Hai đại gia tộc lớn nhất xứ German

B

Anne và Mary cùng cha mẹ là Công tước và nữ Công tước xứ York

Jason Ho

I. Gia tộc Hohenzollern — sự trỗi dậy và suy tàn của các hoàng đế German

1

Lâu đài Hohenzollern và huy hiệu của Gia tộc

Trong lịch sử Châu Âu thời Trung Cổ, các gia đình quý tộc và các lãnh chúa hùng mạnh luôn đóng một vai trò quan trọng. Các gia đình quý tộc giàu có và có tầm ảnh hưởng nổi lên và trực tiếp tham dự vào các sự kiện mang tính quyết định trong lịch sử Châu Âu. Hôm nay, chúng ta đi vào trung tâm của Châu Âu cận đại, tìm hiểu về một gia tộc quyền quý bậc nhất xứ German, Gia tộc Hohenzollern.

Gia tộc này vươn lên tới mọi đỉnh cao trong thời gian đó, đưa người trong gia tộc vào các vị trí quan trọng — cử tri, vương công, vua và thậm chí là cả hoàng đế. Họ gây ảnh hưởng lên Phổ, Romania, Đức và Brandenburg, nơi họ là nhà cai trị hoặc cận thần — quyết định vận mệnh của Châu Âu và cả thế giới.

TÌM HIỂU GIA TỘC QUYỀN QUÝ HOHENZOLLERN

Chúng ta bắt đầu câu chuyện của Gia tộc Hohenzollern từ dấu ấn sớm nhất của họ — khởi nguồn từ cái tên. Gia tộc Hohenzollern bắt nguồn từ thành Swabia, vùng Baden-Wurttemberg. Địa hạt ban đầu nơi gia tộc này định cư được gọi là Zollern, từ năm 1218 được gọi là Hohenzollern.

Thủ phủ của địa hạt thuộc Đế chế La Mã Thần Thánh này là ngôi làng Hechingen — một ngôi làng nhỏ tọa lạc cách Stuttgart khoảng 60 km (37 dặm). Bản thân gia tộc quyền quý này có trụ sở tại Lâu đài Hohenzollern — một tòa lâu đài thời Trung Cổ hoành tráng nằm trên Núi Hohenzollern cao 855 m (2805 ft) ở vùng Baden-Wurttemberg.

Lâu đài Hohenzollern là nơi tổ tiên của gia tộc quyền quý này cư ngụ, và vẫn thuộc quyền sở hữu của họ cho đến ngày nay. 1/4 tòa lâu đài thuộc quyền sở hữu của Karl Friedrich, Hoàng tử xứ Hohenzollern và 3/4 còn lại thuộc về Georg Friedrich, Hoàng tử nước Phổ.

Lâu đài là một pháo đài thời Trung Cổ trên đỉnh đồi điển hình giống với những công trình khác ở Đức, nằm ôm sát trên đỉnh Berg Hohenzollern, bản thân nó là một mỏm đất biệt lập của Swabian Jura, nhô lên không trung với chiều cao lên tới 855 m (2805 ft) . Ngày nay nó là một trong những lâu đài được ghé thăm nhiều nhất ở Đức, với 350.000 du khách mỗi năm. Đó là nhờ khung cảnh bình dị, kiến trúc quyến rũ và thiết kế thực sự lộng lẫy và phong phú của tòa lâu đài.

Ngày nay, nhiều tài liệu đề cập tới thời gian sớm nhất gia tộc này xuất hiện là vào năm 1061. Một quý tộc, được đề cập trong biên niên sử của Berthold xứ Reichenau, một linh mục dòng Benedict và được đặt tên là Burkhard I, Bá tước xứ Zollern. Ông ra đời vào khoảng năm 1025, và bị kẻ thù sát hại vào năm 1061. Hiện nay, nhiều học giả đề cập đến một vị là Friedrich, Bá tước vùng Süllichen và là cha của ông, do đó có thể là tổ tiên của Gia tộc Hohenzollern.

Người tiếp theo, và chắc chắn là được ghi chép nhiều hơn, là con trai của Burkhard I — Friedrich I, Bá tước xứ Zollern. Có nhiều thông tin về người đàn ông này. Ông là lãnh chúa của Tu viện Alpirsbach ở Swabia, và vợ ông, Udihild, xuất thân từ một trong những gia tộc quan trọng nhất vùng Swabia — Gia tộc Urach — sau này trở thành Gia tộc Fürstenberg nổi tiếng khắp nơi.

Friedrich I là một người ủng hộ thân cận với Henry V, Hoàng đế của Đế chế La Mã Thần Thánh, và tham gia cùng với ông trong công cuộc mở rộng nước Ý vào năm 1110 và 1111. Có thể nói, ông là tổ phụ thực sự được ghi chép rõ ràng đầu tiên của Gia tộc Hohenzollern, sau Burkhard I.

SỰ HỢP NHẤT TỪ HAI NHÁNH

Phương châm cao quý của gia tộc là “Nihil Sine Deo”, là tiếng Latin của cụm từ “Nothing Without God” (Không có Chúa thì không tồn tại). Điều này rất quan trọng cho chúng ta lưu ý vì trên thực tế Gia tộc Hohenzollern đã chia thành hai nhánh riêng biệt tại một thời điểm.

Điều này xảy ra khi con thứ của Friedrich II xứ Zollern, Bá tước Friedrich III, được phong cho là Thống đốc vùng Nuremberg thông qua cuộc hôn nhân của ông, bởi Henry VI vào năm 1192, sau này được gọi là Thống đốc Frederick I. Sau đó, nhánh này sát nhập Quận cử tri Brandenburg vào lãnh thổ từ năm 1415, hay còn được gọi là nhánh Franconian Hohenzollern, hoặc đôi khi là Dòng dõi Kirschner. Sau đó nhánh này chuyển đức tin sang đạo Tin Lành, trong khi nhánh Swabian Hohenzollern ban đầu vẫn theo Công Giáo.

Nhiều người cho rằng, nhánh Franconian (sau này còn được biết tới là người Phổ gốc Brandenburg) tách ra riêng hoàn toàn. Họ ủng hộ Vương triều Habsburg và những nhà cai trị thuộc Gia tộc Hohenstaufen của Đế chế La Mã Thần Thánh và được cấp cho các vùng lãnh thổ rộng lớn, góp phần mở rộng quyền lực và gia tài của họ. Trong khi vào thời điểm đó, Đế chế La Mã Thần Thánh có rất nhiều vương quốc và thành bang gia nhập với mong muốn truy cầu quyền lực và tầm ảnh hưởng, vì thế nên người của nhánh Franconian quyết định mở rộng hơn nữa quyền lực của họ thông qua các cuộc hôn nhân và chinh phục lãnh thổ.

Từng bước một, nhánh này sát nhập nhiều vùng lãnh thổ, và đỉnh điểm là mua lại chức vụ Quan tổng trấn vùng Brandenburg vào năm 1417, và sau đó là Công Quốc Phổ vào năm 1618. Nhánh Franconian đã chuyển đổi thành công từ một gia tộc quyền quý thành một vương triều có sức ảnh hưởng lớn ở Châu Âu.

Nhánh Franconian sau này lại chia ra, một vài thành viên làm Tổng trấn của Brandenburg, còn một vài thành viên khác thì làm Công tước Phổ. Khi hai nhánh Franconian này hợp nhất lại vào năm 1618 dẫn tới việc thành lập Vương quốc Phổ vào năm 1710. Và sự kiện này sẽ dẫn tới việc Thống Nhất Đức và thành lập Đế chế Đức vào năm 1871. Và thành viên của Gia tộc Hohenzollern trở thành Hoàng đế và Vua nước Phổ.

Có thể cho rằng thời kỳ nổi bật nhất đối với các thành viên của Vương triều Hohenzollern là khi Đức trở thành một đế chế.

VẬN MỆNH CỦA NHÁNH SWABIAN

Vậy còn vận mệnh của nhánh Swabian của gia tộc này thì sao? Nhánh này được thành lập vào năm 1218 bởi Công tước xứ Zollern là Frederick IV. Họ giữ tước hiệu “Công tước” suốt khoảng thời gian cho tới năm 1623, khi họ được nâng lên hàng “vương công”. Họ cai trị 3 vùng lãnh thổ là Sigmaringen, Hechigen và Haigerloch. Họ không thành công như nhánh Franconian, vì họ bị ảnh hưởng bởi nhiều vấn đề kinh tế và rắc rối nội bộ, cũng như áp lực gia tăng liên tục từ các quý tộc lân cận vùng Wurttemberg và những thành thị thuộc Liên Minh Swabia.

Các cuộc xung đột lên tới đỉnh điểm vào năm 1423, khi vị trí của họ tại Lâu đài Hohenzollern bị bao vây và phá hủy bởi Liên Minh Swabia. Tuy nhiên, các vùng lãnh thổ của họ vẫn được giữ và trao lại bởi các anh em của nhánh Franconian và từ Vương triều Habsburg. Năm 1576, tình hình thay đổi bởi cái chết của Karl I, Công tước xứ Hohenzollern.

Đây là lúc 3 chi mới của nhánh Swabia tách ra — Gia tộc Hohenzollern-Hechlingen, thành lập bởi Eitel Friedrich IV; Gia tộc Hohenzollern-Sigmaringen, thành lập bởi Karl II; và Gia tộc Hohenzollern-Haigerloch, thành lập bởi Christoph. Điều đáng buồn là chi cuối sớm suy tàn vào năm 1634.

Sau khi thành lập, hai chi còn lại — Hohenzollern-Hechlingen, và Hohenzollern-Sigmaringen — ký một thỏa thuận đặc biệt với Tổng trấn Brandenburg. Thỏa thuận này nói rằng trong trường hợp hai chi này suy tàn, lãnh thổ của họ sẽ sát nhập vào Brandenburg. Xa hơn nữa, các vương công của cả hai chi quyết định từ bỏ vị trí của họ, do cuộc Cách mạng Mùa Xuân Năm 1848.

Khi đó, lãnh thổ của họ được các Vua nước Phổ cai trị (nhánh Franconian), và các vương công được coi là thiếu sinh quân của dòng dõi hoàng gia Phổ. Chi Hohenzollern-Hechingen cũng suy tàn vào năm 1869. Một trong những hậu duệ của chi này là Nữ Bá tước Sophie Chotek, Nữ Công tước xứ Hohenberg, vợ của Vương công Franz Ferdinand, cả hai đều bị ám sát vào năm 1914 bởi chí sĩ vì tự do người Serbia Gavrilo Princip (Гаврило Принцип).

Gia tộc Hohenzollern còn làm Vua của Romania. Khi hai chư hầu của Đế chế Ottoman là Wallachia và Moldavia được thống nhất vào năm 1859, Alexandru Ioan Cuza trở thành vương công. Nhưng sau khi bị phế truất vào năm 1866, chính Vương công Karl của chi Hohenzollern-Sigmaringen đã được mời lên cai trị với tư cách là Vương công của Romania. Năm 1881, ông đổi sang một cái tên Romania là Carol I, Vua của Romania.

Vì Karl không có con trai nối dõi, và con gái duy nhất của ông qua đời khi còn nhỏ, nên ông trao quyền thừa kế cho cháu trai là Vương công Ferdinand của chi Hohenzollern-Sigmaringen. Hậu duệ của họ tiếp tục làm Vua Romania và cải đạo sang Cơ Đốc Chính Thống cho tới tận năm 1947, khi vị vua cuối cùng, Michael I, thoái vị còn Romania trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa vào năm tiếp theo.

CÁC HOÀNG ĐẾ ĐỨC QUỐC

Trở thành Hoàng đế Đức quốc là đỉnh cao tột cùng của Gia tộc Hohenzollern. Khi William I lên ngai vàng “Kaiser” (tiếng Đức nghĩa là “Hoàng đế”) Đức quốc vào năm 1871, bên cạnh đó, ông còn là Vua nước Phổ, Công tước của Quận cử tri Brandenburg. Ông muốn được biết đến với tư cách là Hoàng đế của toàn người German, nhưng đã bị Otto Von Bismarck khuyên không nên, người đã nói rằng các vương công phía Nam nước Đức và Hoàng đế Áo có thể sẽ phản đối điều này. Vì vậy, ông chỉ được gọi là Hoàng đế Đức quốc.

Dòng dõi hoàng đế này cũng tới lúc thoái trào khi Wilhelm II, vị Hoàng đế Đức quốc cuối cùng tuyên bố thoái vị một thời gian ngắn trước khi kết thúc Thế Chiến I. Đó là két quả của Cách Mạng Đức năm 1918, sau khi hoàng tộc bị bãi bỏ, và hoàng đế bị ép phải thoái vị. Đế chế cũ biến mất và theo sau đó là sự thành lập Cộng Hòa Weimar (hay còn gọi là Nhà nước nhân dân Đức) vào năm 1918, cùng với đó là nước Đức chìm trong vòng xoáy bất ổn, thất nghiệp và đại suy thoái — tất cả đều được khắc phục một cách quyết liệt với sự nổi lên của vị quốc-trưởng-không-tiện-nhắc-tên với tư cách là thủ tướng vào năm 1933.

CHUYỆN GÌ XẢY RA VỚI GIA TỘC HOHENZOLLERN?

Vậy thì Gia tộc Hohenzollern ra sao ở thời Hiện Đại? Sau thủ tục trưng thu thất bại vào năm 1926, Gia tộc Hohenzollern đã cố gắng duy trì tình hình tài chánh, đồng thời giữ quyền sở hữu một số bất động sản quan trọng, bao gồm Cung điện cổ xưa nhưng ấn tượng Monbijou ở Berlin, Lâu đài Olesnica ở Silesia, Cung điện Rheinsberg, Cung điện Schwedt và nhiều thứ khác.

Tuy nhiên, họ chỉ giữ lại những thứ này cho tới năm 1945 thì mất quyền sở hữu. Trong Vùng Chiếm Đóng thuộc Soviet sau Thế Chiến II, cộng sản đã lấy đi (chiếm đoạt) tất cả đất đai từ các chủ đất và các nhà công nghiệp, và do đó, Gia tộc Hohenzollern mất gần như tất cả gia sản của họ.

Sau công cuộc Tái Thống Nhất Đức Quốc năm 1990, Gia tộc Hohenzollern cuối cùng được trả lại một số tài sản của họ thông qua các biện pháp hợp pháp. Bao gồm nhiều tác phẩm nghệ thuật và một số phần nội thất của các cung điện trước đây. Các cuộc đàm phán này vẫn đang trong được thực hiện.

Người đứng đầu nhánh Phổ của Gia tộc Hohenzollern là Georg Friedrich Ferdinand, Vương công nước Phổ (sanh năm 1976), có 2 người con trai kế thừa. Người đứng đầu nhánh Swabia theo Công Giáo của gia tộc là Karl Friedrich, Vương công xứ Hohenzollern, có con trai, Alexander là người thừa kế. Đáng ngạc nhiên là, Vương công Karl Friedrich là một ca sĩ đồng thời là một nhạc công kèn saxophone trong ban nhạc Royal Groovin’ của ông. Ông còn là người thừa kế cho ngai vàng của Romania, nhưng ông đã tuyên bố rằng không có hứng thú với ngai vàng đó.

Vào giữa năm 2019, Hoàng thân Georg Friedrich nộp đơn yêu cầu được cấp quyền cư trú vĩnh viễn cho bản thân và gia đình, trong Cung điện Cecilienhof hoặc bất kỳ cung điện nào trong số hai cung điện khác của Gia tộc Hohenzollern ở Potsdam. Ông cũng yêu cầu trả lại thư viện của gia đình mình, khoảng 266 bức tranh, những bức thư có giá trị của Hoàng hậu Auguste Victoria, cùng một vương miện và vương trượng vô giá của hoàng gia, mà tất cả đều thuộc về Gia tộc Hohenzollern. Nơi ở của gia tộc, Lâu đài Hohenzollern, vẫn thuộc quyền sở hữu tư nhân của họ, và tồn tại như vậy cho tới ngày nay, với lá cờ Phổ vẫn bay phấp phới khi hoàng thân cư trú ở đó.

VẬN MỆNH CỦA QUÝ TỘC CHÂU ÂU

Câu chuyện về Gia tộc Hohenzollern là một trong những bài học quan trọng nhất về sự thăng trầm đầy vinh quang và sự sụp đổ đầy bi thảm của giới quý tộc và hoàng gia Châu Âu. Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản, cùng với sự sụp đổ của các chế độ quân chủ ở Châu Âu, tương lai của sau này đã hoàn toàn thay đổi. Nhưng liệu tương lai có mang sự trở lại của giới quý tộc? Điều đó vẫn còn bỏ ngỏ…

Nguồn tham khảo:

The Story of the Hohenzollern. Creative Media Partners, LLC.

Wilhelm Hohenzollern, the Last of the Kaisers. G. P. Putnam’s Sons.

The Soldier Kings: The House of Hohenzollern. Putnam.

II. Gia tộc Hanover xứ German — 2 thế kỷ cai trị Vương Quốc Anh

A

Gia huy của Gia tộc Hanover

Gia tộc Hanover (chánh thức được biết tới như là Gia tộc Brunswick-Lüneburg, thuộc dòng dõi Hanover) là một gia tộc hoàng gia xứ German tiến hành cai trị Vương quốc Anh. Người thuộc Gia tộc Hanover ngồi lên ngai vàng nước Anh vào thế kỷ 18, và cai trị cho tới tận đầu thế kỷ 20. Suốt khoảng thời gian này, có tổng cộng 6 vị quân chủ phong kiến cai trị nước Anh là người của Gia tộc Hanover, trong đó nổi tiếng nhất chính là Nữ hoàng Victoria.

Gia tộc Hanover là nhánh mới nổi của Gia tộc Welf xứ German (còn được gọi là Guelph), mà bản thân gia tộc này là nhánh của Gia tộc Este nước Ý. Vương triều này được thành lập vào năm 1683 như là kết quả của quá trình phân chia lại lãnh thổ của Gia tộc Brunswick-Lüneburg. Kể từ khi thành lập, tân lãnh thổ này được gọi là Công quốc Brunswick-Calenberg-Göttingen. Tuy nhiên, sau đó, lãnh thổ này được đổi tên dựa theo thủ phủ của nó, Hanover, ngày nay là thủ phủ của bang Lower Saxony phía Tây Bắc nước Đức. Vì thế nên vương triều này còn được gọi là Gia tộc Hanover. Uy danh của Gia tộc Hanover ngày càng lớn dần theo từng thế kỷ. Năm 1692, để đáp lại lời hứa hỗ trợ dành cho Vương triều Habsburg, lãnh thổ Hanover được Hoàng đế La Mã Thần Thánh, Leopold I, chỉ định làm đơn vị bầu cử thứ 9 của Đế chế.

Nhà lãnh đạo Hanover lúc này là Ernest Augustus, đang là Công tước từ năm 1679. Ngoài việc biến lãnh thổ Hanover thành nơi tổ chức bầu cử cho Đế chế La Mã Thần Thánh, Ernest Augustus còn góp phần đưa Gia tộc Hanover tiến đến cai trị nước Anh. Vào năm 1658, vị Công tước này lấy Sophia, con gái của Frederick V xứ Palatinate (vùng lãnh thổ giáp sông Rhine thuộc Đức), và quan trọng hơn nữa, bà là cháu gái của Vua Scotland James VI (Vua James I của Anh và Ireland từ năm 1603). Điều này gây ảnh hưởng đáng kể tới Gia tộc Hanover trong tương lai.

TÔN GIÁO ĐÓNG VAI TRÒ NHƯ THẾ NÀO TRONG MẠNG LƯỚI BẦU CỬ

Anne trở thành Nữ hoàng Anh, Scotland, Irland vào năm 1702. Theo Đạo Luật Liên Minh 1707, danh hiệu của Anne được đổi thành Nữ hoàng Vương Quốc Anh và Ireland. Anne là vị quân chủ cuối cùng của Gia tộc Stuart, cai trị nước Anh, Scotland, và Ireland từ năm 1603. Khi bà qua đời vào năm 1714, bà không để lại quyền thừa kế cho ai. Một trong những người thừa kế tiềm năng của bà là James, biệt danh là “Trưởng Lão Giả Mạo”, một người Công Giáo La Mã sống lưu vong.

Tuy nhiên, một năm trước khi Anne bước lên quyền lực, Đạo Luật Kế Vị 1701 được thông qua, xác nhận một điều khoản trong Luật về các Quyền 1689 rằng ngai vàng sẽ không được trao cho một người Công Giáo La Mã, hoặc một người cai trị mà có vợ/chồng là người Công Giáo La Mã. Mặc dù một số bên nỗ lực để đảm bảo ngai vàng cho James, nhưng họ đã không thành công và khi Anne qua đời, ngai vàng của Vương quốc Anh sẽ được truyền cho người thân nhất của bà đồng thời là người theo đạo Tin Lành. Thật tình cờ đó lại là Sophia, vợ của Ernest Augustus. Thật không may, Sophia qua đời 2 tháng trước Anne. Kết quả là, ngai vàng được trao cho con trai của Sophia, người trở thành George I của Vương quốc Anh. Thật tình cờ là George I là người thứ 52 ngồi lên ngai vàng nước Anh.

GEORGE I

George I là vị quân chủ đầu tiên của Gia tộc Hanover cai trị Vương quốc Anh cho đến năm 1727. Xuất thân từ một vương triều ngoại quốc, George I không hẳn là một người nổi tiếng ở tân vương quốc này. Điều này một phần là do vị vua mới không biết nói tiếng Anh, những tin đồn về việc George I đối xử tồi tệ với vợ (cũng có tên là Sophia), lòng tham của các cô nhân tình người Đức, và cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến sự sụp đổ của Công ty South Sea (ai học kinh tế chắc biết, đây là 1 trong 5 trái bong bóng kinh tế lớn nhất lịch sử) năm 1720. Tuy nhiên, George I đã nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ của mình với tư cách là một vị vua. Ví dụ, ông giao tiếp với các bộ trưởng của mình bằng tiếng Pháp. Ngoài ra, ông tỏ ra rất khôn ngoan trong các vấn đề chính sách đối ngoại và thành lập liên minh với Pháp chống lại Tây Ban Nha từ năm 1717 đến năm 1718. Tuy nhiên, quyền lực của chế độ quân chủ chuyên chế đang giảm dần trong thời kỳ trị vì của ông, giống như thời trị vì của Anne. Hệ thống chính phủ nội các hiện đại đang phát triển và vào cuối triều đại của George I, quyền lực thực sự nằm trong tay của Ngài Robert Walpole, thủ tướng đầu tiên của Anh.

GEORGE II VÀ WALPOLE GIỮ DÂY CƯƠNG

George I trao quyền thừa kế cho con trai ông, George II, mà dưới quyền ông, Walpole tiếp tục đứng đầu chính phủ Anh. Trong quá khứ, Walpole gần như bị cách chức thủ tướng. Mối quan hệ giữa hai vị George trở nên căng thẳng từ những năm 1717, nhưng hai cha con đã được hòa giải bởi Walpole vào năm 1720. Điều này đã giúp Walpole trở thành thủ tướng dưới thời George I, và nhận được sự ưu ái từ George II. Và cũng phải cám ơn sự can thiệp của Nữ hoàng Caroline xứ Ansbach, Walpole mới giữ được chức vụ của mình.

3 năm trước khi xảy ra Cuộc nổi loạn Jacobite, Walpole bị ép buộc phải từ chức thủ tướng. Tuy nhiên, vai trò cố vấn của nhà vua đã sớm được John Carteret đảm nhận. Mặc dù Carteret không phải là thủ tướng, nhưng trên thực tế, ông là một trong những người đàn ông quyền lực nhất trong chính phủ Anh. Carteret ủng hộ sự tham gia của Anh vào Chiến Tranh Kế Vị Nước Áo, nổ ra vào năm 1740. Điều này được George II ủng hộ, nhưng việc Vương quốc Anh tham gia cuộc chiến đã bị các đối thủ của nhà vua sử dụng để buộc tội ông phụ thuộc vào lợi ích của người Anh để ủng hộ tài sản của người Đức. Tình cờ, vào năm 1743, George II đích thân dẫn quân chống lại quân Pháp trong Trận Dettingen, khiến ông trở thành vị quân chủ Anh cuối cùng lập được chiến công như vậy.

GEORGE III

George II trị vì cho đến năm 1760 nhưng ít quan tâm đến chính trị trong cuối đời mình. Ông được kế vị bởi cháu trai, George III, vì con trai của ông, Frederick, đã qua đời vào năm 1751. Không giống như hai người tiền nhiệm, George III sinh ra ở Anh và nói tiếng Anh như là tiếng mẹ đẻ. Trong thời kỳ đầu trị vì của George III, vương quốc gặp bất ổn về chánh trị và khó khăn về tài chánh. Tuy nhiên, trên mặt trận đối ngoại, Anh đang gặt hái được nhiều thành công. Khi Chiến Tranh 7 Năm kết thúc vào năm 1763, Pháp mất quyền lực tối cao ở Châu Âu vào tay Anh. Hơn nữa, người Anh trở thành cường quốc Châu Âu thống trị ở Bắc Mỹ và Ấn Độ.

Tình hình ở quê nhà cũng dần được cải thiện vào năm 1770, khi Frederick North được bổ nhiệm làm Thủ tướng. Tuy nhiên, một vấn đề khác sớm nảy sinh. Mặc dù North là một nhà quản lý có năng lực, chính phủ của ông gây mâu thuẫn với người dân thuộc địa Mỹ về vấn đề thuế suất người Anh áp lên họ. Kết quả là, chiến tranh nổ ra vào năm 1775. Năm 1779, George III nhấn mạnh rằng cuộc chiến ở các thuộc địa tại Mỹ phải được kéo dài, để tránh những cuộc nổi dậy tương tự nổ ra ở những nơi khác trong đế quốc. Khi người Anh bị đánh bại vào năm 1781, North buộc phải từ chức.

Hai sự kiện đáng chú ý khác xảy ra dưới triều đại của George III là Cách Mạng Pháp và sự trỗi dậy của nước Pháp dưới thời Napoleon. Trong cả hai sự kiện này, nước Anh bị kéo vào nhiều cuộc chiến hơn nữa. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, nhà vua rơi vào tình trạng rối loạn lưỡng cực khá nghiêm trọng. Vào thời điểm Napoleon bị đánh bại trong Trận Waterloo năm 1815, George III hoàn toàn điên loạn. Người ta suy đoán rằng cơn điên của nhà vua là do một căn bệnh về máu gọi là rối loạn chuyển hóa nội tiết. Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra rằng tóc của George III có chứa hàm lượng lớn thạch tín, có thể khiến nhà vua bị điên là do chất độc này gây ra.

GEORGE IV, TỪ NHIẾP CHÍNH ĐẾN NGAI VÀNG

Từ năm 1811 đến năm 1820, người thừa kế của George III, George IV trong tương lai phục vụ trong triều đình như một hoàng tử nhiếp chính. Khoảng thời gian này còn được gọi là Thời đại Nhiếp Chính. George IV khét tiếng với lối sống xa hoa khiến cha ông coi thường ông. Chẳng hạn, trong một lần, ông đồng ý kết hôn với người em họ của mình, Caroline, để Quốc hội Anh phải trả nợ cho ông. Về mặt tích cực, George IV là một người bảo trợ rộng rãi cho nghệ thuật. Kiến trúc sư John Nash đã nhận được sự bảo trợ của nhà vua và nhiều tác phẩm của ông vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Bao gồm Cổng vòm bằng đá cẩm thạch, Phố Regent, và Nhà trưng bày Hoàng gia. Riêng Nhà trưng bày Hoàng gia nằm ở Brighton và được coi là kỳ quan kiến trúc do sử dụng nhiều yếu tố thuộc vương triều Mughal Ấn Độ.

George IV trị vì từ năm 1820 cho đến năm 1830. Vì đứa con duy nhất của ông, Charlotte, đã qua đời vào năm 1817 trong lúc sanh, nên George IV không có người thừa kế nào. Anh trai của ông, William IV, lúc đó đã 65 tuổi, lên ngôi. Vì William IV đã phục vụ trong Hải Quân Hoàng Gia thời trẻ, nên ông còn được gọi là “Vua Thủy Thủ”.

TỪ WILLIAM IV TỚI NỮ HOÀNG VICTORIA

William IV cai trị được khoảng 7 năm, và trong lúc xảy ra một sự kiện trọng, đó chính là thông qua Luật Cải Cách 1832. Nhà vua phản đối cải cách nghị viện nhưng buộc phải chấp nhận Đạo luật. Trong đó, Đạo luật làm giảm quyền lực của quân chủ đối với chính phủ và chuyển giao quyền đại diện từ các “quận ổ chuột”, vốn thường bị bỏ qua mà tập trung vào các quận công nghiệp. Ngẫu nhiên là thời kỳ trị vì ngắn ngủi của William IV cũng được coi như là một phần của Thời đại George, được đặt theo tên của bốn vị vua George xứ Hanover tiền nhiệm.

William IV qua đời vào năm 1837. Vào thời điểm đó, tất cả những đứa con chính thức của ông đã chết, trong khi những đứa con ngoài giá thú của ông thì không được quyền kế vị. Do đó, ngai vàng sẽ được truyền cho cháu gái của ông, Victoria. Mặc dù Victoria là Nữ hoàng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland, bà vẫn không được thừa kế ngai vàng của Hanover, nơi đã được nâng cấp thành “vương quốc” vào năm 1814. Vì việc kế vị vương quốc được quy định trong Luật Salic, phụ nữ không được phép ngồi trên ngai vàng của xứ Hanover. Do đó, Ernest Augustus, anh cả của William IV, trở thành Vua mới của Hanover.

MỞ RỘNG KỶ NGUYÊN VICTORIA — NỮ HOÀNG VÀ NỮ VƯƠNG

Victoria trị vì gần 64 năm (chính xác là 63 năm, 216 ngày), là đời quân chủ tại vị dài thứ hai của Anh. Vị quân chủ trị vì lâu nhất của Anh là nữ hoàng hiện tại, Elizabeth II, người đã trị vì 68 năm, 96 ngày, và vẫn còn sống.

Thời kỳ trị vì của bà được gọi là Thời đại Victoria và là thời kỳ có nhiều thay đổi không chỉ ở Vương quốc Anh, mà còn ở khắp Đế chế thuộc Anh. Ví dụ, cuộc Cách Mạng Công Nghiệp lần 2 bắt đầu dưới thời trị vì của bà. Triều đại của Victoria cũng chứng kiến sự mở rộng vĩ đại của Đế chế Anh. Ấn Độ, từng nằm dưới quyền của Công ty Đông Ấn, được chuyển giao cho Hoàng gia Anh vào năm 1858, và Victoria nhận tước hiệu “Nữ Hoàng Ấn Độ” vào năm 1876. Giống như những người tiền nhiệm của mình, Victoria cố gắng nắm giữ quyền lực chánh trị, nhưng không thể làm gì được. Trong thời gian trị vì của bà, chế độ quân chủ của Anh đã mất đi vai trò chánh trị của mình, và chỉ còn hình thức lễ nghi. Tuy nhiên, vai trò mới này đã đảm bảo sự tồn tại của chế độ quân chủ Anh.

Victoria là quân chủ của Vương quốc Anh cuối cùng của Gia tộc Hanover. Khi bà qua đời vào năm 1901, người kế vị là con trai của bà, Edward VII, người thuộc Gia tộc Saxe-Coburg và Gotha, do cha của Edward VII (chồng của Victoria), Hoàng tử Albert, là một thành viên của Gia tộc đó. Người kế vị của Edward VII, George V, đã đổi tên vương triều này thành Vương triều Windsor vào năm 1917. Sự thay đổi là do tâm lý “chống Đức” của người dân nước Anh do Thế Chiến I gây ra. Vương triều Windsor là vương triều hoàng gia hiện tại của Vương quốc Anh.

Gia tộc Hanover đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử nước Anh. Vương triều này trị vì gần 200 năm, chứng kiến Vương quốc Anh từ một cường quốc ở Châu Âu trở thành siêu cường thế giới.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s