Richard Wilhelm (1873-1930) người bắc nhịp cầu tâm linh giữa Đông và Tây

1

Lê Anh Minh

Richard Wilhelm (tên chữ Hán là Vệ Lễ Hiền 衛禮賢, 1873-1930), đã mở ra cho thế giới Tây phương nhìn thấy một di sản tâm linh phong phú của Trung Quốc cũng như của Châu Á. Ông đã phiên dịch hầu hết những kinh điển trọng yếu của Nho giáo và Đạo giáo, cũng như các tác phẩm triết học của Trung Quốc từ Hán ngữ sang Đức ngữ, và từ đó, các bản dịch từ Đức ngữ sang Anh ngữ và các ngôn ngữ khác của Âu Châu cũng chào đời. Cho đến hôm nay, trong số hàng chục bản dịch khác nhau của kỳ thư Kinh Dịch này, bản dịch xuất bản năm 1923 của Wilhelm vẫn là độc nhất vô nhị, và có lẽ trong tương lai khó có bản dịch nào vượt qua bản dịch của Wilhelm.

Không chỉ là một học giả và nhà ngữ học, Wilhelm còn là một người truy cầu về tâm linh. Tuy thâm nhập vào cõi minh triết của Trung Quốc nhưng ông vẫn không đánh mất sự liên lạc với cõi Tây phương. Sống tại Trung Quốc hơn 20 năm, ông đã chứng kiến những biến chuyển về văn hoá và tâm linh giữa hai thế giới Đông và Tây. Bấy giờ, người Âu Châu đang chinh phục Trung Quốc, nhưng họ rất ít hoặc không hề quan tâm đến văn hoá Trung Quốc. Còn phía dân Trung Quốc thì luôn xem người Âu Châu là bạch quỷ, do đó họ đã không thể phổ biến kho báu minh triết của họ cho Tây phương. Wilhelm là một trong những người tiên phong đã nhận ra giá trị quý báu của tư tưởng Trung Quốc, nên ông đã nỗ lực bắc một nhịp cầu tinh thần giữa hai cõi Đông và Tây.

Richard Wilhelm sinh năm 1873 tại nước Đức. Khi còn là một học sinh của trường Tubinger Slift danh tiếng, ông đã quan tâm nhiều đến văn hoá và hết sức yêu thích các tác phẩm của đại thi hào Johann Wolfgang von Goethe. Với xu hướng về đời sống tâm linh, Wilhelm đã chọn ngành thần học (theology). Năm 1895, ở tuổi 22, ông được thụ phong mục sư. Năm 26 tuổi, ông gia nhập Allgemein Protestantischer Missionsverein (Đức Quốc Cơ Đốc Giáo Đồng Thiện Hội), và năm 1899 ông được biệt phái đến Thanh Đảo của Trung Quốc để truyền giáo.

Kể từ khi Wilhelm đến Trung Quốc năm 1899, ông đã giao tiếp với đủ các thành phần văn nhân học giả tại đây, kể cả giới huyền bí học, tức những người tu luyện theo bí giáo (kim đan đạo) hay tu tiên (trường sinh bất tử). Sau đó, ông thành lập Wilhelms Bibliothek (Lễ Hiền Thư Viện). Ông đến Thanh Đảo chẳng bao lâu thì Loạn Quyền Phỉ (tức Nghĩa Hoà Đoàn) nổi lên. Những người Trung Quốc cấp tiến đã thành lập phong trào chống chủ nghĩa thực dân Âu Châu. Tất cả những người Âu Châu tại Trung Quốc đều có nguy cơ trở thành mục tiêu bị tấn công, sát hại, nhất là các giáo sĩ, tức những người mà dân bản địa nghĩ rằng đã gieo rắc tà thuyết chống lại truyền thống cố hữu của Trung Quốc. Cuối cùng Loạn Quyền Phỉ cũng bị dẹp tan, và người Âu Châu đã nhận ra nhu cầu tìm hiểu thêm về Trung Quốc để hiểu biết và giao tiếp tốt hơn với dân bản địa. Trong tình hình đó, ngay khi đến Trung Quốc, Wilhelm bắt đầu học Hán ngữ. Với năng khiếu bẩm sinh về ngôn ngữ, ông nhanh chóng tinh thông Hán ngữ và những ngôn ngữ liên quan như Nhật ngữ và Hàn ngữ (Korean). Năm 1905, tức năm mà người con trai thứ ba (Helmut Wilhelm) của ông chào đời, ông đã bắt đầu phiên dịch một số tác phẩm từ Hán ngữ sang Đức ngữ. Công việc biên khảo và dịch thuật của ông vẫn liên tục miệt mài từ lúc đó cho đến khi ông lìa đời (1930).

Khi học Hán ngữ, ông tập trung nhiều nhất việc đọc hiểu và phiên dịch các kinh điển Trung Quốc và ông càng say sưa tìm hiểu văn hoá của đất nước này. Tại Thanh Đảo cũng như tại Bắc Kinh, ông luôn quảng giao với các văn nhân và học giả đương thời. Sự hội nhập của ông với văn hoá Trung Quốc và Hán ngữ đã chuyển hoá ông thành một con người mới. Lúc đầu đến Trung Quốc với sứ mạng truyền giáo cho dân bản địa, nhưng cuối cùng ông đã bị văn hoá và tôn giáo Trung Quốc cải hoán lại. Về sau này, ông đã thú nhận với người bạn chí thân là Carl Gustav Jung (cha đẻ của Tâm lý học phân tích) rằng suốt 20 năm sống tại Trung Quốc, ông chưa hề làm phép bí tích cho một người dân Trung Quốc nào cả. Thay vào sứ mạng truyền giáo đó, ông nghĩ rằng cái sứ mạng đích thực mà ông phải làm chính là phải bắc một nhịp cầu tâm linh giữa hai cõi Đông phương và Tây phương, thông qua việc biên khảo và phiên dịch kinh điển Trung Quốc.

3

Lao Nãi Tuyên (1843-1921)

Năm 1911, lúc 38 tuổi, Wilhelm có duyên may gặp gỡ Lao Nãi Tuyên 勞乃宣(1843-1921), vốn là một văn nhân, đã đậu tiến sĩ và từng làm quan. Lao Nãi Tuyên đã giúp Wilhelm rất nhiều trong việc nghiên tập Hán học. Đó là một hiền giả đã giúp Wilhelm hoá giải những xung đột nội tâm giữa hai nền văn hoá và tư tưởng dị biệt giữa Đông và Tây, và đã giúp ông tìm sự an tĩnh nội tâm. Sau khi gặp Lao Nãi Tuyên, Wilhelm thành lập Tôn Khổng Văn Xã (Confucius Society) tại Thanh Đảo và mời Lao Nãi Tuyên quản lý. Mối chân tình giữa Wilhelm và Lao Nãi Tuyên ngày càng gắn bó. Thời gian ở Trung Quốc, ông nhận thấy Kinh Dịch chiếm địa vị hết sức trọng yếu trong Thập Tam Kinh của Nho giáo, nên ông đã nhờ Lao Nãi Tuyên truyền dạy cho. Suốt 10 năm cuối đời của Lao Nãi Tuyên, nhà hiền triết này đã dạy Kinh Dịch cho Wilhelm, và cùng thời gian này (kể từ 1913) Wilhelm đã dịch Kinh Dịch sang Đức ngữ.

Ông viết về công trình phiên dịch công phu suốt 10 năm ấy như sau: «Sau cách mạng Tân Hợi (1911), Thanh Đảo trở thành nơi tạm cư cho các học giả danh tiếng nhất thuộc phái cổ học của Trung Quốc. Trong các vị học giả ấy, tôi quen được Lao Nãi Tuyên. Ông là người đầu tiên khai mở cho tôi sự bí mật của Kinh Dịch. Rồi chúng tôi cộng tác với nhau. Ông giảng Kinh Dịch cho tôi nghe bằng Bạch thoại, và tôi ghi chú. Sau đó tôi dịch kinh văn sang Đức ngữ cho riêng tôi. Rồi tôi bỏ văn bản Hán ngữ gốc sang một bên và dịch ngược từ Đức ngữ sang Hán ngữ, để Lao Nãi Tuyên xem tôi có hiểu đúng vấn đề không. Sau đó tôi nhuận sắc lại bản dịch Đức ngữ và viết lời bình một cách chi tiết. Tôi còn phải hiệu đính ba bốn lần nữa và ghi thêm những giải thích quan trọng nhất. Bản dịch đã hoàn thành như thế.» (xem: I Ging, Diederichs, 2001, trang 21)

Wilhelm đã xem Lao Nãi Tuyên như một nhà nho kiệt xuất đương thời và kính trọng ông như một bậc Đạo sư (Guru). Lao Nãi Tuyên là một nhà nho thức thời, ông đã sớm nhận ra rằng sự cách biệt của Trung Quốc với thế giới bên ngoài đã đến lúc chấm dứt. Không chỉ thuộc giòng nho gia, Lao còn là người hâm mộ Đạo giáo và tập luyện tĩnh tọa dưỡng sinh. Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng đặc biệt đến Wilhelm.

Năm 1920, Wilhelm trở về nước Đức, nhưng rồi ông lại sang Trung Quốc lần nữa vào năm 1922. Năm 1921, khi những trang cuối cùng của bản dịch Đức ngữ của Kinh Dịch hoàn thành, Lao Nãi Tuyên tạ thế, và sứ mạng của bậc hiền giả này đã hoàn thành. Wilhelm tiếp tục biên tập và ghi thêm lời bình chú bộ sách này cho đến 1923. Cùng năm này, ông được cử làm Tham tán Văn hoá cho Sứ quán Đức tại Trung Quốc và được Đại học Bắc Kinh thỉnh giảng về môn văn học và triết học Đức. Năm 1924, Wilhelm trở về Đức và nhận dạy Hán ngữ tại Đại học Frankfurt. Năm 1925 ông sáng lập Trung Quốc Học Viện (China Institut) tại Frankfurt am Main và làm việc tại đây cho đến lúc tạ thế (1930). 

Từ 1924 đến 1930, ông chuyên về biên khảo, dịch thuật, và giảng dạy. Ông đã cố gắng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau về văn hoá tư tưởng giữa Đông phương và Tây phương. Mọi nỗ lực của ông thoạt đầu đã không hanh thông. Ông gặp phải sự chống đối từ nhiều phía. Giới hàn lâm đại học thì không tin ông vì ông vốn là một mục sư, còn Giáo Hội và cộng đồng tín hữu cũng không thích ông vì ông đã bỏ đạo. Nhưng ông cũng có nhiều người ủng hộ, chẳng hạn Bá Tước Keyserling, vốn là một người cũng bị giới hàn lâm đại học, những nhà theo chủ nghĩa quốc gia, và giới Thiên Chúa giáo chính thống tẩy chay. Wilhelm đã chấp bút viết một chương cho quyển sách của Bá Tước Keyserling nói về hôn nhân. Ở đây Wilhelm viết về hôn nhân của người Trung Quốc và nhấn mạnh ý nghĩa tâm linh của hôn lễ. Wilhelm đã gia nhập một phái bí giáo tức Trường Minh Triết (the School of Wisdom) tại Darmstadt. Do ảnh hưởng của Wilhelm đối với Bá Tước Keyserling và con trai của bá tước là Arnold Keyserling, môn triết học Trung Quốc, nhất là Kinh Dịch được giảng dạy tại đây như là một môn học trọng tâm.

Tại Trường Minh Triết (the School of Wisdom), Richard Wilhelm đã hội ngộ Carl Gustav Jung, nhà sáng lập môn tâm lý học phân tích (analytical psychology), và họ đã trở thành bạn thân thiết của nhau. Jung cũng nhận ra ý nghĩa trọng đại ở những công trình của Wilhelm, nhất là Kinh Dịch. Jung đã giúp Wilhelm giành được sự trọng vọng trong giới đại học Đức. Bản dịch Kinh Dịch của Wilhelm đã giúp Jung soi sáng thêm về bộ môn tâm lý của chính mình, rồi ông mời Wilhelm sang Câu Lạc Bộ Tâm Lý (Psychologischer Klub) tại Zürich để biểu diễn bói Dịch. Jung đã viết thêm phần dẫn luận rất dài cho bản Đức ngữ Kinh Dịch của Wilhelm và rồi bảo Cary Baynes, một học trò của ông, dịch từ Đức ngữ sang Anh ngữ. Sau đó ông bảo Cary Baynes dịch tiếp bản Đức ngữ Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ của Wilhelm sang Anh ngữ nốt, và trong quyển này ông cũng viết thêm phần dẫn luận rất dài.

4

Với sự trợ giúp của Bá Tước Keyserling và Jung, dần dần tác phẩm của Wilhelm được công chúng Đức biết đến. Các bài viết và các trứ tác của ông dần dần thu hút thêm sự tán thưởng và hâm mộ công chúng. Sách của ông được xuất bản và ông kết giao thêm nhiều văn nghệ sĩ danh tiếng như nhà văn Herman Hesse, Martin Buber, nhạc sĩ Joseph Hauer, v.v… Salome Wilhelm, vợ của Richard Wilhelm, năm 1956 tại Köln đã xuất bản hồi ký Richard Wilhelm, der Mittler zwischen China und Europa (Richard Wilhelm, người bắc nhịp cầu tinh thần giữa Trung Quốc và Âu Châu), kể rằng ông là một nhân cách sôi nổi, vồn vã, quảng giao. Trứ tác rất nhiều, nhưng ông không hề cảm thấy mệt mỏi, và nhất là ông không bao giờ xuôi theo trào lưu chính trị và tư tưởng đương thời.

5

Trong vô số các trứ tác biên khảo và dịch thuật của Wilhelm, hai tác phẩm nổi bật nhất (với sự cộng tác của nhà tâm lý học phân tích Carl Gustav Jung) hẳn là I Ging – Das Buch der Wandlungen (Dịch Kinh – Quyển kinh về những biến dịch, tựa tiếng Anh là I Ching: the Book of Changes) và Das Geheimnis der goldenen Blüte (Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ, tựa tiếng Anh là The Secret of the Golden Flower). Hai tác phẩm này có thể nói đã bắc được nhịp cầu tâm linh giữa hai cõi Đông và Tây vậy. Sau chỉ 4 năm tại quê nhà (tức là từ năm 1924), bấy giờ 55 tuổi, ông lại bị bệnh lỵ amíp (amoebic dysentery) hành hạ, chứng bệnh đã đeo đuổi ông dai dẳng kể từ những năm ông sống tại Trung Quốc. Và rồi ông tạ thế năm 1930.

Tác phẩm chính của Richard Wilhelm:

– Das wahre Buch vom quellenden Urgrund (Xung Hư Chân Kinh 沖虛真經, tức Liệt Tử 列子), Jena, 1911.

– Lao-tse, Tao-te-king, Das Buch des Alten vom Sinn und Leben (Đạo Đức Kinh 道德經), Jena, 1911.

– Kungfutze Gespräche (Luận Ngữ 論語, dịch ra Đức ngữ và chú thích), Jena, 1910.

– Khung-tse, Leben und Werk (Khổng Tử, Cuộc Đời và Tác Phẩm), Stuttgart, 1925.

– Mong-dsi (Mạnh Tử 孟子, dịch ra Đức ngữ và chú thích), Jena, 1916.

– Dschuang-dsï, das wahre Buch vom südlichen Blütenland (Trang Tử Nam Hoa Chân Kinh 莊子南華真經), 1923.

– I Ging, Das Buch der Wandlungen, aus dem Chinesischen verdeutscht und erläutert (Dịch Kinh, quyển sách về những biến dịch, phiên dịch từ Hán văn và chú giải), Jena, 1924.

– Die Seele Chinas (Trung Quốc Tinh Thần), Berlin, 1925.

– Lao-tse und der Taoismus (Lão Tử và Đạo giáo), Stuttgart, 1925.

– Konfuzius und der Konfuzianismus (Khổng Tử và Nho Giáo), Stuttgart, 1925.

– Ostasien, Werden und Wandel des chinesischen Kulturkreises (Đông Á, Chuyển biến của giới Văn hóa Trung Quốc), Potsdam, 1928.

– Frühling und Hebrst des Lü Bu We (Lã Thị Xuân Thu 呂氏春秋), 1928.

– Die Religion und Philosophie Chinas (Tôn Giáo và Triết Học Trung Quốc), [năm?].

– Geschichte der chinesischen Zivilisation (Trung Quốc Văn Minh Sử), được G. Lepage dịch ra Pháp văn Histoire de la Civilisation chinoise, Paris, 1931.

– Das Geheimnis der goldenen Blüte – Ein chinesisches Lebensbuch (Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ – Trung Quốc Đan Thư 太乙金華宗旨中國丹書), Stuttgart, 1965. R. Wilhelm dịch Hán-Đức và chú giải, Carl G. Jung viết lời tổng luận. Quyển này gồm Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ do Lã Động Tân (Lã Tổ) giáng bút dạy luyện đan, và một phần của Huệ Mạng Kinh 慧命經(Das Buch von Bewußtsein und Leben) của Liễu Hoa Dương 柳華陽, một tổ sư của phái Ngũ Liễu 伍柳 của Đạo giáo. (Cary F. Baynes dịch ra tiếng Anh: The Secret of the golden Flower, 1962).

– Wandlung und Dauer (Biến và Hằng), tuyển tập 4 bài viết của Richard Wilhelm, Irene Eber (nữ đệ tử của Hellmut Wilhelm) tuyển dịch từ Đức sang Anh, nhan đề I Ching – Constancy and Change, Princeton, 1979.

– v.v…

TƯ LIỆU THAM KHẢO

1- Richard Wilhelm, I Ging – Das Buch der Wandlungen (Dịch Kinh – Quyển kinh về những biến dịch), Heinrich Hugendubel Verlag, München, 1973.

2- Richard Wilhelm, I Ching: the Book of Changes (Dịch Kinh – Quyển kinh về những biến dịch), trans. by Cary F Baynes, London, 1969.

3- Richard Wilhelm & Carl Gustav Jung, Das Geheimnis der goldenen Blüte 太乙金華宗旨 (Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ), Rascher Verlag, Zürich und Stuttgart, 1965. Quyển này có kèm theo một phần của quyển Huệ Mạng Kinh 慧命經 (Das Buch von Bewußtsein und Leben) của Liễu Hoa Dương 柳華陽, một tổ sư của phái Ngũ Liễu 伍柳 của Đạo giáo.

4- Richard Wilhelm & Carl Gustav Jung, The Secret of the Golden Flower 太乙金華宗旨 (Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ), trans. by Cary F Baynes, New York, 1962.

5- C.G. Jung, Memories Dreams Reflections (Ký ức, giấc mơ, hồi niệm), New York, 1963.

6- Richard Wilhelm, Lectures on the I Ching: Constancy and Change (Bài giảng về Dịch Kinh: Hằng và Biến), trans. by Irene Eber, Princeton, 1979.


Nguồn bài đăng

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s