
Trần Thanh Ái
Kỷ niệm 50 năm quan hệ Việt – Nhật 1973-2023
Trong phần trước, chúng tôi đã giới thiệu tổng hợp của Kim Yong-gon (1943) về những dòng người Nhật đến các nước Đông Nam Á nói chung. Riêng đối với vương quốc Campuchia, tình trạng này có gì khác biệt so với tổng hợp trên không? Họ đến vương quốc này từ khi nào? Bằng cách nào? Nhiều tài liệu cho thấy còn có nhiều người Nhật đến Campuchia từ các nơi khác, thuộc các thành phần khác, với những động cơ khác, trong những đợt khác nhau trước năm 1636, mà chúng tôi sẽ điểm lại sau đây.
- Những dòng người Nhật đến Campuchia trước năm 1636
3.1. Người Nhật hành hương đến Angkor Wat (1)
Tiến sĩ Itō Chuta là học giả đầu tiên xác định bản sao được lưu trữ trong thư viện của lãnh chúa Tokugawa Mitsukuni 徳川光圀 vùng Mito (Nhật) chính là sơ đồ đền Angkor Wat. Năm 1911, trong một lần tham khảo tài liệu ở thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ ở Hà Nội, ông đã gặp sơ đồ đền Angkor Wat và chợt nhớ ra là trong thư viện của lãnh chúa Mito ở Nhật cũng có lưu trữ một sơ đồ có hình dáng giống như vậy, nhưng không có thông tin nào cho biết đó là sơ đồ gì. Khi trở về Nhật, ông khảo sát kỹ càng và đi đến kết luận đó là sơ đồ của Angkor Wat (Péri N. 1923b, tr. 119).

Bản sao sơ đồ Angkor Wat. (Péri N., 1923b)
Điều khiến mọi người rất đỗi ngạc nhiên là tại sao người Nhật lại có sơ đồ của Angkor Wat? Trên mặt sau của tấm sơ đồ này, người ta thấy một bài ghi chú do Fujiwara Tadayori thực hiện năm 1772 cho biết là viên thông ngôn Shimano Kenryō 島野兼良 của lãnh địa Nagasaki được Mạc phủ Daiyū-in 大猷院 tức Tokugawa Iyemitsu cử đi Jetavana ở xứ Magadha thuộc vùng Trung Ấn để tìm hiểu (Péri N, 1923b, tr. 120). Tại sao trong phần ghi chú viết là đi viếng Jetavana (祇园精舍 Kỳ Viên tịnh xá) ở Trung Ấn mà học giả Itō Chuta lại xác định đó là Angkor Wat? Sự nhầm lẫn này đã được các nhà nghiên cứu đưa ra cách giải thích mà chúng tôi cho là thỏa đáng, và tới nay chưa thấy có học giả nào phản bác. Liên quan đến sự kiện này, chúng tôi chỉ chú ý đến chi tiết là từ năm 1623, là năm Tokugawa Iyemitsu được phong tướng quân, đến năm 1636 là năm Mạc phủ ban lệnh cấm người Nhật xuất nhập cảnh, có đoàn người Nhật đi trên thuyền Hà Lan đã đến Angkor Wat và đã vẽ sơ đồ khá chi tiết về khuôn viên của đền đài ở đó theo lệnh của Mạc phủ.
Bên cạnh đó còn một số phát hiện khác gây không ít ngạc nhiên. Vào những năm 1930, ba học giả là GS. Katsumi Kuroita, Seiichi Iwao và Sennosuke Odaka dẫn đầu nhóm nghiên cứu thực địa tại Angkor Wat và đã có báo cáo về các phát hiện. Gần đây, vào tháng 2 năm 1958, Junzo Shimizu đã làm một nghiên cứu chi tiết hơn về Angkor Wat (Ishizawa Y. 2015, tr. 48). Nhóm đã phát hiện ra 11 đoạn văn bằng tiếng Nhật viết trên các cột đá của di tích Angkor Wat, được xác định trong khoảng thời gian từ 1612 đến 1632. Ngoài những đoạn văn không còn đọc được nên không xác định được thời gian, các dữ liệu còn lại cho thấy là người Nhật đã đến viếng Angkor Wat ít nhất bốn lần trong giai đoạn này, cụ thể là vào ngày 14 tháng thứ 7 của năm 1612, ngày 20 tháng thứ nhất của năm 1632, ngày 15 tháng thứ 10 của năm 1632 và một lần khác không rõ ngày của tháng 1 năm 1632 (Ishizawa Y., 2015, tr. 50).
Đoạn văn viết năm 1612 ghi địa danh Sakai, Nhật Bản cho phép các nhà nghiên cứu nghĩ rằng họ là một nhóm thương nhân đến từ Sakai ở Osaka. Còn văn bản đầu năm 1632 cho biết là Morimoto Ukondayu Kazufusa làm việc cho dòng họ Matsura ở Hirado đã đến Campuchia vào khoảng cuối năm 1631 và tháng 1 năm 1632, và dường như đi trên thuyền buôn của Matsura (Ishizawa Y., 2015 tr. 51). Qua đoạn văn còn rõ nét nhất do Morimoto Ukondayu Kazufusa viết, người ta biết là ông này đã đến đó vào tháng 1 năm 1632 sau một cuộc hải hành dài để làm lễ dâng bốn tượng Phật Thích Ca mong cho linh hồn cha ông được yên nghỉ, và để cầu nguyện cho mẹ ông được trường thọ (Harris I. 2005, tr. 35).
Trong số các phát hiện trên đây, không có dữ liệu nào cho biết số lượng người tham gia các đợt hành hương, cũng như về lộ trình đến Angkor Wat của họ, ngoài chi tiết về phương tiện di chuyển trong ghi chú của Fujiwara Tadayori năm 1772: “Về chuyến đi của Keryō, bằng con thuyền Hà Lan chẳng những người ta đi Ấn Độ không khó khăn gì, mà còn có thể đi vòng quanh trái đất. Và ngay năm ấy, Kenryō lên một con thuyền Hà Lan đi Trung Ấn và đến Jetavana” (Péri N. 1923b, tr. 120). Thế nhưng N. Péri lại dựa vào truyện kể(2) của Tenjiku Tokubei 天竺徳兵衛 [*] mà lập luận là nếu theo đường mà Châu Đạt Quan đã đến Campuchia vào thế kỷ XIII, tức ngược dòng sông Mêkong, thì phải băng rừng rậm hiểm trở, còn ở Xiêm thì đã có một cộng đồng người Nhật rất năng động. Từ đó N. Péri suy luận là thuyền Hà Lan đi Angkor Wat qua ngã nước Xiêm: “Từ Hòn Khoai, hành trình đi chếch về hướng Tây Bắc và đến Banchaupya nước Xiêm. Ở đó họ đã gặp một Jetavana” (Péri N. 1923b, tr. 125). Suy luận này có vẻ hợp lý khi mà quan hệ giữa Ayutthaya và Campuchia còn tốt đẹp, nhưng sau khi Xiêm thất bại trong các trận xua quân đánh phá Campuchia vào các năm 1620-1621 thì e rằng đường đi đến Angkor Wat qua ngã Xiêm không còn dễ dàng nữa. Hơn nữa, công thần người Nhật Yamada Nagamasa trong triều đình Xiêm chỉ có thế lực lớn trong giai đoạn vua Songtham còn ngự trên ngai vàng đến năm 1628; sau đó thì ông bị thất sủng, bị đưa đi làm tổng trấn Ligor trên bán đảo Mã Lai, và bị ám hại năm 1630. Thế là người Nhật ở Ayutthaya bị nghi kỵ, xua đuổi, thậm chí bị cướp phá, tàn sát, nên đất Xiêm không còn an bình cho người Nhật nữa, như sẽ nói ở phần sau. Vả lại, người Nhật đã đến Campuchia khá lâu trước năm 1632, và thậm chí cũng đã có nhiều người Nhật định cư tại vùng đất ven sông Tonlé Sap, đoạn từ Phnom Penh đến Pinhalu, là đường thủy dẫn đến Angkor Wat trước khi đi đường bộ một đoạn không xa lắm. Vì thế con đường đi Angkor Wat qua ngã nước Xiêm vốn đã xa xôi hiểm trở, lại không gần đường thủy quan trọng nào, nay lại bị xua đuổi, nên người Nhật có thể đã ngược sông Cửu Long để đi Angkor Wat. Lúc ấy người Hà Lan cũng đã tới lui Campuchia nhiều lần để thăm dò thị trường: năm 1617, khi nhà truyền giáo Pero Marques đến Campuchia thì thấy họ đã ở đó và đã tạo được ấn tượng tốt với các quan lại (Loureiro V. 2005, tr. 202-203). Vì thế chuyến đi hành hương của người Nhật trên thuyền của người Hà Lan vào năm 1632 hoàn toàn có thể thực hiện trên lộ trình ngược dòng sông Mêkong, rồi men theo Biển Hồ để đến nơi tiện nhất cho việc đi đường bộ.
Một số chi tiết khác cũng cho thấy là việc N. Péri suy ra lộ trình của Kenryō bằng cách dựa trên truyện kể của Tokubei là không xác đáng. Như nhận xét của N. Péri, trí nhớ của người đã 96 tuổi, thậm chí nhỏ hơn mươi năm như một số nghi vấn, không còn đủ chính xác nên truyện kể ông có một số lẫn lộn và sai sót rõ rệt, hơn nữa, các bản sao chép bằng tay thường mắc nhiều lỗi khác nhau (Péri N. 1923b, tr. 112). Vả lại, theo truyện kể của Tokubei mà N. Péri đã trích dịch một số đoạn, khi Tokubei đặt chân đến Xiêm lần đầu vào năm Hinoto no U (Đinh Mão 1627) thì ông mới được 15 tuổi, rồi về Nhật vào năm Tatsu (Mậu Thìn 1628), và lần thứ hai khởi hành lúc ông 19 tuổi, và về Nhật lúc 21 tuổi, nghĩa là từ 1631 đến 1633, lúc ấy đại thần Yamada ở Xiêm không còn nữa. Liệu một người khoảng 90 tuổi có thể còn nhớ rành mạch về những việc mình đã chứng kiến và đã làm lúc 15 – 20 tuổi được không? Liệu có thể xảy ra chuyện Tokubei và đoàn hành hương hơn 330 người (lần đầu tối đa 297 người) lại thản nhiên đến Xiêm bình an trong khi tất cả người Nhật trên đất Xiêm lũ lượt ra đi, hay không? Bằng chứng rõ nhất cho thấy ghi chép của Tokubei có nhầm lẫn là Jan Jossten được người Hà Lan xác định là chết năm 1623, nên không thể đi cùng Tokubei đến Xiêm được.
Trên đây chỉ là suy luận dựa trên việc phân tích tình hình lúc bấy giờ để phản biện N. Péri, và vì chưa có bằng chứng chắc chắn nào chỉ ra lộ trình của các đoàn hành hương đi Angkor Wat, nên chúng tôi thiên về khả năng là họ đã ngược sông Mêkong. Điều đó có nghĩa là giữa người Hà Lan và người Nhật cùng xuất hiện trên đất Campuchia với mối quan hệ khăng khít trên nhiều phương diện, và đây là chi tiết góp phần hé lộ bối cảnh mà người Hà Lan đã gọi một nhánh sông Mêkong là Sông Nhật Bản.
3.2. Làn sóng người Nhật từ Xiêm qua Campuchia
Người Nhật bắt đầu đổ xô đến Xiêm vào những năm cuối của thế kỷ XVI. Dưới thời vua Songtham tức Intharacha III (1611-1628) người Nhật ở Xiêm rất đông, đứng đầu là Yamada Nagamasa (1578-1630), được cử làm thủ lĩnh năm 1621 (Takekoshi Y., 1930, tr. 490). Ông đã tập hợp được nhiều đồng hương trong đó có nhiều samurai lập nên một đội quân thiện chiến nổi tiếng trong vùng. Nhờ khả năng quân sự của mình, ông đã giúp vua Xiêm giành được nhiều thắng lợi quan trọng, và được trọng đãi, mà đỉnh cao sự nghiệp của ông là được phong làm nhiếp chính và tổng chỉ huy quân đội. Theo nhận xét của một nhà nghiên cứu:
“Có rất nhiều người phiêu lưu Nhật cư trú ở Xiêm vào thời này [1615], và việc đầu tiên mà Nagamasa làm đó là tuyển chọn mấy trăm đồng hương và sung họ vào quân đội Xiêm. Thêm nữa, ông lập nên một đội quân gồm hơn 10.000 người, có nhiều đầu đàn liều lĩnh, sẵn sàng cho mọi nhiệm vụ, rồi tổ chức và trang bị cho họ theo kiểu người Nhật, rồi sung họ vào đội quân hiện hữu của Xiêm” (James J.M. 1879, tr.200-201)

Khi thấy được trọng dụng, người Nhật đổ xô về Ayutthaya lập nghiệp, tạo thành khu phố Nhật, mà người Xiêm gọi là ban jipun (Ishii Y., 1971, tr. 162). Theo Y. Takekoshi, vào năm 1619 có đến 8.000 người Nhật trên đất Xiêm, nhưng theo Y. Ishii thì con số này bị thổi phồng quá đáng, và vào lúc đông nhất thì số người Nhật ở trong các ban jipun cũng chỉ khoảng 1.000 đến 1.500 người mà thôi (Ishii Y., 1971, tr. 162).
Sau cái chết của vua Song Tham năm 1628, Yamada Nagamasa mất dần thế lực dưới triều đại vua kế vị Prasat Thong; ông thường bất đồng ý kiến với Hoàng hậu, và cuối cùng bị đầu độc năm 1630(3). Sau khi Yamada Nagamasa chết, vị vua mới bèn ra mật lệnh đốt khu dân cư người Nhật ở Ayutthaya. Hành động này khiến người Nhật ồ ạt đi lánh nạn ở Campuchia hoặc trở về Nhật vào tháng 9 năm 1630 (Cheng Wei-chung, 2013 tr. 104). Jeremie van Vliet một nhân chứng cùng thời người Hà Lan trong ghi chép năm 1647 đã tường thuật lại giai đoạn đen tối của người Nhật ở Xiêm như sau: “Khi thấy có ít thuận lợi nếu ở lại Ligoor [nay là Nakhon Si Thammarat] và nghĩ rằng vua Xiêm sẽ sớm tấn công họ bằng các lực lượng của vương quốc vì không muốn chứa chấp họ nữa, nên họ bèn rời bỏ thị trấn và rút về Campuchia” (van Vliet J., 1938, tr. 142).

Đợt di dân của người Nhật từ Xiêm qua Campuchia sau khi Yamada Nagamasa bị sát hại năm 1630 là đợt di chuyển rầm rộ nhất và đông đảo nhất, trên 300 chiếc thuyền (Takekoshi Y. 1930, tr. 494), mà lộ trình chủ yếu có lẽ là các nhánh sông Mêkong, vì vào mùa khô sông Pontiamas tức Giang Thành không đi lại được, như Alexander Hamilton đã khảo sát năm 1720 (Hamilton A. 1727, tr. 196). Vài năm sau biến cố trên, người Xiêm mới thấy là vai trò của người Nhật không thể thiếu được trong việc buôn bán với nước Nhật, nên nhà vua ra sức vỗ về họ quay lại, nhưng không có kết quả. Theo X. Galland, vào cuối thế kỷ XVII ở kinh đô Ayutthaya chỉ còn một tá người Nhật sinh sống, họ không có vai trò gì trong nền chính trị hay thương mại của người Xiêm cả (Galland X. 2007, tr. 32).
Vì thế trong giai đoạn này, Campuchia là nơi mà nhiều người Nhật đổ xô tìm đến, hoặc là để định cư vĩnh viễn hoặc để dừng chân tạm thời trước khi trở về nước Nhật. Mãi đến cuối thế kỷ XVIII người ta vẫn còn nhận ra sự hiện diện của họ ở Campuchia: trong một bức thư gửi ông Steiner đề ngày 6 tháng 7 năm 1778, nhà truyền giáo Faulet cho biết cộng đồng người Nhật vẫn còn ở đó, và gần như không còn ai theo đạo Thiên Chúa nữa (Launay A. 1925, tr. 68). Và có lẽ cũng không lấy gì làm ngạc nhiên khi ngay từ cuối thế kỷ XIX, khá lâu trước khi nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ giữa Nhật và các nước Đông dương được công bố, G. Dumoutier đã nhận xét trong tham luận đọc tại Tokyo, rằng người Campuchia có hình thể rất giống với người Nhật (Dumoutier G. 1892, tr. 18-19).
3.3. Người Nhật rời Đàng Trong đến Campuchia
Kể từ khi Mạc phủ ra lệnh cấm đạo thì Hội An trở thành nơi thu hút các tín đồ Thiên Chúa giáo Nhật. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, dần dần chúa Nguyễn có những biện pháp khắt khe khiến không ít giáo dân gồm cả người Nhật phải rời Hội An đi lánh nạn ở nơi khác, trong đó có Campuchia. Theo ghi chép của Cardim, năm 1629, nhà truyền giáo Busom (tức Buzomi) và các tùy tùng bị trục xuất khỏi Đàng Trong, họ bèn đi xuống Chiêm Thành, rồi từ Chiêm Thành đi Campuchia (Cardim Fr. 1645, tr. 181). Theo G. Dumoutier, năm 1634 vua nước An Nam có lệnh cấm đạo khiến nhiều người bị giết hại và bị xua đuổi, còn giáo dân người Nhật ở Hội An lúc bấy giờ nếu muốn ở lại thì chỉ có cách duy nhất là bỏ đạo (Dumoutier G. 1892, tr. 22).
Ngoài ra vụ nổi loạn thất bại của hoàng tử Nguyễn Phước Anh năm 1635 cũng đã khiến 7 nhà truyền giáo bị trục xuất vì một số giáo dân Nhật đã tiếp tay cho những kẻ nổi loạn (Trần Anh Q. 2018). Về việc này, Đại Nam thực lục chỉ ghi ngắn gọn: “Bấy giờ cai đội bộ binh là Dương Sơn (…) cùng Tôn Thất Tuyên đem quân theo đường tắt, đánh thẳng vào Quảng Nam. Dương Sơn đến trước, xông vào dinh bắt được quyển sổ đồng tâm [hướng thuận] (…). Anh nằm rạp xuống sân kêu van. Chúa còn không nỡ giết. Khê và các tướng đều xin rằng: ‘Anh phản nghịch, tội rất lớn. Phải xử theo phép nước để răn bọn loạn tặc’. Chúa bèn theo lời, sai Khê theo sổ đồng tâm mà bắt giết hết” (Quốc sử quán, Tập 1, 2002, tr. 53). Liên quan đến cuộc nổi loạn này, tài liệu Dagh Register năm 1636 của công ty Đông Ấn Hà Lan ghi như sau: ngày 6 tháng 3 năm 1636 hai chiếc thuyền Grol và Warmont cập bến Đà Nẵng thì nhận được tin hoàng tử Anh được một số người Nhật hỗ trợ dấy binh chống lại tân vương. Theo lời kể của các thương nhân Nhật và Trung Hoa, hàng ngàn quân nổi loạn bị giết chết, khiến hoàng tử Anh phải bỏ chạy, tìm đường trốn sang Campuchia, nhưng bị bắt lại (Cadière L. 1906, tr. 146). Có lẽ số lượng người Nhật dính líu đến vụ này trốn thoát sang Campuchia không lớn lắm, vì năm 1642 vẫn còn có khoảng 40 – 50 người Nhật sống ở đó, như báo cáo của một kiều dân Nhật tên Fransisco sống ở Hội An (Li Tana & Reid A., 1993, tr. 31).
- Về số lượng người Nhật đến Campuchia
Trong bản tường trình của Hagenaar viết năm 1637 có một đoạn trích dẫn bản mô tả vương quốc Campuchia nhưng không ghi xuất xứ, có lẽ là do các đoàn đi trước đó biên soạn, trong đó có đoạn nói về cộng đồng người Nhật ở Buomping, tức Phnom Penh ngày nay, cũng như vai trò quan trọng của họ đối với nhà vua:
“…người Nhật Bản gồm khoảng 70-80 gia đình sinh sống ở đây, họ như những thảo khấu không dám trở về quê hương. Trong tâm trí của nhà vua [Campuchia] thì họ rất tốt, bởi vì khi vị hoàng tử trưởng nổi dậy chống nhà vua để đoạt ngôi báu, họ đã sát cánh cùng nhà vua và đã quả cảm chiến đấu vì nhà vua.” (Hagenaar H. 1706, tr. 286)
Có lẽ các đồng đội của Hagenaar đã gặp các rōnin, những lãng nhân xuất thân từ samurai không còn chốn dung thân sau nhiều biến cố ở Nhật, nên đi tứ phương để tìm kế sinh nhai. Theo số liệu của nhà nghiên cứu người Nhật Y. Ishizawa, trong nửa đầu thế kỷ XVII có khoảng 71.200 người Nhật lên thuyền Nhật vượt biển, và nếu tính luôn cả những người đi trên thuyền nước ngoài thì có khoảng 100.000 người qua nhiều địa điểm khác nhau ở Đông Nam Á (Ribeiro M. 2001, tr. 67). Nhưng chỉ có một số ít ở lại định cư tại hơn 19 địa điểm của các nước trong khu vực, trong đó có Campuchia. Nhưng về số lượng người định cư tại vương quốc này thì thông tin không được rõ ràng: L. Pagés cho biết là vào năm 1617 có “một số lượng lớn người Nhật ngoại đạo” sinh sống ở Campuchia (Pagés L. 1869, tr. 383), hoặc như J. Murdoch nói là vào năm 1625 ở Campuchia “có nhiều người Nhật sống” (Murdoch J. 1903, tr. 691). Bên cạnh đó cũng có một số tác giả đưa ra các con số khá cụ thể, nhưng lại rất khác nhau: trong một bài viết(4) năm 1998, Y. Ishizawa cho rằng tại đây có lúc có đến 1.500 người Nhật làm ăn sinh sống (Ribeiro M., 2001, tr. 73); nhưng sau đó cũng chính Y. Ishizawa lại viết một cách tổng quát rằng mỗi cộng đồng người Nhật trong vùng Đông Nam Á có khoảng 7.000 người (Ishizawa Y. 2015, tr. 51). Ngược lại, Iwao Seiichi, tác giả công trình Zoku nanyō Nihon machi no kenkyū nghiên cứu về các khu phố Nhật ở Đông Nam Á được xuất bản lần đầu năm 1940 thì cho rằng chỉ có 350 người Nhật ở Campuchia mà thôi (dẫn lại từ Clulow A. 2013, tr. 343).
Gần đây, ngành khảo cổ học đã cung cấp một số thông tin quan trọng liên quan đến những vết tích của người Nhật từng sinh sống ở làng Ponhea Lueu (nhiều tài liệu khác viết là Pinhalu) cách Phnom Penh 25 km về hướng Bắc. GS. Hiroshi Sugiyama, trưởng nhóm khai quật, cho biết có khoảng 100 người Nhật đã định cư ở đó trong khoảng thời gian từ 1601 đến 1635. Theo ông, cộng đồng người Nhật này chủ yếu là hoạt động kinh doanh và tôn giáo (báo The Japan Times ngày 16 tháng 2 năm 2008).
- Vị thế của người Nhật trên đất Campuchia
Trong số người nước ngoài làm ăn và sinh sống trên đất Campuchia trong giai đoạn trước 1636, có lẽ người Nhật có vai trò nổi bật nhất trong hoạt động kinh tế và nhất là có quan hệ mật thiết với triều đình nước sở tại mà một số người phương Tây đương thời đã nhận ra. Hai yếu tố sau đây đã gắn kết họ với người Hà Lan trong giai đoạn này.
5.1. Uy tín của người Nhật ở Campuchia
Mặc dù đầu thế kỷ XVII vua Campuchia đã có lần phàn nàn với Mạc phủ về những hành vi tàn bạo của những người Nhật dọc theo hải trình nằm trong vương quốc này, nhưng nhìn chung trong thập niên 1630, họ nhận được nhiều ân sủng của nhà vua, vì đã có công giúp vua dẹp loạn. Vì thế họ là một thế lực quan trọng và rất có uy tín ở Campuchia, khiến các sắc dân khác nể sợ, kể cả người Trung Hoa hay người Mã Lai (Hildreth R., 1860, tr. 567-568). Hagenaar còn ghi là khi đến Phnom Penh, ông cũng phải nhờ shabandar (quan tào vụ) người Nhật làm cầu nối để tiếp cận với triều đình Campuchia cũng như thuê người phục vụ cho thương điếm.
Nhà nghiên cứu người Nhật Y. Takekoshi cho biết cụ thể hơn nhận xét của Hagenaar với những chi tiết như sau:
“Vào năm 1637 ở Campuchia có khoảng 60 – 70 gia đình người Nhật sinh sống, và những kiều dân này rất có thế lực, đủ mạnh để hỗ trợ nhà nước dẹp loạn lạc trong nước. Vì thế mà Hoàng gia Campuchia đã đặt nhiều niềm tin ở người Nhật; người Malacca và Trung Hoa rất kính nể họ. Người Nhật ở đây đi buôn trên những chiếc thuyền thuê của người Trung Hoa, và mặc dù ảnh hưởng của những đồng bào của họ trên nước Xiêm láng giềng lúc thì rất to lớn, lúc thì gần như lụi tàn, người Nhật ở Campuchia trừ một ít ngoại lệ dường như được mọi người yêu mến và kính trọng, từ dân bản xứ cho đến các kiều dân khác” (Takekoshi Y. 1930, tr. 498-499).
Để có uy tín như thế, có lẽ là nhờ các rōnin vừa tận tụy, lại có kỹ năng quân sự, rất gan dạ, kỷ luật, và bản tính quyết liệt, gặp thời thế nhiễu nhương lúc bấy giờ ở Campuchia, nên họ có cơ hội lập công. Nhờ họ mà kiều dân Nhật được dễ dàng làm ăn, đồng thời được kiêng nể. Nhà nghiên cứu Ishizawa Yoshiaki cho biết như sau: “Sự hiện diện của các chỉ huy xuất thân từ lãng nhân có lẽ đã góp phần to lớn vào việc hỗ trợ cộng đồng kiều dân Nhật ở nước ngoài triển khai nhiều hoạt động khác với người bản xứ, và tạo được tiếng tăm, nhất là trong lĩnh vực quân sự” (dẫn lại từ Ribeiro M., 2001, tr. 55).
5.2. Quan hệ giữa Hà Lan và người Nhật ở Campuchia
Như đã nói, trong những năm trước 1636, nước Nhật chỉ còn cho phép nước phương Tây duy nhất là Hà Lan đến Nhật buôn bán, nên người Nhật ở Campuchia đương nhiên trở thành đầu mối giúp người Hà Lan thu gom hàng hóa chở sang Nhật Bản. Đây cũng chính là thời kỳ mà người Hà Lan chiếm ưu thế về hàng hải trong vùng biển Viễn Đông, và bắt đầu thâm nhập vào Campuchia để tìm nguồn hàng bản địa, trong khi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mất dần ảnh hưởng, vì hai nước này ngày càng phải thu hẹp địa bàn buôn bán. Trong thời kỳ này, người Nhật ở Campuchia cũng rất năng động, đặc biệt là trong các mối quan hệ với triều đình của vương quốc này (Sotheavi Nhim 2016, tr. 95). Nhật ký Hagenaar có ghi nhiều chi tiết chứng nhận điều này: “Văn phòng của chúng tôi chỉ là một ngôi nhà nghèo nàn làm bằng tre dễ bắt lửa và dễ bị trộm. Viên shabandar [quan tào vụ] của người Nhật Bản đến chúc mừng chúng tôi về chuyến viếng thăm, trao tặng phẩm vật và buổi trưa hai viên quan nampra(5) trong triều lại đến, dẫn theo một phiên dịch người Bồ Đào Nha” (Hagenaar H. 1706, tr. 263).
Thái độ của Hà Lan đối với người Nhật cũng rất mềm mỏng, thậm chí kiêng nể, vì không muốn gặp rắc rối trong mậu dịch: “Năm 1635, nhiều khó khăn mới có nguy cơ xuất hiện nhưng đã được giải quyết kịp thời. Ngày 13 tháng 7 trong vùng biển Macassar, người Hà Lan đã bắt giữ một chiếc thuyền của người Nhật định cư tại Campuchia. Họ phản đối quyết liệt việc tịch thu chiếc thuyền và hàng hóa gồm cánh kiến trắng (benjoin), đồ sứ và cánh kiến đỏ (gomme-laque). Để công việc suôn sẻ, người Hà Lan quyết định trả lại chiếc thuyền cho sở hữu chủ” (Buch 2, tr.198).
Tinh thần thân thiện này đã thể hiện rõ ràng trong huấn thị của đại sứ Công ty Đông Ấn Hà Lan P. Croocq gửi cho trưởng chi nhánh Phnom Penh van der Hagen, đề ngày 6 tháng 11 năm 1638 trước khi rời Campuchia: “Trưởng chi nhánh sẽ phải cố gắng sống hòa thuận với người Nhật là những người có thế lực có thể giúp được nhiều việc hệ trọng cho Công ty” (Buch 2, tr. 206).
Những sự việc trên đây chứng tỏ rằng người Hà Lan đã nhận ra thế và lực của người Nhật Bản trên đất Campuchia thời bấy giờ, và với những ưu đãi thời tỏa quốc, đương nhiên là họ đã trở thành đối tác chính của nhau ở Campuchia. Có lẽ đó cũng chính là lời giải thích cho câu hỏi tại sao người Hà Lan có sự quan tâm đặc biệt đến người Nhật, đến độ họ gọi dòng sông mà người Nhật đã xuất hiện một cách ấn tượng trong một bối cảnh đặc biệt nào đó, là Sông Nhật Bản, còn người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đến trước họ thì không.
- Vì sao có tên gọi Sông Nhật Bản ?
Trong tổng số hơn 19 địa điểm có người Nhật cư trú trong vùng Đông Nam Á ngoài các tên như Ban Yipun hay Dilao… để chỉ khu phố mà người Nhật đã từng sinh sống, không có nơi nào có địa danh mang tên Nhật Bản để chỉ những nơi không có dấu vết của người Nhật sinh sống, như sông Nhật Bản, cồn Nhật Bản, giồng Nhựt Bổn, xứ Nhựt Bổn, rạch Nhựt Bổn cả. Sau khi đã điểm qua những sự kiện kể trên, người ta nhận thấy rằng trong thập niên 1630 đã từng có nhiều đợt di chuyển dồn dập của người Nhật đến Campuchia tìm nơi lánh nạn. Thế mà đợt di dân quan trọng nhất của người Nhật là sau khi Yamada Nagamasa bị sát hại; họ rời nước Xiêm trong khoảng thời gian từ năm 1630 – 1632 qua Campuchia trên 300 chiếc thuyền, mà lộ trình chủ yếu có lẽ là các nhánh sông Mêkong. Tuy nhiên các ghi nhận về dân số thời ấy cho thấy là chỉ có một số ít trong dòng người này đã ở lại Campuchia lâu dài, còn phần lớn còn lại đã quay về Nhật trước khi có lệnh cấm của Mạc Phủ; một số khác thì đi nơi khác. Việc di chuyền của họ tạo thành những làn sóng tàu thuyền tấp nập gây ấn tượng mạnh cho những người chứng kiến, đặc biệt là đối với những người mới đến như Hà Lan. Và cũng chỉ 4 năm sau, tên gọi Sông Nhật Bản xuất hiện trong nhật ký của Galen.
Từ những dữ liệu trên, chúng tôi nêu ra cách giải thích mà chúng tôi cho là gần với các dữ liệu lịch sử hơn, là chính dòng người Nhật từ nước Xiêm đổ xô về Campuchia qua ngã sông Mêkong vào những năm 1630-1632, trong đó một số ở lại và số khác lần lượt trở về Nhật, trong bối cảnh giao dịch thương mại của Nhật với công ty VOC Hà Lan đang phát triển, là các yếu tố chủ yếu khiến người Hà Lan với tư cách là người chứng kiến, đã gọi một nhánh sông Mêkong là Sông Nhật Bản. Cách giải thích này chắc chắn là chưa thể hoàn chỉnh, vì nó được xây dựng trên những tư liệu mà chúng tôi có được hiện nay, vì thế có thể nó sẽ không còn đúng nữa khi các nhà nghiên cứu sau này tiếp cận được nhiều dữ liệu mới hơn.
Kết luận
Tóm lại, tên gọi Sông Nhật Bản mà người Hà Lan đã sử dụng xuất phát từ việc chứng kiến dòng người Nhật lũ lượt đi trên nhánh sông Tiền để đến Campuchia lánh nạn vào những năm 1630. Trong số những đoàn người đó, đáng kể nhất là đoàn 300 chiếc thuyền rời bỏ đất Xiêm để trốn tránh sự tàn sát của người kế nhiệm vua Song Tham mất năm 1628. Đây cũng là lúc công ty VOC của Hà Lan bắt đầu mở rộng địa bàn buôn bán trước sự thất thế của người Bồ Đào Nha. Vì thế đất Campuchia là nơi hội ngộ lịch sử của cường quốc châu Âu đang lớn mạnh là Hà Lan, với những thần dân của một vương quốc đang có nhiều biến động, khiến dân chúng phải vượt trùng dương tìm đất sống.
Nhưng trong khi tên sông Nhật Bản được người phương Tây truyền lại đời sau, còn các tên cồn Nhật Bản, giồng Nhựt Bổn, xứ Nhựt Bổn, rạch Nhựt Bổn chắc chắn là tên gọi thuần túy do người Việt tạo ra khi chứng kiến dòng người Nhật ngược xuôi trên sông Tiền. Tuy nhiên để xác định bối cảnh liên quan đến các tên gọi này, cần phải tìm hiểu kỹ hơn nữa thời gian mà người Việt xuất hiện ở vùng Cửa Đại (sông Tiền), cũng như các chuyến ngược xuôi của họ trên sông Cửu Long. Từ khi nhà nghiên cứu người Nhật liên lạc với Phan Khôi năm 1930, đến nay chắc hẳn rằng giới khoa học nước bạn đã biên soạn nhiều tài liệu về vấn đề này, nhưng tiếc là chúng ta không thể lần ra manh mối về nhà nghiên cứu Nhật ấy để có thêm thông tin từ phía họ, cũng như không đọc được Niên biểu sự đi lại của thuyền mà GS. Kikuchi Seiichi đã nhắc đến trong một bài viết hơn hai mươi năm trước(6).
Tài liệu tham khảo
Cadière L. 1906. Deuxième partie: luttes avec les Trinh. Tạp chí Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Tome 6.
Cardim Fr. 1645. Relation de la province du Iapon. Tournay: Imprimerie d’Adrien Qvinqvé.
Cheng Wei-chung, 2013. War Trade and Piracy in the China Seas 1622-1683. Leiden & Boston: Brill.
Clulow A. 2013. Like Lambs in Japan and Devils outside their Land: Diplomacy, Violence, and Japanese Merchants. Tạp chí Southeast Asia Journal of World History, Volume 24, Number 2, June 2013.
Dumoutier G. 1892. L’Indochine et ses anciennes relations avec le Japon. Trong tạp chí Revue Franҫaise du Japon. Tokyo.
Galland X. 2007. Les samouraïs d’Ayutthaya (suite). Tạp chí Gavroche số 152, tháng 5/2007, Bangkok.
Hagenaar H., 1706. Voiage aux Indes Orientales. Trong quyển 5 bộ Recueil des voiages qui ont servi à l’établissement et aux progress de la Compagnie des Indes Orientales formée dans les Provinces Unies des Païs-bas. Amsterdam: Etienne Roger, Libraire.
Hamilton A. 1727. The new Account of the East Indies. Edinburgh: John Mosman.
Harris I. 2005. Cambodian Budhism History and Practice. Honolulu: University of Hawai‘i Press.
Hildreth R. 1860. Japan and the Japanese. Boston: Bradley, Dayton & Co.
Ishii Y. (Ed.), 1998. The Junk Trade from Southeast Asia. Translations from the Tôsen Fusetsu-gaki, 1674-1723. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.
Ishizawa Y. 2015. The World’s Oldest Plan of Angkor Vat: the Japanese so-called Jetavana, an Illustrated Plan of the Seventeenth Century. Udaya, Journal of Khmer Studies, N°13, Septembre 2015.
James J. M. 1879. A Short Narrative of Foreign Travel of Modern Japanese Adventurers. Tạp chí Transaction of the Asiatic Society of Japan, Vol. VII, Part III.
Launay A. 1925. Histoire de la Mission en Cochinchine, Documents historiques
III (1771-1823). Paris: Maisonneuve Frères, Éditeurs.
Li Tana & Reid A. 1993 (eds.). Southern Vietnam under the Nguyễn. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.
Loureiro V. 2005. The Jesuits in Cambodia: a look upon Cambodian religiousness (2nd half of the 16th century to the 1st quarter of the 18th century). Bulletin of Portuguese – Japanese Studies, vol. 10-11, june-december, 2005.
Murdoch J. 1903. A History of Japan during the Century of Early Foreign Intercourse (1542-1651). Kobe: Office of the Chronicle.
Pagés L., 1869. Histoire de la Religion chrétienne au Japon, Tome 1. Paris: Charles Douniol Libraire-Editeur.
Péri N. 1923b. Appendice. Trong tạp chí Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Tome 23 (1923).
Quốc sử Quán triều Nguyễn, 2002. Đại Nam thực lục, tập 1. Hà Nội: Nxb Giáo dục.
Ribeiro M., 2001. The Japanese Diaspora in the Seventeenth Century. According to Jesuit Sources. Bulletin of Portuguese – Japanese Studies, N0 3, december, 2001, Universidade Nova de Lisboa Lisboa, Portugal.
Sotheavi Nhim 2016. Factors that Led to the Change of the Khmer Capitals
from the 15th to 17th century. Tạp chí Renaissance Culturelle du Cambodge 29, Sophia University.
Takekoshi Y. 1930. The Economic Aspects of the History of the Civilization of Japan, Vol. 1. London: George Allen & Unwin Ltd.
Trân Q. Anh 2018. The Historiography of the Jesuits in Vietnam: 1615–1773 and 1957–2007. Trong Jesuit Historiography Online. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại địa chỉ http://dx.doi.org/10.1163/2468-7723_jho_COM_210470
van Vliet J., 1938. Historical Account of Siam in the 17th Century. Tạp chí Journal of the Siam Society, Vol. 30(2).
[*] Truyện kể này tựa là Tenjiku Tokubei monogatari 天竺徳兵衛渡海物語 (Thiên Trúc Đức Binh Vệ độ hải vật ngữ) được cho là đã viết ra vào năm 1707 lúc ông đã 96 tuổi để dâng lên tổng trấn Nagasaki, nhưng cũng có chi tiết cho thấy là ông đã viết trước năm 1695.
(1) Tác giả N. Péri (1923b) viết là Aṅkor Vat, bên cạnh nhiều tài liệu đầu thế kỷ XX viết là Angkor Vat. Tuy nhiên để tiện việc cập nhật thông tin, chúng tôi sẽ sử dụng cách viết phổ biến hiện nay là Angkor Wat.
(2) Truyện kể này tựa là Tenjiku Tokubei monogatari 天竺徳兵衛渡海物語 (Thiên Trúc Đức Binh Vệ độ hải vật ngữ) được cho là đã viết ra vào năm 1707 lúc ông đã 96 tuổi để dâng lên tổng trấn Nagasaki, nhưng cũng có chi tiết cho thấy là ông đã viết trước năm 1695.
(3) Theo tài liệu của Murdoch xuất bản năm 1903 thì Yamada chết năm 1633 (tr. 691), trong khi nhiều tài liệu ngày nay cho là 1630.
(4) Tựa là “Les quartiers japonais dans l’Asie du Sud-Est au XVIIème siècle”, in trong sách Guerre et Paix en Asie du Sud-Est (Nxb Harmattan, Paris 1998) do Nguyên Thê Anh chủ biên. Rất tiếc là chúng tôi chưa có tài liệu này.
(5) Theo giải thích của George Psalmanazar trong quyển The Modern Part of an Universal History Vol. 6 (1781, tr. 396) thì nampra là bậc quý tộc thứ ba trong xã hội Campuchia thời ấy.
(6) Bài “Sự hình thành và phát triển khu phố Hội An (Qua tự liệu: Văn bia, thư tịch và khảo cổ học)”, trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6 năm 2001.