
Rick Fields
Trần Quang Nghĩa dịch
CHƯƠNG MƯỜI LĂM:
DÒNG THIỀN KHÁC VÀ TỊNH ĐỘ TÔNG
I
Trung Quốc
Người Trung Quốc thực sự là những người đầu tiên đến nước Mỹ, hoặc theo niên đại của nhóm nhà sư huyền thoại tháp tùng Hui Shan vào thế kỷ 4 hoặc theo niên đại thập niên 1860 của dân di cư. Nhưng chỉ đến khi Hòa Thượng Tuyên Hóa bắt đầu giảng pháp của 5 tông phái Thiền, Thiên Thai, Tạng luật, Mật giáo và Tịnh Độ tông tại Chinatow ở San Francisco mà toàn bộ chân dung Phật giáo Trung Quốc mới được lộ diện ở nước Mỹ.
Tuyên Hóa ra đời tại miền đông bắc Trung Hoa vào năm 1908. Lúc lên 11, khi đi qua một cánh đồng, Sư bắt gặp thi thể một đứa trẻ bọc trong một tấm đệm rơm. Sư chưa hề thấy ai chết trước đây,nên Sư hỏi mẹ, vốn là một Phật tử thuần thành, chết là gì. Mẹ Sư trả lời làm người ai cuối cùng rồi cũng phải chết. Tuyên Hóa muốn biết có cách nào thoát khỏi cửa tử, và một vị khách lạ, tình cờ ghé thăm, bảo với ông, “Cách duy nhất thoát khỏi tử là tu theo Đạo giáo để chứng ngô tâm trí và thấu hiểu bản ngã.” Thế là Tuyên Hóa quyết tâm trở thành một tu sĩ. Mẹ Sư chấp thuận nhưng khuyên Sư đợi sau khi cha mẹ già đã quá đời.
Sư chứng tỏ là một người con hiếu thảo gương mẫu cho đến khi cha mẹ qua đời. Sư cất một túp lều tranh cạnh mộ mẹ và tọa thiền trong đó suốt ba năm, theo đúng lời thệ nguyện năm xưa. Sư chỉ ăn mỗi ngày một bữa cơm và không hề nằm xuống ngủ. Một đêm dân làng thấy ánh sáng phát ra từ căn chòi của Sư. Họ chạy ùa đến nghĩa trang với xô nước trong tay, nhưng đến nơi không thấy có lửa cháy. Chỉ thấy Tuyên Hóa đang tọa thiền trong tĩnh lặng.
Năm 1947 vào cuối Thế chiến II, Tuyên Hóa làm một chuyến hành hương 3,000 dặm xuyên Trung Quốc để tỏ lòng tôn kính đối với Hòa thượng Hư Vân, lúc đó đã 109 tuổi. Hư Vân nhận thấy Tuyên Hóa đã khai ngộ nên truyền tâm ấn của dòng Quy Ngưỡng tông cho Sư, một sự kiện mà Tuyên Hóa kỷ niệm bằng một bài kệ:
Tôn Sư Vân nhìn tôi và nói, “Như thị, như thị!
Tôi trông thấy Tôn sư Vân và xác nhận, “Như thị, như thị!”
Tôn sư và tôi đồng thệ nguyện
Mọi chúng sinh đều như thị.
Vào mùa hè 1949 Sư trốn cách mạng cộng sản và di cư đến Hồng Kông. Không một xu đính túi, Sư lập tức đến một hang động trong sườn núi, tại đó Sư tĩnh tọa trên một phiến đá trong suốt hai tuần. Trong một thời gian ngắn, một dòng Phật tử tị nạn trốn thoát chế độ cộng sản mới bắt đầu tràn về Hồng Kông. Họ ra đi thình lình, ruộng đất của tu viện bị tịch thu, các chùa bị biến thành văn phòng chính quyền và một số nhà sư lớn tuổi bị hành hình vì bị gán là “địa chủ.” Họ bỏ lại phía sau kinh sách, ảnh thờ và tất cả pháp báu đã được gìn giữ hàng trăm năm. Dân Hồng Kông phần đông theo đạo Cơ Đốc. Hầu hết các nhà sư đều già và thiếu lương thực, quần áo và nơi tạm trú một cách trầm trọng. Tuyên Hóa rời khỏi hang và quyên tiền để cứu trợ họ. Sư còn xây chùa, phòng giảng, in lại kinh sách và giảng pháp.
Vào năm 1959 có tin Lão Hòa thượng Hư Vân đã tạ thế ơ Trung Quốc ở tuổi 120, và Sư Tuyên Hóa rời Hồng Kông đến Úc, tại đó Sư giảng dạy tiếng Hoa tại đại học một thời gian rồi sang Mỹ, tại đó một số môn đệ sư đã thành lập Phòng Hoằng pháp San Francisco vào năm 1959.
Sư bắt đầu cuộc sống ở Mỹ tại Chinatown, kiên nhẫn đợi cho đến khi đủ cơ duyên đến với mình. Lúc đầu Sư chỉ được cộng đồng Hoa kiều biết đến, nhưng dần dần người ta lan truyền có một Thiền sư đã đắc đạo đang cư ngụ tại Chinatown, người Mỹ, nhiều người trong số đó đã tốt nghiệp tiếng Hoa, bắt đầu mon men đến với sư. Sư lúc đó đang sống trên một gian phòng bé nhỏ ở tầng 4 của Phòng Hoằng Pháp, trước đây là một đền thờ Đạo Lão tọa lạc ở Waverly Place, và chính tại đấy, vào mùa hè 1968, Sư tổ chức Pháp hội đầu tiên của mình kéo dài 96 ngày về Kinh Lăng Nghiêm.
Mọi người sống với nhau trong chỉ gian phòng đó, lắng nghe Sư giảng pháp, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm, học tiếng Hoa, thiền quán, tụng kinh và làm việc; ban đêm một số thiền sinh ngủ ngồi theo tư thế hoa sen trên mái nhà. Vào cuối khóa tu, Sư nói, hoa pháp sẽ nở ở Mỹ – một đóa hoa năm cánh.” Vào năm 1969, năm học viên đã tham dự pháp hội của Sư tháp tùng Sư đến Keelung, Đài Loan, tại đó họ nhận thụ phong sa di, tì kheo và Bồ Tát giới.
Khi trở lại Mỹ, các đầu cạo trọc của họ được điểm 5 chấm nhang đốt theo truyền thống thụ phong, và họ mặc áo cà sa nâu bay phấp phới như các nhà sư chính thống đời nhà Đường.
Vào mùa đông 1970 Tuyên Hóa và Hội Phật Tử Hoa-Mỹ (thay thế Phòng Hoằng Pháp bạn đầu) tân trang một khu nhà gạch đỏ, trước đây là xưởng chế tạo đệm tại Quận Mission ở San Francisco, và đặt tên là Kim Sơn Tự – Kim Sơn là tên một tu viện ở Trung Hoa và cũng là tên các di dân người Hoa gọi nước Mỹ (Núi Vàng, San Francisco tên trong tiếng Hoa là Cựu Kim Sơn là nguyên cớ đó.) Kim Sơn là một tu viện theo đúng truyền thống Trung Quốc. Chính tại đây, vào ngày 7/6/1972, Sư và 5 tỳ kheo Mỹ tiến hành nghi lễ quy y đầu tiên tại Mỹ – kéo dài 108 ngày trong trường hợp này. Theo Mahavamsa (biên niên sử Phật giáo Sri Lanka, Vua Mahanama đã cho rằng chỉ có thể nói Phật giáo đã bắt rễ thực sự trên xứ sở nếu dân bản xứ có thể được truyền giới bởi một nhà tu bản xứ. Giờ đây điều kiện đó đã được hội đủ.
Năm 1976 Hội Phật giáo Trung-Mỹ mua lại Bệnh viện Bang Mendocino dành cho tù nhân tâm thần, rộng đến 237 mẫu, ngay bên ngoài Ukiah, California, mà họ đặt tên Vạn Phật Thành. Họ dựng bức tượng Quán Thế Âm cao 18 bộ trong phòng thiền và biến 280 xà lim của bệnh viện nhà tù thành các ô tọa thiền cho các tăng sĩ tại Tu viện Tathagata. Một tòa nhà ở bên kia của khu vực dành làm nhà từ thiện. Họ cũng thành lập Đại học Dharma Realm (Pháp Giới), một học viện phi tôn giáo nhằm tạo một không khí Phật giáo nơi sinh viên có thể học ngành kỹ sư và cả văn chương cổ điển Trung Quốc.
Tại Kim Sơn cả 5 tông phái Phật giáo Trung Quốc đều được giảng dạy và tu tập: phái Luật tạng nhấn mạnh cả 250 giới Luật của tỳ kheo và tỳ kheo ni và ngũ giới cho tín đồ, Thiên Thai tông nhấn mạnh việc nghiên cứu kinh điển và tụng kinh; mật tông nhấn mạnh việc sử dụng mật chú và đà la ni; Tịnh Độ tông đặt căn bản trên lòng tin rằng chỉ cần niệm danh hiệu Phật A Di Đà là có thể vãn sanh vào cõi Cực Lạc (một Phật giới nơi đó con người dễ dàng tu tập để thành chánh quả qua tụng niệm); trong khi thiền tông sử dụng phương pháp tọa thiền và giải công án.
Người Tây phương khá ngạc nhiên sao có thể phối hợp giữa Tịnh Độ tông và Thiền tông. Về lý thì hai phép tu này dường như không nhất quán. Tịnh Độ thì đặt căn bản trên tụng niệm và oai lực bên ngoài, còn Thiền thì dựa vào sự nghi hoặc vĩ đại và nội lực. Hơn nữa, Tịnh Độ tông có vẻ Kito giáo hơn là Phật giáo- “như một truyện thần tiên,” theo lời một học viên nói với Sư Tuyên Hóa, “khi chỉ cần trông cậy vào Phật Di Đà là mọi vấn đề đểu được giải quyết dễ dàng.”
Nhưng đối với các thiền sư Trung Quốc, việc niệm danh hiệu Phật đà với nhất tâm bất loạn là một phương thức hữu hiệu và quý giá, một phương thức qua đó ta nhận thức được rằng Cõi Tịnh Độ chính là chân tánh của.mình. Thiền và Tịnh Độ bổ sung cho nhau hơn là xung khắc nhau. “Điều quan trọng nhất trong việc tụng niệm là làm tan chảy các tạp niệm sinh khởi để tâm mình hết sức thuần khiết, thanh tịnh,” Sư Tuyên Hóa bảo với các học trò Mỹ, và việc tu tập ở Kim Sơn thỉnh thoảng có kèm những buổi tụng Nam Mô A Di Đà Phật một cách du dương theo kiểu Trung Quốc.
Những khóa tụng kinh này, vốn thường kéo dài một tháng, thường đi trước các khóa thiền nghiêm ngặt nhất kéo dài hơn một tuần. Vào thời khắc đó không khí tĩnh lặng ngự trị khắp phòng thiền, trong khi những người tu tập nghiền ngẫm công án, “Ai (hoặc vật nào) đang tụng niệm danh hiệu Phật?” từ 2:30 sáng cho đến nửa đêm. Khoảng thời gian tọa thiền xen kẽ với các pháp thoại của Sư Tuyên Hóa và thiền hành – và đôi khi kết thúc bằng việc phóng chạy.
Cuộc sống ở Kim Sơn Tự và Van Phật Thành đi theo lề lối nghiêm ngặt nhất trong các cộng đồng tu học Phật giáo tại Hoa Kỳ. Tỳ kheo và tỳ kheo ni sống riêng biệt và tuân thủ tạng luật một cách chặt chẽ. Thức dậy vào lúc 3:40 để bắt đầu một chương trình gồm vái lạy, tụng kinh, làm phật vụ, tọa thiền, học ngôn ngữ (Tiếng quan thoại, Phạn, và ngôn ngữ Âu châu) và lao động. Họ ăn mỗi ngày một bữa cơm chay và có người ngủ ngồi ban đêm trong tư thế kiết già. (“Rất khó khăn cho đôi chân của bạn trong một hai năm đầu,” Tỳ kheo Heng Lai nói, “nhưng nó thực sự rất hiệu nghiệm. Đầu bạn trong suốt cả đêm.” Công phu khổ luyện này là một phần trong việc tu tập, được Sư Tuyên Hóa đúc kết giá trị của nó trong châm ngôn “Hành trì cay đắng, thân tâm ngọt ngào,” và thoạt đầu việc đó dường như bất khả, theo thời gian, nó trở nên hoàn toàn tự nhiên.
Sư Tuyên Hóa đặt nặng vấn đề nghiên cứu kinh tạng và đều đặn mỗi ngày trong năm thuyết pháp về một bộ kinh tại Vạn Phật Thành. Những bài pháp này, đôi khi cũng do các đệ tử cấp cao thuyết giảng, được phiên dịch đồng thời ra tiếng Hoa và tiếng Anh. Các tăng ni của Vạn Phật Thành cũng rất hăng say trong công việc dịch thuật, và Hội Dịch Thuật Kinh Điển Phật Giáo, được Sư Tuyên Hóa thành lập năm 1970, đã xuất bản nhiều bản dịch kiểu mẫu. Tính học thuật và chân xác của các bản dịch này đạt phẩm hạng cao nhất vì chúng được kiểm tra và tái kiểm tra với không ít hơn bốn ủy ban khác nhau. Mục tiêu của Hội Dịch Thuật là dịch hết toàn bộ Tam Tạng Kinh ra tiếng Anh cũng như ra các ngôn ngữ Âu châu chính yếu khác.
Các nhà sư Trung Hoa thường bỏ nhiều năm liền đi vân du khắp Trung Quốc đòi hỏi sự thực hành khổ hạnh và gian khổ tự đặt ra cho mình. Heng Ju (Hằng Cụ), một tỳ kheo từ Vạn Phật Thành làm sống lại truyền thống này khi sư quyết tâm hoàn thành chuyến Tam Bộ Nhất Bái từ San Francisco đến Seatle vào mùa hè 1973. Nguyên là thợ cơ khí tàu ngầm của Hải quân, Hằng Cụ đã lấy cảm hứng từ chuyến hành hương của Lão Sư Hư Vân đi xuyên qua Trung Quốc vào thập niên 1980. Lão Sư đã chắp tay lại, quỳ gối, khuỷu tay, trán, và bàn tay chạm đất sau mỗi ba bước đi, 6.000 dặm xuyên qua Trung Quốc. Chuyến hành hương mất 6 năm và trong chuyển đi đó Lão Sư đã đạt được sự nhất tâm chói sáng và trong suốt vượt xa bất cứ cảnh giới nào ngài từng trải qua.
Đầu tiên Hằng Cụ thực tập trước. Sư rời Kim Sơn Tự khi đêm đã vào sâu mà không cho ai hay. Sư đã tam bộ nhất bái 5 dặm từ Phố Market đến Cầu Cổng Vàng. Sư đã khiến xe cộ dừng lại, được cảnh sát che chở mỗi khi băng qua đường, và cuối cùng trở về chùa, thân thể rã rời, không biết mình cuối cùng tỉnh hay đã hóa điên. Vậy mà, theo lời Sư, có điều gì đó về trải nghiệm mà Sư không thể mô tả, nhưng cho Sư cảm giác như nó đang đến gần cốt lõi.” Sư quyết tâm thử sức lần nữa, lần này có sư phụ cố vấn và hộ trì. Sư sẽ tam bộ nhất bái vì mục đích tu tập và cầu nguyện cho hòa bình thế giới.
Được tỳ kheo Hằng Do đồng hành, mang theo thức ăn và lều bạt trên xe đẩy, Hằng Cụ khởi hành từ San Francisco vào ngày 16/10/1973. Sư tam bộ nhất bái qua mưa, nắng, mưa tuyết, đi qua tất cả thị trấn dọc theo Quốc lộ I, qua các tiệm giặt giũ công cộng, quán rượu, trường học, trung tâm mua sắm, và nhà ga. Sư bị cây sồi độc gây dị ứng, bị phồng rộp, bỏng nắng, và đầu gối sưng vù. 100 dặm đầu tiên là tệ hại nhất. “Chúng tôi bị thời tiết khủng khiếp quần thảo và thiếu trang bị cần thiết, và tôi bắt đầu nghĩ rằng chúng tôi đã đặt ra mục tiêu quá sức mình, không thế nào tam bộ nhất bái 1,000 dặm băng qua nước Mỹ vì hoà bình thế giới.” Dáng vẻ kỳ cục của họ – đầu trọc, trang phục và vái lạy – lúc đầu dường như xúc phạm đến mọi người. “Lạy một ngàn dặm từ San Francisco đến Seatle là một việc dễ dàng,” Hằng Cụ nói sau khi đã hoàn thành thử thách. “Cái khó là làm sao giải thích cho dân chúng hiểu.” Lúc đầu đi đến đâu họ cũng phát cho những người tò mò một tờ rơi cỡ A5 giải thích lý do của chuyến hành hương, nhưng sau đó họ thấy nói chuyện trực tiếp với mọi người có hiệu quả hơn nhiều. Vì vậy họ nói với các phóng viên, các tài xế xe tải, các học sinh tiểu học, các thợ đốn củi, các du khách, các cảnh sát lưu thông (muốn chặn họ lại), một người Kitô giáo bẩm sinh (muốn cải đạo họ) và một ít Phật tử địa phương. Khi công việc tiến triển – ba bước một lạy, 5 hoặc 6 dặm một ngày – họ thấy báo chí và truyền hình ngày một đưa tin nhiều hơn và giải thích cho công chúng biết họ là ai và họ làm gì. Vào đầu chuyến đi có người đã ném lon bia vào họ khi vụt xe qua và có lần một tài xế say xỉn muốn đâm xe vào họ. Nhưng lúc họ đến Gold Beach, Oregon, một cửa hàng dụng cụ thể thao đã treo một biểu ngữ chào mừng, viết “Chào mừng Hằng Cụ và Hằng Do. Chúc chuyến đi tốt lành.”
Vào thứ bảy, ngày 20/7/1974, 9 tháng sau khi khởi hành, Hằng Cụ và Hằng Do hoàn thành chuyến đi ngàn dặm của mình. Tại nơi đến ở Seattle, họ được chào đón bởi Sư Tuyên Hóa và tăng đoàn Kim Sơn, cùng nhiều người khác đến tụ họp kêu gọi thế giới hoà bình.
Khi Hằng Cụ phát biểu, Sư đề cập đến bài thơ mà sư phụ đã tặng Sư trong ngày khởi hành:
Thực hiện việc gì khó thực hiện là đạo hạnh của bậc cao minh;
Chịu đựng việc gì khó chịu đựng là sự nhẫn nhục đích thực.
Mọi Phật ở mười phương đều đi trên con đường này
Tám vạn bồ tát cũng đi theo ngài
Thổi tù và pháp và cất tiếng kêu;
Rung lắc cây trượng quý báu của thầy, và chuyển hoá lòng tham bủn xỉn.
Kỳ công hoàn thành, kết quả trọn vẹn, thầy về giữa bài ca khải hoàn
Và tôi sẽ ban thưởng cho đệ tử mình một ổ bánh nhân mứt quả mọng.
Chuyện lạ, mọi người đều biết, là vài năm trước chuyến tam bộ nhất bái của mình, và chỉ 6 ngày sau khi Sư thệ nguyện chỉ ăn một ngày một bữa cơm, Hằng Cụ đã lẻn ra khỏi chùa và ăn hết sạch một chiếc bánh ngọt. Còn lại một chiếc bánh nhân mứt quả mọng. Sư gói nó lại và đút vào túi và trở về chùa. Đến chiều Sư đã bắt đầu mơ tưởng về chiếc bánh, và Sư cứ bị nó ám ảnh khi nghe thầy thuyết pháp về đêm. Khoảng 10 giờ khuya khi mọi người đã ngủ say, Sư leo ra khỏi cửa sổ phòng tắm, ra đến thang thoát hiểm và leo lên mái. Tại đó Sư bắt đầu lấy bánh ra ăn.
Nhưng cũng ngay lúc đó [Sư kể] tôi nhìn qua cầu thang thoát hiểm thấy ai đó đang trèo lên mái! Tôi đứng đó, chết trân vì khiếp vía, miệng còn ngồm ngoàm bánh. Không có chỗ nào để lẩn trốn. Đúng là sư phụ! Tôi đứng yên trong một lúc . . . . Rồi tôi bắt đầu đi quanh vòng tròn trên mái như thể mình đang thiền hành. Sư phụ, cũng vậy, bắt đầu đi quanh theo hướng ngược lại. Chúng tôi qua mặt nhau hai lần mà không nhìn nhau, nhưng vào vòng thứ bà, tôi nhìn lên và thấy thầy đang cười tinh nghịch như con mèo Cheshire (nhân vật trong Alice và Xứ Sở Thần Tiên). Ông nói bốn từ, “Con thấy thế nào?” Đó là sự cố ổ bánh mứt mọng nổi tiếng. Thầy trụ trì lấy nó làm trò đùa với tôi nhiều năm liền.
Khi Hằng Cụ và Hằng Do trở về chùa sau chuyến đi, họ được toàn thể pháp hội chào mừng và khoản đãi một bữa tiệc chay. Hằng Cụ chỉ ăn đúng một thứ, một ổ bánh nhân mứt mọng mà thầy trụ trì tặng riêng cho Sư. Vào cuối buổi pháp thoại ngày hôm đó, Sư Tuyên Hóa nói, “Hôm nay các thầy có cơ duyên gặp được một tỳ kheo bái dài một ngàn dặm chỉ vì một ổ bánh ngọt!”
II
Người Hàn Quốc
Phật giáo Triều Tiên bắt đầu vào thế kỷ 4 khi tông phái Kyo (tông phái giảng kinh) từ Trung Hoa truyền đến. Trong hai thế kỷ sau đó các nhà sư Triều Tiên đã tu tập và giác ngộ tại các thiền viện Trung Hoa đời nhà Đường trở về xứ và thành lập các trung tâm tu học trên 9 ngọn núi. Việc này phát sinh ra 9 tông phái Thiền Triều Tiên gọi là Son. Thiền Triều Tiên được tu tập với đầy khí lực, và nhiều Thiền sư và nhà sư Triều Tiên đến Trung Hoa và Nhật, tại đó nghệ thuật và kiến trúc Phật giáo Triều Tiên đạt đến thành tựu đỉnh cao. Nhiều đền thờ ban đầu của Nhật được các thợ thủ công Triều Tiên thiết kế và xây dựng, và tranh vẽ Triều Tiên, vốn có phẩm chất sống động, sơ khai và trực tiếp, được đánh giá cao ở Trung Hoa và Nhật.
Trong triều đại nhà Yi (1392-1910), tuy nhiên, đạo Khổng là quốc giáo, và đạo Phật bị hạn chế nghiêm ngặt. Năm 1910, Nhật chiếm đóng Triều Tiên và họ cũng xen vào hoạt động Phật giáo. Họ giành quyền bổ nhiệm các trụ trì tại những thiền viện lớn và ra sức cưỡng ép Phật giáo Triều Tiên phải đi theo lề lối của Phật giáo Nhật, chủ yếu ép buộc các nhà sư phải lấy vợ. Mặc dù đa số nhà sư nghe theo, các Phật gia Triều Tiên chiến đấu chống lại quân Nhật và ra sức phục hồi tinh thần Phật giáo Triều Tiên nguyên gốc.
Trong thời kỳ chủ nghĩa dân tộc và đấu tranh chống quán xâm lược này một thiếu niên tên Lee Duk An gia nhập lực lượng kháng chiến bí mật. Cậu mới 16 tuổi và đang theo học trường kỹ thuật. Nhiệm vụ bí mật đầu tiên của Lee Duk An là thiết kế một máy phát sóng ngắn để bắt liên lạc với Quân đội Triều Tiên Tự Do ở Mãn Cháu. Nhưng rồi máy phát sóng bị phát hiện, cậu bị nhốt vào tù 6 tháng, và chỉ nhờ sự kiện hiệu trưởng trường cậu là người cùng quê với quan tòa Nhật đang xét xử cậu nên cậu mới thoát khỏi bản án tử.
Sau khi Nhật bị đánh bại tại Thế chiến II, Triều Tiên bị chia đôi giữa hai phe Nga và Mỹ, Lee Duk An vỡ mộng với chính trị, lui vào núi, ngấu nghiến Socrates, Spencer và Rousseau. Một người bạn đề nghị ông đọc triết học Đông phương, ông bèn đọc Khổng Tử. Rồi ai đó trao cho ông cuốn kinh Kim Cang. Đọc xong, ông kêu lên, “Ô.hô, Phật giáo là số một!” và lên đường để trở thành một nhà sư, với pháp danh Soen-sa-nim.
Ông đi vào núi một lần nữa, lần này chỉ mang theo Shin myo Chung Ku tai Tarani, mật chú năng lượng tâm trí nguyên thủy. Ông ăn bột lá tùng, tắm gội trong suối lạnh giá trên núi và tụng niệm 24 giờ một ngày. Quỷ, ma, cọp, rắn đến tấn công ông, và những thị kiến về các vị phật và bồ tát đánh lừa ông. Vào ngày cuối cùng của khóa tu 100 ngày thân thể ông biến mất và ông nhận ra rằng mọi thứ ông nhìn thấy – cây, đá, mây, bầu trời, và quạ – đều là bản thể của mình.
Sau đó ông đi gặp Thiền sư Ko Bong, một trong những thiền sư Triều hung tợn và dữ dội nhất. Thiền sư chỉ dạy khi được cho uống rượu, và chỉ dạy người thường hoăc ni cô, vì theo Sư các tăng sĩ rất biếng nhác. Người ta không biết thiền sư điên khùng hay đã giác ngộ, nhưng không ai có thể đánh bại Sư khi đấu pháp.
Soen-sa-nim hỏi Thiền sư Ko Bong làm sao để tu Thiền. Thiền sư Ko Bong đáp, “Có lần một nhà sư hỏi Jo-ju-Su-nim, ‘Tại sao Bồ đề Đạt Ma đến Trung Quốc?’ Jo-jun đáp, ‘Cây thông đứng trước vườn.’ Điều này nghĩa là gì?” Soen-sa-nim hiểu ra, nhưng vì ông không được đào luyện trong nghệ thuật đấu pháp vì thế ông chỉ có thể trả lời, “Con không biết.” “Hãy gìn giữ cái tâm không biết này,” Ko Bong nói. “Đó là tu thiền.”
Sau đó Soen-sa-nim đến thiền viện Su Dok Sa, tại đó ông tham dự khóa tu 100 ngày. Gần cuối khóa ông nhận thấy không khí tu tập của các thiền sinh đã trở nên chểnh mảng, vì vậy ông quyết định khuấy động mọi viêc lên. Có ai đó đã lấy trộm củi đốt và gạo trong thiền viện, và Soen-sa-nim được cắt đặt canh gác. Một đêm ông dời nồi niêu xoong chảo khỏi nhà bếp và bày chúng vòng tròn giữa sân; một đêm khác ông xoay một tượng Phật nhỏ quay mặt vào tường; rồi ông treo bình hương thuộc bảo vật quốc gia lủng lẳng trên một cành hồng. Lần sau ông bị bắt quả tang khi đang sắp xếp các đôi dép của ni cô ngay ngắn trước phòng sư trụ trì.
Buổi sáng đó ông đứng trước tập thể tăng ni. Cánh ni cô đồng thanh yêu cầu trục xuất ông. Cánh tăng sĩ thì xin cho ông một cơ hội nữa, vì ông là nhà sư mới vào và còn trẻ, miễn là ông chịu chính thức xin lỗi. Trước tiên ông vái lạy Sư thầy Duk Sahn, và nghe Sư thì thầm, “Cứ tiếp tục việc làm tốt đẹp.” Ni sư trụ trì quỡ ông đã gây ra náo loạn quá đáng cho thiền viện. Ông đáp, “Cả thế giới đầy cảnh náo loạn. Ni sư có thể làm gì?” Rồi ông vái lạy Sư thầy Chun Song và nói, “Con đã sát các vị Phật ở quá khứ, hiện tại và vị lai. Thầy có thể làm gì?” “A ha!” Thiền sư Song kêu lên và phọt ra một câu hỏi. Soen-sa-nim đáp lại, và cuối cuộc đấu pháp tay đôi Chun Song nhảy dựng lên, cười to, “Con đã giác ngộ! Con đã giác ngộ!” Mọi người sửng sốt. Lúc đó ông mới có 21 tuổi, chỉ tu tập mới hơn một năm.
Ông lập tức khởi hành đi Seoul và đến Thiền sư Ko Bong. Trên đường đi có hai thiền sư khác nhìn nhận sự giác ngộ của ông. Khi ông bước vào phòng của Ko Bong, ông cúi lạy và nói, “Tất cả vị Phật trong ba thế giới đã hóa thành một đống xác chết. Hãy tiến hành tang lễ.” “Chứng tỏ đi!” Thiền sư nói. Soen-sa-nim lôi ra một chai rượu và một ít cá khô, nói, “Đây là phần còn thừa sau lễ tẩn liệm.” Ko Bong nói, “Ta hãy cạn chai.
” “Đưa cốc thầy ra,” Soen-sa-nim nói. Ko Bong chìa bàn tay mình ra. “Đó không phải cốc, đó là bàn tay thầy.” Ko Bong cười lớn. “Sắp xong rồi,” Sư nói. “Nhưng để ta kiểm tra.”
Soen-sa-nim đáp lại mọi công án nhanh như tia sét. “Cái cuối cùng, ” Ko Bong nói: “Con mèo ăn thức ăn mèo, nhưng bát của mèo vỡ rồi. Nghĩa là gì?” Một lần nữa Soen-sa-nim đáp ngay không do dự. Ko Bong chỉ lắc đầu, Soen-sa-nim nổi nóng; bốn thiền sư đã công nhận ông giác ngộ. Ông thử trả lời một lần nữa. “Không ăn thua,” Ko Bong nói. Cuối cùng hai người khóa mắt, nhìn nhau trừng trừng. Soen-sa-nim gầm lên như hổ. Họ nhìn chằm chằm không nói như thế chừng 15 phút. Thình lình câu trả lời phọt ra từ sâu thẳm chân tâm của Soen-sa-nim. Những giọt nước mắt vui sướng nhòe đôi mắt Ko Bong. Sư kêu lên, “Con là hoa; ta là ong.” Vào ngày 25/1/1949 Soen-sa-nim nhận truyền thừa từ Ko Bong, người duy nhất được Sư công nhận. Sư nói, “Một ngày nào đó, Phật giáo Triều Tiên sẽ được truyền bá đi khắp thế giới nhờ con. Chúng ta sẽ gặp lại nhau 500 năm nữa.”
Soen-sa-nim trở lại Su Dok Sa. Khi nội chiến bùng nổ, ông bị động viên vào Quân đội Nam Hàn 5 năm. Sau khi chiên tranh kết thúc, ông cạo đầu và trở thành trụ trì một ngôi chùa ỏ New Seoul, để ông có chỗ chăm sóc cho sư phụ Ko Bong nay đã già yếu.
Cuối cùng ông trải qua 9 năm ở Nhật và Hồng Kông, xây chùa và giảng pháp. Vào năm 1972, không tiền và không biết tiếng Anh, Sư đáp máy bay đi Mỹ, đến Los Angeles, nơi có một cộng đồng lớn người Hàn. Một đồng bào trên chuyến bay của Sư dạy đại học và cũng có một tiệm giặt ủi ở Providence, Rhode Island. Ông ta giao Sư công việc sửa chữa máy giặt. Vị thiền sư liền nhận lấy.
Ở Providence Thiền sư làm việc mỗi ngày 12 tiếng tại tiệm giặt ủi, và bắt đầu học tiếng Anh. Sư gặp Giáo sư Leo Pruden thuộc Khoa Nghiên cứu Phật giáo Đại học Brown, và nói chuyện bằng tiếng Nhật một vài lần tại đó, với sự phiên dịch của Giáo Sư Pruden. Sau một thời gian hai sinh viên của Giáo sư chuyển về sống trong cùng căn hộ của Soen-sa-nim. Chẳng bao lâu một nhóm nhỏ hình thành, rồi một hôm họ bảo với Soen-sa-nim rằng họ muốn Sư nghĩ việc tại tiệm giặt để dạy họ toàn thời gian. “OK, các anh thích, tôi cũng thích,” Sư đáp, và Trung tâm Thiền Providence bắt đầu thành hình.
Người Hàn Quốc là dân miền núi cục mịch, kém tinh tế hơn người Nhật, và Soen-sa-nim dường như là típ người thoải mái, vô tư, Sư mập tròn trông giống Thần Tài luôn được các em nhỏ bu quanh để nhận quà. Tính cách này thu hút đối với một số người vốn e ngại phong cách nghiêm cẩn quá câu nệ hình thức của Thiền Nhật. “Đó là lý do một sổ người Mỹ tìm kiếm các sư phụ Hàn Quốc,” một học viên của Soen-sa-nim cho biết.
Khoảng một tháng sau khi Soen-sa-nim đến Providence, chúng tôi tu tập trong một căn hộ bé ẩm mốc trong khu da đen của Providence, và Soen treo một tấm lịch in hình gái đẹp rẻ tiền mà Sư nhận được trong thư tín gửi từ Hàn Quốc. Tấm lịch ngu ngốc trên tường cứ đập vào mắt chúng tôi mỗi lần chúng tôi đi thiền hành. Nhưng khi chúng tôi bảo Sư gỡ nó xuống, Sư bảo, “Các thiếu nữ trẻ đẹp này chính là các đại bồ tát, mỗi lần các anh buồn bực họ xốc anh lên.”
Đến năm 1974 Soen-sa-nim có đầu ra vốn tiếng Anh để đương đầu với các học viên trong màn đấu pháp và kể các giai thoại về Thiền. Theo Soen-sa-nim người Mỹ có nhiều lợi thế so với người Đông phương khi tu thiền. Sư nói, “Thiền có nghĩa tự tin một trăm phần trăm, và với việc tự tin thì phong cách Mỹ tốt hơn hệ thống Đông phương. Ở Mỹ con cái vừa trưởng thành là sống độc lập với cha mẹ, còn ở phương Đông bạn luôn luôn lệ thuộc vào xã hội- luôn luôn lệ thuộc vào một điều gì đó.” Tuy vậy phẩm chất này tạo ra một trở ngại khác. “Tâm trí người Mỹ thì kiên cường, luôn tự chủ,” Sư nói, “nhưng nhét đầy ý niệm. Thiền tâm không nương tựa vào Phật, vào Pháp, vào Thượng Đế – không nương tựa vào cái gì cả. Nương tựa vào chính bạn. Phong cách người Mỹ thật tuyệt vời, miễn là họ buông bỏ các ý niệm của mình.”
Vì thế Sư ra “toa trị bệnh ” – tụng kinh và cúi lạy. ” Mỗi buổi sáng chúng tôi lạy 108 lần. Mỗi sáng và chiều chúng tôi tụng kinh nửa tiếng. Rất dễ giữ tâm tĩnh lặng trong lúc lạy và tụng kinh vì đó là những hành động không cần suy nghĩ. Khi chúng ta lạy, chúng ta chỉ lạy. Khi chúng ta tụng kinh, chúng ta chỉ tụng kinh. Bằng cách lạy và tụng kinh chúng ta gác qua một bên cái chúng ta thích và không thích và trở nên nhất tâm. Tụng kinh, Soen-sa-nim nói, rất tốt cho “người hay suy nghĩ, lúc nào cũng khao khát biết ý nghĩa.” Phương thuốc Đông phương sử dụng vấn đề để gây tác dụng chữa bệnh, và đây là một ví dụ để mình họa điều đó.
Tụng kinh theo lối Hàn, cũng như theo lối Trung Hoa, rất có âm điệu và rất sống động. Khi có Zen kido (một thời khóa tụng kinh kéo dài đâu đó từ một ngày đến một tuần) mọi người mang theo nhạc cụ ưa thích của mình. Ngoài cái mỏ đứng đầu để giữ nhịp trong thiền phòng, còn có lục lạc, dùi lắc, gậy gỗ và chuông – bất kì thứ gì để giữ đều nhịp.
Người Mỹ cũng tham gia các buổi kido, nhưng họ có vẻ lạc lõng. Đối với họ, Soen-sa-nim là một thiền sư, nên việc tọa thiền mới là điều họ quan tâm nhất. Việc tu tập được tăng cường vói khóa tu 100 ngày trên núi, hoặc các khoá tu kéo dài một tuần. Vào thời gian này, các học viên mỗi ngày gặp riêng Soen-sa-nim một lần để vấn thiền, kéo dài từ 5 đến 20 phút. Chính lúc đó thanh gươm của trận đấu pháp được tuốt ra – thanh gươm mà dù sắc đến mấy cũng là lưỡi gươm của lòng trắc ẩn.
Mặc dù Soen-sa-nim đã thụ phong một số nhà sư, những đột phá chủ yếu của các trung tâm trải rộng của Sư ở Cambridge, New Haven, New York, Los Angeles, Berkeley và những nơi khác, chỉ duy trì việc tu tập thế tục – giống như phần lớn các các hoạt động Phật giáo khác ở Mỹ, trừ các ngoại lệ như Kim Sơn Tự là một. Theo quan điểm của tăng đoàn chính thống Hàn Quốc (đã được cải cách sau khi quân chiếm đóng Nhật rút đi) không có người thế tục nào hoặc nhà sư có gia đình nào được phép truyền thừa dòng Thiền xứ Hàn, vốn đã được gìn giữ tính khôi và đầy sức sống kể từ khi 9 Lão sư Triều Tiên từ Trung Hoa thời nhà Đường trở về 9 Ngọn Núi ở Triều Tiên.
Phật giáo Hàn rất hạn chế, khi ít khi nhiều, trong suốt hơn 500 năm, rồi gần như bị đảo lộn từ trong ra ngoài bởi sức mạnh ngoại bang. Vậy mà trong số tất cả xứ sở theo Phật giáo, chỉ ở trong các vùng núi còn hẻo lánh của Triều Tiên (hay nói chính xác hơn, của Nam Hàn) mà cuộc sống của cộng đồng Thiền nguyên gốc mới còn tiếp tục đến ngày nay.
Cho mãi đến gần đây, khía cạnh này của Phật giáo vẫn còn ở nguyên đấy trong các thiền viện trên núi. Trong những năm 50 và 60 người Mỹ quan tâm với việc tu tập tại thiền viện thường đi đến Nhật, chứ không đến Nam Hàn. Tuy nhiên, bắt đầu từ thập niên 60, các tu viện xa xôi bắt đầu đóng một vai trò quan trọng trong việc khôi phục Phật giáo ngoài thế tục tại Hàn Quốc, sử dụng làm các trung tâm hoằng pháp và tu tập. Một trong các thiền sư tích cực nhất trong hoạt động trao đổi tỳ kheo-cư sĩ là Đại Đức Ku San Sunim của Thiền viện Song Kwang Sa.
Ku San Sunim sinh năm 1910. Ông hành nghề cắt tóc cho đến năm 28 tuổi thì đi tu với Thầy Hyo Bong, một trong những thiền sư tiếng tăm nhất của thời đại mình. Đa số các thiền sinh Hàn Quốc tu tập với một công án, thường là Mu, hoặc “Đây Là Cái Gì” cho đến khi họ chứng ngộ hoàn toàn, và Ku San ôm giữ công án của mình không lúc nào nghỉ. Sau 7 năm kiên trì tu tập, cả trong thiền phòng lẫn ngoài nơi ẩn dật, Hyo Bong xác nhận sự thực chứng chủ yếu đầu tiên của Sư. Bốn năm sau Hyo Bong truyền pháp cho Ku San.
Ku San làm việc tại Trụ sở Tăng đoàn Quốc gia tại Seoul, nhưng rồi nhận ra mình vẫn chưa đạt ngộ, Sư lui về thất ẩn tu. Sư hành trì gian khổ hơn bao giờ, không hề nằm xuống, đứng một chỗ nhiều ngày liên tiếp, và tọa thiền với một con dao gắn trên đầu gậy, mũi dao đặt dưới cằm mình để ngăn không cho Sư ngủ gục. Cuối cùng, sau ba năm, ở tuổi 50, Sư đạt được sự giác ngộ vĩ đại.
Nói chung, các các thiền sư Hàn Quốc không bao giờ rời Thiền viện của mình. Tuy nhiên, Ku San Sunim, vốn từng tích cực hoạt động trong phong trào phục hưng Phật giáo Hàn Quốc, nên Sư thường đi đây đó để thuyết giảng trước nhóm tín đồ Phật giáo trên khắp Nam Hàn.
Năm 1972 Ku San Sunim đến Mỹ dự lễ hồi hướng cho Chùa Tam Bảo Hàn Quốc vừa được một cư sĩ Han San Lee xây dựng tại Thung lũng Carmel ở California. Tại buổi thuyết pháp chính thức đầu tiên tại Mỹ, Thiền sư bước lên bục cao nhất, lắc cây trượng ba lần, rồi nói, “Trên khắp cõi ngang dọc thế gian, mọi người trong tất cả chúng hội đều nói ‘Tôi, tôi.’ Nhưng thực sự đâu là cái ‘Tôi’ này? Rõ ràng, mọi người đều cần nhận ra ‘cái tôi đích thực’ này. Chỉ khi nào bạn có thể tuyên bố một cách trung thực, ‘Với một cú đánh ta có thể làm ngã nhào Tòa Empire State Building; với một cái nốc ta có thể uống cạn toàn bộ Thái Bình Dương,’ khi đó và chỉ khi đó ta mới có thể nhận ra được nó.”
Một người Mỹ theo Ku San Sunim trở lại Song Kwang Sa, và trở thành một nhà sư; những người khác nối gót theo sau, và chẵng bao lâu, Song Kwang Sa trở thành một thiền viện truyền thống đầu tiên dành nơi trú ngụ cho tăng đoàn Hoa Kỳ. Các tỳ kheo và tỳ kheo ni Tây phương đầu tiên phải học tiếng Triều Tiên và Trung Hoa. Họ tọa thiền trong thiền phòng (trên gối đặt trên nền đá, được sưởi ấm bằng củi đốt bên dưới) 14 giờ một ngày, đề xuất Nghi hoặc Vĩ đại với công án – “Đây là cái gì?” – mà Ku San đã giao cho họ, ăn cơm với kim chi, và lao động với các nhà sư khác trên ruộng lúa. Trong những đợt tu tập mọi công việc dừng lại, và họ tọa thiền 24 giờ một ngày, và họ ngồi một mạch suốt một tuần lễ, không ngủ gì hết. Chỉ trừ một máy điện thoại (được lắp đặt sau nhiều tranh cãi) cuộc sống không khác cách đây một ngàn năm.
Ku San Sunim trở lại Mỹ vào tháng 4 năm 1980, lần này với hai tỳ kheo ni (một người từ Pháp và một từ Scotland) làm phiên dịch. Một số người Mỹ, các tỳ kheo trước đây, cũng sẵn sàng tiếp tay. Ku San Sunim dẫn đầu khóa tu thiền kéo dài một tuần để kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Chùa Tam Bảo ở Carmel. Sư cũng dành chùa Korea Sa ở Los Angeles làm chùa nhánh của Song Kwang Sa.
Có khoảng 80.000 người Hàn ở Los Angeles. Khi Ku San Sunim tổ chức một loạt các bài pháp và khóa tu kéo dài một tuần cho những người muốn thọ giới, sảnh ngôi chùa mới đông kín người mỗi đêm. Hầu hết là những người Hàn từ các cộng đồng chung quanh, nhưng vị trụ trì của ngôi chùa mới, Hyun Ho Sunim, biết nói tiếng Anh và Sư, cùng với Ku San Sunim và các tỳ kheo Mỹ đã tu tập tại Song Kwang Sa ở Hàn Quốc, quyết tâm biến Korea Sa thành một nơi người Mỹ có thể tu thiền Hàn Quốc.
III
Người Việt
Đại Đức Tiến sĩ Thích Thiên Ân, một nhà sư và học giả Việt Nam, làn đầu tiên đến nước Mỹ vào năm 1966 với tư cách một giáo sư thỉnh giảng về ngôn ngữ và triết học Đông phương tại Đại học California ở Los Angeles. Giáo sư Thiên Ân dự tính trở về Việt Nam vào năm 1967, nhưng một nhóm các sinh viên Mỹ đến gặp Sư, tay cầm đơn xin nhập cư, và nài nỉ Sư ở lại. Họ nói, “Ở Việt Nam có nhiều thầy có năng lực về Phật giáo, nhưng ở Mỹ lại có rất ít. Nếu thầy trở lại Việt Nam, ai sẽ dẫn dắt chúng tôi?”
Sư bắt đầu dạy trong một căn nhà thuê ở Hollywood. Một học giả với học vị đáng nể (Sư đã nhận bằng tiến sĩ về văn học Đông Phương tại Đại học Wasada danh giá của Nhật Bản) và là một thiền sư được đào tạo theo truyền thống Lâm Tế, Sư rất hòa nhã và dễ gần gũi – “một thiền sư không có lớp vỏ bọc,” như một học trò Sư đã phát biểu. Sư sẵn sàng làm điều cần làm với nụ cười rộng mở và không nghĩ ngợi đến lần thứ hai, dù cho đó là việc rửa bát trong một khóa tu, đem rác đi đổ, hoặc giảng dạy kinh điển.
Khi có nhiều sinh viên đến vây quanh, Sư thành lập Trung tâm Thiền Phật giáo Quốc tế trong một ngôi nhà gỗ củ ở phía nam Đại lộ Vermont, trong một khu trước đây của người da màu, giờ là khu người Mễ, và sớm sẽ trở thành khu Hàn và Thái. Không lâu sau đó Sư thành lập Cao đẳng (rồi Đại học) Nghiên cứu Đông phương
Phật giáo Việt Nam chủ yếu dựa vào Phật giáo Trung Quốc – nó liên kết cả Thiền, Tịnh Độ và nghiên cứu kinh điển – nhưng nó cũng có truyền thống Theravada trong thiểu số người Miên ở vùng đồng bằng Cửu Long, trước đây vốn là lãnh thổ của người Miên. Trong chiến tranh các Phật tử Theravada và Đại thừa đã đoàn kết trong phong trào đấu tranh chống sự áp bức của chính quyền Công giáo của Diệm, ban đầu trong Ủy ban Liên tôn Bảo vệ Phật giáo, rồi sau đó trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Vì vậy Việt Nam là quốc gia Á châu duy nhất trong đó Phật tử Theravada và Đại thừa hợp tác tích cực với nhau.
Cách tiếp cận hợp nhất rộng rãi này phản ánh trong mọi việc làm của Sư Thiên Ân. Sư truyền giới cho các tăng ni, bắt buộc sống độc thân, cạo đầu, mặc áo tràng và làm việc tại các trung tâm; nhưng Sư cũng làm lễ quy y cho những người đã có gia đình, không cạo đầu và chỉ mặc áo tràng khi ở trung tâm. Nhóm sau cùng này là các cư sĩ, theo Sư, đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá Đạo Phật ở phương Tây.
Đại học Nghiên cứu Đông phương mà Tiến sĩ Thiên Ân thành lập vào tháng 10, 1973, cũng đi theo lộ trình hợp nhất đó. Tiến sĩ Leo Pruden và Shinzen Young, từng học Chân ngôn tông tại Nhật, giảng dạy tại cao đẳng, cùng với một số nhà sư Theravada. Geshe Gyaltsen, một người thuộc tông phái Gelug, dạy tiếng Tây Tạng và Phật giáo Tây Tạng, và Song Ryong Hearn, một bà con xa của Lafcadio Hearn, từng tu tập tại Hàn Quốc, dạy thiền quán. Các học giả Phật học thỉnh giảng mở các cuộc hội thảo tại trường, và một số lớn các chức sắc và lãnh đạo Phật giáo đến thăm trường – như Đức Đạt Lai Lạt Ma và Đức Gyalwa Karmapa – thường được tiếp đón tại đây. Trong những dịp như thế, Đại Đức Thiên Ân còn thể hiện một khía cạnh khác. Sư thích tổ chức các đám rước và lễ hội, tạo duyên cho các tín đồ đến với nhau, và Sư dẫn đầu đám rước trong trang phục rực rỡ đầy màu sắc, đội mũ hình hoa sen, với ruy băng xanh đỏ, và cầm trượng điêu khắc công phu.
Năm 1975 Sài Gòn thất thủ, và Đại Đức Thiên Ân (từng bị chính quyền Diệm bắt giam cùng với các Phật tử khác vào năm 1963) bỗng thấy mình bị cuốn phăng đi trong cơn lốc xoáy lịch sử. “Tôi nhớ mình đi vào phòng ông và ngồi cùng ông nghe tin tức 11 giờ,” một học trò Sư kể lại. “Ông chỉ ngồi đó lặng lẽ trong im lặng tuyệt đối, chằm chằm nhìn vào màn hình. Ông không hề bàn về việc đó nhưng tôi biết nỗi đau buồn ông đang chịu đựng vì thảm cảnh của đất nước mình.” Sau đó chuông điện thoại reo liên tục. Thoạt đầu Sư nhận thanh toán phí điện thoại cho bất cứ cuộc gọi nào cho đến khi phí điện thoại tăng vọt quá khả năng chi trả của Trung Tâm. Vào những ngày tháng đó Sư là tăng sĩ Việt Nam duy nhất có tiếng tăm đang sống tại Mỹ và đã trở thành công dân Hoa Kỳ, vì vậy chính quyền Mỹ nhờ Sư hỗ trợ chương trình tái định cư cho người Việt tị nạn ồ ạt đến Mỹ. “Ông chưa hề có dự định dính líu đến cộng đồng Việt tại Mỹ,” một học trò Sư cho biết.
Sư chưa hề nghĩ rằng sẽ thực sự có một cộng đồng như thế – nhiệt tình thực sự của Sư là làm việc với người Mỹ vì Sư thấy đất nước này là kho chứa Phật pháp và Sư hi vọng có thể mang Phật giáo từ Tây sang Đông, khi châu Á một lần nữa sẵn sàng nhận lời giáo huấn. Nhưng khi Sài Gòn thất thủ và cần cứu trợ, Sư không chút do dự, cho dù điều đó có nghĩa là Trung tâm Thiền Phật giáo và trường đại học sẽ chịu thiệt hại vì nguồn lực phân chia. Sư đúng là hiện thân của lòng trắc ẩn và vì thế Sư làm bất cứ việc gì mà nhiệm vụ kêu gọi mình phải làm.
Khi những người Việt Nam tị nạn đầu tiên đến, Sư Thiên Ân lập tức phái các tăng và ni Mỹ đến Trại Pendleton. sư cô Karuna Dharma kể:
Khi những người tị nạn đến, họ ngỡ đến một đất nước không có Phật giáo và vì thế tất cả đồ đạc một số người này mang theo là kinh sách và quần áo. Chúng tôi tổ chức nghi lễ Phật giáo ngay bên kia khu vực sàng lọc trong Trại Tị nạn Pendleton, và khi nào có thể, họ liền chạy ùa qua vì họ nhìn thấy những người Mỹ trong bộ áo tràng, và họ nắm chặt và ôm choàng lấy bạn và xúc động khóc nức nở không chút ngượng ngùng; và họ thổ lộ với bạn là không ngờ trông thấy được tăng ni ở đất nước này, họ không trông mong có thể nuôi dạy con cái trong một nền văn hoá Phật giáo.
Đại Đức Thiên Ân cùng với tăng ni Việt làm việc với Sư là nguồn hy vọng duy nhất cho người tị nạn, đặc biệt giới Phật tử đang chịu đựng về thể chất lẫn tinh thần khi phải chuyển sang vùng đất mới. Việt Nam đã trải qua chiến tranh liên tục trong 40 năm; có người đã sinh ra, nuôi nấng con cái, có cháu nội ngoại mà vẫn chưa thấy hòa bình. Tồn tại những chia rẽ về chính trị và nghi kỵ giữa các người tị nạn. Sư Thiên Ân vượt qua tất cả. Sư quyên góp để mua chung cư cho dân tị nạn, và Sư chọn một tòa nhà có sân ở trung tâm, quét vôi màu vàng và xây dựng một ngôi chùa kiểu Việt Nam ở tầng một. Chùa ở Việt Nam là trung tâm sinh hoạt xã hội, và chùa này được sử dụng với cùng mục đích cho người Việt ở Los Angeles. Vào những ngày lễ, nhất là Năm Mới, sân chùa treo đèn kết hoa vàng đỏ, mọi người dâng hương trước bức tượng trắng ngời Quán Thế Âm. Các em nhỏ đốt pháo, trong khi từ ngôi chùa tầng trên vọng ra tiếng tụng kinh của các tăng ni qua loa phóng thanh. Dù xa quê hương ngàn dặm, những người tị nạn đã tìm thấy mái ấm.
Đại Đức Thiên Ân không hề biết nghỉ ngơi. Mọi người và mọi việc cần được chú ý đến: học viên, tăng ni, và cư sĩ, tín đồ, đại học và trung tâm thiền; người Việt tị nạn – nhất là người già không hề chịu học tiếng Anh và luôn cần sự hỗ trợ. Phần nào Sư đều giải quyết được hết.
Vào ngày 4/11/1978 Trung tâm Thiền Quốc tế tổ chức lễ cầu siêu cho Thích Thiện Minh, một lãnh tụ Phật giáo Việt Nam, đã chết 18 ngày trước trong trại giam ở Việt Nam. Vào tháng giêng 1978, Thầy Thiên Ân cùng với một nhóm tăng ni Việt và Mỹ và tín đồ khởi hành từ San Pedro ra đến vùng biển quốc tế trên chiếc thuyền buồm có gắn động cơ dài 65 bộ. Khi đến nơi họ tổ chức lễ cầu an cho đợt thuyền nhân vượt biên sắp tới và những người tị nạn còn kẹt ở trại, cũng như lễ cầu siêu cho những người ra đi bị tử nạn.
Vào tháng 9, 1980, Đại Đức Thiên Ân thổ lộ là mình cảm thấy sức khỏe không được ổn. Bác sĩ tìm thấy một khối u trong não và mổ, và rồi phát hiện nó là di căn của lá gan bi ung thư. Sư tiếp tục trở lại với công việc. Vào buổi tối ngày 21/11/1980, Sư gọi sư cô Karuna đến nhà, cho biết, “Tình hình khẩn cấp.” Sư đã nôn ra máu. Sư khăng khăng đòi thay áo tràng sạch. Trên ô tô áo tràng Sư lại nhuốm đầy máu hơn nữa. sư cô Karuna phóng xe nhanh qua đường phố Los Angeles. Sư đặt bàn tay lên cánh tay cô, “Được rồi, không sao đâu,” Sư nói. “Chậm lại, đừng phóng nhanh quá.” Sư qua đời vào sáng ngày 23/11/1980. Hàng trăm ngàn Phật tử Việt ở Mỹ đã mất đi người cha tinh thần của mình. Các sinh viên Mỹ của Sư đã mất đi người thầy của mình. “Thầy là sức mạnh của chúng tôi, nền tảng cho việc tu tập của chúng tôi, và trong khi thầy dạy chúng tôi mọi sự đều vô thường, rằng chúng tôi không nên bám víu vào cái gì cả, thầy vẫn luôn là người dẫn dắt vững chắc và mạnh mẽ. Chúng tôi không ngờ vừa tìm gặp thầy không bao lâu thì thầy đã ra đi quá sớm.” Đoàn ô tô đưa tang thầy kéo dài hơn 500 chiếc. sư cô Karuna Dharma, người là đệ tử Sư hơn 12 năm qua, trở thành viện trưởng của Trung Tâm Thiền Phật giáo Quốc Tế. Đại Đức Thích Mẫn Giác thay Sư làm viện trưởng tối cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Mỹ.
Sư cô Karuna Dharma nói sau cái chết của Đại Đức Thiên Ân, “Thật khó nói ngay lúc này, nhưng theo tôi trong tương lai, khi nhìn lại tiến trình phát triển của Phật giáo tại Mỹ, chúng ta sẽ phải nhìn nhận rằng Phật giáo Việt Nam – vốn liên quan nhiều đến các mối quan tâm chính trị chẳng hạn nhân quyền – là một ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Phật giáo Hoa Kỳ. Nhiều trăm năm sau kể từ bây giờ tôi nghĩ các sử gia sẽ nói, “Nhìn này, đất nước nhỏ bé này đã sản sinh vào thời đại đó một con người có ảnh hưởng sâu sắc đến Phật giáo Hoa Kỳ theo một cách thức chúng ta không bao giờ nghĩ là có thể.”
☆ ☆ ☆
Mười năm sau, sự vật đã khép kín một vòng tròn, khi một thiền sư Việt Nam khác, Thích Nhất Hạnh, dịu dàng nói trước một nhóm 20 cựu binh Mỹ đã chiến đấu ở Việt Nam trong “khóa tu để hoà giải và chữa lành”
Thích Nhất Hạnh nói về Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội mà Sư đã thành lập ở Việt Nam vào năm 1964, chuyên đào tạo các nhân viên xã hội xây dựng lại làng mạc bị bom đạn tàn phá. Vì Sư và các Phật tử đi theo con đường trung đạo, kêu gọi hoà giải và kết thúc chiến tranh, họ bị công kích từ cả hai phía. “Nhiều nhân viên trong trường đã bị sát hại,” Thích Nhất Hạnh nói. “Chính tôi cũng thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Sự kiện tôi được sống và ngồi ỏ đây là một phép lạ. Giờ tôi nhận ra rằng những ai trong chúng ta đã chạm vào chiến tranh, đã trải nghiệm trực tiếp với chiến tranh, có bổn phận nói lại sự thật về cuộc chiến đau thương đó cho những người chưa từng trải nghiệm trực tiếp. Chúng ta là những người làm việc đó tốt nhất.”
Trong một vài ngày đầu, các cựu binh thực tập chánh niệm trong hơi thở, ăn uống, và đi bộ trong tĩnh lặng. “Chúng ta phản ánh xã hội của mình, và để tìm thấy tiềm năng mình có để được bình an, hạnh phúc, niềm vui, chúng ta phải nhìn vào chính bản thân mình,” Thích Nhất Hạnh nói. “Chúng ta cũng phải nhìn thấy tiềm năng của chiến tranh, của bạo lực trong chính bản thân chúng ta, trong bộ phận của ý thức tập thể của chúng ta. Vì thế thực tập nhìn sâu sắc, chúng ta sẽ thấy ra được, và loại nội quán này có một mãnh lực giải phóng. Chúng ta sẽ biết những gì phải làm và những gì không nên làm để mang đến sự thay đổi trong xã hội và trong nhận thức của chúng ta.”
Vào những buổi chiều tối cuối khóa tu, họ ngồi bên nhau từng nhóm nhỏ để tâm sự về các trải nghiệm của mình. Tại một trong các thảo luận tổ này một cựu binh thổ lộ mình từng giết chết 5 trẻ em Việt Nam trong một trận phục kích. Kể từ đó ông không thể nào ở một mình trong phòng với trẻ em.
Thích Nhất Hạnh trả lời rằng “chính ngay lúc này có rất nhiều trẻ em trên thế giới đang chết. Có các em bé chết chỉ vì thiếu một viên thuốc. Nếu anh tỉnh thức, anh có thể mang viên thuốc đến cho em bé đó đang cần, và anh có thể cứu sống em. Nếu anh thực tập điều đó 5 lần, thế thì anh đã cứu được 5 đứa bé. Bởi vì những gì phải làm là làm trong thời khắc hiện tại. 40.000 trẻ em chết mỗi ngày vì thiếu ăn. Tại sao anh phải bám lấy quá khứ và nghĩ về 5 đứa bé đã chết? Có những em bé ngay lúc này đang chết. Anh có năng lực để thay đổi tình trạng bằng cách chạm đến thời khắc hiện tại.”
Vào cuối khóa tu một cựu binh trung niên đã phóng hỏa ngôi làng Việt Nam năm trước nói với một nhà sư Việt tị nạn hiện giờ sống ở Los Angeles. “Tôi muốn tạ lỗi vì đã góp phần tàn phá đất nước ông,” anh nói, “và tạ lỗi với tất cả những người các ông ắt đã giúp đỡ họ sau khi tôi đã làm họ mất nhà cửa.”
Nhà sư chắp tay cúi lạy, đầu gối và đầu chạm đất. “Tôi đã đi tu nhiều năm và tôi tưởng mình có thể kiềm chế cảm xúc của mình nhưng hôm nay tôi không thể,” Sư nói. “Trong chiến tranh tôi đã từng làm lễ tang cho nhiều gia đình người quá cố, nhưng trái tim tôi lạnh như băng giá, vì nỗi đau quá lớn. Rồi tôi nhận được điện tín báo tin em tôi đã tử trận, và tôi hiểu được nỗi đau thực sự. Hôm nay tiếng nói của Jesus Christ được anh thốt ra và hoa Phật đã nở ra trong anh.”
Không ai có thể nói điều gì xảy ra trong 100 năm nữa. Nhưng ngay thời khắc này – và cuộc sống chỉ có thể tìm thấy trong giây phút hiện tiền, như Thích Nhất Hạnh đã nói, dường như Phật giáo Việt Nam, được nhân cách hóa bởi nhà sư dịu dàng và can đảm này, sẽ tạo một tác động lớn lao đến Phật giáo Hoa Kỳ.

Hòa thượng Tuyên Hóa

Ku San Sunim, Los Angeles 1981

Soen-sa-nim

Alan Watts

Đại Đức Thích Thiên Ân

Thiền sư Thích Nhất Hạnh