Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 9)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

CHÍN Người đã ban cho chúng tôi nước và gửi cho chúng tôi máy móc

 

Khi Pak Song-chol trở về Bình Nhưỡng sau chuyến thăm bí mật tới Seoul trước ngày 4 tháng 7 năm 1972, ngày ban hành thông cáo chung Bắc-Nam, Kim Nhật Thành đã hỏi ông mọi việc ở miền Nam thế nào. Có câu chuyện kể rằng Pak đã đưa cho Kim một báo cáo chính xác về những gì ông đã chứng kiến, một báo cáo không phù hợp với hình ảnh tuyên truyền của Triều Tiên về  một đất nước lạc hậu, nghèo đói. Lập tức Kim cáu kỉnh: “Đồng chí nhìn vào mọi thứ theo cách đó bởi vì hệ tư tưởng của đồng chí là sai lầm.” Sau chuyện đó, Pak biệt tăm trong 3 hoặc 4 tháng, đã bị gửi đến trại “cải tạo.” Không cần phải nói, các đại biểu khác phải đảm bảo được trang bị sự hoài nghi đúng cách khi họ đi về phía nam. Có một câu chuyện nổi tiếng về việc họ cáo buộc tội các ô tô tràn ngập đường phố Seoul chỉ là những đạo cụ. Nhưng thực ra họ đã thấy những gì Pak đã thấy ở Seoul, và một số họ – mặc dù không còn nghi ngờ gì nữa đã làm mềm đi báo cáo  để tránh phải thông báo trực tiếp với hoàng đế rằng ngài không mặc quần áo – liều lĩnh làm người mang đến tin dữ.

Cuối cùng, khi ông nghe loáng thoáng rằng miền Nam đã sẵn sàng vượt qua miền Bắc về mặt kinh tế, Kim Il-sung bị sốc đã tăng cường việc huy động quần chúng của mình. Năm 1973, ông bổ nhiệm con trai và người thừa kế Kim Jong-il đứng đầu đội Ba cuộc Cách mạng gồm những  cán bộ vận động trẻ tuổi, xâm nhập vào các nhà máy và trang trại để khơi dậy lòng nhiệt thành đến mức cháy bỏng của công nhân. Mặc dù hiệu quả của nó đang giảm dần, việc Kim thất bại trong việc sử dụng kỹ thuật tạo động lực yêu thích của mình là điều dễ hiểu. Nó đã hoạt động khá tốt – trong một khoảng thời gian có hạn. Ngay cả Hàn Quốc trong những năm 1970 cũng đã thử nghiệm huy động thành công, với phong trào “Làng Mới” do chính phủ tài trợ nhằm tự lực và phát triển nông thôn.

Trong một sự chuyển dời chính sách quan trọng hơn, chế độ Bình Nhưỡng đã cố gắng thay đổi vận may bằng cách nhập khẩu công nghệ từ phương Tây. Một phần là để bù đắp sự thiếu hụt viện trợ từ Liên Xô, liên quan đến những rắc rối trong mối quan hệ chính trị Moscow-Bình Nhưỡng. Chính sách mới yêu cầu một số sửa đổi trong chính sách juche, khi Miền Bắc bắt đầu chi tiêu mạnh tay. Vào đầu những năm 1970, Bình Nhưỡng mượn hàng trăm triệu đô la để mua nhà máy mới từ các nước Tây Âu và Nhật Bản. Kế hoạch là trả nợ bằng sản lượng xuất khẩu gia tăng  mà công nghệ mới sẽ đem lại. Trong tiến trình đó, bản thân Triều Tiên chuyển sang một hệ thống thậm chí còn độc tài hơn so với trước đây. Chế độ tăng cường giám sát đảm bảo các tư tưởng phương Tây sẽ không ảnh hưởng đến người dân khi đất nước thu hút vốn và công nghệ nước ngoài.

Tuy nhiên, chiến lược nhập khẩu công nghệ đã phản tác dụng, một phần do nền kinh tế thế giới suy thoái nhưng cũng do thiếu khả năng và kinh nghiệm trong việc sử dụng công nghệ mới một cách thuận lợi nhất. Không trả được nợ, chế độ này được giới tài chính quốc tế biết đến như một con nợ trì trệ. Danh tiếng của đất nước bị tổn hại thêm khi một số nhà ngoại giao của họ ở các nước Scandinavi (Bắc Âu) bị buộc tội buôn lậu ma túy, dường như là một nỗ lực có hệ thống nhằm huy động ngoại tệ mạnh. Bình Nhưỡng đã thất bại trong nhiều nỗ lực đầu tiên nhằm lấy tiền và công nghệ – chứ không phải tư tưởng và giá trị – từ phương Tây.

 

Năm 1972, Triều Tiên thông qua hiến pháp mới, quy định việc chuyển sang hệ thống chủ tịch. Kim Il-sung từ bỏ chức vụ thủ tướng để đảm nhận chức vụ chủ tịch. Từ đó trở đi, chức vụ thủ tướng sẽ là cột thu lôi hữu ích cho chế độ. Thủ tướng đương nhiệm có thể bị cách chức để chịu trách nhiệm về bất kỳ thất bại chính sách nào được công nhận – mặc dù Chủ tịch Kim vẫn tiếp tục đưa ra các chính sách. Cuối năm 1977, Kim tổ chức lại chính phủ, ngầm thừa nhận sự thất bại của miền Bắc trong việc giành lại vị trí dẫn đầu về kinh tế so với miền Nam. Trong khi những người có nền tảng quân sự trước đây từng giữ chức thủ tướng, lần này ông đã bổ nhiệm nhà kinh tế Li Jong-ok vào vị trí này. Câu hỏi đặt ra là Li và nhóm các nhà kỹ trị của ông sẽ có bao nhiêu thời gian. Suy cho cùng, quyền lực thực sự tiếp tục được nắm giữ bởi Chủ tịch Kim, người đã thiết lập một hệ tư tưởng đặt chính trị lên hàng đầu và là người luôn giữ xung quanh mình những cấp dưới từng phục vụ cùng ông với tư cách là du kích chống Nhật.

Bất chấp những vấn đề đó, Kim vẫn kiên quyết duy trì – và thậm chí còn tăng cường – chính sách tập trung theo chủ nghĩa Stalin. Việc quản lý vi mô từ cấp cao nhất ngày càng trở nên kém hiệu quả hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhưng dường như không có chi tiết nào là quá nhỏ khiến Kim Il-sung khỏi bận tâm. Tại một cuộc họp của các nhân viên tài chính và ngân hàng vào tháng 12 năm 1978, ông đã có một bài diễn văn dài một giờ đi sâu vào những chi tiết vụn vặt trong quản lý kinh tế đất nước. Ông phàn nàn về cách mọi người lạm dụng loại vải tổng hợp, vinalon. “Trong quá trình khảo sát về tình trạng lãng phí vải, tôi phát hiện ra rằng dây vinalon ở tỉnh Yanggang được sử dụng để làm giàn cây hốt bố, có thể dễ dàng thay thế bằng vật liệu làm từ cây gai dầu hoặc vỏ cây chanh”, Kim cho biết, khuyên chỉ nên dùng dây vinalon để làm lưới.

 

Tại sao Kim không làm nhiều hơn để thay đổi hệ thống và hệ tư tưởng của mình để đối phó với thách thức miền Nam, một khi nó đã trở nên rõ ràng vào những năm 1970? Chuyến thăm đất nước năm 1979 của tôi đã mang lại cho tôi nhiều suy nghĩ sâu sắc về câu hỏi này.

Khi tôi gặp Kim Yong-nam gần cuối chuyến thăm đó, bí thư đối ngoại của đảng nhận xét rằng tôi đã đi thăm đất nước của ông ta. Ông ta nói: “Như anh đã thấy, chúng tôi đã xây dựng và xây dựng rất nhiều thứ trong bầu không khí hòa bình. Tại sao chúng tôi phải phá hủy tất cả những thành tựu này và chiến đấu với chính người dân của mình?” Tôi nghĩ ông ta có lý. Không phải là chuyến thăm của tôi biến tôi thành một tín đồ thực sự. Quả thực, tôi vô cùng bối rối khi biết được trong những chuyến dừng chân tại các trường học, cơ quan văn hóa và thậm chí cả cơ sở chăm sóc sức khỏe của Triều Tiên mức độ mà những nỗ lực của Kim Il-sung nhằm thay đổi tâm trí của thần dân mình vẫn đang diễn ra mạnh mẽ – và rõ ràng là thành công. Tuy nhiên, nhìn chung, sẽ khó có thể tránh khỏi ấn tượng tốt đối với tôi hoặc bất kỳ người mới đến trước những thành tựu mà người Triều Tiên đã khoe với du khách. Mặc dù Hàn Quốc có lẽ đã vượt lên trước miền Bắc về mặt GNP đầu người vào năm 1979, ấn tượng bao trùm là miền Bắc đã đạt thành tựu đến một mức nào đó – chứ không phải thất bại.

Vừa xây dựng lại vừa khôi phục cơ sở hạ tầng hùng mạnh mà người Nhật đã để lại cho họ, Triều Tiên đã đạt được công cuộc công nghiệp hóa đáng kể. Đồng thời, họ đã tưới tiêu, bón phân và cơ giới hóa trong cuộc đấu tranh để kiếm đủ lương thực từ một vùng đất chủ yếu là miền núi để duy trì cuộc sống. Những vùng của đất nước mà tôi được phép đến thăm dường như không mang đến những đánh giá hoàn toàn tiêu cực – ví dụ như “nền kinh tế tồi tệ” – đang bắt đầu xuất hiện trong các nghiên cứu và báo chí phương Tây. Mọi người dường như có nhà ở và quần áo đầy đủ. Mặc dù rất ít người ngoài Chủ tịch và con trai ông béo tốt nhưng tôi không nhận thấy bất kỳ dấu hiệu rõ ràng nào của tình trạng suy dinh dưỡng. Có sự thắt lưng buộc bụng, dường như được chia sẻ khá đồng đều, nhưng tôi không thấy dấu hiệu của sự cơ cực. Tất cả những điều này dường như khiến Bắc Triều Tiên khác biệt với các quốc gia đang phát triển khác.

Việc di chuyển của du khách nước ngoài bị kiểm soát một cách tinh tế có lẽ vì sợ rằng chúng ta sẽ biết được điều gì đó mà chính quyền không muốn chúng ta biết, cộng thêm sợ rằng chúng ta sẽ truyền bá kiến ​​thức và ý kiến dị giáo có thể gây nghi ngờ về tài lãnh đạo của Kim Il-sung. Tôi được phân công ở lại khách sạn Potonggang. Điều đáng thất vọng là một công viên rộng lớn xung quanh trồng cây liễu đã tách biệt khách sạn khỏi cuộc sống hàng ngày của Bình Nhưỡng. Tôi liên tục hỏi liệu tôi có thể đi lang thang một mình không, nhưng những viên chức quản lý tôi đã lịch sự ngăn cấm điều đó.

Nếu tôi muốn đi bất cứ đâu, để xem bất cứ điều gì, hướng dẫn viên của tôi và người phiên dịch nói rằng họ sẽ vui vẻ “giúp đỡ” bằng cách đi cùng tôi. Người này hoặc người kia hoặc cả hai người đều túc trực gần lối ra duy nhất của khách sạn. Nếu tôi cố gắng mạo hiểm, họ sẽ tháp tùng cùng tôi, hộ tống tôi đến một chiếc Volvo đang chờ sẵn và chỉ cho tài xế nơi đưa chúng tôi. Nói chung điều này được giải thích theo khía cạnh lòng hiếu khách – tôi là khách, mới đến đất nước và cần được hướng dẫn – nhưng thỉnh thoảng có người ít nhiều sẽ ám chỉ một cách nhẹ nhàng rằng tôi đến từ một quốc gia chính thức là kẻ thù của họ. Tôi chờ đợi một cơ hội để trốn thoát khỏi những người xử lý tôi cho một thời gian tham quan không có hướng dẫn. Trong khi chờ đợi, tôi thích tham gia các chuyến tham quan có hướng dẫn viên hơn là dành nhiều thời gian để xem các trận đấu bóng bàn.

Hướng dẫn viên đưa tôi đến các địa điểm trong hành trình đã được phê duyệt, chẳng hạn như nhà máy chế tạo máy kéo Kumsong gần Nampo. Trên đường đi, một tấm biển ở một làng nông nghiệp ghi: “Tất cả vì mục tiêu chinh phục 8,8 triệu tấn ngũ cốc trong năm nay!” Cơ giới hóa là một yếu tố quan trọng trong nỗ lực đạt được mục tiêu đó. Một tấm biển khác, gần nhà máy máy kéo, kêu gọi nhân dân thực hiện Ba Cuộc Cách mạng – tư tưởng, kỹ thuật và văn hóa. Nhưng nhà máy máy kéo là một câu chuyện thành công có trước chiến dịch Ba Cuộc Cách mạng hiện tại. 

Chính sách juche tự lực của Kim Il-sung hơn một lần có nghĩa là vay mượn – hoặc, như luật sư cấp bằng sáng chế phương Tây sẽ nói – vi phạm bản quyền thiết kế nước ngoài. Người Bắc Triều Tiên còn lâu mới xin lỗi về điều này. Hướng dẫn viên của tôi, Kim Yon-shik, đã nói với tôi rằng đất nước đã nhập khẩu máy kéo  cho đến năm 1958. Tuy nhiên, nhu cầu áp đảo khả năng thanh toán của Triều Tiên. Các quốc gia xã hội chủ nghĩa bạn bè không có vị thế bù đắp sự khác biệt bởi vì “họ cũng có nền kinh tế kế hoạch hóa.” Giải pháp là sản xuất máy kéo trong nước, nhưng các kỹ sư Triều Tiên đã dự đoán các vấn đề về chi phí cao và chất lượng kém.

Kim Nhật Thành nói với các kỹ sư rằng vấn đề sẽ giảm dần với kinh nghiệm. Ông ấy yêu cầu họ cứ vừa làm vừa học. Thử thách đầu tiên là cho ra một thiết kế. Nhà cung cấp không quan tâm đến việc tiếp tay cho kế hoạch thay thế nhập khẩu, từ chối cho mượn bản thiết kế. “Sao bạn không mua máy kéo của chúng tôi,” họ đã nói với người Bắc Triều Tiên. “Không cần tự tay chế tạo chúng.” Và như vậy, hướng dẫn viên của tôi kể lại, “các công nhân chúng tôi đã sử dụng một chiếc máy kéo cũ, xập xệ để vẽ các bản thiết kế… Họ dùng cái giũa và búa để chế tạo chiếc máy kéo đầu tiên, và trong bốn mươi ngày họ đã tạo ra một chiếc.”

Chỉ có một vấn đề lớn với nguyên mẫu máy kéo đầu tiên của Triều Tiên dựa trên thiết kế lậu của Liên Xô: Máy kéo chạy tốt ở số lùi nhưng không tiến về phía trước. Tuy nhiên, Kim Nhật Thành nói, “điều quan trọng là chiếc máy kéo chuyển động được”. Quả thực, ngành máy kéo bản địa đã mở rộng nhanh chóng kể từ thời điểm đó. Giữa năm 1970 và 1976, sản lượng tăng 8,7 lần. Chính phủ tuyên bố đã mở rộng đội xe đủ để đạt trung bình bảy hoặc tám máy kéo cho mỗi 100 ha đất nông nghiệp. Nhà máy máy kéo Kumsong đã được xây dựng lại từ đống đổ nát của một xưởng phân bón hóa học nhỏ vào năm 1954 và đã sản xuất nông cụ cho đến khi chiếc máy kéo Chollima (“Phi Mã”) đầu tiên ra đời vào năm 1958. Khi tôi đến thăm nhà máy,  những chiếc Chollima 28-mã lực chỉ chiếm 30% sản lượng. Một mẫu máy mới hơn, Poonnyun (“Năm bội thu”) 75 mã lực, chiếm 70% còn lại.

Trong số những người lao động trẻ ở Kumsong tôi thấy phụ nữ nhiều hơn nam giới, mặc dù người ta nói rằng phụ nữ chỉ chiếm khoảng 30% trong số 8.000 công nhân thuộc mọi lứa tuổi. Khi tôi hỏi hướng dẫn viên tất cả các chàng trai trẻ ở đâu, anh ta trả lời rằng họ “vẫn đang lớn lên,” học ở các trường cao đẳng và  đại học. Tôi biết rằng câu trả lời thực sự là họ đang ở trong quân đội. Quân đội đã vắt kiệt lực lượng lao động nam trẻ, khiến đất nước tiếp tục ở trong tình trạng thiếu hụt sức lao động vốn bắt đầu với số thương vong và số di cư trong Thời kỳ Chiến tranh Triều Tiên. Số liệu Nam Hàn cho biết phụ nữ chiếm gần một nửa lực lượng lao động. Cơ quan tình báo nước ngoài ước tính khoảng 700.000 người đàn ông, hoặc một trong mỗi hai mươi bốn người Bắc Triều Tiên, có mặt trong các bộ phận quân sự khác nhau. Quan chức Bình Nhưỡng phủ nhận không nhiều đến thế, nhưng gián tiếp thừa nhận rằng duy trì một lực lượng quân sự tốn kém đã kìm hãm nỗ lực phát triển kinh tế. “Thật khó để làm được điều gì đó với một tay bị trói sau lưng chúng tôi,” một người nói với tôi.

Tại nhà máy kéo này cũng như những nơi khác, chính quyền đã đền bù bằng cách áp dụng mức độ tự động hóa đáng kể. Hong Ju-son, trưởng phòng hành chính, tự hào khoe tấm bia đá lớn ghi “Chỉ đạo tại chỗ” mà ông Kim Il-sung đã đưa ra cho nhà máy. Hong nói, 31 lần Kim đã đến thăm để đưa ra những lời khuyên như vậy, và 570 lần khác ông đã gửi “chỉ dạy”. Trọng tâm cơ bản trong các thông điệp của Kim, Hong nói, là “giải phóng người công nhân khỏi gánh nặng của công việc to lớn”. Trong thời gian Kế hoạch bảy năm mới (1978-1984), Hong cho biết, “nhiệm vụ chính của chúng tôi là định hướng juche và hiện đại hóa khoa học. Và nội dung chính của juche là nghĩ về con người. Tự động hóa nhà máy có nghĩa là giải phóng con người khỏi lao động nặng nhọc, đồng thời sản xuất nhiều hơn các sản phẩm.”

Rõ ràng là chế độ coi là chính trị việc biện minh cho tự động hóa như một biện pháp tăng năng suất và đặc biệt là như một cử chỉ nhân đạo nhằm cải thiện điều kiện làm việc, thay vì đề cập đến tình trạng thiếu lao động liên quan đến quân sự và do đó là điều cấm kỵ, đã khiến việc tự động hóa trở nên cần thiết như vậy. Hong cho biết, tại nhà  máy, cả một bộ phận gồm các chuyên gia luôn quan tâm đến sự an toàn và “chúng tôi không bao giờ tiếc bất cứ thứ gì để bảo vệ công nhân của mình”. Tuy nhiên, trong toàn bộ tòa nhà gia công và lắp ráp rộng 55.000 mét vuông, ánh sáng rất mờ nhạt, công nhân không đội mũ bảo hiểm hay kính bảo hộ và nhiều máy cắt không có tấm chắn an toàn. Tuy nhiên, như Hong đã kể, các công nhân vô cùng xúc động trước “sự quan tâm và chăm sóc nồng nhiệt của Lãnh tụ Vĩ đại của chúng ta” nên họ đã dựng tượng đài để tưởng nhớ những chuyến thăm của ông.

Dù động cơ là gì, tôi rất ấn tượng với một số máy móc. Một người phụ nữ đơn độc đang vận hành hệ thống chế tạo hộp số của máy kéo dài 100 mét, nhìn xuống từ một buồng chạy trên đường ray phía trên. Một người phụ nữ đơn độc khác vận hành bảng điều khiển  gia công khối động cơ. “Mọi máy móc, thiết bị trong nhà máy đều được sản xuất tại nước tôi”, Hong tự hào nói. Với một triệu “trí thức”, bao gồm cả kỹ sư, người Triều Tiên “có thể giải quyết các vấn đề của chúng tôi”. Hong lưu ý sự chấp thuận của cá nhân Kim Il-sung đối với hệ thống chế tạo hộp số:

“Lãnh đạo Vĩ đại của chúng tôi nói rằng đây là một trong những sáng tạo vĩ đại.”

Bất chấp việc tự động hóa đáng kể đã được thực hiện trong nhà máy, tôi nghĩ dây chuyền lắp ráp máy kéo vẫn di chuyển chậm so với các nhà máy ô tô mà tôi đã đến thăm ở các nước khác. Các công nhân dư rất nhiều thời gian chờ đợi. Các quan chức cho biết nhà máy sản xuất một trăm máy kéo mỗi ngày, đây có vẻ là một con số thấp vì đây chỉ là sản xuất hàng loạt hai mẫu cơ bản. Các quan chức rõ ràng đã nhất trí: Họ muốn năng suất cao hơn.

Một tấm biển đầy màu sắc kêu gọi công nhân: “Tất cả hãy đồng lòng thực hiện các nghị quyết của Kỳ họp thứ 17 Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 của Đảng Lao động ”. Một trong những nghị quyết có thể đoán trước được: “Sản xuất nhiều hơn nữa!” Tấm biển ca ngợi những công nhân gương mẫu, trưng bày những chân dung và mô tả thành tích của họ. Một người phụ nữ “đã tăng chỉ tiêu của mình lên 200 phần trăm.”

Nhà máy hoạt động sáu ngày một tuần, mỗi ngày hai ca. Không rõ một ca thực tế có thể kéo dài bao nhiêu giờ. Tôi hỏi thì Hong trả lời: “Về nguyên tắc, theo luật lao động, chúng tôi không cho phép họ làm việc hơn 8 tiếng.” Ông nói, nguyên tắc chung là “tám giờ làm việc, tám giờ học và tám giờ nghỉ ngơi.” Làm thêm giờ cần có “sự chấp thuận của các cơ quan hành chính cấp trên”. Xem xét các báo cáo về các chiến dịch làm việc toàn lực do cấp trên trong đảng và chính phủ thúc đẩy, có thể dễ dàng suy đoán rằng một ngày làm việc 8 tiếng “về nguyên tắc” thường có thể kéo dài hơn trên thực tế.

Hong cho biết độ tuổi nghỉ hưu là 60 đối với nam và 55 đối với nữ – những con số điển hình ở các nước Đông Á, trong đó có Nhật Bản tại thời điểm đó. Tôi hỏi liệu có nhiều người đến tuổi nghỉ hưu vẫn ở lại nơi làm việc vì bất cứ lý do gì hay không, tôi đã hy vọng câu trả lời sẽ gợi ý liệu có thể có áp lực hoãn nghỉ hưu do tình trạng thiếu lao động trẻ. Hong nói người đến tuổi nghỉ hưu thỉnh thoảng cũng tiếp tục làm việc bán thời gian với tư cách “cố vấn”, lãnh cả lương hưu và tiền lương. Trong thực tế tôi rõ ràng chưa thấy nhiều người già làm việc trong công ty của nhà máy anh ấy hoặc nơi khác. Nếu việc đó là thực sự hiếm, điều đó nói lên Nho giáo, vốn kính trọng người có tuổi, vẫn còn là một lực lượng văn hóa ở miền Bắc – hoặc nó có thể đơn giản có nghĩa là sức khoẻ công nhân đã sớm bị bào mòn  bởi các tiêu chuẩn đương thời của phương Tây và Nhật Bản.

Hong cho biết, công nhân kiếm được trung bình 90 won, tương đương khoảng 53 USD mỗi tháng theo tỷ giá hối đoái chính thức Nhưng anh nhanh chóng nói thêm rằng mức lương chỉ như lớp kem trét lên miếng bánh vì “đời sống vật chất và văn hóa của người dân chúng tôi do nhà nước cung cấp”. Vì vậy, “nếu chúng ta tính đến sự quan tâm và lòng nhân từ mà họ nhận được từ nhà nước-chẳng hạn như cơ sở nghỉ dưỡng, điều trị y tế miễn phí, giáo dục miễn phí – thu nhập thực tế của người lao động cao hơn nhiều so với thu nhập tiền mặt của họ.”

Sự khác biệt về tiền lương dựa trên vị trí và mức độ kỹ năng. Trong khi sinh viên tốt nghiệp đại học tham gia vào đội ngũ quản lý, những người lao động có năng lực có thể được thăng chức lên trưởng nhóm và trưởng xưởng. “Nhưng sự khác biệt không nhiều lắm”, Hong nói. Toàn bộ phạm vi dao động từ khoảng 80 won cho người mới bắt đầu cho đến khoảng 150 won cho giám đốc nhà máy và kỹ thuật viên có tay nghề cao. Tôi đã nghe nói về mức lương tương tự ở những doanh nghiệp khác, trong đó có nhà kính.

Điều đáng ngạc nhiên là Hong không thể nói chi phí sản xuất máy kéo của nhà máy Kumsong là bao nhiêu. Anh nói: “Chúng tôi không tính toán chi phí của máy kéo. Ủy ban Nông nghiệp sẽ lo việc đó.” Nhà máy chỉ cung cấp máy kéo trực tiếp cho cơ quan quản lý nông nghiệp của các quận. Khi được hỏi về ngân sách hoạt động hàng năm của nhà máy, Hong trả lời: “Vì tôi không chịu trách nhiệm về ngân sách của nhà máy nên tôi không có con số.” Tôi hy vọng ai đó có ý tưởng nào đó về chi phí – dù chỉ để tính toán một cách hợp lý giá bán của phần sản lượng được xuất ra nước ngoài, chủ yếu là tới các nước thuộc Thế giới thứ ba, đặc biệt là ở Trung Đông.

 

Những cuộc hành trình bên ngoài Bình Nhưỡng – những chuyến đi có người đi kèm, luôn hé lộ những thị trấn, thành phố nhỏ, mỗi nơi là một Bình Nhưỡng thu nhỏ, những người đàn ông chỉnh tề trong bộ vest kiểu phương Tây hay bộ đồ Mao với mũ Lenin, phụ nữ thường mặc trang phục truyền thống Triều Tiên sặc sỡ, những đứa trẻ diễu hành đến trường hoặc về nhà trong bộ đồng phục của đội thiếu nhi. Ở vùng quê tôi đi qua cánh đồng lúa, ruộng rau và vườn cây ăn quả gọn gàng với những kênh tưới tiêu, xe tải và máy kéo đông hơn nhiều so với xe bò kéo và cày, nông dân ở trong những khu chung cư trông đồ sộ hoặc cụm nhà lợp ngói, tường xây. Tôi được biết rằng 560.000 căn hộ đã được xây dựng bằng kinh phí nhà nước dành cho nông dân.

Một ngày đầu vụ, người quản lý đưa tôi đến Chonsam-ri, một trang trại hợp tác gần cảng Wonsan ở bờ biển phía đông. Vào lúc chạng vạng, tôi bắt gặp những khung cảnh tuyệt vời có thể tạo nên một áp phích cổ động chính sách nông nghiệp xã hội chủ nghĩa. Làn nước lấp lánh trên lớp bùn sâu đến đầu gối của cánh đồng trang trại phản chiếu hình ảnh của những ngọn đồi hình nón có vườn cây ăn quả tô điểm cho vùng đồng bằng. Một người đội mũ Lênin đang điều khiển máy cấy lúa chạy ngang qua một cánh đồng. Hai người phụ nữ quấn khăn, ngồi phía sau, cho cây con vào thiết bị, thiết bị này đặt chúng thẳng đứng và cách đều nhau vào lớp bùn lỏng đã được bón phân và làm mịn. Hai người phụ việc lê bước theo.

Bên kia một con kênh thủy lợi có bờ đá và một con đường nhỏ chạy dọc theo nó, các em mẫu giáo ca hát và nhảy múa theo tiếng đàn organ do một nữ giáo viên chơi. Trong nhà trẻ bên cạnh, những đứa trẻ mới biết đi đồng thanh hô vang tên nơi Kim Il-sung sinh ra, Mangyongdae. Mặt khác, có rất ít hoạt động và có ít âm thanh. Hầu hết trong số khoảng 500 người lớn làm công việc đồng áng đều không thấy đâu cả. Nghe nói bọn trẻ đã ở lại muộn để có thể biểu diễn cho tôi xem.

Có lẽ những nông dân đã rút lui vào những ngôi nhà lợp ngói của họ để nhường việc tiếp xúc nhạy cảm với người nước ngoài cho những đồng nghiệp có tư tưởng vững chắc và đáng tin cậy. Phải chăng sự nhiệt tình đối với việc hợp tác hóa nông nghiệp vẫn chưa phổ biến trong số những người thực hiện nó? Nhưng có một khả năng trần tục hơn, ít mang tính âm mưu hơn có thể giải thích sự vắng mặt của người lớn. Chỉ còn vài ngày nữa là đến cao điểm của mùa cấy – thời điểm mà, như một câu nói cổ của người Triều Tiên, “ngay cả một khúc củi cũng phải di chuyển”. Có lẽ những người nông dân vô hình đang nghỉ ngơi để chuẩn bị cho những ngày bận rộn khi các đơn vị quân đội, sinh viên và nhân viên văn phòng từ các thành phố sẽ được huy động đến giúp đỡ những trang trại như thế này.

 

Hãy nhớ lại rằng, trước khi Triều Tiên bị chia cắt sau Thế chiến thứ hai, miền Bắc chuyên về khai thác mỏ và công nghiệp trong khi lương thực phụ thuộc vào vựa lúa của miền Nam nghèo khoáng sản. Bây giờ không có sự trao đổi giữa miền Bắc cộng sản và miền Nam tư bản, Miền Bắc phải cố gắng tự nuôi sống mình dù có địa hình đồi núi. Mục tiêu tự chủ trong nông nghiệp đã dẫn đến tình trạng bổ sung thâm dụng lao động cho diện tích đất khai hoang. Các kênh thủy lợi, kết quả của “kế hoạch vĩ đại nhằm tái tạo thiên nhiên” của Kim Nhật Thành, 13 kênh có tổng chiều dài khoảng 40.000 km – đủ để bao quanh thế giới, như tôi đã được kể. Và Kim đã dạy rằng “phân là lúa, lúa là chủ nghĩa xã hội”. Sản lượng phân bón được cho là đã tăng gấp 2,5 lần từ năm 1970 đến năm 1978. Nông dân đã bón hơn 120 kg phân bón hóa học cho mỗi người mỗi năm – tương đương gấp đôi trọng lượng của mỗi đàn ông, phụ nữ và trẻ em trong cả nước.

Với thời điểm thích hợp, làm việc chăm chỉ và nước từ các hồ chứa nước mưa, người dân Triều Tiên hy vọng sẽ đạt được mục tiêu thu hoạch 8,8 triệu tấn ngũ cốc trong năm – mặc dù các vụ thu hoạch trước đó cho thấy 3/4 đất nước miền núi này gặp khó khăn trong việc sản xuất đủ lương thực để nuôi sống 17 triệu người.

 

Năm 1954, sau Chiến tranh Triều Tiên, khoảng ba trăm gia đình nông dân đang làm nông ở Chonsam-ri chỉ sở hữu hai con bò, chủ nhà của tôi đã nói với tôi. Cánh đồng có nhiều đồi núi và bố trí không đồng đều. Chỉ có một vài nông cụ. Những người nông dân đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ trước cuộc chiến khốc liệt càn quét qua lại khắp đất nước. Phù hợp với đường lối của đảng ra lệnh tập thể hóa toàn bộ nền nông nghiệp, đất đai thuộc sở hữu của nông dân Chonsamri được gộp lại vào năm đó để tạo thành một trang trại hợp tác xã. Tất cả các thành viên sẽ sở hữu hợp tác xã chung. Những người trẻ lớn lên và quyết định ở lại, hoặc những người ngoài đến từ thành phố và xin gia nhập, sẽ được đối xử bình đẳng, tự động chia sẻ quyền sở hữu.

Hoa màu sẽ được chia cho các thành viên, không chia đều mà tùy theo công việc thực hiện. Các nhà lãnh đạo đảng ở Bình Nhưỡng cho rằng đất nước chưa sẵn sàng sống theo điều mà hệ tư tưởng cộng sản coi là một nguyên tắc cao cả hơn: “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Cùng với việc chuyển đổi từ hợp tác xã sang trang trại nhà nước, điều đó sẽ đến sau. (Một phần tư thế kỷ sau, những thay đổi đó vẫn chưa đến.)

Tuy nông dân vẫn chưa đạt được chủ nghĩa cộng sản lý tưởng, thì vẫn còn rất nhiều tiến bộ khác, như Chun To-kun vui vẻ chỉ ra. Chun, người trông hơi giống tài tử  Paul Newman gầy gò, được giới thiệu là phó chủ tịch Trang trại Hợp tác xã Chonsam. Một trong những nhiệm vụ của ông ấy là dẫn khách nước ngoài thỉnh thoảng đi tham quan xung quanh. Chun cho biết chương trình xây dựng hồ chứa và công trình thủy lợi của chính phủ đã cho phép nông nghiệp “không phải lo lắng về nguồn cung cấp nước và không bị ảnh hưởng bởi hạn hán”. Nông dân đã san phẳng 1.360 mẫu ruộng lúa và chia chúng thành những mảnh hình chữ nhật gọn gàng. Họ đã làm phẳng các ngọn đồi, được 370 mẫu đất trồng rau và một diện tích tương tự cho vườn hồng. Trang trại sử dụng 26 máy kéo. “Lãnh tụ vĩ đại của chúng tôi cung cấp các máy ấy,””Chun nói.

Kim Nhật Thành đã hứa rằng chế độ của ông sẽ cho phép mọi người được sống trong những ngôi nhà lợp ngói. Thật vậy, những ngôi nhà xây trắng gọn gàng của nông dân Chonsam đều được lợp bằng gạch men – biểu tượng địa vị truyền thống của Triều Tiên mà ngày xưa chỉ những người nông dân khá giả mới có thể xây được. Nhà nước đã xây dựng những ngôi nhà và giao chúng cho nông dân. Trường học, một bệnh viện nhỏ, một tiệm hớt tóc và một tiệm giặt là đã phục vụ 1.500 người sống trong trang trại. Chun cho biết khoảng một phần tư trong số 270 hộ gia đình có tivi và hợp tác xã đã trả tiền từ quỹ văn hóa để đưa phim chiếu cho ba máy chiếu của họ.

Những thay đổi ban đầu diễn ra chậm chạp, khiến Chonsam-ri trở thành một trong những trang trại hợp tác lạc hậu hơn ở Triều Tiên. Chun cho biết bước đột phá lớn đến từ các chuyến thăm năm 1959 và 1961 của Kim Nhật Thành. Lúc đó chưa có đường vào trang trại và những ngọn đồi được bao phủ bởi những cây thông. Nhà nước chỉ bắt đầu khuyến khích việc trồng vườn cây ăn quả từ năm 1958. “Lãnh đạo vĩ đại của chúng tôi đã chăm sóc cây cỏ và chỉ đạo tại chỗ cho chúng tôi cách phát triển trang trại của mình,” Chun nói. Một tượng đài khác gợi lại chuyến thăm duy nhất của ông kể từ đó, vào năm 1976. Mùa thu năm 1978, chỉ vài tháng trước chuyến thăm của tôi, Kim đã đưa ra các câu hỏi về nông nghiệp tại một cuộc họp ủy ban đảng ở Wonsan, thủ phủ gần đó của tỉnh. Ở đó ông đã hướng dẫn mọi người trồng cây hồng.

“Bất cứ khi nào Lãnh tụ vĩ đại của chúng tôi đến thăm và nhìn thấy những người nông dân của chúng tôi đang khom lưng làm việc trên đồng lúa, làm cỏ bằng tay và cuốc, ông ấy đều nói với chúng tôi rằng ông ấy không thể yên tâm ăn cơm khi nhìn thấy công việc vất vả như vậy”, Chun nói. “Vì vậy, ông ấy đã gửi đến trang trại của chúng tôi nhiều loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thiết bị làm cỏ, thiết bị nông nghiệp. Ông ấy đã gửi những thứ này đến tất cả các trang trại hợp tác, nhưng ông ấy đặc biệt chú ý đến trang trại này vì nó lạc hậu”. Tuy nhiên, Chonsam-ri chỉ là một trang trại hợp tác bình thường của Triều Tiên, Chun khẳng định – không phải là một trang trại kiểu mẫu nổi tiếng như Chongsan-ri (hai tên, đối với lỗ tai người phương Tây, nghe giống nhau đến mức dễ lầm lẫn), nơi các chính sách nông nghiệp của đất nước đã được ươm mầm. Thật ra, ba chuyến viếng thăm của nhà lãnh đạo hay đi lại, nói một cách tương đối, không nhiều lắm.

Dù trang trại có kiểu mẫu hay không, Chonsam-ri có vẻ ngoài thịnh vượng của một trang trại kiểu mẫu. Chun cho biết, năm trước trang trại đã sản xuất 4.200 tấn ngũ cốc trong đó có 3.600 tấn gạo. Tỷ lệ chia bình quân của mỗi gia đình là 6 tấn ngũ cốc, có thể bán cho nhà nước và số tiền mặt là 3.000 won (1.754 USD theo tỷ giá hối đoái chính thức). Điều đó sẽ làm cho nông dân Chonsam-ri khá hơn một chút so với những người làm công ăn lương trung bình ở các thành phố và thị trấn. Viên chức nông trường cho biết: “Trước đây, thanh niên thích lên thành phố làm việc nhưng hiện nay thanh niên từ thành phố đang về nông thôn vì mức sống của nông dân hợp tác xã đã được cải thiện”.

Nông dân được chia thu nhập của hợp tác xã theo công thức thiết lập các tiêu chuẩn cho những gì sẽ được coi là phần việc một ngày đối với một nhiệm vụ cụ thể. Cấy lúa bằng tay là một công việc khó khăn và ở Triều Tiên vẫn chưa có đủ máy cấy lúa hoạt động khiến phương pháp cũ trở nên lỗi thời. Việc khom mình để trồng một trăm cây giống được coi là phần việc của một ngày. Nông dân nhận thêm điểm, dưới hình thức cộng thêm “số ngày làm việc” vượt mức hạn ngạch. Mặt khác, việc cày xới đã được cơ giới hóa và phần việc một ngày được coi là trồng được một ha (hai mẫu rưỡi Anh). Nông dân chia sẻ, các quan chức cho biết, ngũ cốc thu hoạch và tiền mặt mà hợp tác xã kiếm được từ việc bán rau và trái cây, tùy theo tổng số ngày làm việc của mỗi gia đình. Nhưng trước tiên, hợp tác xã trích một phần quỹ chung để tài trợ cho các dự án phát triển và trồng trọt trong năm tới. Trang trại phải mua phân bón và nhiên liệu máy kéo từ nhà nước, đồng thời trả tiền cấp nước và thuê máy kéo cho nhà nước.

Công việc ở trang trại vẫn vất vả và kéo dài. Nông dân theo tập quán phương Đông xưa được nghỉ một lần mỗi 10 ngày và mỗi gia đình có thể nghỉ phép 15 ngày mỗi năm để đi nghỉ tại một bãi biển hoặc khu nghỉ dưỡng trên núi do nhà nước cung cấp. “Nông dân của chúng tôi,” Chun nói, “đang nhận được lòng nhân từ to lớn từ nhà nước.” Chun nói với tôi rằng trẻ em được thừa hưởng tài sản gia đình từ cha mẹ đã qua đời và có thể ở lại nhà của gia đình nếu họ muốn.

Một gia đình điển hình gửi tài khoản tiết kiệm khoảng 10.000 won (5.850 USD theo tỷ giá hối đoái chính thức) tại ngân hàng nhà nước dưới tên chủ hộ. Theo phong tục, một thành viên khác trong gia đình có thể sử dụng số tiền đó. Tiền bạc trong tài khoản tiết kiệm có lãi suất khoảng 4% một năm. Chun cho biết, trong những ngày đầu thành lập hợp tác xã, nông dân đã vay tiền ngân hàng, nhưng sau đó họ thấy không cần thiết phải làm như vậy. Chun nói, những người nông dân không cần nhiều tiền tiết kiệm, ngoài việc tài trợ cho đám cưới và những thứ tương tự, bởi vì “nhờ sự quan tâm của Lãnh tụ Vĩ đại của chúng tôi, nhà nước đã cung cấp những hàng hóa cần thiết cho cuộc sống của nông dân. Ngay cả áo mưa cũng được cung cấp cho lao động với giá rất rẻ.”

Tôi biết rằng những báo cáo của nước ngoài về tình trạng hỗn loạn kinh tế của Bắc Triều Tiên, ngay cả khi cường điệu so với tình hình thực tế năm 1979, có cơ sở trong nỗi khó khăn thực sự của họ. Hạn hán đã khiến thu hoạch bị ảnh hưởng trong một số năm. Và tất nhiên, đất nước đã không thể trả các khoản nợ ngoại thương của nó. Nhưng cuộc nói chuyện của các quan chức trong chuyến thăm của tôi vẫn lạc quan. Trong đó có mưa mùa xuân năm 1979 đã tràn ngập hồ chứa, họ nói. Họ dự đoán một mùa gặt bội thu. Và họ tuyên bố đất nước sẽ có thể trả hết các khoản nợ nước ngoài của mình vào năm 1984, năm kết thúc của kế hoạch kinh tế 7 năm hiện nay.

Rõ ràng là đã có rất nhiều công trình xây dựng rồi – tôi đã đi ô tô trên một đường cao tốc nhiều làn mới hoàn thành và gần như không có xe cộ qua lại, băng qua địa hình đồi núi dài hàng trăm dặm giữa Bình Nhưỡng và cảng Wonsan ở bờ biển phía đông. Nói chung, những gì tôi thấy về Triều Tiên đều có vẻ đang xây dựng và chăm sóc tốt. Kế hoạch bảy năm 1978-1984 yêu cầu tăng gần gấp đôi sản lượng điện và sản xuất thép.

Nhưng nhiều người nước ngoài tỏ ra hoài nghi về cơ hội đạt được các mục tiêu của kế hoạch mới, đặc biệt vì chế độ thiếu vốn chỉ dựa vào việc tăng hiệu quả lao động để cung cấp năng lượng cho ba phần tư mức tăng. Chắc chắn không có dấu hiệu nào của sự kiện  bùng nổ như Hàn Quốc tư bản đã từng trải nghiệm nhiều năm. Miền Bắc thiếu những dấu hiệu về sự thịnh vượng có thể được nhìn thấy ở miền Nam: đường phố và đường cao tốc bị tắc nghẽn vì xe ô tô cá nhân và taxi, khách sạn mới sang trọng mọc lên giữa lòng thủ đô, thị trường chứng khoán sôi động được thúc đẩy bằng tiền mặt từ một tầng lớp trung gian mới. Nhưng cũng không ai nhìn thấy ở Bắc Triều Tiên các khu ổ chuột, gái mại dâm, bọn lang thang bán kẹo cao su ngoài đường – những dấu hiệu dễ tìm thấy ở miền Nam năm 1979 cho thấy một số phân khúc xã hội bị bộ lại phía sau.

Triều Tiên và Hàn Quốc mỗi nước tuyên bố tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người là hơn 1.200 USD.  Các ước tính của phương Tây và Hàn Quốc vào thời điểm đó cho rằng con số của miền Bắc chỉ bằng khoảng một nửa con số đó, mang lại cho miền Nam đông dân gấp đôi một lợi thế to lớn về tổng thể nền kinh tế.  Mặc dù có thể những ước tính từ các nguồn không thân thiện với miền Bắc đã phóng đại sự khác biệt – và mặc dù rất khó để so sánh hai hệ thống kinh tế hoàn toàn khác nhau – dường như có một khoảng cách vượt trội của miền Nam, một khoảng cách có thể tiếp tục mở rộng.

Nhưng một lần nữa, những biến động thất thường của nền kinh tế quốc tế và tình trạng lạm phát tràn lan sau đó có thể gây ra thiệt hại nặng nề ở miền Nam. Quan chức Triều Tiên tuyên bố nền kinh tế của họ miễn nhiễm với những thế lực như vậy và trên cơ sở đó họ dường như hy vọng thời gian thực sự đứng về phía họ. Một nền kinh tế kế hoạch hóa, hầu như không có khu vực tư nhân ngoài những mảnh đất trồng rau nhỏ do nông dân sở hữu, có nghĩa là nhà nước định ra giá cả. Những thứ cần thiết đều rẻ. Gạo, lương thực cơ bản, có giá tương đương 2 xu một cân theo tỷ giá hối đoái chính thức. Mặt khác, bất cứ thứ gì được coi là xa xỉ đều rất đắt tiền. Một chiếc tivi đen trắng có giá tương đương 175 USD, cao hơn ba tháng lương của một người lao động bình thường. Nhà nước cung cấp nhà ở, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục mà không đánh thuế.

 

Ở Bình Nhưỡng, tại Cung Thiếu nhi, một người lính mang súng lục bảo vệ hành lang khi du khách từ nước ngoài đến xem buổi biểu diễn buổi tối của những thiếu niên trong độ tuổi đi học đăng ký vào các lớp biểu diễn nghệ thuật vào buổi chiều. Một trong những vở kịch được dàn dựng công phu đã kịch tính hóa những chiến công thời trẻ của Kim Il-sung trong cuộc chiến tranh du kích chống Nhật. Khi những đứa trẻ trên sân khấu rượt đuổi những người khác được hóa trang thành những bức tranh biếm họa những người Nhật cúi đầu, cười toe toét với những cái đầu khổng lồ bằng giấy bồi, một bản dịch tiếng Anh lời kêu gọi của lực lượng truy đuổi được chiếu trên màn hình: “Hãy tiến về phía trước, theo sau người chỉ huy của chúng ta, tiêu diệt bọn Nhật cho đến tên cuối cùng.”

Ngày tôi đến thăm trang trại hợp tác xã Chonsam-ri, một giáo viên mẫu giáo đang dẫn dắt các đứa trẻ bốn tuổi của mình tham gia một trong những bài tập yêu thích của chúng. Giơ cao một khẩu súng trường đồ chơi, cô ấy gọi lớn: “Chúng ta bắn súng trường như thế nào?”

“Bóp cò! Bóp cò!” các bạn nhỏ đồng thanh đáp lại, hét to hết sức.

Tôi nhanh chóng biết được rằng các quan chức Triều Tiên vô cùng tự hào về hệ thống nhà trẻ, trường học, “cung thiếu nhi,” các cao đẳng, đại học, các khóa học dành cho người lao động tại nơi làm việc và các khóa học hàm thụ. Trong số 17 triệu dân, khoảng 8 triệu người đã đăng ký học mà không phải trả phí. Các quan chức cho biết xã hội này đang được “trí thức hóa”.

 

Cơ sở của hệ thống này bao gồm các vườn ươm, sau đó là giáo dục bắt buộc từ mẫu giáo đến lớp mười. Nhi giáo  bắt đầu khi một hài nhi mới được vài tuần tuổi được gửi đến nhà trẻ tại nơi làm việc của người mẹ. Chúng sẽ ở lại đó từ sáng sớm cho đến tối muộn. Các bà mẹ được phép nghỉ giữa việc để cho con bú. Sau các giờ học chính quy, nhà nước bắt thanh niên thiếu niên trong độ tuổi đi học bận rộn với các hoạt động được giám sát. Cùng lắm là chúng chỉ được có một hoặc hai giờ mỗi ngày sinh hoạt với cha mẹ. Triều Tiên là một trong những quốc gia châu Á đầu tiên mở rộng giáo dục công miễn phí đến lớp 10, và bản thân điều đó đã là một thành tựu ấn tượng không thể phủ nhận. Tuy nhiên, là một người phương Tây, tôi không thể không tìm một khía cạnh nham hiểm của hệ thống gần như độc quyền trong việc nuôi dạy trẻ em và phương hướng mà nó hướng dẫn chúng.

Tuyên truyền chính thức ở một mức độ nào đó tuyên bố rằng chính trẻ em là những đối tượng được hưởng lợi từ cách tiếp cận này. Chủ tịch Kim từng nói: “Ở đất nước này, trẻ em là vua”. Các đệ tử của ông đã kể lại một cách hùng hồn rằng Lãnh tụ vĩ đại sẽ làm bất cứ điều gì cho trẻ em và hệ thống giáo dục là biểu hiện của tình yêu vô bờ bến của ông dành cho chúng.

Tôi đến thăm một nhà trẻ nội trú hàng tuần ở Bình Nhưỡng, nơi có chi phí rất nhỏ chỉ trả các bé về với gia đình vào tối thứ bảy và chủ nhật Giám đốc nhiệt tình cho biết các em “trưởng thành nhanh hơn và học hỏi nhiều hơn so với khi ở nhà”. Trong khi đó, những đứa trẻ trong vườn ươm của cô thi đấu trong một cuộc chạy tiếp sức để xem đội nào trong hai đội có thể là đội đầu tiên hoàn thành các câu như “Chúng ta hạnh phúc” và “Chúng ta không có gì phải đố kỵ trên thế giới”. Những đứa trẻ hai tuổi trong nhà trẻ đang đếm những quả táo được trưng bày trên đồ dùng trực quan: “Đây là bốn và một nữa là năm.” Trong căn phòng được trang trí bằng mô hình nơi sinh của Chủ tịch Kim, các bạn nhỏ đã thể hiện thái độ đúng đắn với Lãnh tụ Vĩ đại bằng cách kể lại những câu chuyện thời thơ ấu của ông và cúi đầu trước bức chân dung thời niên thiếu của ông. Khi trẻ đến tuổi mẫu giáo, chúng sẽ học cách nói khi nhận được đồ ăn nhẹ: “Cảm ơn, Cha Lãnh tụ.”

 

Đôi khi người ta cho rằng chính các bậc cha mẹ được hưởng lợi từ hệ thống giáo dục của đất nước. Giám đốc nhà trẻ cho biết các bà mẹ được “giải phóng” dành thời gian cho “sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hóa”. Tại Cung Thiếu nhi Bình Nhưỡng khổng lồ, một quan chức giải thích rằng việc nhà nước quản lý trẻ em không chỉ ở trường mà còn sau giờ học có nghĩa là “cha mẹ không phải lo lắng về việc học hành của con cái”. “Cung Thiếu nhi” khiến hàng vạn học sinh cấp 2, cấp 3 bận rộn từ 4 giờ chiều đến 7 giờ tối hàng ngày với các lớp học – một số khá cao cấp – về âm nhạc, nghệ thuật, thủ công, các môn dạy nghề, thể thao, thể dục dụng cụ và tư tưởng cộng sản. Các thủ phủ của tỉnh cung cấp cơ sở vật chất tương tự nhưng nhỏ hơn một chút.

Ở một cấp độ khác, bản thân Kim Il-Sung đã chỉ ra rằng những lợi ích từ hệ thống giáo dục mang lại cho phụ huynh và trẻ em với tư cách cá nhân không thực sự như những gì ông ấy nghĩ đến. Đúng hơn, hệ thống giáo dục nhằm mục đích mang lại lợi ích cho tập thể người dân. Suy cho cùng, như Kim đã phát biểu tại cuộc họp toàn quốc của các giáo viên trong một bài diễn văn quan trọng vào năm 1971, “trong bất kỳ xã hội nào, mục đích chính của giáo dục nằm ở việc đào tạo con người để phục vụ một cách trung thành cho hệ thống xã hội hiện tại.” Đồng tình với Friedrich Engels, Kim lập luận rằng nhà nước xã hội chủ nghĩa phải “ngăn chặn những tư tưởng cũ của cha mẹ ảnh hưởng đến tâm trí của trẻ thơ.” Trẻ em sẽ được dạy để trở thành chiến binh cách mạng. “Chúng ta là những nhà cách mạng. phải giáo dục học sinh căm thù giai cấp địa chủ, tư bản và hệ thống bóc lột”, Kim nói. Nếu bỏ qua việc giáo dục thế hệ đang lên theo hướng đó, chúng sẽ mất dấu kẻ thù giai cấp, rơi vào tâm lý hoà bình, ghét làm cách mạng và cuối cùng có thể thoái hóa, sa đọa.”

Bất kỳ xung lực nào đi lạc theo một hướng khác sẽ bị loại bỏ. Kim nói, trẻ em trong một xã hội xã hội chủ nghĩa nên được hướng dẫn “từ khước chủ nghĩa cá nhân và ích kỷ, yêu tổ chức và tập thể, hết mình đấu tranh vì xã hội, vì nhân dân, vì đảng và vì cách mạng.”

Tôi đã thấy người dân Triều Tiên nghiêm túc đấu tranh vì sự thống nhất và chống chủ nghĩa cá nhân như thế nào khi tôi đến trường tiểu học Taedongmun ở Bình Nhưỡng. Các giáo viên trong các lớp học mà tôi đến thăm đang đặt ra các câu hỏi cho các lớp đang học về các loài chim, sự bốc hơi và hành động cách mạng của Chủ tịch Kim. Khi mỗi câu hỏi được xướng lên, các em học sinh ngồi thẳng lưng hoàn toàn tại bàn, đều giơ tay đồng thanh hét: “Em!” rồi ngay lập tức lại im lặng. Bất cứ khi nào có học sinh được gọi trả lời, em sẽ đi đến trước lớp, đứng nghiêm và hét lên câu trả lời đã ghi nhớ bằng một giọng đều đều the thé giống như giọng mà các khóa sinh năm nhất West Point sử dụng để nói với các khóa sinh lớp trên. Trong số  học sinh không được gọi, không ai nhúc nhích; không ai thì thầm.

Chung Kwang-chun, hiệu trưởng, đã khoe khoang trong một cuộc phỏng vấn rằng đây là một “trường toàn A.” Cô cho biết, một giáo viên duy nhất chịu trách nhiệm quản lý cùng một nhóm học sinh trong suốt bốn lớp liên tiếp. Người giáo viên đó phải đảm bảo rằng – thông qua dạy thêm, nếu cần – tất cả các thành viên trong lớp đều tiến bộ tốt. “Phân tích cuối cùng, chúng tôi không tin có em nào không học được”, bà Chung nói. Bà liệt kê những môn quan trọng nhất được dạy ở trường theo thứ tự sau: (1) “hoạt động cách mạng của Lãnh tụ”, (2) Đạo đức cộng sản vĩ đại, (3) tập đọc, (4) làm toán. Trên thực tế, trong 53 trang trong bài phát biểu quan trọng năm 1971 của Lãnh tụ Vĩ đại, “Về việc thực hiện triệt để các nguyên tắc sư phạm xã hội chủ nghĩa trong giáo dục”, ông đã không đề cập đến môn đọc hay môn toán.

 

Vào thời điểm Chiến tranh Triều Tiên, lòng hiếu thảo đối với cha mẹ kiểu Nho giáo vẫn chiếm vị trí hàng đầu, ngay cả trong lời hùng biện của Kim Il-sung. Nói chuyện với tư lệnh quân đoàn chỉ huy trận Heartbreak Ridge, Kim được cho là đã nói rằng mình muốn những người lính “nhận thức rằng mong muốn của cha mẹ và đường lối của Đảng là không để một tấc đất thiêng liêng nào của tổ quốc vào tay kẻ thù”. Khi lời nói của ông được truyền đạt một cách hợp lý đến các binh sĩ, “xúc động trước tình thương của Lãnh tụ, tất cả đều lấy tay dụi mắt” và cam kết sẽ làm theo mong muốn của cha mẹ và đảng.

Tuy nhiên, gần đây hơn, Kim đã nói về việc “cách mạng hóa các ngôi nhà” và tôi bắt đầu hiểu được ý nghĩa cụ thể của điều đó. Khi tôi hỏi Hiệu trưởng Chung về vai trò của phụ huynh trong việc giáo dục con cái, cô ấy cho biết họ được phép đến thăm trường và phải giúp đỡ học sinh trong việc học tập. Tuy nhiên, cô nói thêm rằng phụ huynh không bị gọi đến vì các vấn đề kỷ luật, mà được giải quyết bằng sự thuyết phục của giáo viên (không trừng phạt thân thể) và – thông qua sự phê bình của bạn đồng học theo phong cách Đội Thiếu niên Tiền phong.

 

Thực ra, bà Chung cho biết, có rất ít vấn đề về hành vi xấu. Học sinh hiếm khi đánh nhau, ngay cả ngoài lớp học, bởi vì “chúng tôi đang giáo dục các em về đạo đức cộng sản.” Cô tự hào về tính kỷ luật của học sinh. Cô yêu cầu phải ngồi thẳng lưng trong lớp vì lý do sức khỏe. Ngoài giờ học, học sinh có thể tự do cúi gập người nếu muốn – “nhưng vì chúng tôi dạy các em theo cách lành mạnh, họ luôn đi theo hướng đó.” Ngay khi cô ấy nói, tôi nghe thấy từ sân chơi âm thanh không thể nhầm lẫn của học sinh vào giờ ra chơi, hò hét và chạy vòng quanh. Cảm thấy nhẹ nhõm khi trở lại thực tế dễ nhận biết này, tôi bước đến cửa sổ để chụp ảnh cảnh đó. Tuy nhiên, Chung đã nhanh chóng nói chuyện với người phiên dịch của tôi – người này bước tới và nắm lấy cánh tay tôi trước khi tôi kịp bấm nút chụp. Hai người đó giải thích một cách kiên nhẫn và thân thiện rằng một bức ảnh chụp hoạt động thiếu tổ chức như vậy có thể gây ấn tượng xấu ở nước ngoài.

Hoàn toàn ngược lại, tôi trả lời. Người Mỹ và nhiều người phương Tây khác sẽ có ấn tượng tốt trước bằng chứng cho thấy ít nhất một chút tự do vẫn tồn tại trong một xã hội được kiểm soát chặt chẽ như vậy.

Tuy nhiên, thông dịch viên của tôi không chấp nhận lập luận này. Anh giải thích một cách nghiêm túc rằng người dân Triều Tiên coi trọng sự đoàn kết. Đối với học sinh, “chúng tôi giáo dục chúng theo một thể thống nhất, tư duy theo cùng một cách và hành động theo cùng một cách.” Hình ảnh sân chơi, thật đáng tiếc, lại không minh họa điều đó.

 

Ngay cả vào thời điểm tôi đến thăm lần đầu tiên, lối suy nghĩ như vậy – dù được truyền dạy một cách nhiệt tình bởi các nhà tư tưởng nghiêm túc – đã suy giảm ở nhiều nước cộng sản khác. Chính Kim Il-sung đã cảnh báo các giáo viên Triều Tiên đề phòng xu hướng cho thanh niên học theo một số nước xã hội chủ nghĩa. tìm kiếm “một cuộc sống thoải mái và lười biếng.” Ông cảnh báo rằng diễn biến như vậy ở Triều Tiên có thể khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại. Các em phải được giáo dục “yêu lao động”. Chúng phải thuộc “giai cấp lao động” và được dạy phải “có niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản trước bất cứ điều gì khác”. Sau này, trong hồi ký của mình, ông đổ lỗi cho dòng sản phẩm Khrushchev về những vấn đề với thế hệ trẻ: Những người như vậy, “những kẻ nghiện chủ nghĩa ích kỷ và chủ nghĩa khoái lạc cực đoan, không quan tâm đến thế hệ trẻ; họ đang tước bỏ vũ khí tinh thần của chúng và đẩy chúng vào đủ mọi tệ nạn xã hội.”

Trong trường hợp của Triều Tiên, người nước ngoài rất khó đánh giá xem chế độ này đã thành công như thế nào trong việc đạt được mục tiêu đưa tất cả giới trẻ vào cùng một khuôn mẫu. Người phiên dịch của tôi, Han Yong, dường như là một đại diện khá điển hình của những người theo Đoàn Thanh niên Yêu nước Xã hội Chủ nghĩa nhiệt tình và nghiêm túc trong thế hệ của anh ấy, một sản phẩm ngôi sao của hệ thống giáo dục mà anh ấy đang cho tôi xem. Anh là sinh viên năm cuối hai mươi chín tuổi của trường Đại học Ngoại ngữ, chuyên ngành Ngôn ngữ Anh. Anh ấy và cả lớp đã được huy động để thông dịch cho du khách tham gia giải đấu. Han hy vọng trở thành một kỹ sư và học tiếng Anh vì điều đó sẽ giúp anh “nhìn thấy những gì người khác đã làm và áp dụng những gì tốt nhất cho TriềuTiên”. Để được đào tạo về kỹ thuật, anh ấy dự định tham gia một khóa học hàm thụ. Han cho biết anh muốn kết hôn và đã chọn một cô dâu nhưng nghĩ rằng “tốt hơn là nên đợi, vì tôi đã đi học lại khi đã lớn tuổi”. (Anh ấy không nói, nhưng có lẽ anh đã từng phục vụ trong quân đội trước khi học đại học, như một điển hình.) Han cho biết khoảnh khắc đáng tự hào nhất của anh là gia nhập Đảng Lao động Triều Tiên vào năm 1973.

Mặt khác, tôi có thể thấy những đứa trẻ ba và bốn tuổi trong ban nhạc đàn accordion tại Nhà trẻ 15 tháng 9 ở Bình Nhưỡng đã tuân theo lời răn của Lãnh tụ Vĩ đại rằng mọi trẻ em nên học chơi một loại nhạc cụ. Chúng sử dụng chính xác kỹ thuật giống như tất cả những nghệ sĩ chơi đàn accordion trẻ tuổi khác trong nước – mỉm cười, nghiêng đầu, giao tiếp bằng mắt với khán giả – khi họ ngân lên một giai điệu dễ chịu. Sau đó là các nhóm thành viên đội thiếu nhi quàng khăn đỏ diễu hành tới trường và ra trường theo đội hình, chào hành khách trên xe chạy qua, dừng lại để thực hiện các dự án dọn dẹp cộng đồng.

Một cậu bé đang lắp ráp một động cơ điện thu nhỏ trong lớp học tại Cung Thiếu nhi Bình Nhưỡng có thể nói trong một cuộc phỏng vấn, giống như cậu bé Jonghyun 12 tuổi đã nói: “Khi lớn lên, em muốn trở thành thợ điện vì điện rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước chúng ta trở thành một đất nước độc lập và hùng mạnh theo lời dạy của Lãnh tụ Vĩ đại”. Tuy nhiên, tôi không thể tự do ra ngoài và nói chuyện ngẫu hứng với những thành niên trẻ tuổi đã dành phần lớn cuộc đời của mình để được truyền bá, để xem họ đã thấm nhuần được bao nhiêu.

 

Thay vào đó, tôi phải chấp nhận liên lạc với những người Triều Tiên mà chính quyền miền Bắc đã đặt để trên lộ trình của tôi – ví dụ như Lee Yong-ho, người tự nhận mình là một nghiên cứu sinh tiến sĩ 26 tuổi về sinh học phân tử tại trường Kim Il-sung, một trong một triệu trí thức mà chế độ tuyên bố đã đào tạo ra nhằm nỗ lực phát triển đất nước.

Tìm Lee vào một buổi chiều trong tuần là điều khó tránh khỏi. Trong nhiều ngày, tôi đã yêu cầu người quản lý cho phép tôi gặp một số sinh viên đại học, và chiều nay cuối cùng họ cũng nói với tôi rằng đã đến lúc đến thăm trường đại học. Tuy nhiên, khi chúng tôi đến nơi, khuôn viên trường vắng tanh. Tôi hỏi tất cả sinh viên đi đâu cả rồi. Dự một buổi xê-mi-na, là câu trả lời. “Mười hai nghìn sinh viên trong một buổi xê-mi-na,” tôi ngạc nhiên. “Thật tuyệt vời!” Tôi đã nghĩ đến khả năng chính quyền đã bỏ bao nhiêu công sức dọn sạch khuôn viên trường chỉ để đảm bảo rằng tôi sẽ không có bất kỳ cuộc trò chuyện đột xuất nào với người không được chỉ định.

Dù sao đi nữa, khi người quản lý dẫn tôi đi ngang qua khuôn viên trường và lên vài tầng cầu thang để đến phòng thí nghiệm, Lee tình cờ ngồi đó – trong bộ vest công sở, với một bức chân dung thu nhỏ có tráng men, khung vàng của Chủ tịch Kim được ghim bên trái. ve áo – chăm chú nhìn vào một cuốn sách giáo khoa.

Là một võ sĩ quyền anh cổ bạnh, một cầu thủ bóng đá và một cựu chiến binh phục vụ trong quân đội, Lee khi trả lời câu hỏi của tôi đã khẳng định hoàn toàn không quan tâm đến hai lợi ích hàng đầu của sinh viên những năm 1970 ở phương Tây: biểu tình và tình dục. Về vấn đề tình dục, anh ấy nói rằng anh ấy không có bạn gái hay vợ, và chưa bao giờ nghĩ đến những điều như vậy mặc dù trường đại học là trường nam nữ học chung. “Tôi là sinh viên nên hiện tại tôi đang học tập, tập trung toàn lực cho môn học của mình”, anh nói. Lee cho biết, sinh viên bất đồng chính kiến ​​là điều không thể tưởng tượng được tại Đại học Kim Il-sung. Thậm chí không có bất kỳ vấn đề nào trong khuôn viên trường, càng không có vấn đề quốc gia, để khơi dậy cảm giác nổi loạn. Anh nói: “Trong số các sinh viên chúng tôi, ông không thể tìm thấy một người nào tin rằng có một số yếu tố cần bị chỉ trích”. (Hwang Jang-yop, cựu hiệu trưởng trường đại học, xác nhận sau cuộc đào thoát sang miền Nam năm 1997 rằng “các cuộc biểu tình của sinh viên kêu gọi tự do trong khuôn viên trường là không thể tưởng tượng được.” Nhưng ông lại mâu thuẫn với sinh viên Lee ở một điểm khác. “Tại Đại học Kim Il-sung, các sinh viên bắt đầu nuôi dưỡng những nghi ngờ về sự sùng bái cá nhân Lãnh tụ Vĩ đại khi họ học năm thứ hai, nhưng không ai trong số họ dám nói ra sự nghi ngờ của mình.”)

 

Tôi chợt nhận ra rằng, trong chuyến thăm năm 1979, với lòng nhiệt thành tạo dựng một con người mới, chế độ đã quét sạch hầu hết dấu vết của những thành tựu văn hóa của Triều Tiên trong quá khứ.  Tôi ngạc nhiên khi biết rằng ngay cả các tác phẩm kinh điển của Triều Tiên cũng chỉ được dạy ở các trường đại học chứ không phải ở cấp tiểu học hay trung học.  Thay vào đó, một quan chức giải thích, các sinh viên đã nghiên cứu các tác phẩm kinh điển hiện đại của Kim Il-sung và triết lý juche của ông.  Âm nhạc mà tôi đã nghe, từ những đoạn hợp xướng trong Song of Paradise (Khúc hát Thiên đường) cho đến những đoạn hành khúc oom-pah-pah và những bài hát mà các học sinh mẫu giáo kéo trên đàn phong cầm của chúng, về cơ bản nghe có vẻ phương Tây như được diễn giải thông qua một bộ lọc Nhật Bản. Kiến trúc của các tòa nhà hình khối phần lớn cũng mang phong cách phương Tây – theo chủ nghĩa Stalin, tôi có thể nói – cũng như những bức tranh sơn dầu phổ biến của Kim.

Tôi đã sắp xếp một cuộc phỏng vấn với Lee Sang-tae, một thành viên của Ủy ban Trung ương Tổng Liên đoàn Nhà văn và Nghệ sĩ, và hỏi ông ấy chuyện gì đã xảy ra với các tác phẩm cũ. Suy cho cùng, như chính Lee đã nói với tôi, Triều Tiên tuyên bố có hàng ngàn năm lịch sử và “văn học nghệ thuật xứ sở chúng tôi nở rộ vào thế kỷ thứ mười” – vào thời điểm đó đồ gốm, nghệ thuật và kiến trúc Triều Tiên đã được xuất khẩu qua eo biển Triều Tiên để trở thành một yếu tố hình thành nên văn hóa Nhật Bản ngày nay. Trớ trêu thay, như Lee đã lưu ý, chính người Nhật, trong thời kỳ thuộc địa, đã cố gắng “dập tắt văn học và ngôn ngữ dân tộc của chúng tôi”.

Sau khi giải phóng, Kim Il-sung, giống như những kẻ thực dân Nhật Bản trước ông, đã tìm cách nhổ bỏ tận gốc những lối suy nghĩ cũ – trong trường hợp này là “Nho giáo phong kiến ​​” – và thực thi các chuẩn mực cộng sản mới.  “Trong khi những người khác đi du lịch khắp thế giới bằng tàu chiến và tàu hỏa, những người cai trị phong kiến ​​của đất nước chúng ta cưỡi lừa và đội mũ lông ngựa, ca hát về những danh lam thắng cảnh,” Kim sau này viết trong một đánh giá khinh miệt về văn hóa truyền thống. “Cách mạng là lật đổ hệ thống cũ và thiết lập một hệ thống mới,” ông giải thích trong một bài phát biểu.“Cách mạng văn hóa cũng nhằm xóa bỏ cái cũ và đưa vào cái mới.”

Hiến pháp năm 1972 của đất nước kêu gọi một cuộc cách mạng văn hóa như vậy. Không giống như người Nhật, Kim với nền tảng chủ nghĩa dân tộc của mình biết rằng việc cố gắng tiêu diệt truyền thống Triều Tiên hoàn toàn sẽ chỉ khiến người dân xa lánh. Ông đã thỏa hiệp dựa trên công thức “Chủ nghĩa xã hội ở một quốc gia” của Stalin, công thức này đã sửa đổi quan niệm không tưởng ban đầu về chủ nghĩa quốc tế cộng sản để cho phép thực tế có sự khác biệt giữa các quốc gia. Chính sách văn hóa này cuối cùng được Kim nhét vào triết lý juche tổng thể của mình về tinh thần tự lực quốc gia.

Văn hóa ở Bắc Triều Tiên là “xã hội chủ nghĩa về nội dung, dân tộc chủ nghĩa về hình thức.” Nói cách khác, tiểu thuyết, kịch, ca khúc và thơ cũ không phù hợp với sự truyền bá của quần chúng có thể được giao cho các thư viện và tủ hồ sơ chỉ một số ít chuyên gia mới có thể tiếp cận được – nhưng chế độ sẽ tái sử dụng các yếu tố của các biểu mẫu cũ của Triều Tiên để hỗ trợ nội dung mới đã được phê duyệt. Trong cuộc nói chuyện với Lee Sang-tae, tôi nhận thấy nội dung này có vẻ hạn chế – chủ yếu ca ngợi chủ nghĩa xã hội và Kim Il-sung. Lee không phản đối mà giải thích: “Chúng tôi cho rằng chức năng, mục đích chính của văn học nghệ thuật trước hết là miêu tả và cũng là khắc họa đời sống tình cảm, chung chung của con người. Thứ hai, chúng cũng phải là phương tiện giáo dục con người. Chúng ta giáo dục các em yêu Tổ quốc, yêu hệ thống xã hội chủ nghĩa, tôn kính Lãnh tụ, có đạo đức tốt, đời sống lành mạnh, có tình người cao đẹp, tình cảm và cuộc sống văn minh.”

Tổ chức của Lee chịu trách nhiệm đảm bảo các nhà văn và nghệ sĩ thực hiện nhiệm vụ của mình, giao và thực thi hạn ngạch sản xuất thay mặt cho Ban Văn hóa và Nghệ thuật của Đảng Lao động. Được thuần hóa sau các cuộc thanh trừng các văn nghệ sĩ vào các năm 1952, 1956, 1961, 1963 và 1964 (cộng với những năm khác, sau khi Kim Jong-il tiếp quản nền văn hóa, như chúng ta sẽ thấy trong chương 13), những người còn lại trên trận địa có lẽ đã biết tôn trọng chính quyền và sẵn sàng tuân thủ.

Và kết quả là gì? Lee nói với tôi rằng trong nhiều trường hợp, chế độ đã sản xuất ra những phiên bản mới của các bài hát dân gian mà phiên bản gốc không còn được hát nữa. Các yếu tố truyền thống mang lại “sự thích thú và hương vị”. Ông ấy ngân nga vài ô nhịp của một sản phẩm gần đây, bài hát có tên “Moranbong”. Nó có âm mũi và kiểu bắt giọng khiến tôi liên tưởng đến âm nhạc dân gian Đông Á. Lee nói làn điệu dân ca xưa có thể được sử dụng làm nền tảng cho một âm thanh “hiện đại” hơn – một ví dụ, trong Khúc hát thiên đường, là điệu nhảy và hòa tấu hoành tráng “Hãy để chúng ta tự hào về vụ bội thu của chúng ta với toàn thế giới”, tai tôi nghe như ở đâu đó giữa giai điệu raga Ấn Độ  và nhạc bluegrass Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, tôi đã nói với Lee, hầu hết Khúc hát Thiên đường đều có nhạc cảm  phương Tây. Phải chăng việc sử dụng các dàn hợp xướng khổng lồ có thể bắt nguồn từ âm nhạc nhà thờ do các nhà truyền giáo phương Tây mang đến từ cuối thế kỷ 19? Hoàn toàn không, Lee trả lời. “Chúng tôi chưa hề có chuyện bị ảnh hưởng từ các nhà truyền giáo. Chúng tôi đã phát triển các bài hát dựa trên di sản truyền thống của mình. Trước giải phóng chúng tôi có các tôn giáo – Phật giáo, Thiên chúa giáo – nhưng sau giải phóng, ảnh hưởng của các tôn giáo đó biến mất.”

Tôi nhìn thấy hoặc nghe thấy rất ít về việc chào đón cởi mở văn hóa nước ngoài, nhưng Lee đảm bảo với tôi rằng các tác phẩm của những nhạc sĩ như Beethoven và Tchaikovsky đều được nghiên cứu và biểu diễn bởi các “chuyên gia”. Ông nói thêm rằng đã có hai loạt bản dịch các tác phẩm văn học cổ điển nước ngoài, một vào năm 1955 và một vào năm 1977. Shakespeare, Balzac, Jack London, Mark Twain, Homer, Goethe, Byron, Gorky và Tolstoy là những cái tên mà ông đề cập đến trong số các tác giả mà ông cho rằng độc giả Triều Tiên thường dễ tiếp cận. Đối với phim ảnh, những sản phẩm tương đối thuần hóa như Cleopatra và Spartacus đã được nhập khẩu để phân phối rộng rãi – nhưng chế độ đã đặt ra giới hạn đối với những sản phẩm gần đây, gợi tình hơn của Hollywood. Lee cho biết, chúng xa lạ với “lối sống truyền thống của nhân dân chúng tôi”.

Tôi hỏi liệu nhạc rock có được nhập khẩu không. Câu hỏi làm thông dịch viên rất có thẩm quyền của tôi khựng lại.

“Nhạc rock là gì?” Ông ấy hỏi . “Ý anh là nhạc jazz?”

Tôi giải thích và ông ấy chuyển lời giải thích của tôi cho Lee, nhưng Lee trả lời rằng mình cũng chưa bao giờ nghe nói đến nhạc rock đó.

Ngoài âm nhạc, Lee cho biết, “chúng tôi phát triển mỹ thuật hiện đại dựa trên những bức tranh truyền thống Triều Tiên.” Tuy nhiên, điều đó có xu hướng hướng tới nỗ lực của nhóm, vì chủ nghĩa cá nhân là một trong những đặc điểm cũ xấu mà chế độ đang cố gắng loại bỏ. Ví dụ, những bức tranh thêu bằng lụa được thực hiện bởi các đội. Các nhóm khác nhau chịu trách nhiệm thiết kế và thêu thực tế, như tôi đã tìm thấy trong chuyến thăm Viện Nghiên cứu Thêu của Bình Nhưỡng.

Tôi tò mò về một trong những nghệ thuật truyền thống tốt nhất của Triều Tiên, nghề làm đồ gốm. Đáng buồn thay cho những người sành men ngọc và các loại gốm nổi tiếng khác của Triều Tiên, gốm sứ như một nghệ thuật đã thực sự trở thành quá khứ. Lee nói với tôi: “Để đáp ứng nhu cầu của người dân, chúng tôi sản xuất bằng phương tiện công nghiệp chứ không phải thủ công”, mặc dù ông ấy đảm bảo với tôi rằng “các đặc điểm nghệ thuật được sử dụng trong đồ gốm và một số nét chạm bằng tay vẫn còn, chẳng hạn như những bức tranh vẽ tay trên đồ gốm.”

 

Hệ thống chăm sóc sức khỏe đưa ra một nghiên cứu điển hình về cách Triều Tiên kết hợp nhiều chủ đề khác nhau về hệ tư tưởng của đất nước – chủ nghĩa xã hội, hiện đại hóa và phát triển vượt bậc, chủ nghĩa dân tộc và khả năng tự cung tự cấp của quốc gia, sự sùng bái cá nhân Kim Il-sung.

Các tài liệu chính thức vào khoảng thời gian tôi đến thăm năm 1979 đã đề cập đến vấn đề chăm sóc sức khỏe công nhân và đặc biệt là bác sĩ là những ví dụ về những gì chế độ yêu cầu đối với thần dân của mình. Theo đúng nghĩa đen, các bác sĩ được kỳ vọng phải xả thân mình thành từng mảnh vì bệnh nhân của họ. Có một câu chuyện được kể trên tờ báo Nodong Shinmun, về một bác sĩ phẫu thuật tại một bệnh viện ở một nơi tên là Ryongsong, người cảm thấy thương tiếc cho một nạn nhân bại liệt trẻ tuổi. Để khắc phục tình trạng khập khiễng, đứa trẻ cần được ghép xương. Bác sĩ đã cắt một đoạn xương của chính mình và cấy vào chân đứa trẻ.

Những câu chuyện tương tự về việc các bác sĩ hiến máu và thịt của chính mình cho bệnh nhân cũng đã từng được đưa ra thường xuyên từ bộ máy tuyên truyền của Triều Tiên kể từ khi phong trào Chollima bắt đầu vào cuối những năm 1950.  Trong số đó có trường hợp bác sĩ hiến da cho nạn nhân bị bỏng, thậm chí có trường hợp bác sĩ phẫu thuật mắt đang chuẩn bị ghép mô giác mạc của chính mình cho bệnh nhân thì vợ và con gái bác sĩ đồng ý hiến tặng.  Trong trường hợp thứ hai, khi băng được tháo ra và cuộc phẫu thuật thành công, người được ghép giác mạc được cho là đã rơi nước mắt “vì một hệ thống xã hội chủ nghĩa hạnh phúc và sự chăm sóc chu đáo của Lãnh tụ Vĩ đại.” Dù đúng hay không, những câu chuyện đó là một trong những phương tiện mà chế độ sử dụng để tìm cách xóa bỏ những dấu vết cuối cùng của lối tư duy và hành động trước cách mạng nhằm tạo ra một kiểu người mới – vị tha, có tinh thần dân tộc và cống hiến cho việc tạo dựng thành công một thiên đường xã hội chủ nghĩa trên trái đất.“ Những con người như thế là “những con người cộng sản mới được nuôi dưỡng an toàn dưới sự chăm sóc nồng ấm của Đồng chí Kim Il-sung.”

 

Những câu chuyện minh họa sự xung đột giữa cách làm cũ và cách làm mới. Mặc dù không còn nơi thờ cúng tôn giáo nào – các quan chức tuyên bố rằng bom của Hoa Kỳ đã phá hủy mọi nhà thờ Thiên chúa giáo trong Chiến tranh Triều Tiên – nhưng các phong tục cũ dựa trên niềm tin tôn giáo của cả phương Đông và phương Tây vẫn tồn tại. Một trong những phong tục đó là người chết phải mặc quần áo mới, đặt vào quan tài và chôn cất. Việc lấy mô hoặc toàn bộ nội tạng ra khỏi tử thi là điều cấm kỵ. Những câu chuyện lặp đi lặp lại về việc các bác sĩ hiến thân cho bệnh nhân theo đúng nghĩa đen đã gián tiếp đối đầu với điều cấm kỵ tôn giáo cũ ngay cả khi các quan chức cầu xin những tang gia được chọn đối đầu trực tiếp với nó bằng cách cho phép hiến tạng những thân nhân vừa qua đời. Điều này có thể giải thích tại sao những câu chuyện được lan truyền chính thức lại mơ hồ về câu hỏi tại sao các bác sĩ phẫu thuật không sử dụng xương cá voi hoặc da lợn để cấy ghép chẳng hạn.

Câu chuyện hy sinh quên mình của các bác sĩ xuất phát từ một chiến dịch tuyên truyền nhắm vào chính các nhân viên y tế, tìm cách dạy họ bằng những tấm gương để họ nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với “phúc lợi của nhân dân” và truyền cảm hứng cho họ thực hành “tư tưởng cao đẹp và đạo lý ‘lương y như từ mẫu’”

Trong trường hợp họ có xu hướng quên đi bản thân mình với quần chúng, lương của bác sĩ được giữ ở mức thấp. Mức lương tối đa đối với một bác sĩ có 20 năm kinh nghiệm là 180 won một tháng – 105 USD theo tỷ giá hối đoái chính thức và chỉ gấp đôi mức lương trung bình của người làm công ăn lương ở Triều Tiên nói chung. Sau đó là phần đánh giá chuyên môn, dường như bao gồm ít nhất một phần trong “các buổi phê bình” điển hình ở các nước cộng sản. Trong khi phỏng vấn Bác sĩ Han Ungse, Giám đốc phụ trách điều trị và y tế dự phòng của Bộ Y tế Công cộng, tôi đã đề cập việc các công nhân ở xưởng chế tạo máy kéo mà tôi đến thăm thiếu kính bảo hộ, mũ bảo hiểm, ủng cứng và tấm bảo vệ cho máy cắt kim loại của họ. Han trả lời, đôi chút đáng ngại, rằng bác sĩ phụ trách sức khỏe và an toàn của nhà máy “sẽ bị phê bình”.

Nói rằng họ đang làm theo ý tưởng của Kim Il-sung cho rằng “con người là vốn quý nhất”, các quan chức rất tự hào vì đã thiết lập được một hệ thống chăm sóc sức khỏe từ khi sinh ra đến khi chết được bảo đảm theo hiến pháp, miễn phí. Thủy thủ đoàn của Hải quân Hoa Kỳ trên tàu Pueblo đã báo cáo trải nghiệm đáng nói của mình với các dịch vụ y tế Triều Tiên và quan điểm của họ không hề tích cực. Nhưng không có cơ hội thực sự để xác minh tính chính xác của dư luận Triều Tiên về chất lượng chăm sóc sức khỏe, tôi không thể loại trừ khả năng có nhiều sự thật trong những khẳng định chính thức rằng người dân trong nước hài lòng với hệ thống mà nó tồn tại vào năm 1979. Việc so sánh chính thức luôn luôn là với tình trạng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước khi thành lập nhà nước cộng sản – một sự so sánh cho phép khoe khoang một hệ thống xã hội chủ nghĩa mang tinh thần dân tộc, tự lực phục vụ nhân dân tốt hơn biết bao. Trong giai đoạn trước năm 1945, Bác sĩ Han của Bộ Y tế Công cộng nói với tôi, hệ thống y tế phản ánh quan điểm của người Nhật coi người Triều Tiên là những bánh răng có thể sử dụng được trong nền kinh tế thuộc địa. Do đó, bệnh viện công không có giường và có ít hơn ba trăm giường tư. Han cho biết các bác sĩ y khoa (có lẽ không bao gồm các thầy thuốc Đông Y) có số lượng ít hơn 30 người, một số hồ sơ thậm chí đưa ra con số là 9.

Vào thời điểm tôi đến thăm, Han nói với tôi rằng Triều Tiên đã có hơn 30.000 bác sĩ – cứ 400 người thì có một bác sĩ.

Miền Bắc có 10 trường cao đẳng y tế, một trường cao đẳng dược và 12 trường khác dạy điều dưỡng, nha khoa, hộ sinh, v.v. Các bệnh viện quy mô nhỏ với đơn vị 11 giường phục vụ các làng. Các bác sĩ được tổ chức để chăm sóc cho các nhóm gia đình. Thẻ hồ sơ bệnh án của mỗi cá nhân sẽ theo họ suốt cuộc đời. Họ nói rằng trong suốt 34 năm sau khi giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật Bản, các nhân viên y tế đã diệt trừ được bệnh tả, bệnh dịch hạch, sốt rét, giang mai và lậu. Tuổi thọ trung bình đã tăng lên hàng thập kỷ, đạt 70 đối với nam và 76 đối với nữ.

Tôi bị hấp dẫn bởi yếu tố chủ nghĩa dân tộc nổi bật trong suy nghĩ của người Triều Tiên về chăm sóc sức khỏe. Tôi nghe thấy những lời khẳng định mơ hồ, không có căn cứ rằng người Triều Tiên độc đáo trong nhu cầu chăm sóc sức khỏe và rằng – một phần vì sự độc đáo đó, và phù hợp với triết lý  juche – các phương pháp điều trị tại địa phương là tốt nhất. Bác sĩ Han cho biết, ngay cả khi đã đăng ký khoảng 3.000 tạp chí y tế nước ngoài, 32 cơ quan nghiên cứu y tế ở Triều Tiên vẫn “phát triển khoa học y tế theo tiêu chuẩn thể chất của nhân dân chúng tôi. Một số bác sĩ của chúng tôi đã học ở nước ngoài, nhưng hầu hết chúng tôi đã đào tạo họ ở các trường đại học trong nước.” Bản thân Han là một trong những sản phẩm của địa phương, ông nói mình từng là “công nhân” trước năm 1945. “Tất nhiên những người đi du học đều biết rõ về các phương pháp chữa trị của thế giới,” ông nói, “nhưng họ không biết rõ cách chữa trị người dân chúng tôi theo đặc điểm thể chất riêng của họ.”

Theo lối suy nghĩ này, Triều Tiên sản xuất hầu hết các loại thuốc tiêu dùng đại trà.  Khoảng 60 phần trăm sản phẩm đó đại diện cho các loại thuốc truyền thống của phương Đông, chẳng hạn như những loại thuốc mà cha của Kim Il-sung đã phân phát ở Mãn Châu. “Thuốc phù hợp với người nước ngoài có thể không phù hợp với chúng tôi”, Han nói với tôi. Ngoài ra, ông nói, người dân còn ưa chuộng các loại thuốc bổ tự chế và cây nhà lá vườn, các loại thuốc chữa cảm lạnh và hỗ trợ tiêu hóa. Nổi tiếng nhất trong số đó là củ nhân sâm, được cho là có tác dụng kéo dài tuổi thọ. Nó mọc nhiều nơi ở châu Á – nhưng nhân sâm có tác dụng chữa bệnh tốt nhất chỉ mọc ở Hàn Quốc, xung quanh Bàn Môn Điếm, tôi được biết.

Tôi gặp phải một số bằng chứng cho thấy sự kết hợp giữa y học phương Đông cổ truyền và y học phương Tây hiện đại có thể chưa đầy đủ. Tại trang trại hợp tác xã Chonsamri, tôi đến thăm bệnh viện nhỏ. Bên ngoài tòa nhà, một quan chức nông trại chỉ vào vườn thảo dược. Vị quan chức này cho biết: “Khi Lãnh tụ Vĩ đại của chúng tôi đến thăm đây, ông ấy đã dạy chúng tôi phải sản xuất ra nhiều dược liệu”. Sau đó, một phụ nữ được mô tả là “trợ lý bác sĩ” dẫn tôi đi tham quan bên trong phòng khám: phẫu thuật, nội khoa, vật lý trị liệu, phòng thí nghiệm, dược, nha khoa, sản phụ khoa.

Tuy nhiên, trước một phòng điều trị, cô vẫn im lặng. Một ông già gầy gò, nhếch nhác đứng ở ngưỡng cửa căn phòng đó nhìn tôi chằm chằm. Người phụ nữ hướng dẫn tôi tỏ ra khó chịu và cố đóng cửa vào mặt ông già. Giữ vững lập trường, ông tiếp tục nhìn chằm chằm. Người trợ lý bác sĩ cố gắng đóng cửa lại một lần nữa, sau đó tôi hỏi cô ấy chức năng của căn phòng. “Thuốc Triều Tiên,” cô ấy sốt ruột lẩm bẩm, đẩy tôi đi. Những lời giải thích khả dĩ cho sự việc kỳ lạ mà tôi chợt nhận ra là người y sĩ già có thể là một kẻ lập dị – hay một người bài ngoại cực đoan – hoặc ông ta có thể là một kẻ bất mãn bị nghi ngờ chưa được phép nói chuyện với người nước ngoài. Nhưng tôi có xu hướng tin rằng mình đã chứng kiến ​​một trận chiến nhỏ trong cuộc chiến dành sân  chuyên nghiệp. Trong giọng của người phụ nữ, tôi nghĩ mình đã nhận ra giọng điệu trịch thượng mà một số bác sĩ chỉnh hình có thể thể hiện khi nói về thầy thuốc nắn khớp xương. Khi chúng tôi đi ngang qua, tôi thoáng thấy bên trong phòng của ông già đó có một tủ thuốc lớn bằng gỗ theo phong cách truyền thống Triều Tiên với nhiều ngăn kéo nhỏ.

 

Quan điểm chính thức về sức khỏe tâm thần nhấn mạnh việc chăm sóc tương tự bằng các phương thuốc được phát triển tại địa phương. Khi tôi hỏi bác sĩ Han liệu liệu pháp theo phong cách Freud (cha đẻ của ngành phân tâm học hiện đại) có được áp dụng hay không, vẻ mặt bối rối hiện lên trên khuôn mặt người hướng dẫn và thông dịch viên của tôi, cả hai đều là những người có trình độ đại học thông thạo tiếng Anh. Quan chức y tế giải thích sự bối rối của mình: “Tất nhiên các bác sĩ của chúng tôi nghiên cứu điều này, nhưng chúng tôi không giới thiệu nó ở nước mình.” Ông cho biết, các bệnh nhân tâm thần phải nhập viện và điều trị bằng thuốc và sốc insulin. “Chúng tôi có thuốc an thần phương Đông tốt,” Han nói. Các bác sĩ ở Bắc Triều Tiên “không biết chính xác nguyên nhân” của bệnh tâm thần, ông cho biết, và vì vậy nghiên cứu đang được tiến hành. Dù sao đi nữa, ông nói thêm, “không có nhiều bệnh tâm thần – có thể là một hoặc hai trường hợp trên một nghìn” – ở Triều Tiên. “Một số người hỏi tại sao tỷ lệ này lại thấp như vậy. Chúng tôi trả lời rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa của chúng tôi tốt.”

 

Loại bỏ khả năng dễ bị tổn thương trước những thăng trầm của nền kinh tế thế giới, Triều Tiên trong hơn hai thập kỷ đã tuân theo triết lý juche của Kim, trong đó nhấn mạnh việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản. nhu cầu từ các ngành công nghiệp địa phương vốn sử dụng các nguồn lực sẵn có tại địa phương. Hãy nhớ lại rằng trọng tâm hướng nội này của nền kinh tế ban đầu nhằm mục đích giảm bớt sự phụ thuộc vào Liên Xô – vốn ưa thích một thỏa thuận kiểu thuộc địa để trao đổi các sản phẩm hoàn thiện của Liên Xô lấy quặng và các nguyên liệu thô khác của Triều Tiên.

Juche đã dẫn dắt người Triều Tiên phát triển khả năng sản xuất một lượng lớn hàng hóa ấn tượng. Tại Triển lãm Công nghiệp và Nông nghiệp ở Bình Nhưỡng, được tổ chức vào năm 1956, đã trưng bày “những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội”- hàng nghìn sản phẩm, từ máy công cụ tự động, có độ bền cao đến đầu máy xe lửa và máy đào hầm, từ dược phẩm đến đồ chơi, tất cả đều được mô tả là được sản xuất ở Bắc Triều Tiên, một quốc gia có diện tích bằng bang Pennsylvania. “Có lẽ chất lượng cần được cải thiện theo tiêu chuẩn phương Tây,” giám đốc triển lãm, một người tốt nghiệp Đại học Kim Il-Sung, thừa nhận, “nhưng chúng tôi tự hào rằng chúng tôi đã tự mình làm được điều đó.”

Ông nói, trước juche, nước này đã xuất khẩu quặng khoáng sản. Nhưng Kim Il- Sung đã dạy người dân của mình sử dụng những loại quặng đó tại nhà. Mặc dù đất nước thiếu than cốc, nguyên liệu quan trọng trong sản xuất thép, “nhà lãnh đạo đáng kính và kính yêu Chủ tịch Kim Il-sung nói rằng sắt có thể được sản xuất bằng chính nhiên liệu của chúng ta.” Khẩu hiệu của Kim là: “Ưu tiên công nghiệp nặng đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”.

“Chúng tôi đã phát triển ngành công nghiệp của mình để có thể xuất khẩu một lượng lớn máy móc và thiết bị ra nước ngoài,” Giám đốc triển lãm cho biết. “Chúng tôi có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực và chúng tôi cũng đã đặt nền móng cho nền kinh tế của mình.” Ông cho biết các nhà máy đóng tàu của Triều Tiên đang đóng những con tàu 20.000 tấn và sẽ sớm cho ra đời những con tàu 100.000 tấn. Số xe tải dành cho khai thác mỏ đã tăng gần gấp năm lần so với con số năm 1959, ông nói.

Đối với ngành công nghiệp máy công cụ, ngành mà tôi quan tâm kể từ chuyến thăm nhà máy máy kéo, tôi được biết rằng máy khoan hướng tâm của Triều Tiên đang được xuất khẩu sang khoảng năm mươi quốc gia. Danh mục tiếp tục: máy tiện điều khiển số, máy tiện sao chép tự động đa cắt, máy tiện tháp pháo được lập trình tự động, máy phay được lập trình, máy tiện đứng, máy phay công cụ đa năng, máy cắt ren tự động, máy khía bánh răng, búa hơi, máy ép ma sát, máy ép thủy lực và vân vân. Tôi được biết kể từ năm 1946, sản lượng của ngành công nghiệp chế tạo máy đã tăng 1.012 lần và Triều Tiên đã tự cung cấp được 98% về máy móc và dụng cụ. Đã quen thuộc với máy móc, từ công việc mùa hè ở một nhà máy sản xuất máy bay trong những năm tôi học đại học và sau đó, những chuyến đi báo cáo đến vô số nhà máy ở một số quốc gia, tôi rất ấn tượng.

Triều Tiên đã mua những gì họ cần từ các nước khác, sử dụng thay thế để giữ nhu cầu nhập khẩu ở mức tối thiểu. Khí hậu khiến bông khó trồng và có rất ít đất để chăn thả cừu, vì vậy đất nước này phải dựa vào các quy trình do Triều Tiên phát triển để sản xuất sợi từ các nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Đáng chú ý nhất là vinalon, được làm từ than antraxit và đá vôi- giám đốc giải thích cả hai đều “vô tận ở nước chúng tôi”. (Ông nói thêm rằng khi đến thời điểm xây dựng nhà máy vinalon đầu tiên, “Lãnh đạo Kim đã đích thân chọn địa điểm.”) Sản xuất đã mở rộng đến mức phân bổ vải hàng năm là 35,2 mét cho mỗi người-“vì vậy vấn đề về quần áo là hoàn toàn giải quyết được.”

Bên cạnh than cốc, dầu mỏ là một nguồn thiếu hụt lớn khác ở Triều Tiên vốn giàu khoáng sản. Dầu phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Liên Xô và Trung Đông. Để giảm nhu cầu và do đó phụ thuộc vào người ngoài, chính phủ yêu cầu người lao động phải sống gần nơi làm việc của họ và sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Ở các thành phố, hệ thống xe đẩy sử dụng năng lượng được tạo ra từ các nhà máy thủy điện hoặc đốt than antraxit. Giao thông thưa thớt ít nhất một phần là do chính sách quá độ đó đã khiến Bình Nhưỡng có vẻ gần như hoang vắng, như thể đây là một thành phố ma.

Chính sách juche trái ngược với mô hình phát triển của Hàn Quốc, chủ yếu dựa vào việc thúc đẩy xuất khẩu và khuyến khích đầu tư nước ngoài, một chính sách trong con mắt của Triều Tiên đã khiến miền Nam chẳng khác gì một thuộc địa của Nhật Bản và Hoa Kỳ. Sự khác biệt có thể thấy rõ trong ước tính của Hàn Quốc rằng tổng kim ngạch ngoại thương của Triều Tiên năm 1978 chỉ lên tới khoảng 1,8 tỷ USD – xấp xỉ 1/15 khối lượng ngoại thương của Hàn Quốc.

 

Cho dù đến thăm các nhà máy và trang trại hay chỉ đơn giản là đi xe hàng dặm qua những con đường rộng rãi với hàng cây và những tòa nhà chung cư nhiều tầng gọn gàng ở thủ đô có nhiều công viên của Bình Nhưỡng, tôi nhận thấy sự tương phản giữa những gì người ngoài nói và những gì tôi tận mắt nhìn thấy thực sự rất rõ ràng.  Tôi không phải là du khách đầu tiên thắc mắc liệu chính quyền có sắp xếp cho du khách chỉ xem những nơi trưng bày, được xây dựng – giống như ngôi làng Potemkin của nước Nga thời Sa hoàng – để che giấu tình trạng nghèo đói tiềm ẩn và gây ấn tượng với những người cả tin hay không.  Cơ hội tham gia một chuyến tham quan không có hướng dẫn viên của tôi đến sau khi tôi nhận ra rằng chủ nhà không bao giờ lên lịch hẹn cho tôi từ khoảng một giờ chiều cho đến ba hoặc bốn giờ chiều.  Thay vào đó, họ luôn giục tôi vào phòng nghỉ ngơi. Tôi chợt nhận ra rằng người Bắc Triều Tiên tuân theo phong tục ngủ trưa. Họ rảnh rỗi vào thời gian đó vì những người tôi muốn phỏng vấn sẽ ngủ trưa – và vì chính người hướng dẫn và phiên dịch cũng muốn nghỉ ngơi. Một ngày nọ, sau bữa trưa, tôi ngáp rõ lớn và nói rằng mình muốn nghỉ ngơi. Tôi có thể thấy những biểu hiện nhẹ nhõm – người Mỹ cuối cùng đã chấp nhận chương trình tham quan đặt ra cho mình. Tất cả chúng tôi cùng nhau đi thang máy lên và tôi xuống tầng của mình. Những người quản lý tôi tiếp tục lên phòng của họ ở tầng phía trên tôi.  Ngay khi cửa thang máy đóng lại, tôi đi cầu thang bộ xuống sảnh.  Ở đó, ít nhất trong giây lát, không thấy có ai.  Cố tỏ ra như thể mình biết đang đi đâu, tôi sải bước ra công viên.  Quan sát một cây cầu hẹp, tôi băng qua phía bên kia của một con suối và bước vào nơi mà tôi cho là một thứ gì đó gần giống với thế giới thực của Bình Nhưỡng: vừa là những tòa nhà chung cư gọn gàng vừa hòa lẫn vào cảnh quan đô thị, những nhà kho bẩn thỉu rất thực tế và những cơ sở công nghiệp nhỏ.

Mọi người nhìn tôi cảnh giác. Tôi không biết ai là người đầu tiên chạy đi báo với chính quyền rằng có một người nước ngoài đơn độc đang lẻn vào thành phố, nhưng chỉ vài phút sau tôi quay lại và thấy một người đàn ông đang đuổi theo mình. Y mặc một chiếc áo cộc tay màu xanh lam (tất nhiên có nút chụp chân dung Kim Il-Sung) và quần dài màu xám. Tôi quyết định đùa giỡn với y một chút, nên tôi rẽ vào một con hẻm rồi quay trở lại con phố mà tôi vừa đi bộ. Tôi đã tính toán đường vòng của mình để có đủ thời gian cho một gã đàn ông ngây thơ đi phía sau tôi sẽ rẽ lối vào con hẻm và do đó sẽ dẫn trước tôi khi tôi xuất hiện. Khi ra khỏi ngõ, tôi nhìn thấy người bảo vệ mặc thường phục. Y đã dừng lại trước vật mà tôi cho là một lò luyện thép thu nhỏ nằm trong một nhà kho, nơi y đứng và châm một điếu thuốc. Y đang ngậm điếu thuốc trầm ngâm, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa trong lò như thể đó là một buổi hoàng hôn đặc biệt dễ chịu. Tôi nửa mong đợi y sẽ bắt đầu tuyên bố về “cuộc sống đáng tự hào của những người thợ luyện kim”.

Tôi dừng lại đợi y quay lại rồi nhìn y chằm chằm để y chắc chắn rằng tôi biết điều gì y muốn. Điều gì đã xảy ra với tôi khiến tôi muốn thách thức chính quyền một cách trắng trợn như vậy? Chỉ là một loại xung lực nổi loạn không thể cưỡng lại mà một du khách phương Tây ở Bình Nhưỡng phải chịu đựng sau vài ngày hoặc vài tuần trải qua sự kiểm soát nặng nề của chế độ. Người mặc thường phục chỉ đi theo tôi, không bắt tôi quay lại. Vì vậy, trong một vài giờ tôi tận hưởng thú tự do di chuyển hiếm có.

Tôi trở về khách sạn sau khi đi dạo và thấy những người quản lý đang đợi tôi ở ngoài lối vào, trông không chút hoảng sợ. Một trong họ giận dữ cho rằng “khóa đào tạo gián điệp đặc biệt” đã cho phép tôi lẻn họ đi được. Tôi cười và bảo đảm với anh ta rằng bất cứ ai lớn lên thường xem các chương trình về cảnh sát và ăn cướp trên truyền hình Mỹ đều quen thuộc với những kỹ thuật cơ bản mà tôi đã sử dụng. Tuy nhiên, sau đó, tôi nghĩ lại và nhận ra rằng với tình tiết này, tôi có thể vô tình làm dấy lên mọi suy đoán trong giới quan chức Triều Tiên rằng tôi có thể là đặc vụ Washington mà họ hy vọng tìm thấy trong số các du khách Mỹ. Biết đâu đây là tấm vé của tôi đến với cuộc phỏng vấn Kim Yong-nam?

Những khu vực của Bình Nhưỡng mà tôi thấy chiều hôm đó hóa ra rất giống những địa điểm trong hành trình chính thức: phần lớn được xây dựng kiên cố và sạch sẽ, với những người thực sự sống trong nhiều tòa nhà chung cư bằng gạch màu be, mua sắm trong các cửa hàng và ăn uống. trong nhà hàng.

Tuy nhiên, sự căng thẳng và áp lực vẫn hiện rõ. Vẻ ngoài vắng vẻ của Bình Nhưỡng hầu hết thời gian cả ngày lẫn đêm không hoàn toàn là kết quả của chính sách nhà ở và giao thông công cộng. Với nguồn nhân lực được căng giãn gần như đến điểm tới hạn khiến không ai có nhiều thì giờ để đi dạo phố. Như tôi đã biết ở nhà máy kéo, chính phủ tuyên bố rằng quy định ngày làm việc tối đa tám giờ được thực thi, tám giờ nữa dành cho học tập và tám giờ còn lại để nghỉ ngơi, theo chỉ thị của Chủ tịch Kim.  Các công viên và khu nhà ở gần như trống rỗng cho đến tận tối muộn.  Nhà trẻ giữ trẻ đến 8 giờ tối.  hoặc muộn hơn trong khi mẹ của họ, nếu họ không làm việc ngoài giờ, có lẽ đã tham gia các buổi học nhóm.

Trong số những vấn đề lớn mà chế độ phải đối mặt vào thời điểm đó, nhu cầu cung cấp nhiều hàng tiêu dùng tốt hơn và nhiều hơn là ưu tiên hàng đầu. Khi phó giám đốc trang trại Chonsam-ri khoe với tôi về nhu cầu tiêu tiền hạn chế của người dân, ông ấy đã không đề cập đến việc có rất ít thứ trong các cửa hàng để họ mua.

Hãy nhớ lại rằng chế độ này, ngay sau Chiến tranh Triều Tiên, đã giải quyết các tranh chấp chính sách theo hướng có lợi cho công thức của Chủ tịch Kim là dốc toàn lực xây dựng ngành công nghiệp nặng, trì hoãn việc cải thiện mức sống khắc khổ cho đến sau này. Rồi đến những năm 1960 và chính sách quân phiệt của Kim. Như học giả Joseph Sang-hoon Chung đã lưu ý vào năm 1974, người dân Triều Tiên trung bình, “mặc dù cuộc sống của họ đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa được hưởng lợi hoàn toàn từ sự phát triển kinh tế.” Có thể thấy rõ điều đó bằng cách so sánh các máy công cụ có thể sử dụng được của Triều Tiên với hàng tiêu dùng nói chung là khan hiếm, thô sơ và đơn điệu thiếu đa dạng. Đất nước đã sản xuất được những thiết bị cơ bản – tủ lạnh, máy giặt điện, nồi cơm điện, tivi – nhưng vẫn chưa đưa chúng đến mọi hộ gia đình. Một quan chức cho biết việc đó sẽ mất “vài năm”. Đồ đạc trông như thể bị học sinh trong lớp học nghề đập phá; quần áo nhìn chung được may kém; máy quay đĩa trong phòng khách sạn không hoạt động.

Trong một thời gian, các quan chức cấp cao của Triều Tiên đã thừa nhận vấn đề. Cải thiện từng là mục tiêu chính của kế hoạch kinh tế 6 năm vừa mới kết thúc, nhưng các nhà lập kế hoạch đã đạt được rất ít tiến bộ về điểm số đó. “Cải thiện đời sống nhân dân” là mục tiêu chính của kế hoạch 7 năm hiện nay, trong đó nhấn mạnh việc nâng cấp chất lượng và sự đa dạng của hàng tiêu dùng. Trong bài phát biểu năm mới, Kim Il-sung đã nói rằng vào năm 1979 đất nước phải “nâng cao mức sống của người dân. Tất cả các nhà máy trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ phải hoạt động hết công suất để sản xuất nhiều hàng tiêu dùng hơn.”

Một phần của vấn đề chất lượng được cho là xuất phát từ sự lười biếng của một số công nhân, những người thiếu thái độ cộng sản “một người vì mọi người, mọi người vì một người” và những người không cư xử, theo cách nói của Chủ tịch Kim, như “những người làm chủ của đất nước”.  Một người quản lý nhà kính cho biết, nếu một công nhân không làm tốt công việc, “chúng tôi sẽ giáo dục anh ta về mặt tư tưởng và chính trị để anh ta có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình”.  Các buổi phê bình có thể được tổ chức—“Nó giống như sự hỗ trợ lẫn nhau để anh ấy có thể sửa chữa sai lầm của mình và trở thành một người làm vườn giỏi.” Nếu một công nhân làm việc tốt, “chúng tôi khen ngợi và tôn vinh anh ta.” Nhưng người quản lý nói rằng đó “không phải là một thủ tục đặc biệt cố định”.

Các quan chức thừa nhận, trong giai đoạn phát triển đó của xã hội Triều Tiên, cần phải áp dụng một hệ thống khuyến khích vật chất. Các nhóm làm việc được nhận thêm tiền khi không chỉ vượt chỉ tiêu số lượng mà còn cả tiêu chuẩn chất lượng, và họ phải nhận mức lương thấp nếu công việc của họ không thành công. “Khi chúng tôi đang áp dụng hệ thống kế toán chi phí do Lãnh tụ vĩ đại của chúng tôi, đồng chí Kim Nhật Thành lập ra, khi chúng tôi sản xuất nhiều hơn chúng tôi có thể kiếm thêm tiền nhưng khi sản xuất ít hơn chúng tôi nhận được ít hơn”, người quản lý nhà kính cho biết.

Một cách rõ ràng khác để cải thiện chất lượng hàng hóa là giảm sự phụ thuộc vào công nghệ phát triển trong nước – theo đó người Triều Tiên đã phát minh lại, nói một cách ẩn dụ, bánh xe trong một số lĩnh vực và nhập khẩu thành phẩm hoặc máy móc để sản xuất chúng. Thật vậy, các nhà lãnh đạo đất nước muốn nhập khẩu thêm công nghệ được lựa chọn từ những nước tiên tiến nhất trong từng lĩnh vực, thường là từ phương Tây và Nhật Bản. Vấn đề ở đây là Bình Nhưỡng nổi tiếng là con nợ khó đòi.

Ước tính thông thường của người ngoài là Triều Tiên nợ nước ngoài khoảng 2 tỷ USD. Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản đã chia nhỏ số tiền đó là 300 triệu USD nợ các chủ nợ Nhật Bản, 500 triệu USD đối với người phương Tây và từ 1 tỷ đến 1,2 tỷ USD đối với các nước cộng sản khác. Những lời hứa định kỳ ít nhất trả tiền lãi đến hạn cho những khoản nợ đó đã không được thực hiện. Séc của Triều Tiên được ghi trên tài khoản ngân hàng của nước thứ ba thậm chí đã bị trả lại vì thiếu tiền để trang trải. Mặc dù các quan chức bây giờ đã nói đến việc trả nợ vào năm 1984, nhưng các chủ nợ nước ngoài vẫn bi quan về việc lấy lại được tiền của họ ngay cả khi đó. Họ viện dẫn cả sự không đáng tin cậy của những đảm bảo trong quá khứ từ Bình Nhưỡng và nghi ngờ các mục tiêu đầy tham vọng của kế hoạch kinh tế khó thể đạt được.

Phần lớn khoản nợ là dành cho nhà máy và thiết bị nhập khẩu trong chương trình cấp tốc nhằm nâng cao trình độ công nghệ và sản lượng của đất nước trong đầu thập kỷ. Người ngoài nhìn chung tin rằng Bình Nhưỡng đã khởi động nỗ lực này mà không có kế hoạch hoặc chuẩn bị gì nhiều, sau các cuộc đàm phán hòa bình của Hội Chữ thập đỏ bị hủy bỏ vào năm 1972-1973 và những cái nhìn thoáng qua gây sốc về những tiến bộ của miền Nam trong mắt quan chức Triều Tiên khi đến thăm Seoul trong các cuộc đàm phán. Động thái nhập khẩu công nghệ chọn lọc của nước ngoài thể hiện sự nới lỏng – nhưng không từ bỏ – chính sách juche của Triều Tiên.

Kế hoạch là thanh toán cho các giao dịch mua ở nước ngoài bằng ngoại hối kiếm được từ việc mở rộng xuất khẩu. Khi lượng xuất khẩu tụt dốc và các khoản thanh toán chậm lại đến mức nhỏ giọt, xếp hạng tín dụng quốc tế của nước này giảm mạnh. Việc mua sắm đã dừng lại. Ví dụ, thương mại với Nhật Bản – vốn là đối tác phi cộng sản lớn nhất của Triều Tiên – đã giảm bớt chỉ còn giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt đối với một số mặt hàng được xử lý thông qua một công ty nhỏ mà người Triều Tiên thành lập tại thuộc địa Macao của Bồ Đào Nha.

Khi tôi gặp giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế Triều Tiên, Ryom Kwon-san, để phỏng vấn, Ryom nhấn mạnh nguyên nhân bên ngoài gây ra vấn đề thanh toán. Đầu tiên, ông nói, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu do lệnh cấm vận dầu mỏ của Ả Rập gây ra và giá dầu tăng cao đã khiến “nhiều” quốc gia từ chối nhận các sản phẩm của Triều Tiên mà họ đã đặt hàng. (Ông chỉ đề cập đến một cái tên, Pakistan.) Xi măng, magnesit dùng làm gạch nung và máy công cụ chất đống ở các cảng của Triều Tiên. Thứ hai, ông cho biết, giá thị trường quốc tế thấp hơn đối với một số mặt hàng, đặc biệt là đồng, đã làm giảm thu nhập ngoại hối ngay cả khi hàng hóa đã được vận chuyển.

Ryom không đề cập đến điều đó, nhưng sau đó tôi đã nghe nói về một yếu tố bên ngoài khác: các quan chức Triều Tiên có thể đã thông đồng trong việc lừa dối đất nước của họ, ngay từ đầu đã tạo ra một bầu không khí tham nhũng chính thức mà sau này trở nên khá phổ biến. Kang Myong-do, phó chủ tịch một công ty thương mại Triều Tiên, nói với một người phỏng vấn tạp chí Hàn Quốc: “Đất nước đang trong tình trạng như vậy và các quan chức chỉ biết lấy tiền cho mình. Nhà máy đồng hồ Moranbong được xây dựng vào năm 1978 với các linh kiện của nhà máy Thụy Sĩ. , nhưng chúng quá tệ. Người sắp xếp việc này đã nhận được tiền lại quả từ phía Thụy Sĩ vì đã trả rất nhiều tiền cho máy móc cũ.”

Khi tôi ép Ryom nói liệu một số lỗi có phải do chính Triều Tiên hay không, ông ấy thừa nhận rằng sự chậm trễ trong chương trình mở rộng cảng đã khiến các chuyến hàng không thể xuất khẩu ngay cả trong trường hợp người mua sẵn sàng chấp nhận chúng. Ông nói, quốc gia này “có thể” gặp khó khăn trong việc cung cấp hàng hóa kịp thời và “có thể” là nạn nhân của sự thiếu kinh nghiệm trong thương mại với các nước không cộng sản

Ryom cho biết nước này đang hoàn thành các dự án mở rộng tại các cảng Nampo, Haeju, Hungnam và Chongjin. Ông cho biết, để nâng cấp năng lực cho đội tàu buôn Triều Tiên, các nhà máy đóng tàu đã chuyển sang đóng tàu chở hàng 20.000 tấn bên cạnh các mẫu cũ chỉ 10.000 tấn. Ông nói, ông không thể đưa ra con số về tổng trọng tải đội tàu hiện tại vì ông không phải là “chuyên gia trong lĩnh vực này”. Ryom gợi ý rằng chuyến thăm cảng Nampo, về phía hạ lưu Bình Nhưỡng, gần bờ biển phía tây của đất nước, sẽ chứng minh những gì đang phát triển ở cảng. Nhưng tôi chưa bao giờ được phép dù đã nhiều lần yêu cầu. Bruce Dunning của Đài truyền hình CBS đã đến cảng chở hàng khô và nói với tôi rằng ông thấy việc nạo vét đang được tiến hành cũng như việc xây dựng để bổ sung thêm bến mới cho bảy hoặc tám bến hiện có. Khoảng mười chiếc tàu đã cập cảng. Một tàu container đăng ký ở Panama đang được chất hàng nhưng bằng cần cẩu thông thường kiểu cũ; máy kéo nông trại kéo các toa xe chở hàng đông hơn xe nâng.

Với việc cải thiện phương tiện giao thông, Ryom nói với tôi, “chúng tôi nghĩ rằng khoản nợ sẽ được trả sớm. Khi đó, Triều Tiên có thể tiến hành thực hiện “đường lối chính của đảng chúng tôi – nỗ lực nhiều hơn để phát triển ngoại thương trong những năm tới.” Hiện tại, “chúng tôi chủ yếu xuất khẩu xi măng, clanhke magnesit và các sản phẩm kim loại “, ông nói. “Nhưng chúng tôi cũng sẽ nhấn mạnh đến việc xuất khẩu máy công cụ, máy cái. Ông nói, chúng tôi sẽ tăng công suất các nhà máy của mình.” Nhu cầu nước ngoài đối với xi măng của Triều Tiên đang tăng lên nhanh chóng, ông nói, và nếu kế hoạch 7 năm thành công, nước này vào năm 1984 có thể kiếm được 1 tỷ USD mỗi năm từ xuất khẩu xi măng, thép, phân bón hóa học và kẽm.

Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, một số nhà quan sát bên ngoài không nhận thấy nhiều dấu hiệu cho thấy xu hướng tăng trưởng trong xuất khẩu sẽ giúp Triều Tiên trả hết nợ. Một nhà phân tích của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản ở Tokyo đã ghi nhận sự sụt giảm của Triều Tiên trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như kẽm và chì từ năm 1977 đến năm 1978 trong khi xuất khẩu hàng dệt may và nhiều nông sản ra nước ngoài hơn.

Quan chức Triều Tiên tỏ ra không hiểu tại sao giới tư bản lại khó chịu đến vậy về những vấn đề như séc bị trả lại [séc bị từ chối thanh toán vì chủ tài khoản không có đủ tiền để giao dịch.] Ví dụ, Ryom, được giới thiệu với tôi là một trong những nhà kinh tế hàng đầu của đất nước, đã nói: “Nợ của chúng tôi không nhiều. Tôi nghĩ không có quốc gia nào mà không mắc nợ”. Trong khi đó, sự thiếu kiên nhẫn của một số chủ nợ nước ngoài đang tiến đến mức coi thường công khai, thường bày tỏ rằng Triều Tiên có thể thanh toán các hóa đơn nếu họ thực sự muốn. Nhật báo kinh tế hàng đầu của Nhật Bản, Nihon Keizai Shimbun, đã đưa tin vào tháng 1 năm 1979 rằng các nhà máy xi măng và lò nướng được nhập khẩu từ Nhật Bản nhưng chưa bao giờ được thanh toán, đã được đưa vào hoạt động ở Triều Tiên và có thể sản xuất hàng xuất khẩu để kiếm ngoại tệ. Thêm vào đó là nền kinh tế trong nước có vẻ đã được cải thiện, tờ báo cho biết, và các doanh nhân Nhật – với “nhận thức thiếu tin cậy ngày càng tăng” – thắc mắc tại sao Triều Tiên không chịu trả tiền.

Một nhà ngoại giao phương Tây từng làm việc với Bình Nhưỡng thậm chí còn tỏ ra  cay đắng sỗ sàng hơn trong những bình luận của mình sau nhiều năm bị thất hứa. Ông cho rằng Triều Tiên có thể đã đạt được các mục tiêu kinh tế và trả nợ nếu thoát khỏi nạn sùng bái cá nhân kỳ lạ xung quanh Kim và ngừng chi những khoản tiền khổng lồ cho các lễ hội tôn vinh “Nhà lãnh đạo đáng kính và yêu quý”.

Đối mặt với những lời chỉ trích như vậy, các quan chức Bình Nhưỡng có xu hướng tấn công. Một cách tiếp cận là đổ lỗi cho những người cho vay và phương tiện truyền thông phương Tây đã thổi phồng  vấn đề nợ nần. Bai Song-chul, viên chức đã kể cho tôi nghe câu chuyện mình là một đứa trẻ mồ côi, ngồi cùng với tôi trong cuộc phỏng vấn Ryom. Với thái độ thiếu kiên nhẫn, Bai xen vào một thông điệp cứng rắn điển hình  để tôi chuyển đến các chủ nợ của nước mình: “Nếu các ông im lặng, các ông sẽ được trả nợ sớm, nhưng nếu các ông la hét, các ông sẽ được trả nợ muộn.”

Tôi đã rất bối rối trong và sau cuộc gặp với Ryom khi nhận ra rằng một nhà kinh tế học Triều Tiên gần như không biết gì về những đánh giá của một nhà kinh tế phương Tây về lĩnh vực của mình.  Tôi đã yêu cầu những người quản lý tôi sắp xếp cho tôi gặp một người có tầm nhìn rộng để nói chuyện về nền kinh tế.  Ryom đủ điều kiện, trên giấy tờ.  Ngoài việc chỉ đạo Viện Nghiên cứu Kinh tế, ông còn là Chủ tịch Hội Nghiên cứu Kinh tế, ông là trưởng khoa kinh tế tại trường Đại học Kinh tế Nhân dân. Nhưng ông ấy tỏ ra khác xa so với những nhà kinh tế có năng lực cao mà tôi đã từng nói chuyện ở Hàn Quốc và các nước khác. Tôi không hài lòng với những thông tin tôi đã thu thập được từ ông ấy trong buổi gặp đầu tiên kéo dài ba hoặc bốn tiếng đồng hồ, vì vậy tôi đã yêu cầu ông ấy quay lại vào một ngày khác cho buổi họp thứ hai. Phiên thứ hai kéo dài tương đương nhưng tỏ ra không đạt yêu cầu. Vấn đề có thể không nằm ở bản thân Ryom mà là việc chế độ cố tình giữ kín thành quả kinh tế của mình.

Các nhà phân tích bên ngoài cho rằng người Triều Tiên vào thời điểm mạo hiểm tham gia thị trường thế giới thực sự không hiểu được động thái lên xuống của các thị trường đó, họ chỉ quen với việc trao đổi hàng hóa chính thức giữa các nước cộng sản. Tôi tự hỏi liệu bản thân Ryom có ​​ám chỉ đến sự thiếu hiểu biết này khi nhận xét: “Nhân dân chúng tôi đã học bảng chữ cái sau khi giải phóng và không biết rõ ngoại ngữ”. Trên thực tế, Triều Tiên đã bắt đầu nhấn mạnh việc học ngoại ngữ ở trường học. Nhưng làm thế nào đất nước bị cô lập từ lâu này có thể nhanh chóng tạo ra một đội ngũ chuyên gia thương mại thế giới tinh vi thông qua một hệ thống giáo dục cứng nhắc tập trung hạn hẹp vào cuộc đời, thời đại và tư tưởng của Chủ tịch Kim trên thực tế được thần thánh hóa? Kim đã chỉ đạo vào tháng 9 năm 1978 rằng “tất cả sinh viên đại học phải thành thạo nhiều hơn một ngoại ngữ để học khoa học và công nghệ tiên tiến”, và một danh sách những người Triều Tiên đi du học ở nước ngoài tính đến tháng 2 năm 1979 đã lên tới hơn 400 người đang theo học tại các trường đại học. các lĩnh vực như ngôn ngữ, khoa học, toán học, y học và ngoại ngữ. Tuy nhiên, không có một sinh viên kinh tế nào được liệt kê trong số đó.

 

Ngoài hàng tiêu dùng, nợ nần và các vấn đề khác, nền kinh tế chỉ huy của Kim Il-sung dường như đã tự xây dựng được cho mình một nền tảng ấn tượng. Tôi tin rằng tôi có thể thấy được tầm quan trọng của thành tựu khi rời đất nước, lần này đi tàu từ Bình Nhưỡng đến Bắc Kinh. Khung cảnh của những ngôi nhà nông trại gọn gàng, đồ sộ, những chiếc máy kéo và máy trồng lúa được chăm sóc cẩn thận, các thị trấn được xây dựng vững chãi nhường chỗ khi qua sông Áp Lục cho những túp lều nông thôn tồi tàn, những khu ổ chuột ở đô thị, người dân và gia súc lao động cật lực trên đất nước Trung Quốc.

Đoàn tàu gồm các toa khách sơn màu xanh lá cây, hầu hết chia thành các buồng, mỗi buồng có hai giường tầng dưới và hai giường tầng trên, cộng thêm một toa ăn uống. Rõ ràng, nơi hòa đồng nhất là toa ăn, và tôi ngồi ở đó trong phần lớn thời gian của chuyến đi, luân phiên nhìn ra ngoài cửa sổ và nói chuyện chính trị với đủ loại hành khách, vào những thời điểm khác nhau bao gồm người Hungary, người Nga, người Mỹ, người Nhật, người Hà Lan và người Scotland. (Đến bây giờ thì tôi không ngạc nhiên khi không có người Bắc Triều Tiên nào trò chuyện với tôi.)

Chúng tôi bắt đầu chuyến đi bằng cách đi qua các bãi đường sắt của Bình Nhưỡng, nơi những toa chở hàng thân gỗ xếp thành hàng trên đường tàu tránh. Khu vực thành thị dần dần biến mất và chúng tôi đang đi vào vùng nông thôn. Ở đây cũng như trước đó tôi đã thấy một số máy kéo và một số máy cấy lúa. Tuy nhiên cũng còn bò dùng để kéo xe. Những ngôi nhà ở một số nơi có vẻ tồi tàn hơn một chút so với những ngôi nhà tôi từng thấy ở những vùng khác của Triều Tiên – nhưng ngay khi tôi lưu ý đến những nơi này tôi liền đi tới các làng nông nghiệp khác được tạo thành từ những cụm nhà chung cư nông thôn mới hơn mà nhà nước đang xây dựng. Chất lượng đất ở phía Bắc Triều Tiên dường như giảm đi khi chúng tôi đến gần thành phố Sinuiju và sông Áp Lục, con sông tạo thành biên giới với Trung Quốc. Ở khu vực đó, đất sét đỏ trông khô và chiếm ưu thế giống như những cánh đồng nghèo xung quanh ngôi nhà thời thơ ấu ở Georgia của tôi, nơi chất dinh dưỡng đã bị rửa trôi qua nhiều thế hệ trồng bông một vụ và không còn có thể hỗ trợ cây trồng nào khác  hơn cây thông. Tuy vậy, mọi thứ vẫn gọn gàng ngăn nắp, tôi không thấy cảnh cơ cực nào cả.

Khi qua sông Áp Lục, cách xử lý bên ngoài ưa thích của các tòa nhà đã thay đổi từ vữa màu kem sang gạch đỏ. Chúng tôi dừng chân ở thành phố Đan Đông của Trung Quốc. Trong khi chờ đợi một đầu máy xe lửa khác được gắn vào, chúng tôi đi qua khu nhập cảnh  Trung Quốc trong một tòa nhà ga có những bức chân dung lớn được đóng khung   các nhà lãnh đạo Trung Quốc lúc bấy giờ thay thế cho chân dung Kim Il-sung.

Sau đó, tàu qua một vùng nông thôn Trung Quốc, hoàn toàn trái ngược với những gì tôi đã thấy ở miền Bắc Triều Tiên. Xe do bò và lừa kéo chiếm phần lớn lưu lượng xe cộ bên ngoài cửa sổ xe lửa của chúng tôi. Ngay cả để di chuyển một tảng đá lớn, một nhóm công nhân không có gì ngoài một chiếc xe lừa. Người Trung Quốc vào năm 1979 hầu như không có máy kéo. Nhiều ngôi nhà chúng tôi đi qua được lợp bằng tranh, ít lợp ngói hơn ở Triều Tiên và những ngôi nhà thường trông nghèo nàn hơn. Ở các làng mạc, thị trấn và thành phố, cảnh quan từ tồi tàn đến đổ nát.

Tuy nhiên, trong khi những gì tôi thấy về Triều Tiên có vẻ ổn định, gần như thịnh vượng và dường như đã đi trước một cách rõ rệt trong các lĩnh vực quan trọng như cơ giới hóa trang trại và nhà ở tươm tất, Trung Quốc chỉ có lợi thế rõ ràng ở một hạng mục. Trong khi người ta có thể đi một chuyến tàu Bắc Triều Tiên trong thời gian dài mà không thấy nhiều sinh hoạt  của con người, thì Trung Quốc lại mang đến một bức tranh toàn cảnh liên tục về sức sống – người dân ở khắp mọi nơi, đi xe đạp, đi bộ, câu cá ở một kênh thủy lợi, lớn tiếng mặc cả.

Tất nhiên, Trung Quốc là một quốc gia cộng sản khác mà chính quyền đã tìm cách áp đặt sự kiểm soát toàn trị. Tuy nhiên, một phần vì đây là một đất nước rộng lớn nên Anh Cả không thể truyền bá cho và giám sát người dân ở đó một cách triệt để và hiệu quả như ở Triều Tiên. Quả thực, cuộc sống ở Trung Quốc đã bắt đầu thay đổi. Mao Trạch Đông đã chết và cùng với ông là cuộc Cách mạng Văn hóa vô sản thảm khốc. Dù chưa biết nhưng sức sống mà tôi nhìn thấy đã tiếp thêm sức mạnh cho những thay đổi đáng kinh ngạc sắp đến với Trung Quốc dưới sự cai trị có tư tưởng cải cách của Đặng Tiểu Bình.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, nếu tôi có thể ghi nhận những gì mắt tôi nhìn thấy được về mặt phát triển kinh tế, thì sự so sánh giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc dường như gây sửng sốt hơn nhiều so với bất kỳ điều gì có thể xảy ra giữa Bắc và Nam Triều Tiên. Điều đó dường như có thể giải thích được một phần, ít nhất, tại sao chế độ Bình Nhưỡng chỉ thỏa mãn với những độ lệch nhỏ so với tình trạng quá khứ. Có lẽ bản thân các nhà lãnh đạo miền Bắc đã bị ru ngủ bởi những thành tựu của mình, nên coi các báo cáo về những tiến bộ của miền Nam ít nghiêm túc hơn cần thiết khi hệ thống của chính họ không có nhiều thử để khoe khoang.

Bình luận về bài viết này