Con Rồng, cháu Tiên 

 Viên Như

Tiếp phần trước

Ở trước, tôi đã trình bày phần “Rồng Tiên” hay tổ tiên, bài này tôi trình bày tiếp phần “Tiên Rồng” hay con cháu.

IX . TIÊN RỒNG – CON CHÁU

  1. Quẻ 33 là hành động Dương – Càn – cha, tương tác với Âm – Khôn – mẹ, lúc đó trong Âm – Khôn – mẹ, xuất hiện “Nhất dương động”, tức Cấn, thai nhi.
  2. Hào dương Cấn động thành Chấn, Chấn động, hay mẹ trở dạ, ngôi thai xoay đầu ngược xuống để ra đời, tức bản thể, Liên sơn, chuyển động ngược, giờ đây đổi thành chuyển động xuôi, chuẩn bị ra đời.
  3. Âu Cơ sanh ra một trăm đứa con.

Đây là câu trả lời cho câu hỏi “Con người sinh ra từ đâu?” theo dịch học

Trong dịch học gọi thời điểm này là “Thành ngôn hồ Cấn” đứa bé khóc chào đời. Khóc hay ngôn ngữ gắn chặc với đời sống của con người, do đó tiếng nói được xem như DNA của con người, vì vậy ngày nay ngành ngữ âm lịch sử có vị trí hết sức quan trọng trong vấn đề xác định nguồn gốc tộc người.


Trên trống đồng Ngọc Lũ, tổ tiên thể hiện bằng hình ảnh người thổi khèn, trong cái khèn là chữ nhân 人 giáp cốt.

Kinh hạ: Nhân, lấy quái Cấn làm đại diện, vì Cấn là con người.

Cụ thể, khi Cấn từ Tây bắc, chi Tuất, sang Đông bắc, chi Dần, hình 3, người Việt được sinh ra. Vì vậy mà nói “Nhân sinh ư Dần”.

Lúc đó trục phân chia âm dương là quẻ 15. Địa sơn khiêm

15 là số nằm giữa Kinh thượng Thiên – Địa, vì Kinh thượng có 30 quẻ, tương thích với câu “Nhân sanh tiểu thiên địa”.

15 cũng tương thích với tổng lý số của các trục ngang, dọc, chéo của Quy tàng hay Lạc thư.

15 cũng là số bộ của các chữ Việt chỉ người Việt: 戉, 粤, 越

X. NHỮNG ĐỨA CON CỦA ÂU CƠ

  1. Người Nam

Nhân sinh ư Dần, tức con người sinh ở chi Dần, con người này là những người con người của Âu Cơ. Trên cơ sở này, tổ tiên đã sáng tác ra chữ nhân 人 căn cứ vào ba chi Dần, Ngọ, Tuất, tức Hỏa gia hay gia đình người Nam

Trong gia đình người Nam, có hai con vật thân thuộc của con người, được gọi là “Khuyển mã chi tình”  điều này cho thấy ngày ấy tổ tiên ta nhân văn như thế nào. Đặc biệt con chó, một loài vật trung thành, và đã là bạn không thể thiếu của người Việt từ thuở hồng hoang, vì vậy trong chữ tuất 戌có chữ việt 戊, chỉ người Việt, cho nên trên thuyền trống đồng Ngọc Lũ, ta thấy con chó đứng bên con người.

  1. Người Nam là “Tiên Rồng”, con cháu của “Rồng Tiên”

Chân trái người này đạp vào quái Cấn – Tiên. Chân phải đạp vào quái Càn – Rồng

Như vậy người này là con cháu của Rồng Tiên.

  1. Người Giao Chỉ 交趾

Cấn vi sơn. Chữ sơn chỉ sinh thực khí nói chung, tức khả năng sinh sản

Giao 交là chỗ gặp nhau của hai điểm, chỉ 趾là chân, như vậy Giao Chỉ là chỗ hai chân giao nhau, tức là sinh thực khí. Đây là cốt lõi của kinh dịch, từ đây mà sinh ra văn hóa “杵臼Chử cữu” chày cối, và được đưa và Hệ từ, do đó, trên trống Ngọc Lũ, nó cũng được tổ tiên thể hiện bên cạnh con chó (Xem hình trên).

  1. Người Kinh

Trước thời Chu, các chữ:

  • 斤 âm tiền Chu là Jin, nay đọc là Cấn
  • 人 âm tiền Chu là Jín, nay đọc là Nhân
  • 寅 âm tiền Chu là Jìn, nay đọc là Dần

Cấn 斤là nhân 人, hay Jin斤 là Jín 人. Như vậy người này là người Jin 斤, tức là người cầm cái búa. Về sau phái âm thành Jing; đồng thời tổ tiên đã sáng tác ra chữ kinh 京


Jin 斤là jín 人 sinh ra ở chi jìn 寅. Chữ jin 斤 giáp cốt có tự hình mũi tên, do đó các 人, 寅, 京giáp cốt đều ảnh hưởng âm và tự dạng jin, mũi tên:

Ở trước tôi đã trình bày người này người Nam, con Rồng, cháu Tiên, tức là quẻ 33, Thiên sơn độn, hướng tây nam. Do quẻ 33 nằm ở hướng tây nam, nên tổ tiên đã sử dụng can đinh 丁để tượng trưng cho cội nguồn.

Tổ tiên 丁, sinh ra con cháu, jin斤, về sau người Jin thành người Jing – Kinh. Do đó ngữ âm và tự dạng mũi tên của đinh 丁Lục thư,  tương đồng ngữ âm và tự dạng của chữ jin 斤, jing 京 giáp cốt.

Chữ đinh 丁giáp cốt có tự dạng vuông, tròn, tức cả trai – dương, vuông, lẫn gái  – âm. Tròn. Do đó chữ 丁có nghĩa là nhân khẩu, tức là cả nam lẫn nữ.


Điều này được tổ tiên thể hiện trên trống đồng Ngọc Lũ rất rõ. Tại hướng tây nam, cung Khôn – mẹ, tức Âu Cơ, đã sinh ra các con jin – Cấn 斤, tại đông bắc, cho nên tại cung  斤tổ tiên đã thể hiện một cô gái. Điều này chứng minh rằng, Khôn – Âu Cơ sinh ra các con, gồm cả trai lẫn gái, chứ không phải toàn con trai như trong truyện họ Hồng Bàng. Đây là một nhầm lẫn gây hoang mang nhiều thế kỷ qua.

Theo tôi, có ba lý do, từ đó người viết lại truyện họ Hồng Bàng bị nhầm lẫn:

  • Chữ đinh 丁 có nghĩa là nhân khẩu, tức là cả nam lẫn nữ, nhưng nghĩa thường dùng là con trai.
  • Theo dịch học, cấn 艮là nhân, con người nói chung, nhưng nghĩa thường dùng là con trai nhỏ.
  • Chữ tử 子, con cái nói chung, nhưng nghĩa thường dùng là con trai

Có thể do Đinh 丁, Cấn 艮, Tử 子, thường sử dụng với nghĩa là con trai, vì vậy người viết lại truyện họ Hồng Bàng nhầm lẫn chữ tử 子, với nghĩa con cái nói chung, thành con trai 男 nói riêng. Từ đó mà viết “mỗi trứng sinh một nam ”.

Bằng chứng Lạc Long Quân nói với Âu Cơ:

“我是龍種,水族之長;你是仙種,地上之人。雖 陰 陽 氣 合 而 有 子” “Ta thuộc giống rồng, đứng đầu thủy phủ, nàng là giống tiên, người ở trên đất. Tuy do âm dương phối hợp mà có con cái”.

Như thế Lạc Long Quân chỉ nói tử 子, con cái nói chung, chứ có nói bách nam 百男 đâu!?

Hay ở đoạn sau, truyện viết: 子之生也,以蕉葉臥之 – Tử chi sanh dã, dĩ tiêu diệp ngọa chi. Con cái sanh ra lấy lá chuối lót cho nằm.

Do đó, theo tôi nên đổi lại chữ tất cả chữ nam 男trong truyện thành chữ tử 子, con cái nói chung, cho phù hợp với tiến trình dịch học và lịch sử; qua đó câu kết sẽ là: “蓋百子,乃百越之始祀也。Cái bách tử, nãi Bách Việt chi thỉ tự dã. Trăm con ấy, là thỉ tổ của người Bách Việt vậy”. Nếu không như thế thì lấy đâu ra con số 100. 100 là tích của 10.10. 10 là lý số của bản thể, dương 10, âm 10.

Điều này được thể hiện rất rõ trên vòng 8 – Địa, của trống đồng Ngọc Lũ, cụ thể tại vòng 8, có 10 con hươu đực, 10 con hươu cái. Hươu là Hoảng – hoàng – vàng, tượng trưng cho Thổ. Vì quá trình sinh ra người Việt đều thuộc Thổ, từ đó mà nói “Người Việt là con cháu của Thần Nông”

Cho nên Lạc thư, cuốn sách đời của người Lạc Việt, thuộc dương, lý số đại diện là 18. 18 là tổng của 9 âm + 9 dương.

 

 

 

 

Gà là Tốn, Tốn vi kê 巽 為 雞, Tốn này thuộc bản thể, tượng trưng cho tổ tiên, vì vậy 6 gà tượng trưng cho lý số 6 của Càn, 8 gà là tượng trưng lý số 8 của Cấn, cả hai là quẻ 33. Thiên sơn độn, hướng Tốn, tây nam, nơi xuất tích cội nguồn “Rồng Tiên” của người Việt.

  1. Người nhà Chu

Chữ đinh 丁còn phái âm thành chinh 征, Đinh còn có âm là chênh, như “phạt mộc chênh chênh 伐木丁丁”. Ta có biến âm [ê-i] như bệnh – bịnh, lệnh – lịnh, chênh – chinh. Cho nên chữ 征 giáp cốt có kết cấu với chữ 丁giáp cốt (xem hình minh họa trên).

Nghĩa của chữ 征

Khang Hy: 征,伐也。【易·離卦】 。王用出征。

Chinh, phạt vậy. [dịch. Quái Ly] vua đi đánh giặc.

Tường tế tự điển giải thích chữ 王 như sau:

象形字。王字的甲骨文为斧钺之形,斧钺为礼器,象征王者之权威。本义:天子.

Chữ tượng hình. Chữ Vương giáp cốt có hình ảnh cái búa việt, búa việt là lễ khí, tượng trưng cho quyền uy của người đi chinh phục. Nghĩa gốc là Thiên tử.

Như vậy “chinh vương征王” này là người nam, vì theo kinh dịch, chinh là quái Ly征 。【易·離卦, và là người sử dụng cái búa việt, tức cái jin 斤, để đi chinh phục.  Như thế “trăm con, jin 斤,  ấy” chính là người nhà Chu, có nghĩa là người Chu cũng chính là người Kinh, Việt vậy.

  1. Người Việt 戉

Jin 斤 có nghĩa là cái búa, phái âm thành người Jing – Kinh 京, người Kinh 京 cũng là người Việt 戉. Vì vậy chữ Việt 戉 cũng có nghĩa là cái búa.

Cả hai được thể hiện bằng hình ảnh người Kinh – Việt cầm mũi tên, cái búa trên trống đồng Bản Thôm và Ngọc Lũ.

  • Ngữ âm việt

Sau khi hoàn thành hệ thống dịch học, ban đầu người Kinh đặt tên cho hệ thống đó là DIỆC , tên chung của loài chim di cư theo mùa, và gắn liền với đời sống nông nghiệp của người Việt, như: Cò, cốc, vạc v.v..

Cho nên chữ các chữ Việt vốn có âm vạc戉.王伐切, 越.王伐切. 粤王伐切,音越.Vương phạt = vạt – vạc.  

Âm diệc này đến thời Khổng Tử vẫn còn dùng:

論語·述而.  子曰:「加我數年五十以學 亦可以無大過矣。」

Luận ngữ, Thuật nhi. Tử viết: Gia ngã sổ niên ngũ thập dĩ học DIỆC khả dĩ vô đại quá hỉ.

Luận ngữ, Thuật nhi. Khổng Tử nói: Cho ta thêm năm mười năm nữa học DIỆC thì chắc là không có nhầm lẫn lớn như vậy.

https://kknews.cc/culture/gzk3qy.htm

6.2. Vì sao chọn chim diệc 亦?

Diệc là loài chim hội đủ các yếu tố để đại diện cho ba khái niệm Thiên – Địa – Nhân và hai sơ đồ căn bản của Kinh dịch, cụ thể như sau:

  • Về sinh hoạt: Tam tài
  • Bay trên trời – Thiên
  • Ăn dưới đất – Địa
  • Làm tổ hay sinh sản trên cây – Nhân
  • Về màu sắc: Hà đồ, Lạc thư
  • Chim diệc, cò, thường có thân trắng – dương, chân đen – âm, tương thích với quẻ Thiên địa bĩ của Hà đồ
  • Chim diệc, cốc, tức con chim hồng (bàng), cánh đen – âm, bụng trắng – dương, tương thích quẻ Địa thiên thái của Lạc thư

Vì vậy mà diệc thường được người Việt cổ thể hiện trên trống đồng; đây chính là đối tượng mà người Việt cổ dùng để nói về nguồn gốc Kinh dịch qua đó nói về nguồn gốc của mình.

6.2.3. Âm Diệc 亦 thành âm Việt

Theo dịch học, Cấn sinh ra Nhân, cả hai đều được thể hiện trong tự dạng chữ 亦 giáp cốt. Ta thấy người xưa đã vẽ chữ diệc 亦 GC tượng hình là con chim đang dang hai cánh bằng cách thể hiện chữ Jin 斤 và chữ Nhân 人, tức là biểu ý chữ kinh 京chỉ người Kinh, tộc người đã làm ra kinh dịch.

Hai nét dưới cánh thể hiện Cấn từ Tây bắc sang Đông bắc, chi Dần, sinh ra con người.

Có thể sau một thời gian sử dụng từ Diệc để chỉ cho thuyết âm dương, người ta nhận thấy nó chưa thể hiện hết những khái niệm dịch học, một triết lý về sự thay đổi, tư tưởng chủ đạo của nó là mọi hiện tượng luôn thay đổi, trong đó có cả các hiện tượng tâm lý hay vô hình, trong khi đó hình ảnh loài Diệc chỉ biểu tượng cho sự thay đổi hữu hình mà thôi, vì vậy người ta đổi Diệc  亦  thành Dịch 易 nghĩa là thay đổi.

Đồng thời đổi nghĩa của chữ diệc, tên gọi hệ thống dịch học, thành người Diệc, chỉ dân tộc đã làm ra kinh dịch; sau đó chuyển âm diệc thành việt, hiện tượng biến âm [d – v], sau đó mới sáng tác ra chữ việt 戉.

Điều này được thể hiện qua kết cấu của chữ Man 蛮, chỉ người phương Nam, trong chữ này, tổ tiên đã gởi vào đó nguồn gốc người Việt, cụ thể chữ diệc 亦 và trùng 虫. Sở dĩ chữ trùng có mặt ở đây, vì tự dạng GC và KV của nó có hình mũi tên như chữ 斤 GC.

Hay trong kết chữ diệt 烕, ta thấy có chữ việt 戊, như vậy âm [烕 diệt] trong chữ 烕 phái sinh từ âm [戉 việt]

Như vậy ta có thể nói âm [việt 戉] là phái của [diệc 亦]

XI . CHỮ VIỆT THỜI NHÀ CHU

Đến đời nhà Chu, họ sáng tác thêm chữ 艮 và với âm là [cấn – gèn] thay chữ 斤 [jin] . Cấn chỉ là biến âm  [ i – â ]  của jin, như:  Tim – tâm,  chìm – trầm, im – âm.

Có thể chuyện này bắt đầu từ khi Chu Công Đán bãi bỏ thờ thần sinh sản; đồng thời sáng tác chữ Việt 越 nghĩa là vượt, tương thích với chữ chu 周có nghĩa là vòng khắp, để thay chữ 戉. Điều này thể hiện sự phát triển của văn hóa, nhưng lại cản trở người Việt tìm về cội nguồn thông qua kinh dịch, chữ viết, cũng như các loại hình văn hóa khác. Do đó khi quay về Nam, tổ tiên đã phải quay trở lại các khái niệm Cấn hay Jin 斤 trước thời Chu, cụ thể như: Tản Viên sơn thần, vì Cấn vi sơn 斤為山, Cột đá chùa Nhất trụ, hoa Lư, Cột đá chùa Dạm, Bắc Ninh v.v…

  1. Kết cấu khoa đẩu của chữ 艮

Mặc dù sáng tác ra chữ 艮 mới nhưng trong kết cấu vẫn giữ được biểu ý ban đầu. Cụ thể kết cấu chữ cấn 艮, 𥃩 gồm: Mục 目 con mắt, 匕 Chủy, dao găm.

目 chỉ phương Nam hay người Nam. Thuyết quái viết : Ly vi mục 離 為 目

匕 Chủy biểu  ý cho chữ Cấn giáp cốt, mũi tên, vì dao găm có đầu nhọn như mũi tên.

  1. Chữ Việt 越 đời nhà Chu

Chữ Việt 越 đời nhà Chu được sáng tác ra căn cứ vào kết cấu của hai quẻ đại diện cho bản thể và hiện tượng của Kinh hạ, đó là:

  • Quẻ 33. Thiên sơn độn, trên Càn, dưới Cấn-
  • Quẻ 15. Địa sơn khiêm, trên Khôn dưới Cấn
  • Chữ việt với kết cấu của quẻ 33. Thiên sơn độn

Trên Thiên biểu ý cho quái Càn vì “Càn vi thiên 乾 為 天”

Dưới Chỉ biểu ý cho quái Cấn, vì “Cấn chỉ dã 艮 止 也”

Chữ Việt chỉ người Việt.

  • Chữ việt với kết cấu của quẻ 15. Địa sơn khiêm

Trên Thổ biểu ý cho quái Khôn vì “Khôn vi địa 坤為 地”

Dưới Chỉ biểu ý cho quái Cấn, vì “Cấn chỉ dã 艮 止 也”

Chữ Việt chỉ người Việt.

  • KẾT

Kinh hạ: Nhân – Cấn, là nền tảng để hình thành nên mọi hình thái văn hóa của con người, trên mọi lãnh vực ở Dương Tử và Trung Nguyên ngày ấy, trong đó có chữ viết. Chính vì vậy, phương Bắc phải tiêu hủy đi phần vĩ mô của nó, với mục đích để tiếm nhận tác quyền văn hóa, bao gồm Kinh dịch và chữ Nho của người Việt; đồng thời qua đó xóa bỏ bảng chỉ đường đi về quá khứ của người Việt.

Tuy nhiên văn hóa kinh hạ ảnh hưởng lên mọi mặt của đời sống ngày ấy, và ngay cả ngày nay, do đó, cho dù người ta đã dùng mọi cách để che dấu, nhưng họ không thể xóa bỏ hết ảnh hưởng của nó trong đời sống được, nhờ đó mà ngày nay ta mới có thể phục hồi phần nào về lý thuyết, tức là phần bị thất truyền hay tiêu hủy, của kinh hạ, nó sẽ giúp ta mở ra một hướng đi tích cực trong việc tìm lại nguồn gốc văn hóa, cũng như cội nguồn tổ tiên của dân tộc mình.

Lãnh thổ thì hữu hình nên có giới hạn, nhưng văn hóa thì vô hình nên không có biên giới, nhưng nó là cốt lõi của dân tộc, vì vậy tôi cho rằng, chúng ta nên can đảm nhận lấy tài sản vô giá mà tổ tiên, trong vô vàn gian nguy, đã vận dụng mọi cách, truyền lại cho chúng ta, có như thế tổ tiên mới thấy an lòng.

Mong rằng với những gì tôi đã trình bày, có thể đóng góp một phần nhỏ cho công cuộc nghiên cứu về nguồn gốc người Việt, để có thêm động lực dần thắp sáng tinh thần “Con Rồng, cháu Tiên”.


Đà Lạt, Mạnh đông, Quý Mão, 2023

3 thoughts on “Con Rồng, cháu Tiên 

  1. “nhưng văn hóa thì vô hình nên không có biên giới”

    Rất đúng

    ” vì vậy tôi cho rằng, chúng ta nên can đảm nhận lấy tài sản vô giá mà tổ tiên, trong vô vàn gian nguy, đã vận dụng mọi cách, truyền lại cho chúng ta, có như thế tổ tiên mới thấy an lòng”

    Rất hay . Chúng ta hổng nên xem biên giới là 1 thứ rào cản, vì văn hóa tổ tiên là 1 thứ hổng có biên giới . Rõ ràng tác giả đã chứng minh nhà Chu của thời Chiến quốc có thể đã là tổ tiên của người Việt . Suy yếu nên bị Lưu Bị truất phế, lập ra nhà Hán . Nhưng trước khi lật đổ nhà Chu, cả Trung Quốc đều có nghĩa vụ phải cung phụng cho nhà Chu . Hence, tư di xứng đáng được hưởng hạnh phúc có thỉa từ đây mà ra

    Trong kháng chiến chống Pháp & Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn ra được chân lý của tổ tiên nên đã tạo ra được cho Trung Quốc ý thức trách nhiệm đv Việt Nam . Học hỏi tư tưởng tổ tiên & tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Đảng & toàn dân cần tạo (lại) tư di này cho Trung Quốc, xem VN, sự phát triển của VN (phải) là trách nhiệm của mình

    Thích

    • montaukmosquito nói: “nhà Chu của thời Chiến quốc”, “Suy yếu nên bị Lưu Bị truất phế, lập ra nhà Hán”. Hình như montaukmosquito không biết gì cả ! Chiến quốc là một giai đoạn lịch sử cuối cùng chủa nhà Chu. Thời Chiến quốc chấm dứt vào năm 221 trước kỷ nguyên tây lịch do nước Tần gồm thâu lục quốc, lập nên nhà Tần. Còn Lưu Bị (161-223) sống vào thời nhà Hán suy tàn. Làm sao có chuyện Lưu Bị “truất phế” nhà Chu. Còn Trung quốc (danh xưng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) có gì liên can với nhà Chu để “cả Trung Quốc đều có nghĩa vụ phải cung phụng cho nhà Chu”.
      Sao lại có “Trong kháng chiến chống Pháp & Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn ra được chân lý của tổ tiên nên đã tạo ra được cho Trung Quốc ý thức trách nhiệm đv Việt Nam . Học hỏi tư tưởng tổ tiên & tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Đảng & toàn dân cần tạo (lại) tư di này cho Trung Quốc, xem VN, sự phát triển của VN (phải) là trách nhiệm của mình”.
      Montaukmosquito học từ đâu mà viết ra những lộn xộn, không đâu ra đâu vậy ?

      Thích

  2. Pingback: Hùng Vương truyền thuyết và lịch sử | Nghiên Cứu Lịch Sử

Gửi phản hồi cho Hung Hủy trả lời