huy chiến trường Tora Bora, bin Laden đã bổ nhiệm Ibn al-Sheikh al-Libi, một người Libya cao, gầy với phong thái vương giả, người đã chiến đấu chống lại Liên Xô ở Afghanistan và sau đó chỉ huy trại huấn luyện Khaldan, nơi các chiến binh Hồi giáo từ khắp nơi trên thế giới đã được đào tạo trong những năm trước ngày 11/9. Bin Laden tin rằng lính Mỹ sẽ sớm đổ bộ vào vùng núi Spin Ghar bằng trực thăng và người của ông ta sẽ gây tổn thất nặng nề cho họ. Điều này chưa bao giờ xảy ra. Ngoài hy vọng mơ hồ này, bin Laden dường như không có nhiều kế hoạch tác chiến, ngoài việc bằng cách nào đó lặp lại những thành công của chiến binh thời chống lại Liên Xô.
Không giống như những gì bin Laden tưởng tượng, trận chiến – diễn ra trên một diện tích khoảng 30 dặm vuông – hóa ra là một loạt các cuộc giao tranh giữa bộ binh của al-Qaeda và lực lượng bộ binh của ba lãnh chúa địa phương cứng đầu người Afghanistan ăn lương người Mỹ, được yểm trợ bởi các trận ném bom dữ dội của Không lực Hoa Kỳ.
Trong thời gian này, tuyết rơi đều đặn trên núi và nhiệt độ về đêm thường xuống dưới 0. Ayman Saeed Abdullah Batarfi, một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình người Yemen ở độ tuổi 30, được bin Laden yêu cầu điều trị những người bị thương. Khoảng ngày 1 tháng 12, Batarfi nói với bin Laden rằng ông sẽ phải cử người quay lại Jalalabad để lấy đồ tiếp tế vì y đã hết thuốc men. Khi thương vong ngày càng tăng, Batarfi phải dùng đến phương pháp cắt cụt chi bằng dao và kéo. Y nói với bin Laden rằng nếu họ không rời đi Tora Bora sớm, “không ai có thể sống sót” dưới cuộc bắn phá ác liệt của Mỹ. Y lưu ý rằng bin Laden đã chuẩn bị rất ít cho trận chiến Tora Bora và dường như chủ yếu bận tâm đến việc trốn thoát khỏi chiến trường.
Một trở ngại cho việc trốn thoát của ông ta là thiếu tiền mặt, số tiền sẽ rất quan trọng nếu ông và người của mình cần phải hối lộ để rời khỏi Tora Bora và trả tiền chỗ ở và chi phí đi lại. Một thành viên al-Qaeda người Yemen đã tới Tora Bora để giao 3.000 đô la cho thủ lĩnh al-Qaeda. Bin Laden cũng vay 7.000 USD từ một giáo sĩ địa phương
Trở lại Washington và tại CENTCOM ở Tampa, ngày càng có nguồn tin chắc chắn rằng bin Laden hiện đang bị mắc kẹt tại Tora Bora. Trung tướng Michael DeLong, phó chỉ huy của CENTCOM, nhớ lại: “Chúng tôi đang theo bén gót Osama bin Laden. Y chắc chắn ở đó khi chúng tôi tới hang động [Tora Bora]. Mỗi ngày trong chiến dịch đánh bom, [Bộ trưởng Quốc phòng Donald] Rumsfeld hỏi tôi, ‘Chúng ta đã bắt được y chưa? Chúng ta đã bắt được y chưa?’ Vào ngày 20 tháng 11, Phó Tổng thống Dick Cheney nói với ABC News rằng bin Laden “được trang bị để chui xuống đất ở đó. Y có thứ mà y tin là cơ sở an toàn, hang động dưới lòng đất. Đó là một địa hình mà y quen thuộc. Y đã hoạt động ở đó trong cuộc chiến chống Liên Xô vào những năm 80.”
Dalton Fury (tên giả), thiếu tá 37 tuổi trong lực lượng biệt kích tinh nhuệ và bí mật của Lực lượng Delta, chỉ huy các lực lượng nhỏ của phương Tây săn lùng bin Laden tại Tora Bora, bao gồm khoảng 70 binh sĩ thuộc Lực lượng Tác chiến Đặc biệt Mỹ và Anh và các quan chức CIA. Ngay từ khi bắt đầu chiến dịch, Fury đã xác định được trọng tâm
Điểm yếu trong kế hoạch của Mỹ ở Tora Bora: không có ai canh gác các lối thoát vào Pakistan. Vào cuối tháng 11, Fury đã đề nghị thả đội Delta của mình xuống Tora Bora ở độ cao khoảng 8.000 bộ. Được trang bị bình dưỡng khí, đội của anh ta sau đó sẽ leo lên độ cao 14.000 bộ để đến những đỉnh núi cao nhất trong khu vực – một chuyến đi sẽ mất vài ngày – và từ đó đi xuống để tấn công các vị trí của al-Qaeda từ trên cao, hướng mà từ đó những chiến binh của bin Laden ít mong đợi họ nhất. Ở đâu đó trong chuỗi mệnh lệnh, yêu cầu đó đã bị từ chối.
Bất chấp thương vong, và điều kiện thời tiết khắc nghiệt, chiến binh al-Qaeda vẫn còn có thể bố trí hàng rào chắn súng cối và hỏa lực súng nhỏ hiệu quả. Mohammed Zahir, chỉ huy một nhóm 30 dân quân Afghanistan trên tuyến đầu xuyên suốt Trận Tora Bora, giao tranh với chiến binh Ả Rập và Pakistan sử dụng tên lửa và súng máy, một lực lượng đáng gờm chỉ có thể đẩy lùi nhờ các cuộc ném bom yểm trợ của Mỹ vào các vị trí của al-Qaeda. Muhammad Musa, một chỉ huy hàng trăm binh sĩ Afghanistan trên tuyến đầu Tora Bora, nhớ lại lòng dũng cảm cuồng nhiệt của các chiến binh của bin Laden: “Họ đã chiến đấu rất kiên cường với chúng tôi. Khi chúng tôi bắt được họ, họ đã tự sát bằng lựu đạn. Chính tôi đã thấy ba người trong số họ làm điều đó.” Các chiến binh Al-Qaeda chắc chắn đã phấn khích trước thực tế là họ đang chiến đấu trong tháng thánh lễ Ramadan, cũng như mười bốn thế kỷ trước đó tại Trận Badr trong tháng Ramadan mà Nhà tiên tri Mohammed đã lãnh đạo một nhóm nhỏ người Hồi giáo giành chiến thắng, chống lại một đội quân ngoại đạo lớn hơn nhiều.
Sáng ngày 3/12, Mỹ bắt đầu đánh bom ác liệt và tiếp tục suốt ngày đêm. Đó là khởi đầu của khoảng thời gian bốn ngày trong đó 700.000 cân bom Mỹ trút xuống Tora Bora. Trong thời gian này, bin Laden đã được một thành viên al-Qaeda quay video khi đang hướng dẫn chiến binh cách đào hào tốt nhất để ẩn náu. Trên băng video, ta thấy một quả bom phát nổ ở phía xa, và Bin Laden bình luận với giọng điệu hờ hững: “Chúng tôi đã ở đó đêm qua.”
Khi cường độ ném bom của Mỹ ngày càng gia tăng, bin Laden đã hồi tưởng một cách trìu mến với cấp phó của mình, Ayman al- Zawahiri, về 19 tên không tặc vụ 11/9, nhắc về mỗi tên một cách đầy xúc động. Lo sợ rằng mình có thể bị giết bởi cuộc oanh tạc của Mỹ và muốn chắc chắn rằng mình đã tưởng nhớ đúng mực những “tử đạo” anh hùng này, ông đã viết 19 giấy chứng tử cho bọn không tặc.
Các lãnh chúa Afghanistan đang hợp tác với người Mỹ trên thực địa bất hoà với nhau, và mỗi buổi tối trong trận chiến, họ và bộ binh của họ rút lui về căn cứ khi hoàng hôn buông xuống để ăn buổi tối trong tháng chay Ramadan. Vào tối ngày 3 tháng 12, nhận ra rằng lực lượng bộ binh Afghanistan không đủ sức bao vây nhóm quân nòng cốt của al-Qaeda, sĩ quan CIA Gary Berntsen gửi một thông điệp dài tới trụ sở yêu cầu gửi đến 800 Biệt kích tinh nhuệ tấn công quần thể hang động nơi chứa bin Laden và các phụ tá của y được cho là đang ẩn náu và chặn các tuyến đường trốn thoát của họ. Ông trùm của Berntsen, Henry A. Crumpton, người vào thời điểm đó “100 phần trăm” tin chắc rằng bin Laden đã bị kẹt trong Núi Tora Bora, gọi cho Tướng chỉ huy CENTCOM Tommy Franks, người có toàn quyền kiểm soát hoạt động Tora Bora, yêu cầu bổ sung quân số. Franks phản bác lại, chỉ ra rằng cách tiếp cận “dấu chân nhỏ” của Mỹ đã hoạt động hiệu quả trong thời kỳ lật đổ Taliban, và cũng sẽ mất nhiều tuần để đưa thêm lính Mỹ đến thực địa. Franks chưa bao giờ yêu cầu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld tăng thêm quân tại Tora Bora, và Rumsfeld cũng không hỏi Franks xem ông có cần họ không.
Tướng Franks cũng tin rằng Hoa Kỳ có thể dựa vào người Pakistan để cắt đứt cuộc trốn thoát của các thành viên al-Qaeda. Ông nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2002: “Tôi nghĩ đó là một quyết định khá tốt khi hỗ trợ cho hoạt động đó và hợp tác với người Pakistan dọc biên giới Pakistan để đi đến kết thúc”. Cho rằng người Pakistan có thể bịt kín phía biên giới của họ cùng lắm chỉ là điều mơ tưởng. Crumpton đã nhiều lần cảnh báo Nhà Trắng, ban lãnh đạo CIA của ông và CENTCOM rằng người Pakistan không có khả năng bảo vệ biên giới của mình. Tổng thống Bush thậm chí còn hỏi trực tiếp Crumpton liệu người Pakistan có phong tỏa biên giới được không, ông trả lời: “Không, thưa ngài.”
Chỉ huy thực địa của Delta, Dalton Fury nhớ lại rằng, để khắc phục vấn đề đó, vào đầu tháng 12, chỉ huy phi đội của ông đã đề xuất thả mìn sát thương GATOR từ trên không xuống đường đèo Tora Bora dẫn đến Pakistan, những quả mìn sẽ tự vô hiệu hóa sau một khoảng thời gian nhất định. Yêu cầu này cũng đã chết ở đâu đó trong chuỗi lệnh.
Đội Delta dựng trại gần Tora Bora và cố gắng tiến gần hơn về phía vị trí của al-Qaeda để có “mục tiêu trong tầm mắt.” Họ hướng chùm tia laser vào mục tiêu al-Qaeda sao cho các cuộc không kích chính xác có thể được gọi tập kích. Giờ đây tin tình báo mới nhất đã ghim thẳng bin Laden vào đúng Tora Bora. Vào ngày 9 tháng 12, một máy bay ném bom Mỹ thả xuống một quả bom nặng 15.000 cân được mệnh danh là “máy cắt hoa cúc” [tức bom BLU-82, nổ sát mặt đất, đã được sử dụng đầu tiên ở chiến trường Việt Nam, để tạo ra một khoảng trống bằng phẳng làm bãi đáp trực thăng: ND] xuống các vị trí al-Qaeda. Đêm đó, thành viên al-Qaeda Abu Jafar al- Kuwaiti đã bị “đánh thức vì tiếng nổ lớn khủng khiếp ở gần chúng tôi.” Ngày hôm sau, các thành viên của al-Qaeda nhận được tin đáng sợ rằng chiến hào của “Thủ lĩnh Osama” đã bị hủy diệt. Nhưng bin Laden vẫn sống sót, vì đã di chuyển khỏi vị trí của mình ngay trước cuộc tấn công của “máy cắt hoa cúc.”
Một ngày sau khi máy cắt hoa cúc được thả xuống, Cục An ninh Quốc gia Hoa Kỳ nhận được thông diệp từ Tora Bora: “Cha [bin Laden] đang cố gắng vượt qua vòng vây.” Vào khoảng 4 giờ chiều, binh sĩ Afghanistan cho biết họ đã phát hiện ra bin Laden. Ở Washington, Paul Wolfowitz, quan chức số hai của Lầu Năm Góc, nói với các phóng viên rằng bin Laden có thể đang ở Tora Bora, nói rằng: “Chúng tôi không có bất kỳ bằng chứng đáng tin cậy nào về việc y đang ở các vùng khác của Afghanistan hoặc bên ngoài Afghanistan.”
Đến ngày 11 tháng 12, bin Laden nhận ra rằng hy vọng duy nhất của mình là trốn thoát. Ông nói với bộ hạ rằng mình sẽ rời xa họ, và ngay sau khi màn đêm buông xuống, ông đã cầu nguyện cùng các vệ sĩ trung thành nhất. Cùng ngày hôm đó, các thủ lĩnh al-Qaeda đề nghị ngừng bắn với Hajji Zaman, một trong những lãnh chúa Afghanistan thuộc biên chế của Hoa Kỳ, báo tin họ sẽ đầu hàng vào sáng hôm sau. Trước sự tức tối của các người Mỹ trả lương, Zaman đã đồng ý ngừng bắn và đêm đó một số chiến binh chui rúc ở Tora Bora, bao gồm cả bin Laden, bắt đầu cuộc đào thoát ra khỏi nơi trú ẩn trên núi.
Các nhân viên điện đài của Mỹ trên thực địa tại Tora Bora giờ đây chặn được các liên lạc vô tuyến mà bin Laden gửi cho những người theo ông. “Tôi rất tiếc vì đã để các anh em tham gia vào trận chiến này. Nếu các anh em không thể chống cự được nữa, anh em có thể đầu hàng với sự cho phép của tôi,” ông nói trong một bức điện. Fury lưu giữ một bản ghi chép cẩn thận về những thông tin liên lạc này, được anh đánh máy vào cuối mỗi ngày và chuyển giao lên cấp trên. Một quan chức Lầu Năm Góc ở Washington, người đã đi theo dấu chân bin Laden cật lực từ năm 1997, đang giám sát tất cả những điều này theo thời gian thực. “Mọi người trong cộng đồng đang làm việc về vụ al-Qaeda đều hoàn toàn biết rõ về mọi tin nhắn vô tuyến được gửi đến và mọi báo cáo thực địa được các SOF [Lực lượng Tác chiến Đặc biệt ] của chúng tôi gửi về. Có rất nhiều sự chú ý được dành cho nó.” Vị quan chức này nhớ lại rằng ông và các đồng nghiệp của mình rất phấn khích vì đối với họ, dường như giờ đây bin Laden đang chọn tư thế cuối cùng. Họ không nghĩ rằng bin Laden đang tìm cách trốn thoát bởi vì việc đó sẽ làm tổn hại đến uy tín của ông ta với al-Qaeda và phong trào thánh chiến rộng lớn hơn. Quan chức này nói: “Chúng tôi không biết rằng đây là thông điệp chia tay của ông ta”. Đó là một tính toán sai lầm mà Lầu Năm Góc sẽ phải hối tiếc.
Nhân vật chịu trách nhiệm về vụ tấn công khủng bố nguy hiểm nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, cùng với nhiều cấp dưới của ông, đang trốn thoát. Tại sao không có nỗ lực đưa thêm quân Mỹ xuống thực địa, ngoài tổng số vài chục người điều hành Delta, Mũ Nồi Xanh, kiểm soát viên không lực và sĩ quan CIA đã nằm ở Tora Bora? Trung tướng DeLong cho biết Lầu Năm Góc không muốn đưa nhiều lính Mỹ xuống đất vì lo ngại họ sẽ bị người dân địa phương đối xử như kẻ thù: “Những ngọn núi ở Tora Bora nằm sâu trong lãnh thổ do các bộ tộc thù địch với Hoa Kỳ và với bất kì người ngoài nào kiểm soát.” Thực tế là nếu chúng ta đưa quân vào đó, chúng ta chắc chắn rồi sẽ phải đánh nhau với dân làng Afghanistan – tạo ra ác cảm vào thời điểm nhạy cảm đó.”
Góp thêm nhận thức cho rằng người Afghanistan kiên quyết phản đối việc quân đội nước ngoài đặt chân trên đất nước họ là một bài báo có tựa đề “Afghanistan: Mồ chôn các đế chế” trên tạp chí Ngoại giao có ảnh hưởng số tháng 11 năm 2001, của sĩ quan CIA kỳ cựu Milton Bearden, người đã giám sát nỗ lực của Cơ quan nhằm trang bị vũ khí cho các chiến binh Hồi giáo Afghanistan chống lại Liên Xô. Bearden đưa ra lập luận rằng số lượng lớn quân Mỹ triển khai trên mặt đất sẽ chỉ tái hiện những thất bại của Liên Xô ở Afghanistan trong thế kỷ 20 và của Anh trong thế kỷ 19.
Lầu Năm Góc cũng khá ngại rủi ro vào thời điểm đó, một điều mà bây giờ thật khó để nhớ lại sau những năm chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Ở giai đoạn này của Chiến tranh Afghanistan, số nhà báo đã thiệt mạng trong cuộc xung đột nhiều hơn số lính Mỹ, và trong cuộc xung đột năm 1999 ở Kosovo, không một người Mỹ nào chết trong chiến đấu. Các nhà lãnh đạo quân đội Mỹ dường như đã tự thuyết phục mình rằng công chúng Mỹ không thể chấp nhận thương vong – ngay cả khi truy đuổi Osama bin Laden.
Ngoài ra còn có vấn đề Iraq, vấn đề đã làm chuyển hướng sự chú ý của Lầu Năm Góc. Cuối tháng 11, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld nói với Tướng Franks rằng Tổng thống Bush “muốn chúng ta tìm kiếm các lựa chọn ở Iraq.” Ngay giữa cuộc chiến ở Afghanistan, Franks đã không khỏi bối rối và nói với nhân viên của mình, “Chết tiệt! Họ đang nói cái quái gì vậy?” Tuy nhiên, vào ngày 4 tháng 12, ông đã thông báo cho Rumsfeld và các quan chức hàng đầu khác của Lầu Năm Góc về kế hoạch chiến tranh ở Iraq, dựa trên kế hoạch dự phòng hiện có, một tài liệu dài 800 trang. Rumsfeld không thấy kế hoạch chiến tranh nào thỏa đáng cả. “Ồ, Tướng quân,” ông ta nhắc nhở Franks, “anh còn rất nhiều việc phải làm trước mắt.”
Franks sau đó đã báo cáo lại cho Rumsfeld về kế hoạch xâm lược Iraq vào ngày 12 tháng 12, cùng ngày mà các thủ lĩnh của al-Qaeda bắt đầu chuồn khỏi Tora Bora dưới vỏ bọc của một thỏa thuận ngừng bắn.
Nhiều năm sau, Franks giải thích lý do tại sao ông không cử thêm lính Mỹ đến để đối phó với thành phần nòng cốt của al-Qaeda tại Tora Bora:
Quyết định của tôi không bổ sung quân Mỹ vào khu vực Tora Bora bị ảnh hưởng bởi lực lượng tương đối mỏng của quân liên minh Afghanistan trên chiến trường, và thực tế là những đội quân này đã tham gia các hoạt động đang diễn ra trên khắp Afghanistan; lượng thời gian cần thiết để triển khai quân bổ sung có thể sẽ tạo ra một “sự tạm dừng chiến thuật” có nguy cơ mất đi động lực mà các lực lượng của chúng ta đang có được trên khắp Afghanistan; [và] sự không chắc chắn về việc liệu bin Laden có thực sự ở Tora Bora hay không. Tình báo cho rằng đúng như vậy, nhưng tình báo ngược lại cũng đưa tin rằng y đang ở Kashmir [và] tại một căn cứ biên giới Iran.
Tướng Dell Dailey, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Tác chiến Đặc biệt Liên quân , đã chia sẻ một số quan ngại của Franks: “Chắc chắn sẽ cần rất nhiều người để phong tỏa Tora Bora… Chúng ta đang nói đến tháng 12. Mọi đỉnh đồi đều bị bao phủ trong tuyết giá, mọi địa điểm đều cần hỗ trợ hậu cần.” Chỉ huy mặt đất của Dailey bác bỏ ý tưởng điều thêm quân và nói với Dailey, “Không đời nào. Chúng ta đã giành chiến thắng trong cuộc chiến này bằng các lực lượng đặc biệt và CIA mà không cần có quân số thông thường cũng như không có bất kỳ tiêu cực nào luôn đi kèm với một lực lượng quân khổng lồ. Chúng ta đừng làm điều đó.” Chuẩn tướng James N. Mattis, chỉ huy 12.000 Thủy quân Lục Chiến đóng gần Kandahar, đã tới Căn cứ Không quân Bagram, gần Kabul, để thảo luận với Dailey về ý tưởng bố trí một lực lượng thủy quân lục chiến vào Tora Bora. Cuối cùng, không có thủy quân lục chiến hay bất kỳ lực lượng quân sự bổ sung nào khác được triển khai tới Tora Bora.
Susan Glasser, phóng viên chiến trường Tora Bora cho tờ Washington Post, nhớ lại rằng ban đầu có “50 đến 70 nhà báo; vào lúc cao điểm của trận chiến khoảng một tuần sau, có lẽ là 100.” Con số này nhiều hơn một chút so với tổng số binh lính Tây phương ở Tora Bora. Với rất nhiều nhà báo tham gia trận chiến, liệu Lầu Năm Góc có thể triển khai thêm binh sĩ tới Tora Bora không? Đúng. Có khoảng 2000 lính Mỹ đã có mặt tại chiến trường Afghanistan. Ở nước láng giềng phía bắc của Afghanistan, Uzbekistan, có khoảng 1000 binh sĩ của Sư đoàn Miền núi số 10 đóng quân. Hơn 1000 Thủy quân Lục Chiến đóng quân gần Kandahar. Và sẽ chỉ mất chưa đầy một tuần để triển khai thêm 800 binh sĩ của Sư đoàn Dù 82 từ sở chỉ huy của họ ở Ft. Bragg, Bắc Carolina, đến Tora Bora. Tất nhiên, một lực lượng như vậy sẽ phải đối phó với điều kiện thời tiết khó lường và cao độ lớn của Tora Bora và với sự kháng cự quyết liệt của al-Qaeda. Ngoài ra còn có một số lượng máy bay trực thăng hạn chế tại chiến trường, điều này sẽ khiến việc đưa thêm quân vào Tora Bora trở nên khó khăn về mặt hậu cần. Tuy nhiên, không có nỗ lực nào được thực hiện để xem liệu những trở ngại này có thể vượt qua được hay không.
Condoleezza Rice, cố vấn an ninh quốc gia, sau này nói rằng có “những báo cáo mâu thuẫn nhau” về nơi ở của bin Laden vào thời điểm đó và Tổng thống Bush chưa bao giờ được yêu cầu đưa ra quyết định có nên gửi thêm binh lính đến Tora Bora hay không, điều này Bush xác nhận. Tại sao việc này không xảy ra vẫn còn là một bí ẩn mà một phần có thể được giải thích bởi thực tế là chính quyền Bush vừa đạt được một trong những chiến thắng quân sự nổi bật của kỷ nguyên hiện đại, lật đổ chế độ Taliban chỉ trong 3 tuần và chỉ với khoảng 300 quân Lực lượng Đặc biệt và 100 nhân viên CIA trên thực địa. Tại sao phải thay đổi cách tiếp cận đã có hiệu quả cho đến thời điểm đó?
Bắt đầu từ ngày 12 tháng 12, không có lực lượng nào từ thủy quân lục chiến hoặc bất kỳ đơn vị quân đội Mỹ nào khác để ngăn chặn họ, một nhóm hơn 20 vệ sĩ của bin Laden lội bộ ra khỏi Tora Bora và hướng tới Pakistan. Họ bị bắt ở Pakistan vào ngày 15 tháng 12 và giao nộp cho người Mỹ. Bin Laden không đi cùng với họ. Ông ta và cấp phó của mình, Ayman al-Zawahiri, đã quyết định khôn ngoan là tách ra và ở lại Afghanistan. Zawahiri rời khỏi vùng núi với Uthman, một trong những con trai của bin Laden. Bin Laden đến nói lời tạm biệt với Uthman, không biết khi nào hoặc liệu có gặp lại anh ta hay không. Ông nói: “Con trai của ta, chúng ta đang giữ trọn lời thề, theo đuổi thánh chiến theo con đường của Allah.” Đi cùng với một số vệ sĩ của mình, Thủ lĩnh al-Qaeda đào tẩu cùng một người con trai khác của ông ta, Muhammad, mười bảy tuổi.
Khi bin Laden từ bỏ chiến trường ở Tora Bora, ông ta viết bản di chúc cuối cùng cảnh báo các con tránh xa con đường sống của mình: “Hãy tha thứ cho cha vì chỉ dành cho các con một ít thời gian kể từ khi cha đáp lại lời kêu gọi thánh chiến. Cha đã chọn con đường đầy rẫy hiểm nguy và vì điều này mà phải chịu đựng gian khổ, cay đắng, phản trắc . . . cha khuyên các con không nên tham gia vào al-Qaeda.” Với các bà vợ, ông ấy nói, “Các bà biết rằng con đường đầy chông gai và bom mìn. Các bà chịu cảnh rời bỏ sự đùm bọc của người thân và chọn chia sẻ những gian khỏ cùng tôi. Các bà đã từ bỏ lạc thú trần tục với tôi; còn từ bỏ nhiều hơn nữa sau khi tôi ra đi. Đừng nghĩ đến việc tái hôn mà chỉ cần chăm sóc con cái của chúng ta.”
Bin Laden đến nhà Awad Gul, một đồng chí thân tín gần Jalalabad, để nghỉ ngơi. Trước trận chiến, bin Laden đã nhờ Gul cất giữ 100.000 USD. Ngay sau đó, bin Laden, một tay cưỡi ngựa cừ khôi, phi ngựa về hướng đông bắc, tới tỉnh Kunar của Afghanistan, một nơi lý tưởng để biến mất. Những đỉnh núi cao 12.000 bộ, cây cối và cây bụi trường xuân rậm rạp khiến việc phát hiện động tĩnh từ trên không trở nên khó khăn; nơi có số lượng nhỏ dân cư thù địch với người ngoài; và không có chính quyền trung ương nào để nói đến.
Vài tuần sau khi trận chiến Tora Bora kết thúc, bin Laden già đi trông thấy đã công bố một đoạn video trong đó ông suy ngẫm về cái chết của chính mình. Ông nói: “Tôi chỉ là một nô lệ đáng thương của Chúa”. “Dù tôi sống hay chết, chiến tranh vẫn sẽ tiếp tục.” Ông ấy không cử động được phần bên trái của mình trong suốt nửa giờ của cuộn băng, điều này cho thấy ông ấy đã phải chịu đựng một loại chấn thương nghiêm trọng. Vài tháng sau, trên một trang web của al-Qaeda, Hamza bin Laden, 10 tuổi, đã đăng một bài thơ than thở về số phận đã xảy đến với cậu và gia đình: “Ôi cha ơi! Tại sao họ lại dội bom như mưa xuống chúng con, không biết thương xót một đứa trẻ?” Trên cùng trang web đó, bin Laden trả lời: “Xin thứ lỗi cho cha, con trai, nhưng cha chỉ có thể nhìn thấy một con đường rất dốc phía trước. Một thập niên đã trôi qua trong lang bạt và dong rủi, và giờ đây chúng ta ta đang sống trong bi kịch của mình. An toàn đã không còn, nhưng nguy hiểm vẫn ở lại.”
Vào ngày 4 tháng 1 năm 2002, tại trang trại nghỉ mát của Tổng thống Bush ở Texas, Michael Morell có nhiệm vụ tế nhị là thông báo cho Bush đánh giá của CIA cho rằng bin Laden đã chiến đấu trong Trận Tora Bora và đã sống sót. Bush vô cùng tức tối trước điều này như thể chính Morell là thủ phạm.
Hai năm rưỡi sau, trong cuộc chạy đua sát sao, ứng cử viên Đảng Dân chủ John Kerry đã đưa ra chủ đề tranh cử là liệu bin Laden có thể bị tiêu diệt ở Tora Bora hay không. Bush nói, quan điểm cho rằng có cơ hội thực sự để giết bin Laden vào thời điểm đó là một “lời tuyên bố hoang đường,” và Phó tổng thống Dick Cheney gọi nó là “rác rưởi tuyệt đối.” Tuy nhiên, xét toàn bộ các tường thuật hiện, rõ ràng là khi có cơ hội tiêu diệt hoặc bắt giữ ông trùm al-Qaeda chỉ ba tháng sau ngày 11 tháng 9, Hoa Kỳ đã bị bin Laden qua mặt, và đã bỏ trốn và biến mất khỏi tầm radar của Mỹ và dần dần bắt đầu xây dựng lại tổ chức của mình.
Từ Kunar, bin Laden trốn sang Pakistan vào năm 2002, định cư ở thành phố Peshawar phía tây, nơi ông thành lập tổ chức al-
Qaeda 14 năm trước. Ở đó ông đoàn tụ với người vợ trẻ nhất của mình, Amal. Sau đó, họ cùng nhau chuyển đến Swat, vùng núi phía bắc Pakistan, nơi được coi là một địa điểm du lịch. Vào mùa xuân năm 2003, họ chuyển đến thành phố Haripur gần đó, nơi họ sống trong hai năm sau đó. Khi ở Haripur, Amal sinh cho bin Laden một con trai và một con gái.