
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
TÁM : Những bông hoa tình yêu vĩ đại của Người đang nở rộ
Đầu những năm 1970, các vấn đề trong nước bắt đầu khiến Kim Il-sung xao lãng sứ mệnh lâu dài là thống nhất Triều Tiên. Các vấn đề kinh tế ngày càng trở nên rõ ràng hơn ở miền Bắc. Điều mà Kim quan tâm hơn nữa là khi sinh nhật lần thứ sáu mươi của ông đến gần, đó là quyết tâm sắp xếp người kế vị mình sao cho bảo đảm được mạng sống của mình và sau đó của hệ thống và hệ tư tưởng mà ông đã thiết lập.
Thật tình cờ, vào tháng 8 năm 1971, Hội Chữ thập đỏ Hàn Quốc đề xuất một cuộc gặp với đối tác phía Bắc để thảo luận về các vấn đề của các gia đình bị chia cắt – tìm kiếm người thân, cung cấp thông tin cho phía bên kia về tình trạng của họ và cuối cùng là sắp xếp các cuộc đoàn tụ. Đề xuất này liên quan nhiều đến những cân nhắc chính trị trong nước ở miền Nam, nơi Park Chung-hee đang ở giai đoạn quan trọng trong việc củng cố chế độ của mình. Bằng cách cho thấy mình sẵn sàng đàm phán với miền Bắc, Park hy vọng sẽ cải thiện vị thế của mình với người dân Hàn Quốc bất an về vấn đề của thống nhất và chủ nghĩa dân tộc đang bùng phát. Bình Nhưỡng và Seoul đã lớn tiếng qua lại với nhau trong nhiều thập kỷ nên không có gì đảm bảo rằng miền Bắc sẽ chấp nhận hoặc phía miền Nam thực sự mong đợi họ chấp nhận. Nhưng vì Kim Il-sung cần chút thời gian để thở nên miền Bắc đã đồng ý gặp mặt.
Sau khi các cuộc đàm phán sơ bộ diễn ra được gần một năm, Park Chung-hee đã gửi Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Lee Hu-rak thực hiện một nhiệm vụ bí mật tới Bình Nhưỡng để nói chuyện với Kim Il-sung và em trai ông, Kim Yong-ju, người lúc đó đang điều hành Ban Chỉ đạo và Tổ chức đầy quyền lực của Đảng Lao động. Đến lượt mình, Triều Tiên cử đặc phái viên Pak Song-chol đến nói chuyện với tổng thống Hàn Quốc và các quan chức khác ở Seoul. Ngày 4 tháng 7 năm 1972, hai miền Triều Tiên ra thông cáo chung kêu gọi thống nhất một cách hòa bình, không có sự can thiệp từ bên ngoài và một sự hòa giải giữa hai miền sẽ vượt qua mọi khác biệt về hệ tư tưởng và thể chế. Trong khi đó, họ cam kết các bước nhằm giảm bớt căng thẳng: chấm dứt vu khống và xúc phạm lẫn nhau, ngăn cản các sự cố quân sự vô tình và lắp đặt đường dây điện thoại nóng giữa Seoul và Bình Nhưỡng. Một Ủy ban Điều phối Nam-Bắc sẽ làm việc để thực hiện các thỏa thuận này.
Vào năm 1971 và 1972, Hoa Kỳ đã đưa về nước một trong hai sư đoàn bộ binh đóng tại Hàn Quốc. Điều đó phù hợp với Học thuyết Guam của Tổng thống Richard Nixon, trong đó cho rằng người Mỹ nên giảm bớt gánh vác trách nhiệm phòng thủ mặt đất của các đồng minh châu Á – và các đồng minh cũng nên tăng cường sự chuẩn bị phòng thủ mặt đất của mình một cách tương ứng. Chính sách mới của Mỹ cũng có thể phản ánh sự thay đổi rõ ràng của Bình Nhưỡng hướng tới một chính sách ít đối đầu hơn.
Nỗ lực đạt được hòa giải Bắc-Nam chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Như đã trở thành khuôn mẫu, Hàn Quốc đề xuất giải quyết trước tiên các vấn đề kinh tế và xã hội. Hai bên sẽ xây dựng niềm tin lẫn nhau bằng cách giải quyết một số vấn đề trên và sau đó dần dần hướng tới giải pháp cuối cùng, phức tạp hơn nhiều, vấn đề chính trị và quân sự. Triều Tiên thì nhất quyết đi thẳng vào vấn đề quân sự. Khi Hàn Quốc từ chối thảo luận về việc rút số quân còn lại của Mỹ, Triều Tiên quay lại mục tiêu chính và khẳng định rằng sự hiện diện của nước ngoài như vậy đã cản trở cam kết thống nhất chung “không có sự can thiệp từ bên ngoài”. Sau ba phiên họp toàn thể xen kẽ giữa các thủ đô tương ứng, Triều Tiên đã hủy bỏ đối thoại vào tháng 8 năm 1973. Hoa Kỳ trong năm đó đã tăng cường kế hoạch thường trực của mình để ứng phó với bất kỳ cuộc xâm lược mới nào vào miền Nam.
Kim đã không từ bỏ chính sách ngoại giao. Ông đã tham gia vào một cuộc cạnh tranh với Hàn Quốc để đảm bảo sự công nhận và ủng hộ về mặt ngoại giao từ càng nhiều quốc gia càng tốt, điều này rất hữu ích trong việc thu thập phiếu bầu của Liên hiệp quốc. Để đạt được mục tiêu đó, Bình Nhưỡng đã coi Kim như một ngọn hải đăng cho nhiều quốc gia kém phát triển thuộc Thế giới thứ ba, lôi kéo họ bằng viện trợ và thúc giục họ noi theo các chính sách và thực tiễn của Triều Tiên. Năm 1975, Triều Tiên đã giành được quyền tham gia diễn đàn chính của họ, Phong trào Không liên kết.
Bình Nhưỡng thực sự có thể đủ khả năng cho một chương trình viện trợ nước ngoài sâu rộng không? Có những dấu hiệu cho thấy chế độ cuối cùng đã có lý do để hối tiếc về sự hào phóng của mình. Kang Myong-do, người từng là thành viên của giới tinh hoa Bình Nhưỡng, cho biết sau khi đào thoát sang Hàn Quốc rằng viện trợ quá mức cho các nước thuộc Thế giới thứ ba đã thực sự khiến các vấn đề kinh tế vốn đã nghiêm trọng của Triều Tiên trở nên tồi tệ hơn. Ông nói, về cơ bản, Kim đã trao cho các nhà lãnh đạo các nước châu Phi như Algeria, Tanzania và Zaire bất cứ thứ gì họ yêu cầu – máy kéo và các máy móc khác, xây đập, vũ khí, dinh thự tổng thống. Kang nói: “Đối với Madagascar, Kim Nhật Thành đã trang bị vũ khí cho toàn bộ quân đội. “Đó là lý do tại sao họ gọi Madagascar là Triều Tiên thứ hai.”
Jimmy Carter đắc cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1976 sau khi vận động tranh cử với đề xuất đưa toàn bộ quân đội Mỹ từ Hàn Quốc về nước. Chế độ độc tài quân sự của Park Chung-hee đã đạt được sự phát triển kinh tế ấn tượng nhưng hiện tại nhiều người dân miền Nam vẫn bị bỏ lại phía sau. Chính phủ Park kiểm soát rất chặt chẽ người bất đồng chính kiến và ngày càng không được ưa chuộng cả ở trong nước cũng như trong số những người ủng hộ nhân quyền ở Hoa Kỳ.
Kế hoạch rút quân của Carter đã khiến Kim Il-sung hài lòng. Trong bầu không khí mới đặc trưng bởi hội chứng Việt Nam, công chúng Mỹ rất có thể phủ quyết mọi đề xuất tiến hành chiến tranh để bảo vệ Hàn Quốc khỏi cuộc tấn công thứ hai của miền Bắc – trừ khi quân đội Mỹ nằm trong số những nạn nhân đầu tiên. Chế độ Hàn Quốc trong suốt những năm 1970 đã vận động hành lang tích cực ở Hoa Kỳ để giữ chân quân đội Mỹ. Nỗ lực này được thực hiện với sự hiểu biết đáng kể và được hỗ trợ bằng nguồn lực đáng kể. Tuy nhiên, cuối cùng, nó đã trở nên nặng tay đến mức khơi dậy sự phẫn nộ lan rộng của người Mỹ trước những gì được coi là can thiệp vào chính tình Hoa Kỳ.
Triều Tiên đang thực hiện chiến dịch riêng của mình để gây ảnh hưởng đến dư luận Mỹ. Các quảng cáo nguyên trang trên tờ The New York Times đã quảng bá cho Kim và hệ tư tưởng juche của ông ta. Báo chí Triều Tiên đưa tin các quảng cáo như thể chúng là những bài báo hoặc bài xã luận được người nước ngoài viết một cách ngưỡng mộ. Mặc dù độc giả của Times tỏ ra ngạc nhiên hơn là có ấn tượng tốt, nhưng điều thực sự khiến chiến dịch quan hệ công chúng của Kim gặp trở ngại là một sự cố xảy ra vào những ngày tàn của nhiệm kỳ tổng thống Gerald Ford, đã củng cố thêm danh tiếng về hành vi khát máu của Triều Tiên. Vào ngày 18 tháng 8 năm 1976, lính Bắc Triều Tiên cầm rìu giết chết lính Mỹ đang cắt tỉa cây ở Khu Phi Quân sự. Vụ giết người đã khiến các quan chức và công chúng ở Hoa Kỳ phẫn nộ. Sau này, một người lính Bắc Triều Tiên đang đóng quân trong một trại ở DMZ đã nói với tôi rằng: “Mọi người ở căn cứ nghĩ rằng một cuộc chiến thực sự sẽ nổ ra. Chúng tôi được trang bị đầy đủ và ở trong đường hầm khoảng một tháng rưỡi.”
Ngay cả trước khi xảy ra vụ giết người bằng rìu, kế hoạch rút quân của ứng cử viên Carter đã nhắc nhở người Hàn Quốc, một cách đáng lo ngại, về cuộc rút quân trước đó vào năm 1949, theo sau là bài phát biểu của Acheson và cuộc xâm lược của Triều Tiên. Sau khi Carter nhậm chức vào năm 1977, phe chỉ trích đã buộc ông phải giảm bớt kế hoạch đơn phương rút lui. Lực lượng hải quân và không quân Mỹ cũng như các đơn vị hậu cần và tình báo sẽ vẫn ở lại, hành pháp quyết định. Người Hàn Quốc đến tháng 2 và tháng 3 năm 1978 đã có thể thư giãn phần nào. Đại sứ có ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Nhật Bản, cựu lãnh đạo đa số Thượng viện Mike Mansfield, nói với tôi và các nhà báo Hoa Kỳ khác được mời đến dinh thự của ông ở Tokyo rằng ngay cả khi quân đội rút khỏi Hàn Quốc thì vẫn có thể đảm bảo bộ binh Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng được gửi đến từ các căn cứ ở nơi khác trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh khác.
Sau đó, các quan chức quân sự Mỹ và Hàn Quốc đã tổ chức một buổi diễn tập cho đợt tăng viện khẩn cấp của bộ binh Mỹ. Họ tăng cường và công bố rộng rãi một cuộc diễn tập quân sự chung lớn hàng năm có mật danh là Tỉnh thần Đồng đội sau nhiều năm đã coi nhẹ hoạt động này. Trong Tỉnh thần Đồng đội, các đơn vị Mỹ đã thực hành việc chuyển quân nhanh chóng vào Hàn Quốc — một số cuộc tấn công đổ bộ chắc chắn nhằm mục đích gợi lại những ký ức về Inchon — đồng thời phối hợp hoạt động với các đơn vị Hàn Quốc và Mỹ có mặt tại chỗ. Việc công khai dường như một phần nhằm kiểm tra sự ủng hộ của công chúng Mỹ đối với cam kết và dọn đường cho việc loại bỏ những gì còn sót lại của kế hoạch rút quân. Và rõ ràng ở đây có một thông điệp gửi đến người dân Triều Tiên, cả miền Bắc lẫn miền Nam, rằng cam kết của Mỹ đối với quốc phòng Hàn Quốc về cơ bản là không thay đổi.
Bình Nhưỡng đã nhận được thông điệp và nhanh chóng quay trở lại lập trường cứng rắn. Vào mùa hè năm 1978, họ bắt đầu tấn công cá nhân Carter và các quan chức Mỹ khác. Vào tháng 10, họ cử biệt kích xâm nhập vào Hàn Quốc. Cùng tháng đó, Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc Mỹ-Hàn thông báo rằng một vụ nổ dưới lòng đất gần đây đã đẩy nước và mảnh vỡ trong lỗ khoan giúp binh lính xác định chính xác đường hầm xâm nhập do miền Bắc đào bên dưới DMZ. Cắt xuyên qua đá granit rắn chắc, đây là đường hầm thứ ba như vậy được phát hiện.
Trong khi đó, dữ liệu tình báo mới của Mỹ chỉ ra rằng Triều Tiên trong 4 hoặc 5 năm trước đã xây dựng quân đội của mình ở mức độ lớn hơn nhiều so với những gì Hoa Kỳ tin trước đây. Hoa Kỳ hiện “tạm thời” ước tính rằng lực lượng mặt đất của Triều Tiên có tổng cộng từ 560.000 đến 600.000 người, cao hơn khoảng 1/4 so với ước tính trước đó. Số liệu mới xếp Quân đội Nhân dân Triều Tiên là quân đội lớn thứ năm trên thế giới, ở một đất nước có dân số chỉ 17 triệu người. Việc tin tức đến đúng thời điểm ngay khi các tướng lĩnh quân đội cần đạn dược để phản đối đề xuất của Carter, đã làm dấy lên một số nghi ngờ. Nhưng vào tháng 2 năm 1979 Carter tuyên bố ông đang “tạm hoãn” bất kỳ đợt rút quân nào nữa, chờ nghiên cứu thêm.
Trong thời gian đó, tìm kiếm bất cứ điều gì có thể ngăn chặn xu hướng tiêu cực trong vận mệnh của mình, Bình Nhưỡng ghi nhận những kết quả tích cực của “ngoại giao bóng bàn” mà Trung Quốc đã bắt đầu vào năm 1971 bằng việc tiếp đón một đội bóng bàn Mỹ. Sau đó là các cuộc đàm phán với Henry Kissinger và chuyến thăm của Tổng thống Richard Nixon, cuối cùng dẫn đến quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Washington.
Chuẩn bị đăng cai giải đấu bóng bàn thế giới vào tháng 4 năm 1979, Bình Nhưỡng quyết định thử một số biện pháp ngoại giao bóng bàn của riêng mình. Họ đồng ý tiếp nhận đội ngũ lớn người Mỹ đầu tiên đến thăm miền Bắc kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Các quan chức Triều Tiên tin rằng người Mỹ, chỉ cần đến thăm Bình Nhưỡng, trên thực tế sẽ công nhận chế độ Kim Nhật Thành. Hoa Kỳ và Triều Tiên trước đây chỉ ký kết thỏa thuận ngừng bắn năm 1953. Sau hơn một phần tư thế kỷ, không có hiệp ước hòa bình, càng không có hiệp ước quan hệ ngoại giao.
Miền Bắc hy vọng thuyết phục được các du khách Mỹ và thông qua họ là công chúng Mỹ về những ý định hòa bình của chế độ. Họ sẽ thực hiện điều này một phần bằng cách cho thấy.miền Bắc đã xây dựng được bao nhiêu và do đó sẽ mất mát bao nhiêu trong trường hợp chiến tranh. Họ cũng hy vọng cho thấy những tác động xấu của sự chia cắt Triều Tiên đối với các gia đình, đồng thời đưa ra lập luận của chế độ rằng quân đội Mỹ ở miền Nam đã gây ra và duy trì sự chia cắt một cách bất công. Mục tiêu thứ ba là miêu tả Triều Tiên là nước độc lập, không phải là vệ tinh của Liên Xô hoặc Trung Quốc, không gây ra mối đe dọa nào đối với lợi ích của Mỹ nếu người Mỹ tránh đe dọa lợi ích của Bắc Triều Tiên.
Mục tiêu dài hạn hơn là tổ chức các cuộc đàm phán với chính phủ Hoa Kỳ, thuyết phục Washington tiến hành việc rút quân đang bị đình trệ – và cuối cùng, chắc chắn là loại bỏ hoàn toàn cam kết của Mỹ đối với an ninh của Hàn Quốc, bao gồm cả “chiếc ô” hạt nhân. Nếu Kim Il-sung có thể tiến xa đến vậy, ông có thể hy vọng rằng Washington sẽ phản ứng bình tĩnh trong trường hợp bán đảo Triều Tiên xảy ra sự cố thống nhất – dù hoàn toàn dưới sự cai trị của ông ta hay, ít nhất là trong một thời gian, theo công thức được đề xuất công khai của ông ta: một liên minh trong đó miền Bắc và miền Nam sẽ cùng tồn tại.
Vào tháng 4 năm 1978, Bộ Ngoại giao xác nhận rằng chi nhánh Hoa Kỳ của Liên đoàn Bóng bàn Quốc tế đã nộp đơn xin chấp thuận cử một đội đến Bình Nhưỡng tham dự giải đấu. Một quan chức Bình Nhưỡng ở Tokyo sau đó nói với tôi rằng đích thân Kim Il-sung sẽ có mặt để dự các nghi lễ của giải đấu và rằng Lãnh tụ vĩ đại có thể trò chuyện với các thành viên của phái đoàn Mỹ. Bình Nhưỡng rõ ràng hy vọng rằng, trong số các cầu thủ, huấn luyện viên, phiên dịch viên và nhóm tháp tùng sẽ có người được Washington ủy nhiệm để giải quyết các vấn đề chính trị.
Washington vẫn chưa nhượng bộ khẳng định kiên quyết của mình rằng bất kỳ mối quan hệ hợp tác nào với Triều Tiên đều không được bỏ qua Hàn Quốc. Để thể hiện sự linh hoạt, Bình Nhưỡng vào tháng 1 năm 1979 đã phản ứng bằng một động thái riêng đối với đề xuất của Hàn Quốc nhằm mở lại cuộc đối thoại Bắc-Nam đã kết thúc vào năm 1973.
Triều Tiên từ chối đàm phán trên cơ sở chính phủ với chính phủ. Thay vào đó, họ nhấn mạnh vào công thức lâu đời của mình là kêu gọi đàm phán giữa các phái đoàn phi chính phủ đại diện cho các đảng chính trị và “tổ chức xã hội” của hai miền Triều Tiên. Tuy nhiên, những động thái tỏ ra đáp ứng của họ dường như đã đặt quả bóng ngoại giao trở lại phía sân Hàn Quốc (đặc biệt là trong tâm trí những người không phải Hàn Quốc, vốn vẫn còn nghi ngờ rằng triết lý Tôi-thắng-bạn-thua của Kim còn chưa có chỗ cho mối quan hệ thực sự sống-và-để người khác sống của miền Nam).
Miền Nam trải qua một giai đoạn xung đột chính trị trong nước căng thẳng bất thường, nhận thức được rằng công thức đàm phán của miền Bắc sẽ chỉ mang lại những quan điểm đa dạng cho phía miền Nam. Chế độ nguyên khối của miền Bắc vào thời điểm đó không cho phép bất đồng quan điểm nào ở trong nước và chắc chắn sẽ không cho phép có sự đa dạng thực sự về quan điểm giữa các đại biểu của mình, bất kể họ có liên kết với tổ chức nào. Người miền Nam tin rằng các đại biểu miền Bắc sẽ chỉ lợi dụng sự khác biệt chính trị giữa người miền Nam theo chiến thuật chia để trị.
Vì vậy, bất chấp nụ cười toe toét trên khuôn mặt của người Bắc Triều Tiên và một vài điểm cho Bình Nhưỡng trong cuộc thi tuyên truyền với Seoul, các cuộc đàm phán sơ bộ tại Bàn Môn Điếm ở DMZ đã thất bại trong sự ngờ vực, buộc tội và soi mói lẫn nhau. Các cuộc họp song song cũng nhằm xem xét việc thành lập đội tuyển bóng bàn chung Bắc và Nam Triều Tiên để tranh tài tại giải đấu.
Làm phóng viên báo chí đưa tin về Hàn Quốc, tôi rất háo hức được có mặt trong đoàn báo chí tháp tùng đoàn Hoa Kỳ tới Bình Nhưỡng. Quan điểm giữa các phóng viên ở Tokyo cho rằng cách duy nhất mà một người có thể hy vọng vào được Triều Tiên là thông qua một chiến dịch liên tục gửi điện tín tới Bình Nhưỡng, tới một cơ quan gần như ngoại giao chuyên giải quyết các vấn đề với phương Tây. Tôi được khuyên rằng những bức điện gửi tới Hiệp hội Quan hệ Văn hóa với Nước ngoài nên được bổ sung bằng lời kêu gọi tới các thành viên có ảnh hưởng của cộng đồng người Hàn Quốc thân Bình Nhưỡng ở Nhật Bản. Tôi đi theo cách thức này, nhấn mạnh tính cởi mở của mình. Người Bắc Triều Tiên lúc đó cố gắng thuyết phục Washington rằng họ đã tiết chế cách tiếp cận với Hàn Quốc, và tôi đã nêu rõ nhận thức của mình về nỗ lực đó.
Tờ báo khu vực mà tôi làm việc, The Baltimore Sun, đã phải tốn rất nhiều chi phí để duy trì tám văn phòng tin tức nước ngoài cũng như một văn phòng lớn ở Washington. Lưu hành ở Maryland và vùng lân cận Washington, nó có danh tiếng tốt trong giới ngoại giao và những người theo chủ nghĩa quốc tế khác. Với tư cách là người bán hàng, một trong những người tiền nhiệm của tôi với tư cách là trưởng văn phòng Tokyo đã dạy phóng viên/trợ lý tin tức Hideko Takayama rằng bất cứ khi nào cô gọi điện cho một người không quen với tờ báo để xin một cuộc hẹn, cô nên giải thích rằng The Sun “được Tổng thống Hoa Kỳ đọc hàng ngày.” Tuyên bố đó ít nhiều đúng đắn vào thời điểm cựu trưởng văn phòng dạy Takayama câu nói đó , và cô ấy đã tiếp tục sử dụng nó cho đến thời của tôi khi cô ấy gọi điện cho Triều Tiên và các nguồn tin tiềm năng khác, những người có thể thiếu kiến thức chi tiết về truyền thông Hoa Kỳ. . Không ai nghĩ đến việc xem xét lại thủ tục, mặc dù các đời tổng thống khác đã thay phiên nhau làm việc tại Phòng Bầu dục và có thể người đương nhiệm không có thói quen đọc báo tương tự. Bản thân tôi cũng không ngần ngại khoe khoang với các đại diện của Bình Nhưỡng tại Nhật Bản rằng tờ báo này đưa tin về chính trị giống như tờ Wall Street Journal về kinh tế.
Dù sao đi nữa, chiến dịch có kết quả. Cùng với các phóng viên của tờ Journal và một số cơ quan thông tấn khác, tôi nhận được lời mời đến đại sứ quán Triều Tiên ở Bắc Kinh để xin thị thực và sau đó đến Bình Nhưỡng.
Không phải nhà báo Mỹ đầu tiên đến Bắc Triều Tiên, nhưng cũng gần như vậy đến nỗi tôi cảm thấy mình hơi giống Neil Armstrong lên mặt trăng, tôi bước ra khỏi một chiếc máy bay do Liên Xô chế tạo xuống sân bay ở Bình Nhưỡng. Nhìn chăm chú vào tất cả những gì mình thấy, tôi quyết tâm không bỏ sót điều gì.
Bình Nhưỡng đã thưởng cho tôi bằng cách cung cấp nhiều thứ không quen thuộc, bắt đầu từ đám đông học sinh đứng xếp hàng dọc theo đường từ sân bay, đến cổ vũ cho những khách mới đến tham dự giải đấu bóng bàn.
Mặc dù lúc đó tôi biết rất ít về những gì tôi đã viết trong cuốn sách này – và tôi tin rằng thực sự là mình khá cởi mở về những gì tôi sẽ chứng kiến – tất nhiên tôi đã trang bị một số ấn tượng chung dựa trên các cuộc phỏng vấn và sách đọc cơ bản. Và tôi đã sẵn sàng sàng lọc bất cứ điều gì tôi có thể nghe được thông qua thái độ hoài nghi mà các nhà báo Mỹ thuộc thế hệ của tôi đã học được để áp dụng cho những tuyên bố chính thức của bất kỳ chính phủ nào trên thế giới – đặc biệt là chính phủ của chúng tôi. Về phần mình, người Triều Tiên có ý định biến những kẻ hoài nghi thành những người có niềm tin.
Các tờ báo của Bắc Triều Tiên và chương trình phát sóng đầy những sự kiện thể thao mà về mặt lý thuyết tôi đến đây để tác nghiệp, và chủ nhà của tôi không hề giấu diếm ý kiến rằng tôi nên ít nhất thể hiện sự quan tâm của mình đối với những sự kiện ấy. Một ngày nọ tôi đến dự các trận đấu và nhìn thấy một cặp nữ vận động viên Bắc Triều Tiên đấu với các tay vợt Mỹ gốc Hàn chơi cho đội tuyển Mỹ. Có 13 trận đấu khác đang diễn ra cùng lúc, trong số đó cũng có tay vợt Bắc Triều Tiên tham dự, nhưng các khán giả Triều Tiên đều dán mắt mình vào trận đấu này. Người dân Bình Nhưỡng trông có vẻ thành đạt phần lớn là nam giới trong bộ vest công sở và thắt cà vạt, tập trung đông đúc trên khán đài, cổ vũ cuồng nhiệt cho đội nhà trong trận gặp người Mỹ gốc Hàn, nhất là khi trọng tài ra phán quyết cho Bắc Triều Tiên thắng một điểm tranh chấp.
Ngôi sao nữ của Bình Nhưỡng lúc này là Li Song-suk, người đã giành chức vô địch thế giới đơn nữ. Tờ báo cho biết Lãnh tụ Vĩ đại đã dành sự quan tâm cá nhân đến việc đào tạo cô, và đó là bí quyết thành công của cô. Tuy nhiên, tin đồn râm ran giữa các đội khác ở Bình Nhưỡng là đội Trung Quốc – từ lâu thống trị bóng bàn thế giới – không hề giả thua như một phần thưởng cho chủ nhà của họ. Luôn tìm kiếm quyền tự chủ chính trị bằng cách khiến hai nước láng giềng cộng sản khổng lồ của mình kình chống lại nhau, Triều Tiên kể từ giữa những năm 70 đã nghiêng về phía Trung Quốc. Bình Nhưỡng đã ủng hộ cáo buộc của Trung Quốc về việc Việt Nam xâm lược Campuchia (nhưng rõ ràng là tránh bình luận về cuộc chiến của Trung Quốc với Việt Nam) trong khi kêu gọi các quốc gia không liên kết giữ khoảng cách với Liên Xô.
Thống nhất đất nước – tất nhiên là sau việc Mỹ rút quân – là chủ đề thường xuyên xuất hiện ở bất cứ nơi nào tôi đến ở Triều Tiên. “Lãnh tụ vĩ đại mỗi lần đến thăm chúng tôi đều bảo chúng tôi nên sản xuất thêm máy kéo để có thể cung cấp máy kéo cho miền Nam đất nước khi thống nhất”, một cán bộ của một nhà máy kéo trên hành trình tham quan của chúng tôi cho biết.
Một ngày nọ, tôi đi cùng một số phóng viên đến thăm núi Kumgang xinh đẹp ở phía đông nam Triều Tiên, gần biên giới Hàn Quốc. Khi đến đó, chúng tôi được biết chính quyền đã sắp xếp cho một nhóm người Triều Tiên nói chuyện với chúng tôi khi chúng tôi ngắm cảnh. Họ ở đó để kể cho chúng tôi nghe về gia đình của họ, bị chia cắt kể từ Chiến tranh Triều Tiên, và ước mơ thống nhất đất nước của họ. Họ có vẻ đĩnh đạc và giàu có đến mức tôi nghĩ họ có thể là diễn viên, nhưng tôi không có lý do gì để nghi ngờ rằng sự chia cắt đất nước là một vấn đề vô cùng đau khổ đối với những gia đình thực sự bị ảnh hưởng, của cả hai bên.
Tôi đã nói chuyện với Ko Young-il, một người Mỹ gốc Hàn đã đăng ký đi du lịch tới Bình Nhưỡng làm thông dịch viên cho đội Mỹ với hy vọng gặp được mẹ, 5 chị gái và anh trai, những người mà anh chưa gặp kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Cuối năm 1950, quân đội Trung Quốc và Liên Hiêp Quốc giao chiến tại một quận ở Bắc Triều Tiên nơi họ sinh sống. Trong hỗn loạn của trận chiến, Ko, lúc đó mới 9 tuổi, bị tách khỏi gia đình và bắt đầu đi theo quân đội Liên Hiệp Quốc về phía nam. Cách quận lỵ khoảng năm dặm, anh gặp cha mình và cả hai hướng đến thị trấn nhỏ của họ để tìm kiếm những người khác trong gia đình. Khi đến gần, họ thấy thị trấn đang bốc cháy nên họ leo lên một số ngọn đồi và tìm kiếm quân Mỹ. Không ai có thể nói cho họ biết mẹ và anh chị em của anh ở đâu. “Kể từ đó,” Ko nói, “chúng tôi chưa bao giờ gặp họ, chúng tôi chưa bao giờ nghe thấy bất cứ điều gì từ họ. Chuyện là vậy.”
Ko sống ở Seoul cho đến năm 1972, khi anh đưa gia đình sang Mỹ để tìm kiếm “một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân và con cái chúng tôi”. Anh đã trở thành chủ một cửa hàng sửa chữa ô tô và một phòng chơi bi-a ở ngoại ô Virginia của Washington, D.C. Anh vẫn mang quốc tịch Hàn Quốc và cần sự chấp thuận của chính phủ Seoul cho phép đến Bình Nhưỡng. Ko chuẩn bị đoàn tụ với gia đình, nghĩ rằng hiện giờ mình hẳn phải có rất nhiều cháu trai và cháu gái mà mình chưa bao giờ gặp. Anh ấy rất háo hức. “Kể từ khi tôi rời nước Mỹ, tôi không ngủ được,” anh nói. Nhưng cùng lúc đó anh lại rất lo lắng. Vì một điều, anh ấy lo lắng về việc các thành viên trong gia đình sẽ đón nhận mình như thế nào. Có lẽ khi gặp anh ấy họ sẽ hỏi, “Tại sao chú ở đây?” Có lẽ vì lý do lớn hơn nữa, anh lo lắng rằng chế độ miền Bắc có thể gây áp lực cho gia đình anh – có thể “tống tiền” họ theo lời anh nói và sử dụng cuộc hội ngộ để tuyên truyền.
Tôi không khó khăn gì khi tưởng tượng đây là một tình huống mà các nhà tuyên truyền chính thức sẽ chơi hết mình. Chắc chắn rồi, khi Ko gặp được gia đình mình, tờ báo Bình Nhưỡng dẫn lời anh ấy nói rằng anh ấy thực sự muốn ở lại Triều Tiên nhưng như vậy cha anh ấy sẽ không thể gặp mặt những người còn lại. Anh được cho biết đã nói: “Một ngày nào đó khi chúng ta thống nhất đất nước, chúng ta có thể sống cùng nhau”. Như được trình bày, nhận xét được trích dẫn ngụ ý rằng Triều Tiên là một nơi rất hấp dẫn để sinh sống – công thức thông thường.
Hai ngày sau Pak Kyong-sik, đội trưởng trong một nhà kính ở ngoại ô Bình Nhưỡng, nói với tôi rằng gia đình anh đã đọc báo kể về cuộc hội ngộ và “chúng tôi ngồi nói chuyện đến khuya.” Pak nói anh trai mình đã bị chia cắt với gia đình trong Chiến tranh Triều Tiên, khi anh ấy qua Hàn Quốc. “Nhiều năm đã qua rồi nhưng tôi vẫn chưa có cơ hội nào để gặp anh trai tôi. Tôi sống với bố mẹ tôi, họ lo lắng rất nhiều không biết liệu anh trai tôi sống hay chết.” Pak nói với tôi rằng mặc dù anh ấy đang “sống cuộc sống hạnh phúc nơi đây” – nhận xét được yêu cầu phải ca ngợi thiên đường của Kim Il-sung – “Tôi luôn háo hức được gặp anh trai mình.”
Vào ngày đầu tiên của tôi ở Bình Nhưỡng, ngày 24 tháng 4, hướng dẫn viên của tôi nói với tôi rằng tôi sẽ ăn trưa với một người nào đó. Tôi hỏi với ai, và anh ấy trả lời: “Chúng ta sẽ xem.” Chúng tôi đến một phòng ăn riêng lớn trong khách sạn, nơi tôi được giới thiệu với một người đàn ông tên Pak, thành viên của Hiệp hội Quan hệ Văn hóa với Nước ngoài. Hiệp hội này, chứ không phải Bộ Ngoại giao, xử lý những nước chưa công nhận Bình Nhưỡng về mặt ngoại giao và ngược lại. Trong bữa ăn thịnh soạn gồm các món Trung Quốc, Hàn Quốc và phương Tây, ông Pak và tôi đã nói chuyện suốt một tiếng rưỡi. Chúng tôi bắt đầu bằng cuộc trò chuyện dài về thời tiết và tiếp tục thảo luận về quan hệ Mỹ-Triều. Người hướng dẫn của tôi diễn giải rất hay, mặc dù có lúc anh ấy lúng túng với từ tiếng Anh “chủ nghĩa thực dụng”. Trong cuộc trò chuyện này, có một vài điều khiến tôi ấn tượng. Một là Pak không biết nhiều về Hoa Kỳ. Anh ấy nói rằng người Mỹ ăn gà tây vào ngày độc lập.
Một điều nữa khiến tôi ấn tượng là Pak chỉ thẳng thừng phản bác tôi một lần. Đó là lúc tôi đang nói về những ưu và nhược điểm của Hàn Quốc trong mắt người Mỹ. Tôi nói với anh ấy rằng, mặc dù lúc đó thiếu dân chủ theo tiêu chuẩn chúng ta hiểu về dân chủ, nhưng Hàn Quốc đã mang đến cho công dân của mình một loại tự do nhất định mà người Mỹ có thể nhận ra: tự do đưa ra những lựa chọn phi chính trị, có khả năng đi lên về mặt kinh tế và xã hội. Pak gắt: “Không đúng!” Và anh ấy đã nói điều đó với một niềm tin nhiệt thành trái ngược với phong thái của một người đàn ông của thế giới mà anh ấy thể hiện vào ngày hôm đó.
Trong phần còn lại của cuộc trò chuyện, mặc dù có thể mỉa mai và hài hước về lời nói và hành động của người Mỹ, nhưng anh chưa bao giờ thừa nhận bất cứ điều gì tích cực về Hàn Quốc. Việc tôi nói với anh ấy rằng người Mỹ có thể đồng nhất ở một mức độ nào đó với Hàn Quốc dường như chỉ củng cố niềm tin mặc định của anh ấy rằng miền Nam đang đóng vai trò tay sai, cố gắng trở thành một xã hội kiểu phương Tây – một xu hướng đáng khinh theo quan điểm của anh ấy về tính chính đáng văn hóa của người TriềuTiên.
Pak nói anh hy vọng qua chuyến thăm này tôi sẽ học được về khát vọng độc lập của người dân Triều Tiên. Điều này đưa chúng tôi đến những chi tiết cụ thể và anh nhấn mạnh đến việc rút quân. Tôi nói với Pak rằng theo đánh giá của tôi thì quyết định rút lại cam kết rút quân của chính quyền Carter ít nhất một phần vì điều đó là hành động cho đi đơn phương các con bài mặc cả mà không đòi hỏi phải đáp lại. Tôi đã nói về sự hoài nghi của các đồng minh của Mỹ, đặc biệt là Nhật Bản. Tôi đã đề cập đến ước tính tình báo mới về Sức mạnh quân sự của Triều Tiên – đồng ý với Pak rằng thời điểm tiết lộ tin tức đó, giữa lúc cuộc tranh luận về việc rút quân đang nóng bỏng, có vẻ hơi kỳ lạ. Pak đưa ra một vài nỗ lực chiếu lệ nhằm khơi dậy sự phẫn nộ của tôi cho rằng Carter sẽ thực hiện lời hứa trong chiến dịch tranh cử của mình. Tôi hướng cuộc trò chuyện trở lại thế giới thực bằng cách nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ phải xem xét lại những vấn đề như vậy dưới góc độ vai trò là một cường quốc thế giới.
Pak cuối cùng đã diễn đạt lại những gì tôi đã nói: “Vậy bây giờ diều Hoa Kỳ muốn là một sự mặc cả?” Tôi đồng ý là như vậy, với tư cách một phóng viên thuần túy. Khi bữa ăn kết thúc, Pak có bài phát biểu chia tay đầy hoa mỹ và nói rằng chúng tôi sẽ gặp lại nhau.
Tôi có bài phát biểu đáp trả (trong bữa trưa ở Triều Tiên người ta thường phát biểu thay vì trò chuyện) trong đó tôi cố gắng nêu rõ sự hiểu biết của mình về quan điểm của Mỹ đối với Triều Tiên. Vào những năm 1970, tôi nói với Pak, nhiều người Mỹ trong đó có tôi đã tự hỏi liệu Washington có sai lầm khi để nước này can dự vào các vấn đề của Triều Tiên ngay từ đầu hay không. (Tôi chưa bao giờ hoàn toàn tin tưởng vào lập luận rằng Hoa Kỳ lẽ ra nên ở nhà trong thời kỳ hậu Thế chiến thứ hai. Nhưng quan điểm cá nhân của tôi – tôi không nói với Pak phần này – đã bị ảnh hưởng bởi những lập luận theo chủ nghĩa xét lại bắt đầu được các nhà sử học vạch trần từ giảng đường đại học đến cuốn Bi kịch ngoại giao Mỹ của William Appleman Williams.) Và có lẽ, tôi nói với Pak, Hoa Kỳ đã học ở Việt Nam một bài học đắt giá về hậu quả của việc dấn thân vào các cuộc nội chiến ở Châu Á. Nhưng, khôn ngoan hay không khôn ngoan, chúng tôi đã dính líu đến Triều Tiên, và một xã hội đã được xây dựng ở miền Nam hơn ba mươi năm. Chúng tôi phải cân nhắc cẩn thận làm thế nào để loại bỏ dần sự can thiệp của mình trong danh dự – không làm tổn hại đến lý tưởng tự do cũng như lòng trung thành của mình.
Pak rõ ràng không hài lòng với điều này – cũng như rõ ràng không hài lòng như khi tôi nói rằng thành tích nhân quyền của Hàn Quốc tốt hơn của Iran. Nhưng anh ấy nói chúng tôi sẽ có những cuộc trao đổi tiếp theo. Tôi cho rằng báo cáo của Pak với đồng nghiệp và cấp trên sẽ quyết định liệu tôi có được tiếp cận nhiều hơn với các quan chức đối ngoại hay không.
Tôi và một số nhà báo đồng nghiệp đã suy đoán liệu Washington có trao quyền cho bất kỳ thành viên nào trong phái đoàn bóng bàn Hoa Kỳ để giải quyết các vấn đề chính trị với người miền Bắc hay không. Bình Nhưỡng, háo hức muốn đàm phán, rõ ràng hy vọng điều đó sẽ xảy ra. Tuy nhiên, khi xem xét nhóm, chúng tôi không tìm thấy nhân vật nào rõ ràng có vẻ là CIA hoặc có thể đảm nhận vai trò này. Tôi có ấn tượng rằng phía Triều Tiên, cũng trắng tay, có thể đã quyết định thăm dò các nhà báo đi cùng phái đoàn để xem liệu có ai trong chúng tôi có thể có được đường dẫn đến Nhà Trắng trực tiếp hơn thay vì chỉ có tổng thống là độc giả. Tôi chắc chắn sẽ không báo cáo với chính phủ Hoa Kỳ hoặc thực sự là với bất kỳ ai ngoại trừ các biên tập viên của tôi ở Baltimore. Tôi không chắc liệu Triều Tiên có biết luật Mỹ cấm các cơ quan tình báo tuyển dụng nhà báo của các hãng thông tấn Mỹ vào biên chế hay không. Tuy nhiên, dù những người chủ nhà của tôi có tưởng tượng ra điều gì đi nữa, tôi hy vọng họ sẽ quyết định gửi tin nhắn thông qua tôi và tờ báo của tôi sẽ là một cách hiệu quả để tiếp cận những người có địa vị cao ở Washington.
Khi tôi đến thăm So Tong- bong, biên tập viên tờ báo Nodong Shinmun (Nhật báo Công nhân) của Đảng Lao động, ông nói với tôi rằng người Triều Tiên “muốn Hoa Kỳ không gây trở ngại trên con đường thống nhất. sẽ rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam, tạo bầu không khí tốt đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất đất nước”. Mối quan hệ được cải thiện của Mỹ với Trung Quốc cộng sản đã làm lu mờ lời biện minh cũ cho rằng quân đội Mỹ ở miền Nam nhằm ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản, ông nhận xét – nhưng quân đội vẫn còn ở lại, lấy cớ ngăn cản sự xâm lược của miền Bắc. “Như bạn biết đấy, rất nhiều lần chúng tôi đã làm rõ quan điểm của chúng tôi rằng chúng tôi không có ý đồ xâm lăng Hàn Quốc,” biên tập viên cho biết. “Chiến tranh sẽ không nổ ra ngay cả khi quân đội Mỹ rút khỏi Hàn Quốc.” (Seoul và Washington tất nhiên đã có rất nhiều nghi ngờ về điều này. “Họ có một lực lượng quân sự cực kỳ lớn cho một chủ trương nước hòa bình,” như một quan chức Mỹ quan sát.)
Vì vậy Tong-bong nói với tôi rằng người Mỹ nên hiểu mong muốn thống nhất của người Triều Tiên. Xét cho cùng, cuộc Nội chiến của chúng tôi đã diễn ra vì vấn đề thống nhất. Cũng tốt. Nhưng Bắc Triều Tiên và miền Nam tư bản, trong suốt 34 năm kể từ khi đất nước bị chia cắt, đã phát triển thành những xã hội khác biệt nhau sâu sắc hơn nhiều so với sự khác biệt giữa Liên bang và Liên minh miền Nam trong nội chiến Mỹ . Cả Bắc và Nam Triều Tiên đều nói rất nhiều về việc thống nhất, nhưng có vẻ như mỗi bên chỉ muốn điều đó nếu hệ thống của mình nắm quyền cai trị trên bán đảo thống nhất. Bình Nhưỡng muốn thống nhất nhanh chóng trong khi vẫn nắm thế mạnh hơn – nhưng Seoul muốn đạt được sự công nhận của thế giới đối với cả hai miền Triều Tiên trong thời điểm hiện tại và trì hoãn việc thống nhất đủ lâu để xây dựng miền Nam vào vị thế thống trị tiềm năng.
Biên tập viên nhấn mạnh rằng Triều Tiên sẽ không ép buộc người Hàn Quốc phải sống theo hệ thống của Triều Tiên, đồng thời ông nói thêm rằng người miền Bắc cũng không hề có ý nghĩ sống theo hệ thống tư sản của miền Nam. Trong trường hợp đó, tôi hỏi, làm sao chỉ sự hiện diện của quân đội Mỹ ở miền Nam lại có thể bị coi là nguyên nhân ngăn cản sự thống nhất đất nước – kiểu thống nhất mà ông tuyên bố mong muốn, trong khi hai hệ thống Triều Tiên vẫn loại trừ lẫn nhau? “Tôi nghĩ bạn biết câu trả lời,” ông ấy trả lời, theo cách mà tôi thấy là một biện pháp tu từ điển hình của Triều Tiên. Ông nói thêm: “Chúng tôi nhấn mạnh rằng việc thống nhất đất nước phải do chính người dân Triều Tiên thực hiện. Nếu có sự can thiệp của nước ngoài thì việc thống nhất độc lập là không thể”.
Đó là ám chỉ quan điểm lâu nay của Triều Tiên cho rằng chính phủ Seoul không phải là đại diện thực sự của người dân miền Nam mà chỉ là một con rối của Hoa Kỳ, đàn áp nhân dân một cách tàn nhẫn, bám giữ chính quyền và duy trì sự chia rẽ dân tộc với sự hậu thuẫn của quân Mỹ. Tôi đã dành đủ thời gian ở Hàn Quốc để biết rằng đây là một bức tranh biếm họa thô thiển. Người Hàn Quốc nói chung rất thích sự giàu có và cơ hội thăng tiến mà hệ thống của họ có thể mang lại cho mình. Họ chỉ phàn nàn tình trạng phân bổ không đồng đều những lợi ích đó, tốc độ thay đổi kinh tế và xã hội chóng mặt và sự tham quyền cố vị của Park Chung-hee mà không tổ chức bầu cử dân chủ.
Khao khát thống nhất vẫn còn đó và chính quyền Seoul đang gặp khó khăn trong việc dung hòa điều đó với chính sách trên thực tế về “hai miền Triều Tiên”. Tuy nhiên, trải qua sự cai trị của Bắc Triều Tiên trong thời gian ngắn giữa thời chiến 1950 và 1951, người Hàn Quốc hầu như không muốn thay thế số phận của họ dưới một chế độ chuyên quyền đơn thuần bằng số phận của người Bắc Triều Tiên dưới chế độ toàn trị Kim Il-sung. Vì vậy, tôi không tin rằng việc rút quân đội Hoa Kỳ khỏi miền Nam sẽ hỗ trợ cho sự nghiệp thống nhất – có lẽ ngoại trừ việc tạo điều kiện cho Kim Il-sung áp đặt ý chí của mình lên miền Nam.
Khi thời gian khởi hành của tôi đến gần, tôi nhận được tin mình sẽ được mời tham dự một cuộc phỏng vấn quan trọng. Tôi sẽ gặp Kim Yong-nam, bí thư Đảng Lao động phụ trách đối ngoại, người đứng top 10 trong hệ thống cấp bậc của đảng. Tôi phải gửi trước một số câu hỏi.
Kim Yong-nam mỉm cười chào đón tôi tại nhà khách của Đảng Lao động ở ngoại ô Bình Nhưỡng. Một người đàn ông mảnh khảnh, quai hàm rắn chắc ở độ tuổi năm mươi với khuôn miệng linh động và đôi lông mày rậm thẳng kiểu Groucho Marx, ông ta đeo kính gọng sừng và bộ vest kẻ sọc màu xám được cắt may khéo léo, trên ve áo đính bức chân dung cần thiết của Nhà lãnh đạo vĩ đại. Sau vài câu nói vui vẻ, trước tiên ông ấy đề nghị kể cho tôi nghe về chính sách thống nhất của Triều Tiên. Tôi sẽ nghĩ gì về điều đó? “Tôi nghĩ đó sẽ là một thủ tục tuyệt vời,” tôi trả lời, chiều theo lời chủ nhà. Mặc dù có bề ngoài giống Groucho, nhưng ông ta không đưa ra lời mời nào (và không có xì gà). Thay vào đó, ông ấy bắt đầu độc thoại, kéo dài đủ lâu để khiến tôi hối hận vì tính lịch sự của mình.
Kim Yong-nam lặp lại quan điểm của hầu hết những người Triều Tiên khác mà tôi từng gặp – rằng thống nhất là mong muốn mãnh liệt của toàn thể người dân Triều Tiên. Ông nói, vấn đề thống nhất “là một vấn đề cấp bách không thể trì hoãn thêm nữa”. Ông nói: Người Triều Tiên là “một dân tộc đồng nhất với một ngôn ngữ, một tập quán và một lãnh thổ”. Nhưng vì đã xa cách ba mươi bốn năm nên “ngôn ngữ, phong tục tập quán dân tộc ngày càng khác biệt. Đây là bi kịch lớn nhất của dân tộc tôi. Hiện nay hai miền Bắc Nam đang ở trong thế bất đối đầu quân sự và cả hai đều có lực lượng quân sự mạnh mẽ,” ông nói.. Để loại bỏ nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh mới, việc thống nhất Triều Tiên cần sớm được thực hiện”.
Ông Kim phàn nàn rằng có vẻ như “Mỹ không hiểu rõ quan điểm chân thành của đất nước chúng tôi đối với việc thống nhất độc lập và hòa bình”. Ông cho biết các đề xuất của đất nước ông hầu như không được đưa tin trên các phương tiện truyền thông của các nước tư bản. Lấy ví dụ về đề xuất hợp tác kinh tế của miền Bắc với miền Nam. Miền Bắc có tài nguyên khoáng sản và thủy sản và Miền Nam thừa lao động, sao không gộp lại? Ông nói: Hãy ngăn chặn người Hàn Quốc di cư đến những nơi như Hoa Kỳ và đưa những người đó về phía bắc. Cụ thể, Triều Tiên đã đề nghị cho ngư dân Hàn Quốc có thu nhập thấp đánh cá trong vùng lãnh hải Triều Tiên cùng với ngư dân Triều Tiên. Miền Bắc thậm chí còn đề nghị xây dựng hệ thống thủy lợi để giúp tăng năng suất nông nghiệp ở miền Nam. “Nhưng vì phía Hàn Quốc bác bỏ tất cả những đề xuất đó nên không một đề xuất nào có thể được thực hiện”, ông Kim Yong-nam nói một cách trang trọng và bày tỏ sự tiếc nuối sâu sắc đối với những gì đã xảy ra, không cho dân nghèo miền Nam có cơ hội nhận được sự giúp đỡ kinh tế của miền Bắc.
Kim Yong-nam đã thực hiện lại một số lời kêu gọi vốn là thành phần tiêu chuẩn trong nỗ lực của Bình Nhưỡng nhằm làm suy yếu liên minh Washington-Seoul bằng cách lợi dụng những người Mỹ chỉ trích thành tích phản dân chủ của chế độ Park Chung-hee. Số người chỉ trích đó đã hình thành một nhóm lớn và ngày càng tăng, bao gồm cả ban biên tập tờ báo của tôi và tôi, như các quan chức Triều Tiên có lẽ đã biết. “Chúng tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ nên thay đổi chính sách của mình đối với các vấn đề liên quan đến Triều Tiên, xuất phát từ thiện chí,” Kim nói. “Hoa Kỳ không nên ủng hộ hay xúi giục Park Chung-hee, đặc biệt là trong các hoạt động chia cắt đất nước chúng tôi, lời kêu gọi chiến tranh và chính sách chà đạp các lực lượng dân chủ ở Hàn Quốc . . . Hoa Kỳ nên ra mặt để hỗ trợ việc thực hiện thống nhất. Nếu không thể làm được điều đó, thì ít nhất là không cản trở, đặt ra các chướng ngại cho việc thực hiện thống nhất đất nước”. Ông Kim nhiều lần nhấn mạnh rằng việc cải thiện quan hệ Mỹ – Triều “hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ”.
Là một đề nghị mới, ông Kim Yong-nam nói rằng nếu Mỹ rút quân khỏi Hàn Quốc và giúp đạt được sự thống nhất Triều Tiên thông qua một liên minh, Triều Tiên sẽ đảm bảo không “chạm đến hoặc làm tổn hại” lợi ích của Mỹ ở miền Nam. Ông lặp lại đề xuất thống nhất của Triều Tiên, trong đó hình dung các chính phủ riêng biệt cùng tồn tại ở nửa phía bắc và phía nam của đất nước trong một thời gian không xác định. Mỗi nước có thể duy trì hệ thống xã hội của riêng mình với sự đảm bảo hoạt động độc lập về các vấn đề trong nước, ông ấy nói. Nhưng cả hai sẽ thống nhất giải quyết các vấn đề đối ngoại, trong đó liên mình Nam-Bắc Triều được đề xuất sẽ theo đuổi một “chính sách trung lập, không liên kết”.
Kim Yong-nam đã không thảo luận chi tiết về lợi ích của Mỹ ở Hàn Quốc. Chẳng hạn, ông thậm chí không đề cập đến các khoản đầu tư của các tập đoàn Mỹ ở đó, nhưng ông đã đề cập đến mối quan tâm cơ bản thời Chiến tranh Lạnh của Washington khi nhận xét rằng Moscow có càng ít đồng minh càng tốt. Ông lặp lại lập luận mà Bình Nhưỡng đã rao bán trong nhiều năm: rằng Bắc Triều Tiên là một đất nước độc lập và không liên kết, không nhận mệnh lệnh từ một cường quốc nào. Ông hứa rằng một Triều Tiên thống nhất cũng sẽ như vậy. “Điều tôi muốn nhấn mạnh là ngay cả sau khi thống nhất, đất nước chúng tôi sẽ đứng độc lập, không là vệ tinh của một số quốc gia và sẽ tuân thủ nghiêm ngặt chính sách trung lập và không liên kết”, ông Kim Yong-nam nói với tôi.
Hai giờ năm mươi phút đã trôi qua, Kim kết thúc màn độc thoại của mình. Chúng tôi chuyển sang bữa trưa gồm nhiều món, kéo dài thêm vài giờ nữa, trong thời gian đó ông ấy dành trả lời câu hỏi. Trả lời câu hỏi về việc những đảm bảo mà ông đưa ra sẽ được áp dụng như thế nào, ông không đưa ra thông tin cụ thể nhưng nói: “Câu hỏi đó có thể được thảo luận nếu Hoa Kỳ xuất hiện với ý định giúp đỡ thống nhất đất nước.”
Ông Kim Yong-nam không đưa ra đề xuất mới nào để nối lại các cuộc đàm phán Bắc-Nam đang bị đình trệ. Có vẻ rõ ràng là các nhà lãnh đạo Triều Tiên đã quyết định tập trung vào việc thay đổi quan điểm của người Mỹ trong thời điểm hiện tại với hy vọng Mỹ sẽ tiếp tục rút quân.
Đối với các báo cáo tình báo mới của Mỹ cho biết lực lượng mặt đất của Triều Tiên có quân số từ 560.000 đến 600.000 người, ông Kim cáo buộc rằng đây là “thông tin vô căn cứ. Thậm chí 400.000 quân cũng sẽ là gánh nặng quá lớn đối với chúng tôi khi xét đến dân số và các điều kiện khác”. Ông nói Triều Tiên “yêu cầu giảm lực lượng quân sự ở miền Bắc và miền Nam cũng như cắt giảm vũ khí”. Trong khi đó họ đã giảm ngân sách chi cho quân sự, từ 16,5% năm 1976 xuống còn 15% năm 1979. “Và chúng tôi đã nhiều lần bày tỏ và làm rõ lập trường của chúng tôi là chúng tôi không có ý định xâm lược miền Nam”.
Bài tường thuật về cuộc phỏng vấn của tôi với Kim Yong-nam là bài báo chính trên trang nhất của tờ The Baltimore Sun vào sáng hôm sau, ngày 16 và nó đã được đọc chính thức ở Washington. Lời đề nghị bảo đảm “nguyên trạng” các lợi ích của Mỹ ở Hàn Quốc dường như nhằm mục đích cung cấp điều kiện còn thiếu để Mỹ tiếp tục rút quân khỏi miền Nam. Kim Yong-nam đã nói với tôi những bảo đảm được đề xuất sẽ không chỉ áp dụng cho Hoa Kỳ mà còn cho các nước ngoài khác có lợi ích ở Hàn Quốc – đặc biệt là Nhật Bản, nền kinh tế mà, như ông lưu ý, có mối liên kết “hữu cơ” với Hàn Quốc hơn là nền kinh tế Hoa Kỳ.
Nhưng mặc dù ông Kim khẳng định mình đang đưa ra một điều gì đó mới mẻ, Washington nhìn thấy trong những gì ông nói với tôi chỉ là một phiên bản trá hình của đường lối không thay đổi của Bình Nhưỡng. Quân đội của Triều Tiên đáng gờm hơn nhiều so với một mibh quân đội Hàn Quốc, nên bước đầu tiên là quân đội Mỹ phải rời đi – và sau đó chúng ta sẽ xem bên nào có thể giành quyền kiểm soát chính sách đối ngoại và quân sự của một Triều Tiên thống nhất. Nếu Kim Yong-nam thực sự tưởng rằng mình đang đưa ra, thông qua The Sun, một thỏa thuận sẽ thu hút được Washington, thì hoặc là ông ấy không hiểu suy nghĩ của người Mỹ hoặc ông ấy đã đánh giá thấp trí thông minh của các quan chức Mỹ.
Chỉ vài tuần sau, Tổng thống Carter tới Seoul để tái khẳng định công khai sự hỗ trợ quân sự của Mỹ dành cho Hàn Quốc. Khi ở đó, ông đã ngầm chỉ trích chế độ Hàn Quốc đã đàn áp nhân dân. Ca ngợi “tiến bộ kinh tế ấn tượng ở đất nước đang bùng nổ này”, ông nói trong bữa tối cấp nhà nước: “Tôi tin rằng có thể đạt được những tiến bộ tương tự trong việc hiện thực hóa những khát vọng cơ bản của con người về chính trị và nhân quyền.” Carter cũng đã nói chuyện với lãnh đạo phe đối lập Kim Young-sam, người đã gây ra làn sóng chỉ trích khi bày tỏ sẵn sàng gặp lãnh đạo Triều Tiên Kim Il-sung. Tổng thống Mỹ cho biết đây có thể là thời điểm thích hợp cho một số sáng kiến như vậy. “Chúng ta phải tận dụng những thay đổi của môi trường quốc tế để giảm bớt căng thẳng giữa miền Nam và miền Bắc, cuối cùng mang lại hòa bình vĩnh viễn và thống nhất cho bán đảo Triều Tiên”, ông nói trong bữa tiệc tối cấp nhà nước. Carter và Tổng thống Hàn Quốc Park hôm 1/7 đã kêu gọi đàm phán hòa bình ba bên với Triều Tiên – không phải chỉ các cuộc đàm phán với Washington mà Bình Nhưỡng, luôn tìm cách tránh né Seoul, đã nhất quyết yêu cầu.
Vô cùng thất vọng, bác bỏ sự hiện diện của miền Nam tại các cuộc đàm phán Mỹ-Triều ngoại trừ với tư cách quan sát viên, Triều Tiên gọi Carter là “kẻ khoác lác chính trị độc ác”, chuyến đi của ông ta, “một chuyến đi sặc mùi thuốc súng của một kẻ đạo đức giả kích động xâm lược và chiến tranh.” Nhưng một phát ngôn viên của Triều Tiên ở Tokyo nói rằng, trong từ điển của Triều Tiên, đây là một lời nói xấu tương đối ôn hòa. Ít nhất Bình Nhưỡng không gọi Carter là tên đế quốc, sự xúc phạm tồi tệ nhất. Bắc Triều Tiên sẽ kiên quyết tiếp tục các cuộc đàm phán song phương với Washington, và “chúng tôi không nghĩ Mỹ có thể phản đối đề xuất của Bình Nhưỡng vô thời hạn”. Mỹ sẽ buộc phải đi theo đề nghị của Bình Nhưỡng.”
Carter tuyên bố vào ngày 20 tháng 7 năm 1979 rằng ông “đóng băng” việc rút quân cho đến năm 1981. Trong khi kế hoạch vẫn còn hiệu lực, chỉ có khoảng 10% quân đội Hoa Kỳ tại Hàn Quốc được rút đi – và số lượng máy bay Mỹ đóng tại đó đã tăng lên . Tướng John W. Vessey, phó tham mưu trưởng quân đội, cùng tháng đó đã cảnh báo một tiểu ban quốc hội rằng “Phương án hành động duy nhất còn lại của Kim Il-sung nhằm đạt được sự thống nhất theo các điều kiện của ông ấy dường như là lựa chọn quân sự bằng một cuộc tấn công quy mô lớn”. Lời tường trình của Vessey lặp lại nhận xét của một quan chức ngoại giao Triều Tiên, người đã hộ tống tôi và các nhà báo Mỹ khác trong chuyến thăm phía bắc DMZ: “Tôi nghĩ nếu căng thẳng này tiếp tục, cuối cùng nó sẽ bùng phát thành một cuộc chiến khác.”
Trên thực tế, Kim Nhật Thành còn có những lựa chọn khác mà Vessey không đề cập tới. Một cách đơn giản là chờ đợi với hy vọng rằng chế độ miền Nam sẽ rơi vào một cuộc cách mạng và mang đến cho Kim một cơ hội mới. Như đã xảy ra ở Iran – một sự so sánh mà người Triều Tiên ưa thích – tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc càng nhanh thì cơ cấu xã hội càng bị cọ xát dữ dội. Sự bất mãn của người dân miền Nam sẽ ngày càng bùng lên, do ô nhiễm, ùn tắc giao thông, lạm phát hai con số và nhận thức rộng rãi về khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng. Những trí thức có tư tưởng dân chủ, những người theo đạo Cơ đốc hoạt động xã hội, sinh viên và công nhân công nghiệp được trả lương thấp sẽ khuấy động, và bất mãn trước các chiến thuật có tổ chức của chính quyền-cảnh sát nhằm ngăn ngừa cuộc đối kháng có tổ chức.
Người dân Triều Tiên hân hoan khi ngày 26/10/1979, giám đốc tình báo Hàn Quốc ám sát Tổng thống Park. Trong bầu không khí phấn khích tột độ, người miền Bắc thậm chí còn đóng cửa trường học của họ. Nhiều tháng hỗn loạn chính trị diễn ra ở miền Nam, khi các lực lượng dân chủ đụng độ với phe nhóm cai trị quân sự mới do Thiếu tướng Chun Doo-hwan lãnh đạo. Thực hiện một số nỗ lực nhằm khai thác tình hình về mặt chính trị, vào tháng 1 năm 1980, miền Bắc đã gửi cho Seoul một đề xuất nhắc lại về các cuộc đàm phán Bắc-Nam
Nhưng miền Bắc không sa vào cám dỗ tiến hành quân sự, trong khi ngược lại, một số báo cáo từ Seoul là những lời nói dối thẳng thừng được các lực lượng của Chun Doo-hwan dựng nên. Tờ Baltimore Sun đã bắt quả tang các quan chức chính phủ Hàn Quốc trắng trợn bịa đặt một báo cáo nhằm xoa dịu các cuộc biểu tình của sinh viên – cho rằng miền Bắc dường như đang tiến hành các động thái xâm lược miền Nam. Nói chuyện với các phóng viên Hàn Quốc tại Seoul vào ngày 10 tháng 5 năm 1980, Thủ tướng Shin Hyon-hack cho biết một “đồng minh thân cận” đã thông báo cho chính phủ Hàn Quốc rằng Quân đoàn 8 do Triều Tiên huấn luyện để xâm nhập đã nằm ngoài tầm giám sát tình báo một thời gian rồi. Đơn vị có thể xuất hiện ở Hàn Quốc, có lẽ là từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 5. Hàn Quốc lúc đó chỉ có hai đồng minh thân cận là Hoa Kỳ và Nhật Bản. Vì vậy, vấn đề đơn giản là kiểm tra và đăng tin trên báo vào sáng hôm sau rằng không có đồng minh nào cung cấp thông tin này. Thay vào đó, người Nhật cho biết người Hàn Quốc đã cố gắng đưa ra “thông tin tình báo” cho họ, cho rằng nó đến từ Trung Quốc – một quốc gia chắc chắn không phải là đồng minh thân cận. Một nguồn tin Nhật Bản cho biết cộc lốc: “Cuộc điều tra của Hàn Quốc dường như giống một quả bóng quảng cáo”.
Sự kiềm chế của Triều Tiên bị thử thách nặng nề vào tháng 5 năm 1980 khi lực lượng đặc biệt Hàn Quốc, thi hành thiết quân luật ở thành phố Kwangju, đã tàn sát hơn hai trăm công dân. Các quan chức an ninh và tình báo Triều Tiên đã theo dõi tin tức trên truyền hình Nhật Bản. “Vào thời điểm đó, chúng tôi nghĩ rằng tất cả mọi người ở đó đều bị giết”, một quan chức cấp cao của Bộ Công an nhớ lại sau khi đào tẩu sang Hàn Quốc. “Có một số người khi xem tivi cảm thấy rằng chúng tôi không thể chỉ ngồi xem mà thay vào đó phải làm gì đó. Nếu sự việc ở Kwangju kéo dài thêm chút nữa thì có thể vấn đề đã trở nên phức tạp hơn.”
Trong sự kiện Kwangju, một phát ngôn viên của Triều Tiên ở Tokyo đã phàn nàn với tôi rằng Hoa Kỳ đang “kích động chúng tôi làm điều gì đó”. Người phát ngôn, một quan chức đối ngoại của Chongryon (Hiệp hội Cư dân Hàn Quốc tại Nhật Bản), dường như nghĩ rằng Seoul và Washington muốn lôi kéo Bình Nhưỡng vào một cuộc can thiệp quân sự nhằm thống nhất một xã hội miền Nam đang rạn nứt đằng sau đội quân phòng thủ của mình.
Chính phủ Hàn Quốc vào thời điểm đó cáo buộc Triều Tiên kiểm soát từ hậu trường, giật dây các sinh viên nổi dậy chống trả với quân đội ở Kwangju. Sau này, khi có cơ hội phỏng vấn những người ở Kwangju, nằm trong thành phần nồng cốt của cuộc nổi dậy, tôi không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy cáo buộc này không gì khác hơn là một sự bịa đặt nữa của chế độ Chun, như trường hợp Quân đoàn miền Bắc được cho là đã mất dấu.
Tuy nhiên, vì bất cứ mục đích gì, Quân đội Nhân dân Triều Tiên luôn trong tình trạng cảnh giác cao độ trong và sau mỗi cuộc khủng hoảng lớn ở miền Nam. Kim Kwang-il, người được thăng cấp trung sĩ hạng nhất, đóng quân ngay trên biên giới Cholwon, tỉnh Kangwon, điều khiển pháo 105 mm được cất giữ trong một đường hầm trên núi sẵn sàng được triển khai để bắn vào Yeoncheon ở Nam Hàn. “Khi Park Chung-hee bị ám sát, tất cả chúng tôi đều chờ đợi chiến tranh, luôn cảnh giác trong đường hầm suốt 60 ngày với mũ sắt, mặt nạ phòng độc và ủng,” Kim Kwang-il nói với tôi sau cuộc đào tẩu sang miền Nam năm 1995. “Các sĩ quan cấp cao nói với chúng tôi rằng Hàn Quốc sẽ xâm lược, nhưng binh lính cho rằng lãnh đạo miền Bắc sẽ ra lệnh tấn công. Có sáu cảnh báo như vậy xảy ra trong thời gian tôi phục vụ, theo cùng một thói quen. Chúng được thúc đẩy bởi các vụ giết người bằng rìu năm 1976, một cuộc diễn tập Mỹ-Hản năm 1977, vụ ám sát Park năm 1979, cuộc nổi dậy Kwangju năm 1980, một cuộc đào thoát lớn năm 1981 và sinh nhật lần thứ 70 của Kim Il-sung năm 1982. Vào thời điểm Kwangju, chúng tôi hiểu rằng có tính trạng bất ổn lớn ở miền Nam nhưng Chun Doo-hwan đã nổi lên và ổn định tình hình. Trong dịp sinh nhật lần thứ 70 của Kim Il-sung, chính quyền miền Bắc hy vọng có thể thống nhất bán đảo như một món quà dành cho ông. Có rất nhiều trường hợp cảnh báo hết hạn sau khi không có chuyện gì xảy ra khiến chúng tôi dần quen với chúng và thờ ơ: ‘Ồ, đó chỉ là một khóa diễn tập khác mà thôi.’”
Năm 1981 đến và Jimmy Carter không còn tại vị nữa để cân nhắc việc giải tán kế hoạch rút quân đang “đóng băng” của mình. Tệ hơn nữa, theo quan điểm của Bình Nhưỡng, Ronald Reagan đã thay thế Carter – và Reagan nhanh chóng thể hiện sự hậu thuẫn mạnh mẽ đối với Chun Doo-hwan, nhà độc tài mới của Hàn Quốc. Bình Nhưỡng không hề tế nhị trong việc bày tỏ cảm xúc của mình. Đài Tiếng nói của Đảng Cách mạng vì Thống nhất, một đài phát thanh của Triều Tiên giả dạng là một cơ quan truyền thông ngầm của Hàn Quốc, đưa tin vụ ám sát Reagan vào năm 1982 là một hình phạt “xứng đáng dành cho một kẻ hiếu chiến và bóp nghẹt nhân quyền.”
Điều đó minh họa một trong những vấn đề mà một nền dân chủ như Hoa Kỳ gặp phải trong việc đối phó với một đất nước được cai trị bởi một cá nhân có đầu óc cứng nhắc và toàn năng. Mặc dù Carter và nhóm chính sách đối ngoại của ông đã rời nhiệm sở từ năm 1980 và bị cử tri Mỹ phế truất, nhưng Kim Nhật Thành, con trai ông là Kim Jong-il và Kim Yong-nam vẫn còn tại vị. Hơn hai thập kỷ sau, Kim Nhật Thành dù đã chết nhưng vẫn chính thức là Chủ tịch Triều Tiên. Kim Jong-il, còn sống, duy trì chế độ gia đình trị không gián đoạn. Và Kim Yong-nam? Trong suốt những năm qua, ông vẫn tiếp tục giữ các chức vụ quan trọng trong quan hệ đối ngoại, cuối cùng trở thành nguyên thủ quốc gia trên danh nghĩa.
Cứ bốn hoặc tám năm một lần, trong khi một chính quyền mới của Mỹ ít nhiều từ số không bắt đầu tìm hiểu những người Triều Tiên này là ai và bắt đầu tìm cách đối phó với họ, thì những người theo dõi Mỹ giàu kinh nghiệm ở Bình Nhưỡng luôn chờ đợi họ dò dẫm.