
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
BẢY : Khi Người ôm chúng tôi vẫn còn đẫm nước biển
Kim Il-sung có thể còn ngủ ít hơn nếu ông nhận ra đầy đủ ý nghĩa của sự kiện ở Seoul ba tháng trước đó, vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Ở miền Nam các sĩ quan quân đội do Thiếu tướng Park Chung-hee lãnh đạo lên nắm quyền trong một cuộc đảo chính. Cuộc đảo chính đã dập tắt chế độ dân chủ mà Hàn Quốc đang thử nghiệm kể từ vụ lật đổ Rhee năm trước bằng cuộc cách mạng do sinh viên lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo mới có ý thức cao về an ninh ở Seoul không chỉ trấn áp những người bất đồng chính kiến; họ cũng nhanh chóng tuyên bố rằng họ sẽ dựng lên những rào cản cao hơn để ngăn chặn sự xâm nhập của các đặc vụ miền Bắc và bọn cánh tả bản địa. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đã là tin xấu đối với Kim, vốn tin rằng việc lật đổ sẽ châm ngòi cho cuộc cách mạng miền Nam, mở đường cho sự thống nhất theo điều kiện của ông.
Phải mất nhiều thời gian hơn để một số hậu quả thậm chí còn sâu rộng hơn trở nên rõ ràng từ việc lên nắm quyền lực của Park. Mặc dù miền Bắc đã vượt qua miền Nam về mặt kinh tế trong thời kỳ hậu Chiến tranh Triều Tiên, việc tiếp quản quân sự ở miền Nam báo hiệu một giai đoạn mới trong cuộc cạnh tranh của họ. Trong vòng vài năm, chế độ độc tài của Park đã cởi trói cho các nhà kinh tế được đào tạo ở phương Tây – một số họ là những nhà lãnh đạo doanh nghiệp xuất sắc và năng động. Sứ mệnh của họ: xây dựng nền kinh tế thị trường theo mô hình Nhật Bản, có sự chỉ đạo quản trị chặt chẽ và tận dụng nguồn lao động giá rẻ, chăm chỉ, được đào tạo bài bản. Các công thức không quá khác biệt so với “chủ nghĩa tư bản nhà nước” mà Kim Il-sung đã bác bỏ vì cho rằng không phù hợp với miền Bắc. Nhưng nó có tác dụng với miền Nam, tạo ra một nền kinh tế tương đối tự do, tích lũy của cải một câch nhanh chóng
Chắc chắn vẫn còn những vấn đề nghiêm trọng ở miền Nam. Một dân chúng ngày càng thịnh vượng, có học thức và tinh tế hơn ngày càng thấy mình xung đột với sự đàn áp mà chế độ độc tài được quân đội hậu thuẫn sử dụng để bảo toàn quyền lực của mình. Miền Bắc cổ vũ phe bất đồng chính kiến ở miền Nam và không bỏ lỡ cơ hội tấn công tính hợp pháp của Park Chung-hee: nhà lãnh đạo Hàn Quốc mới này đã phục vụ trong Quân đội Đế quốc Nhật Bản đáng ghét thời kỳ thuộc địa. Tuyên truyền của miền Bắc tiếp tục miêu tả miền Nam là một nhà nước bù nhìn,
nơi đế quốc Mỹ xâm lược đã chiếm lấy các địa vị cao nhất của bọn bóc lột, phản bội, đàn áp nhân dân, đè cổ nhân dân. Trong những túp lều và hầm trú ẩn người dân đang than thở về nạn nghèo đói của mình, trong khi bọn cướp bóc thỏa mãn bằng máu mủ và mồ hôi của nhân dân, say sưa chè chén trong các dinh thự giống như cung điện của chúng. Giai cấp thống trị vung lưỡi lê, thống trị quyền lực và của cải, đàn áp nhân dân đấu tranh giải phóng, thống nhất theo ý muốn, khiến đất nước trở thành một lò sát sinh.
Trong khi tình trạng bất ổn chính trị thường xuyên ở miền Nam không làm chệch hướng tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đáng kinh ngạc của nước này thì miền Bắc bắt đầu gặp phải những hạn chế mà nền kinh tế chỉ huy thường gặp phải.
Trong khi đó, đối mặt với cả những mối đe dọa thực tế và tưởng tượng, Kim đã tự mình quân sự hóa nền kinh tế ở mức độ chưa từng có. “Bước ngoặt,” theo Hwang Jang-yop, lúc đó là thư ký hệ tư tưởng của ông, “đến vào cuối những năm 1960.” Vỡ mộng bởi cả bọn theo chủ nghĩa xét lại ở Liên Xô và phe cánh tả hoang dã sau đó phát động Chiến dịch Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, Kim Il-sung “quyết định rằng đảng của ông phải dựa vào sức mạnh của chính mình để giải phóng Hàn Quốc và thống nhất đất nước.” Theo đó, Kim bắt đầu chiến dịch quân sự hóa của mình.
Mặc dù chủ nghĩa quân phiệt theo thời gian sẽ làm tê liệt nền kinh tế dân sự, nhưng Triều Tiên trong thập niên 60 vẫn có được động lực nhất định. Theo một ước tính, vào cuối năm 1965, mức GNP bình quân đầu người là 292 USD của miền Bắc đã cao hơn gấp ba lần mức 88 USD của miền Nam. Đó là những năm vàng son của cuộc sống miền Bắc, theo cư dân cũ hồi tưởng. Trong những năm 1950 và 1960, “dù khó có được cuộc sống dễ dàng, thoải mái nhưng ít nhất khẩu phần ăn vẫn đến đều đặn và không bao giờ bị trì hoãn”, Lee Ok-keum, người sinh năm 1949 và cùng chồng trốn vào Nam và gia đình vào năm 1994, nói với tôi. “Thực sự có những hàng hóa được sản xuất tại Triều Tiên mà bạn có thể mua ở các cửa hàng – quần áo, vải vóc, đồ lót, kẹo.”
Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc tăng tốc thì tốc độ tăng trưởng ở miền Bắc lại giảm dần. Trong khi các kế hoạch kinh tế nhà nước vào cuối những năm 1940 và từ giữa đến cuối những năm 50 được cho là đã đạt được mục tiêu ít nhiều theo kế hoạch, tốc độ tăng trưởng từ đó trở đi không đáp ứng được kỳ vọng của các nhà quy hoạch Bắc Triều Tiên. “Kế hoạch bảy năm” đầu tiên bắt đầu vào năm 1961, kéo dài thêm ba năm. Các kế hoạch tiếp theo cũng không thể hoàn thành nếu không gia hạn thêm hai hoặc ba năm.
Những kết quả đáng thất vọng đó xảy ra bất chấp một loạt chiến dịch và phong trào quần chúng nhằm mục đích thu được sản lượng lớn hơn từ nền kinh tế. Phong trào Chollima của Kim đã mang lại những lầm lẫn nghiêm trọng vào năm 1959, khi các nhà lập kế hoạch phân bổ sai nguồn lực cho các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Chất lượng sản xuất giảm sút, và các đơn vị kinh tế mong muốn được làm hài lòng đã đưa ra những chỉ tiêu thổi phồng về sản lượng của họ. Kim góp thêm các nguồn động viên, nhưng thiếu tiền thưởng. Ông kết hợp việc truyền bá tư tưởng với các giải thưởng, bao gồm cả những kỳ nghỉ miễn phí, các huân chương, bằng khen và danh hiệu cao quý cho thành tích vượt chỉ tiêu sản xuất. Những khuyến khích đó tỏ ra không đủ.
“Hệ thống làm việc Tae-an” của Kim, được đặt tên theo một nhà máy mà ông đến thăm vào năm 1961 khi đưa ra chỉ đạo, được cho là sẽ giảm bớt tình trạng kém hiệu quả của bộ máy quan liêu. Trên thực tế, nó tập trung mọi quyền lực vào tay các bí thư đảng, những người lần lượt đại diện cho ý chí của Lãnh tụ vĩ đại. Hwang Jang-yop, người giữ các chức vụ cao trong cả đảng và chính quyền trước khi đào tẩu vào năm 1997, giải thích cách thức hoạt động của nó:
Giả sử thủ trưởng đã đưa ra một số chỉ thị cho một quản lý nhà máy nào đó. Các quản lý nhà máy sẽ báo cáo ngay với đảng ủy nhà máy và tuân theo chỉ đạo của đảng ủy . . . Thủ trưởng không có thẩm quyền chỉ đạo đảng ủy nhà máy. Đảng uy nhà máy sẽ xem chỉ thị của thủ trưởng có tương xứng với ý chí của Lãnh tụ vĩ đại hay không, nếu quyết định không thì sẽ không thực hiện chỉ đạo đó mà báo cáo cấp ủy giám sát và chờ chỉ đạo trước khi tiến hành tiếp.”
Hwang minh họa thêm quan điểm của mình bằng cách lưu ý rằng với tư cách là hiệu trưởng của Đại học Kim Il-sung, ông đã giữ chức vụ bộ trưởng trong nội các. “Tôi cũng là Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tối cao và là thành viên của ủy ban trung ương đảng, và do đó cao hơn các bộ trưởng nội các còn lại một bậc. Như vậy, xét về địa vị trong đảng và nhà nước, bí thư đảng ủy giám sát trường đại học kém tôi rất nhiều. Vậy mà mọi quyền lực trong trường đại học vẫn nằm trong tay bí thư đảng, và hiệu trưởng trường đại học nằm dưới sự chỉ huy của ông ta.” Hwang nói, hệ thống làm việc của Tae-an “chỉ làm tê liệt tính sáng tạo và tính tự phát của các quan chức hành chính và kinh tế.” và hợp thức hóa bộ máy quan liêu của cán bộ đảng.”
Sức mạnh kinh tế chuyển thành sức mạnh chính trị và quân sự. Sự phục hồi nền kinh tế miền Nam của Park Chung-hee có nghĩa là miền Nam giờ đây sẽ có cơ hội đạt được sự thống nhất cuối cùng theo các điều kiện của mình. Cuộc cạnh tranh ngày càng rõ ràng hơn. Hầu hết người dân Triều Tiên tin rằng việc thống nhất sớm hay muộn là điều tất yếu. Hiện nay có một khả năng là miền Nam, bằng cách vượt qua và áp đảo miền Bắc về mặt kinh tế, sẽ tạo tiền đề cho miền Bắc sa sút tinh thần rơi vào lòng mình. Khả năng còn lại là miền Bắc sẽ giành được giải thưởng bằng cách kiên nhẫn theo đuổi các chiến thuật lật đổ, sau đó can thiệp vào thời điểm miền Nam yếu kém để cộng sản hóa miền Nam – phụ thuộc vào việc đánh bật hoặc vô hiệu hóa lực lượng Mỹ hậu thuẫn miền Nam.
Sau khi sử dụng thuật ngữ juche vào năm 1955 để mô tả chính sách tự lực tự cường của mình, Kim đã nói rất ít về nó trong một thời gian. Tuy nhiên, đến đầu những năm 1960, Kim đã nghiêng về phía Bắc Kinh trong tranh chấp Trung-Xô. Khrushchev ở Moscow đang đề cao quan điểm rằng các nước cộng sản nên loại bỏ việc tăng cường sức mạnh quân sự. Thay vào đó họ nên tập trung vào cạnh tranh hòa bình với các nước tư bản để phát triển nền kinh tế của mình. Moscow đảm bảo với các nước cộng sản nhỏ hơn rằng họ không cần phải lo lắng; sức mạnh vũ trang hạt nhân của siêu cường Liên Xô sẽ ngăn cản việc tấn công của phương Tây.
Đối với Kim, nói như vậy có một ý nghĩa rất không được hoan nghênh: Ông không thể mong đợi sự giúp đỡ nào từ Khối Xô Viết trong việc thống nhất Triều Tiên bằng vũ lực. Khái niệm chung sống hòa bình – liệu Liên Xô có chung sống với Đế quốc Mỹ thù ghét hay sự chung sống của Bắc Triều Tiên với Hàn Quốc – là điều đáng nguyền rủa đối với ông kể từ những năm 1950. Ông vẫn có trong chương trình nghị sự của mình những mục tiêu quan trọng là thúc đẩy người Mỹ rút quân, xúi giục một cuộc cách mạng miền Nam và thống nhất Triều Tiên dưới sự cai trị của mình. (Như một tiểu sử chính thức đã viết, ông đã “dẫn dắt đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Triều Tiên, quét sạch chủ nghĩa đế quốc Mỹ và tay sai, cũng như cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân Triều Tiên cho sự thống nhất quốc gia.”)
Năm 1963, trong hoàn cảnh như vậy, Kim lại chọn chủ đề juche. Sau đó ông không bao giờ chán khi nói về nó. Theo Kim, “Tóm lại, juche có nghĩa là ”có thái độ làm chủ đối với cách mạng và xây dựng đất nước của mình. Nó có nghĩa là “kiềm chế sự phụ thuộc vào người khác”. Nó có nghĩa là “dùng khối óc của mình, tin vào sức mình và thể hiện tinh thần tự lực cách mạng, từ đó tự giải quyết vấn đề của mình bằng trách nhiệm của mình trong mọi hoàn cảnh”. Kim tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của bất kỳ nước xã hội chủ nghĩa nào trong việc “áp dụng những nguyên tắc phổ quát của chủ nghĩa Mác – Lê và kinh nghiệm của các nước khác cho phù hợp với điều kiện lịch sử và đặc thù dân tộc của nước mình”. Nói cách khác: Đừng để Moscow hay Bắc Kinh giật dây bạn.
Tuy nhiên, cuối cùng, juche, bước ngoặt trong nước của Kim, đã chứng tỏ sự hạn chế đối với sự tăng trưởng kinh tế của miền Bắc giống như nền kinh tế kế hoạch theo kiểu Stalin. Những hạn chế đã trở nên đặc biệt rõ ràng khi xét đến những gì Park Chung-hee đang bắt đầu thực hiện ở miền Nam. Nguồn tài nguyên thiên nhiên của bán đảo Triều Tiên tập trung ở miền Bắc, ngoài tầm kiểm soát của người miền Nam. Ngay cả nếu điều đó không xảy ra thì bán đảo này – thiếu dầu mỏ và một loại thiết yếu công nghiệp khác, than cốc – không thể tự cung tự cấp và do đó không bao giờ có thể tự chủ hoàn toàn. Người miền Nam chuyển sang buôn bán quốc tế, ở cực đối diện với juche. Họ sẽ nhập khẩu các mặt hàng cơ bản, sau đó tái chế biến chúng bằng vốn vay và lao động địa phương giá rẻ. Cuối cùng, họ sẽ xuất khẩu thành phẩm.
Năm 1965, Hàn Quốc bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, nước cung cấp 300 triệu USD viện trợ và 200 triệu USD cho vay để bồi thường cho những thiệt hại gây ra trong thời kỳ thuộc địa. Số tiền đó, cộng với mối quan hệ kinh doanh được tăng cường với Nhật Bản, đã giúp Hàn Quốc có một khởi đầu thuận lợi hướng tới “phép lạ” đưa nước này trở thành quốc gia dẫn đầu các nền kinh tế “con hổ” đang phát triển nhanh chóng ở châu Á. Theo một phân tích, tốc độ tăng trưởng của miền Nam đã vượt xa tốc độ tăng trưởng của miền Bắc từ năm 1966 – và vào năm 1976, GNP bình quân đầu người của miền Nam lần đầu tiên đã vượt qua miền Bắc.
Sau khi giảm bớt sự chú trọng vào quân sự sau Chiến tranh Triều Tiên, Kim Il-sung vào những năm 1960 đã tiếp tục chính sách xây dựng lực lượng vũ trang của mình một cách quyết liệt hơn. Mặc dù khó có thể đo lường được những tổn thất tinh thần nhưng rõ ràng là nỗi ám ảnh ngày càng tăng của Kim về an ninh là cực kỳ tốn kém xét về mặt phát triển kinh tế. Chính sách duy trì ưu thế quân sự của ông đối với miền Nam đông dân hơn nhiều đã chứng tỏ là một gánh nặng đè bẹp – và về lâu dài, là phản cạnh tranh.
Nhiều nhà phân tích Triều Tiên và phương Tây lập luận rằng nỗ lực quân sự hóa không gì khác ngoài giấc mơ tiếp tục chinh phục miền Nam bằng quân sự của Kim. Mặt khác, miền Bắc luôn cho rằng điều này xuất phát từ nguy cơ Hàn Quốc được Mỹ hậu thuẫn sẽ bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và Bình Nhưỡng sẽ phải tự vệ. Quan điểm của tôi là chính sách của Kim kết hợp các yếu tố tấn công và phòng thủ – mặc dù mối lo ngại về phòng thủ của ông ở mức độ lớn thể hiện nỗi lo sợ của ông về hậu quả của chính sách tấn công của mình. Bất chấp các liên minh quân sự với Trung Quốc và Liên Xô, cũng như sự đảm bảo bảo vệ của Khrushchev, Kim lo ngại rằng ông không thể trông cậy vào các đồng minh để giải cứu mình trong trường hợp cuộc tranh giành của ông với miền Nam sẽ dẫn đến một cuộc chiến mới với người Mỹ. Nếu không có một hàng phòng ngự không thể xuyên thủng, ổng không thể yên tâm thực hiện các biện pháp tấn công.
Kim trở nên hết sức lo lắng từ đầu những năm 1960 khi ông cảm thấy khó hòa hợp với các đồng minh Liên Xô của mình. Cơ hội cho cuộc tấn công về phía nam lần thứ hai xảy ra trong thời điểm hỗn loạn do cuộc nổi dậy của sinh viên Hàn Quốc chống lại Rhee vào tháng 4 năm 1960. Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Nga đều kêu gọi không nên hành động, theo lời khai sau đó của Hwang Jang-yop. Giới lãnh đạo Bình Nhưỡng không đủ can đảm để làm việc đó một mình, đặc biệt khi họ vừa hoàn tất việc tái thiết đất nước từ đống đổ nát của Chiến tranh Triều Tiên lần thứ nhất. Năm 1962, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã trừng mắt với Khrushchev trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba; và chính người Nga phải chớp mắt, đồng ý loại bỏ bệ phóng tên lửa của Liên Xô ở Cuba, nguồn gốc gây nên cuộc khủng hoảng. Mối lo ngại ngày càng tăng của Kim Il-sung rằng ông không thể phụ thuộc vào bên được cho là kẻ hậu thuẫn lớn nhất của mình trong thế giới cộng sản đã truyền cảm hứng cho một vòng công du ngoại giao lớn nhằm tìm kiếm bạn bè giữa các nước cộng sản nhỏ hơn và các nước thuộc Thế giới thứ ba.
Ngay khi ông tách khỏi Moscow vì nước này tiếp tục thách thức với học thuyết mở rộng cách mạng, vì thế Kim cuối cùng đã quay sang Bắc Kinh – vì không thể gác sang một bên các tranh cãi của mình với Moscow về lợi ích của cách mạng Việt Nam. Trước khi tranh chấp đó nguội lạnh, Hồng vệ binh Trung Quốc đã công kích lối sống rất phi cộng sản của Kim, chế nhạo ông là “béo phì”, “phản cách mạng”, “triệu phú, quý tộc và là thành phần tư sản hàng đầu ở Triều Tiên.”
Trong khi đó, những nỗ lực của Mỹ nhằm loại bỏ Fidel Castro ở Cuba và đánh bại Việt Cộng khiến Kim tự hỏi liệu ông có phải là người tiếp theo hay không. Thái độ của ông không chỉ là hoang tưởng. Ngoài mối lo ngại về vũ khí hạt nhân chiến thuật mới của Mỹ, ông còn lo lắng về các biện pháp ít trực tiếp hơn mà Hoa Kỳ và Hàn Quốc đang sử dụng để tấn công chế độ của ông. Trong khi người Bắc Triều Tiên hy vọng lật đổ Hàn Quốc, thì đó cũng chính là điều mà Hàn Quốc và người hậu thuẫn Mỹ hy vọng làm được với Bắc Triều Tiên. Như một biện pháp kiểm soát, chế độ chiếm đóng của Liên Xô trong những năm 1940 đã khởi xướng một điều được cho là mô hình cô lập Triều Tiên sẽ kéo dài trong nhiều thập kỷ. Washington đã tìm cách tăng cường sự cô lập đó như một phần trong nỗ lực gây áp lực có thể khiến hệ thống miền Bắc tan rã.
Việc lắp đặt chế độ mới được quân đội hậu thuẫn bên kia DMZ ở miền Nam năm 1961 chắc chắn không làm giảm bớt lo lắng của Kim về điểm này. Vào khoảng thời gian đó, Kim đã phủ lên miền Bắc một tấm màn bí ẩn và độc chiếm có thể so sánh với chủ nghĩa biệt lập hàng thế kỷ trước khi mở cửa vào thế kỷ 19 với phương Tây và mang lại cho Triều Tiên biệt hiệu “vương quốc bí ẩn”. rõ ràng là làm cho người dân không thể tiếp cận được các nỗ lực tuyên truyền và lật đổ khác. Trong khi người Hàn Quốc và người Mỹ thích nghĩ rằng sự cô lập sẽ đe dọa quyền cai trị của mình, Kim tin rằng sự cô lập hơn nữa là cách để bảo tồn hệ thống của ông. Trong hơn bốn thập kỷ tới, ông chưa bao giờ được cho thấy là mình sai về điều đó.
Sự thay đổi mà Kim thực hiện thật ấn tượng. Trong thời gian nhà ngoại giao Rumani Izidor Urian đến Bình Nhưỡng lần đầu tiên từ năm 1954 đến năm 1959, “người dân Triều Tiên đối xử tử tế với tôi và tôi có thể tự do gặp gỡ mọi người. Lúc đó tôi được phép đi lại tự do hầu hết mọi nơi ở Triều Tiên”. Urian trở lại Bình Nhưỡng vào năm 1963 và nhận thấy một bầu không khí hoàn toàn khác. Ngay cả các nhà ngoại giao được phái đến từ các quốc gia cộng sản thân thiện cũng chỉ được đi lại giới hạn ở thủ đô và chỉ được phép tiếp xúc ở mức tối thiểu với người Triều Tiên. Nếu không có giấy phép đặc biệt, họ chỉ có thể đến thăm một số địa điểm như bể bơi ở Nampo, phía tây Bình Nhưỡng và bảo tàng Kim Il-sung ở núi Myohyang, cách thủ đô khoảng 150 km về phía bắc. Urian sau đó viết rằng từ năm 1963, ông “gặp được các quan chức chính phủ chỉ tại Bộ Ngoại giao và một số phòng ban khác và một ít thông tín viên. Cho đến khi kết thúc nhiệm vụ ở Bình Nhưỡng vào năm 1983, ông không có cơ hội gặp gỡ dân thường ở Bình Nhưỡng nữa. Ngay cả trong các bữa tiệc dành cho người nước ngoài, người Triều Tiên cũng đứng riêng thay vì hòa nhập với khách của họ.
Nếu người Rumani và Cuba đến công tác và tham quan còn cảm thấy mình bị cô lập và hạn chế ở Bình Nhưỡng, thì phần lớn công dân của các nước phương Tây thậm chí còn bị cấm nhập cảnh vào Triều Tiên ngay từ đầu. Đối với họ và đối với người dân Hàn Quốc, các trận chiến phía trên vĩ tuyến 38 trong Chiến tranh Triều Tiên cho thấy đó là cơ hội cuối cùng để nhìn thoáng qua Triều Tiên trong nhiều thập kỷ. Ngay cả khi họ có thể vào được, họ sẽ gặp phải một cộng đồng được đào tạo để không nói gì với họ. Cảm thấy cần phải biết chuyện gì đang xảy ra ở miền Bắc, nhưng nhận thấy ngày càng khó có được thông tin tình báo con người, Washington và Seoul đã sử dụng đến biện pháp giám sát điện tử và chụp ảnh bằng máy bay và tàu thủy.
Một số nhà phân tích đã tìm cách giải thích những gì đang xảy ra ở Triều Tiên gần như hoàn toàn bằng mối đe dọa mà đất nước phải đối mặt từ các lực lượng vũ trang hạt nhân của Mỹ và các đồng minh Hàn Quốc của họ.
Quả thực, Triều Tiên đang bị dồn ép vô cùng mạnh mẽ. Tuy nhiên, cuối cùng thì lập luận đó không thuyết phục. Các quốc gia khác đã cảm thấy mình đang bị bao vây mà vẫn không đi đến mức của tình trạng tự cô lập cực đoan, của sự cai trị độc tài được xây dựng một cách có hệ thống dựa trên những lời dối trá to lớn và khơi dậy lòng căm thù của quần chúng. Bất cứ điều gì họ nói với người dân của mình, vì mục đích tuyên truyền, về những kế hoạch độc ác của Mỹ, bộ các nhà lãnh đạo Bình Nhưỡng thực sự không thể hiểu được rằng vũ khí hạt nhân của Mỹ được đưa đến Triều Tiên chỉ với mục đích ngăn chặn Triều Tiên khiêu khích hoặc khởi phát một cuộc chiến tranh khác? Từ một góc độ khác, có vẻ rõ ràng rằng vũ khí ở đó chính xác là do Hoa Kỳ không muốn đánh một cuộc chiến toàn diện khác – càng không muốn (ít nhất là vào thời điểm hiện tại) khởi xướng một cuộc chiến tranh khác. Cũng rõ ràng không kém là Washington quyết tâm kềm giữ cho Seoul không được châm ngòi Chiến tranh Triều Tiên lần thứ hai.
Bất kể mối đe dọa nào ông có thể cảm thấy từ các nỗ lực gián điệp và lật đổ của Mỹ và Hàn Quốc, Kim Il-sung đều góp thêm phần của mình vào mối đe dọa hoang tưởng. Vào tháng 9 năm 1961, ông gióng lên chủ đề chống Mỹ, kêu gọi người dân miền Nam từ chối nghĩa vụ quân sự, đấu tranh chống lại các căn cứ quân sự của Mỹ và đóng cửa các nhà máy bằng các cuộc đình công và phá hoại. Đồng thời ra lệnh xây dựng lại đảng cộng sản ở miền Nam. Năm 1964, một nhóm cách mạng ngầm, Đảng Cách mạng Thống nhất, được thành lập ở miền Nam với cương lĩnh 12 điểm rất giống cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đảng có nhiệm vụ thu hút người dân miền Nam, đặc biệt là giới trí thức, tham gia phong trào cộng sản dưới sự lãnh đạo của Kim Il-sung.
Thất bại trong việc tận dụng cuộc cách mạng sinh viên Hàn Quốc năm 1960 hoặc ngăn chặn cuộc đảo chính quân sự năm 1961, Kim dường như đã quyết tâm sẵn sàng khi cơ hội lần sau có thể gõ cửa. Vào tháng 12 năm 1962, giới lãnh đạo đảng Bắc Triều Tiên chính thức nâng mức chuẩn bị quân sự ngang bằng với phát triển kinh tế, với lý do cả tình hình quốc tế và “khủng hoảng sâu sắc của Hàn Quốc.”
Khi quân đội Triều Tiên xây dựng sức mạnh, binh lính của họ ngày càng tham gia nhiều hơn vào các cuộc tấn công quy mô nhỏ vào kẻ thù dọc theo DMZ. Một giả thuyết cho rằng những cuộc đụng độ đó nhằm mục đích tiêu dùng trong nước – để giữ căng thẳng ở mức cao. Nhờ đó, chế độ có thể biện minh cho những hy sinh đã được thực hiện để xây dựng quân đội vào thời điểm mà mối quan hệ căng thẳng với Liên Xô cũng góp phần gây ra khó khăn kinh tế. Các cuộc đụng độ ở biên giới trở nên đặc biệt thường xuyên hơn bắt đầu từ năm 1967 khi số vụ việc được báo cáo vượt quá 550 – tăng gấp 10 lần so với con số năm 1966. Từ năm 1967 đến năm 1969, 38 người Mỹ thiệt mạng và 144 người bị thương, trong đó thương vong của Hàn Quốc cũng tương ứng với con số đó.
Không còn nghi ngờ gì nữa, có mối liên hệ giữa lực lượng quân sự tăng gấp đôi của Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam. Kim Nhật Thành chỉ trích sự can thiệp to lớn của Mỹ ở Đông Dương là chủ nghĩa đế quốc đang ở thời điểm tồi tệ nhất. Từ năm 1965, lực lượng Hàn Quốc đã được phái đi đến Nam Việt Nam để gánh bớt một phần gánh nặng cho quân đội Mỹ và mang lại cho binh lính Hàn Quốc kinh nghiệm chiến đấu quý giá. Kim bắt chước làm theo, phái máy bay chiến đấu và phi công đến Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, cùng lúc đó, vũng lầy ở Việt Nam lại làm kẻ thù Hàn Quốc phân tâm, điều mà ông Kim đang chờ đợi. Làm suy yếu kẻ thù đó sẽ là một phần lãi từ sự hỗ trợ của chính ông đối với những người cộng sản Việt Nam. Sự đồng nhất của Kim với Hồ Chí Minh và mối quan hệ chặt chẽ của ông với Bắc Việt gợi ý rằng chiến lược của Hà Nội nhằm giải phóng miền Nam Việt Nam ông thấy cũng có giá trị để sử dụng chống lại Hàn Quốc, nếu có thể chuẩn bị đầy đủ.
Rõ ràng với hy vọng đưa Hàn Quốc vào tình trạng hỗn loạn không có người lãnh đạo, và từ đó khởi động một cuộc cách mạng xã hội mở đường cho sự thống nhất dưới chế độ của mình, Kim đã thực hiện một âm mưu khủng bố táo bạo. Vào tháng 1 năm 1968, 31 lính biệt kích của Quân đội Nhân dân Triều Tiên đã vượt qua DMZ cải trang thành lính Hàn Quốc. Lệnh của họ là ám sát Tổng thống Hàn Quốc Park, và họ đã ghi nhớ sơ đồ thiết kế của Nhà Xanh, dinh tổng thống Park. Trên đường đi, họ tình cờ gặp một số tiều phu người Hàn Quốc, những người này đã đoán được nhân thân của họ. Ra lệnh không cho cấp dưới trong nhóm muốn giết họ, tên chỉ huy biệt kích thả nhóm tiều phu đi kèm với lời cảnh báo không được báo cáo những gì mình đã thấy. Sự khoan dung đó đã tỏ ra nguy hiểm cho sứ mệnh. Nhóm tiều phu đã báo cáo sự việc cho chính quyền Hàn Quốc. Biệt kích thâm nhập vào Seoul và tiến gần Nhà Xanh trong vòng một km, thì bị cảnh sát chặn lại vào đêm 21 tháng 1. Hầu hết biệt kích đều bị giết, chỉ một số ít trốn thoát được qua những ngọn núi.
Trước đó cùng ngày, ngoài khơi cảng Wonsan ở bờ biển phía đông của Triều Tiên, một tàu săn tàu ngầm của Triều Tiên đã phát hiện ra Pueblo, một tàu do thám nhỏ, chỉ được trang bị vũ khí chiếu lệ của Hải quân Hoa Kỳ trong chuyến hành trình đầu tiên. Được trang bị các thiết bị điện tử phức tạp, tàu Pueblo đang kiểm tra hệ thống phòng thủ bờ biển của Triều Tiên, cố gắng xác định chính xác các vị trí, nhiệm vụ và tần số lắp đặt radar của Triều Tiên. Tình báo này có thể giúp người Mỹ chuẩn bị gây nhiễu hoặc đánh lừa các radar đó trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến khác. Con tàu cũng đang theo dõi các thông tin liên lạc được mã hóa, để thu thập tài liệu cho các chuyên viên phá mã ở Washington và lắng nghe các thông tin liên lạc không được mã hóa có thể giúp đánh giá chuỗi lệnh chiến đấu, trang bị và tinh thần của các lực lượng Triều Tiên. Các nhà hải dương học trên tàu đang thu thập thông tin về vùng biển ngoài khơi Triều Tiên.
Không biết về vụ ám sát thất bại ở Seoul đã đột ngột làm gia tăng căng thẳng ở Triều Tiên, thuyền trưởng của tàu Pueblo tiếp tục sứ mệnh của mình. Chỉ huy Lloyd M. Bucher tin chắc rằng con tàu đang ở vùng biển quốc tế và do đó không gặp nguy hiểm. Tuy nhiên, vào ngày 23/1, tàu chiến Triều Tiên đã khải hỏa vào Pueblo. Bị áp đảo về vũ khí, Bucher không bắn trả mà tập trung vào hành động né tránh, trong khi thủy thủ đoàn của ông ta phá hủy các thiết bị và dữ liệu nhạy cảm. Nhân viên điện đài đã báo động cho Lực lượng Không quân Hoa Kỳ và sự yểm trợ được cho là đang trên đường tới. Tuy nhiên, không có lực lượng cứu hộ thực sự nào của Mỹ được phái đi. Tổng thống Lyndon B. Johnson được cho là đã nói với phóng viên tạp chí Time trong ngày đầu tiên của cuộc khủng hoảng: “Nếu chúng ta bắt đầu phái pháo hạm ra ngoài để bảo vệ những người thu thập thông tin thì chúng ta phải có ngân sách 500 tỷ USD mỗi năm. Sự quấy rối đó là một phần công việc.”
Với việc bản thân và ba người của mình bị thương, một trong số họ nguy kịch đến mức sắp chết, Bucher đã đầu hàng. Đây là lần đầu tiên một tàu Hải quân Hoa Kỳ đầu hàng trong thời bình kể từ vụ USS Chesapeake năm 1807 – và thuyền trưởng của Chesapeake chỉ bỏ cuộc sau khi bắn “một phát súng vì danh dự của lá cờ.” Những kẻ tấn công đã đưa Pueblo vào cảng và bắt giữ thủy thủ đoàn của nó, buộc tội họ đã do thám bên trong lãnh hải của Triều Tiên. Các thành viên thủy thủ đoàn, bị bịt mắt, được dẫn ra khỏi tàu về phía một chiếc xe buýt đang chờ sẵn. Trên đường đi, họ phải hứng chịu những tiếng la hét và đòn đánh của hàng trăm thường dân xếp hàng hai bên đường.
Trong một cuộc họp tại làng đình chiến Panmunjom, Hoa Kỳ trước tiên phản đối cuộc đột kích vào Nhà Xanh và sau đó là việc chiếm giữ tàu Pueblo, yêu cầu trả lại tàu và người ngay lập tức. Đại diện Bắc Triều Tiên Thiếu tướng Pak Chung-kuk, trả lời:
Dân gian có câu: “Chó điên sủa trăng”…. Tôi không thể không thương hại bạn, người bị buộc phải cư xử như một kẻ lưu manh, bất chấp tuổi tác và danh dự của mình để thực hiện những ý định điên rồ của tên cuồng chiến tranh Johnson chỉ vì bánh mì và đô la để giữ mạng sống. Để duy trì sự sống của bạn, có lẽ bạn đã từng phục vụ Kennedy, người đã bị đày xuống địa ngục. Nếu bạn muốn thoát khỏi số phận tương tự của Kennedy, người giờ đã là một xác chết thối rữa, thì đừng nên đắm mình trong sự phản kháng tuyệt vọng.
Chuẩn Đô đốc John Victor Smith, đại diện cấp cao của Hoa Kỳ tại Bàn Môn Điếm, tại một phiên điều trần muộn hơn nhiều đã ra làm chứng đáp trả rằng bọn Triều Tiên “chỉ cao hơn động vật một bước”. Tuy nhiên, trong khi gặp Pak, ông ta phải tạm thời bằng lòng với việc thổi khói xì gà vào mặt đối thủ của mình. Smith tin rằng vụ ám sát ở Seoul, sau đó là vụ chiếm giữ Pueblo, đã cho thấy Kim Il – sung muốn gây chiến.
Các quan chức cấp cao hơn của Hoa Kỳ, đã không thể ngăn chặn việc bắt giữ con tàu khi nó đang được tiến hành, trong khi đó lại thất vọng vì không thể đưa ra kế hoạch giúp đỡ 82 thủy thủ bị cầm tù, đồng thời trừng phạt Bình Nhưỡng vì hành động trơ trẽn của họ. Các chính trị gia diều hâu muốn tham chiến. Đến năm 1968, ở một mức độ đáng kể, lựa chọn hạt nhân đã thống trị suy nghĩ của người Mỹ về an ninh Triều Tiên. Một lý do khiến Lực lượng Không quân Hoa Kỳ không đến hỗ trợ Pueblo trong cuộc tấn công của Triều Tiên được cho là vì 7 chiếc F-4 mà lực lượng này đóng tại Hàn Quốc đều được trang bị vũ khí hạt nhân. Nhưng một số người Mỹ đã sẵn sàng sử dụng những vũ khí như vậy. Nghị sĩ L. Mendel Rivers, chủ tịch Ủy ban Quân vụ Hạ viện, kêu gọi ném bom hạt nhân vào một thành phố Bắc Triều Tiên. “Bom, bom, bom,” ông ta yêu cầu. Thậm chí một số thủy thủ đoàn bị bắt sau này còn nói rằng họ hy vọng Mỹ sẽ trả đũa bằng hạt nhân đối với Triều Tiên. Ở Hàn Quốc cũng vậy, báo chí và các quan chức đã kêu gọi Hoa Kỳ giúp trả thù cuộc đột kích Nhà Xanh – và có lẽ trong quá trình đó sẽ có cơ hội thống nhất đất nước.
Johnson triệu tập các đơn vị quân đội dự bị nhưng cuối cùng quyết định phản đối phản ứng quân sự. Các quan chức hàng đầu đã bác bỏ không chỉ chiến tranh hạt nhân mà cả các lựa chọn thông thường – đánh bom, pháo kích, khiến người Hàn Quốc tức giận tiến hành một cuộc đột kích quy mô tiểu đoàn xuyên qua DMZ. Bất kỳ hành động nào như vậy sẽ khó có thể giúp đưa thủy thủ đoàn của Pueblo trở về an toàn và có nguy cơ gây ra sự trả đũa của Liên Xô hoặc Trung Quốc và có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh thế giới khác. Người Hàn Quốc tính đến việc tấn công bằng máy bay của mình, nhưng vấn đề là các sân bay của họ “mềm” – không được bảo vệ, dễ bị tấn công – trong khi các sân bay của miền Bắc đã được củng cố. Cuối cùng Seoul đồng ý kiềm chế để đổi lấy lời hứa của Mỹ viện trợ trị giá 100 triệu USD, chủ yếu nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của miền Bắc trong tương lai
Sau 36 giờ bị giam cầm, đánh đập và tra tấn, Bucher đã ký một “bản thú tội” mà người Bắc Triều Tiên đã viết bằng thứ tiếng Anh cứng nhắc. Bọn bắt giữ không hài lòng với nỗ lực ban đầu đó. Hậu thuẫn cho các yêu cầu của họ bằng sự ép buộc, trong mười một tháng tiếp theo, họ ngày càng khăng khăng đòi những lời thú tội và tuyên bố hèn hạ. Tù binh Mỹ đôi khi chịu khuất phục – nhưng họ đã chèn những câu chuyện cười vào các tài liệu đó để trấn an người ở nhà rằng lời thú tội của họ không chân thành mà bị ép buộc. Được yêu cầu liệt kê các đối tác và cố vấn trong hoạt động gián điệp, họ giữ vẻ mặt nghiêm túc khi nêu tên những nhân vật truyện tranh Buzz Sawyer và điệp viên truyền hình Maxwell Smart. Một tuyên bố có ý thừa nhận rằng Pueblo đã vi phạm vùng biển của Triều Tiên, người Triều Tiên không hề biết, là một trích dẫn trực tiếp từ định nghĩa pháp lý của tội hiếp dâm “xâm phạm, dù nhẹ đến đâu, cũng đủ để cấu thành hành vi.”
Trong những gì có thể xem như một ẩn dụ cho lịch sử kéo dài hàng thập kỷ nói chuyện qua lại giữa người Mỹ và người Bắc Triều Tiên, các thành viên tàu Pueblo trong một cuộc họp báo đã bắt chước những khuôn mẫu sáo ngữ khoa trương của bọn bắt giữ mình để chế nhạo những người Bắc Triều Tiên không hiểu biết. Người Mỹ bày tỏ khao khát về “đất mẹ quê của chúng tôi”, về việc trở về “trong lòng tổ quốc”. Những trò đùa như vậy đã phản tác dụng khi Time đăng một bức ảnh những tù nhân người tàu Pueblo đang giơ lên ngón giữa của họ. Tạp chí giải thích rằng đây là “tín hiệu chế nhạo và khinh bỉ của Hoa Kỳ.” Đó là một bất ngờ khó chịu đối với Bình Nhưỡng, vì các thủy thủ đoàn đã mô tả cử chỉ này là một dấu hiệu may mắn của người Hawaii. Theo người chỉ huy, thủy thủ đoàn trong tuần tiếp theo bị đối xử dưới “hình thức khủng bố tập trung nhất mà tôi từng chứng kiến hoặc mơ thấy có thể xảy ra.”
Các thủy thủ tàu Pueblo cuối cùng đã được trả tự do vào ngày 23 tháng 12 năm 1968, sau khi các quan chức Mỹ đạt được công thức thỏa thuận với Triều Tiên. Đó thực sự là một công thức kỳ lạ. Thiếu tướng Gilbert H. Woodward, đại diện cấp cao của Hoa Kỳ tại Panmunjom, đã ký một văn bản vào ngày hôm đó thừa nhận hành vi xâm nhập và gián điệp bất hợp pháp vào vùng biển của Triều Tiên, xin lỗi về hành động của Pueblo và đảm bảo với Bình Nhưỡng rằng sẽ không có tàu Mỹ nào xâm phạm nữa. Nhưng trước khi ký, người Mỹ đã thông báo:
Quan điểm của chính phủ Hoa Kỳ đối với Pueblo … là con tàu không tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp và rằng không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy con tàu đã xâm nhập bất cứ lúc nào vào vùng lãnh hải mà Triều Tiên tuyên bố chủ quyền và chúng tôi không thể xin lỗi về những hành động mà chúng tôi không tin là đã xảy ra. Văn bản mà tôi sắp ký được phía Triều Tiên chuẩn bị và không phù hợp với quan điểm trên. Chữ ký của tôi sẽ không và không thể thay đổi sự thật. Tôi sẽ ký văn bản nhằm trả tự do cho thủy thủ đoàn và chỉ nhằm trả tự do cho thủy thủ đoàn mà thôi.
Nói cách khác, Tướng Woodward đang nói với thế giới rằng tài liệu ông sắp ký chỉ là một lời nói dối có lợi. Nhưng phía Triều Tiên không bận tâm đến điều đó. “Nó thỏa mãn một điều kiện của họ, một chữ ký trên một tờ giấy,” vị tướng giải thích với một người phỏng vấn sau đó. “Đừng bận tâm đến việc phủ nhận bằng miệng. Ở phương Đông, bạn biết đấy, không có gì quan trọng hơn chữ viết. Ngoài ra, người dân Triều Tiên sẽ không bao giờ có cơ hội nghe về sự thoái thác đó. Đội ngũ tuyên truyền của họ sẽ lo việc đó. Đối với phần còn lại của thế giới, họ không quan tâm.” Hay như Ngoại trưởng Dean Rusk đã nói, “Rõ ràng là người Triều Tiên tin rằng ngay cả trong một tài liệu vô giá trị cũng có giá trị tuyên truyền. Đó là một thủ tục kỳ lạ. Người Triều Tiên sẽ phải giải thích điều đó. Tôi chưa biết có tiền lệ nào trong mười chín năm phục vụ công cộng của tôi.”
Tại sao Bình Nhưỡng bắt giữ Pueblo? Có lẽ nỗi lo sợ bị trả thù vì cuộc đột kích Nhà Xanh càng làm tăng thêm thái độ ngày càng hiếu chiến ở Bình Nhưỡng. Hay việc chiếm giữ được tính toán một cách lạnh lùng, như một động thái nghi binh và có lẽ là một phép thử đối với quyết tâm của Hoa Kỳ? Ngay cả các tài liệu được giải mật của chính phủ Hoa Kỳ trong thời kỳ đó cũng không làm rõ được động cơ của Triều Tiên. Các nhà sử học của Bộ Ngoại giao chỉ có thể lưu ý rằng một số ước tính và báo cáo của tình báo Mỹ “cho thấy Bình Nhưỡng coi Chiến tranh Việt Nam là cơ hội để thách thức Hoa Kỳ, biết rằng Hoa Kỳ đã mở rộng quá mức ở Đông Nam Á và thiếu khả năng đáp trả. Người Triều Tiên có thể đã hy vọng phá vỡ mối quan hệ giữa Washington và Seoul hoặc có lẽ đã khởi phát một loạt sự kiện có thể mở đường cho sự sụp đổ của Hàn Quốc, do đó đã thành công khi cuộc đột kích Nhà Xanh thất bại.”
Có lẽ sẽ hữu ích hơn nếu hỏi Triều Tiên đã thu được gì từ vụ việc này, bất kể họ có lên kế hoạch như vậy hay không. Bên cạnh việc làm nhục Hoa Kỳ và lái sự chú ý khỏi sự xâm nhập chết người của chính họ vào Hàn Quốc, họ đã có thể tạo ra ít nhất một cái nêm nhỏ giữa Seoul và Washington. Điều đó xảy ra khi Hoa Kỳ – vốn không chính thức công nhận sự tồn tại của đất nước họ – chịu đàm phán trực tiếp với các quan chức Triều Tiên về vụ việc tại Bàn Môn Điếm mà không có sự tham gia của Hàn Quốc.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Kim Il-sung và đồng bọn đã học được một số bài học rất quan trọng về sự sẵn sàng, đoàn kết và quyết tâm của Mỹ. Một là ngón tay bóp cò của Washington – 17 năm sau khi Truman can thiệp vào Chiến tranh Triều Tiên, và giữa chừng trong một cuộc chiến tranh mới trên châu Á, gây chia rẽ và khó chịu hơn [tức chiến tranh Việt Nam] – không ngứa ngáy như một số người tưởng tượng. Khi nói đến vũ khí hạt nhân, người ta thường ngần ngại nhấn nút hơn nhiều, ngay cả khi có sự khiêu khích. Từ quan điểm của Bình Nhưỡng, có thể thấy Hoa Kỳ là một đối thủ bị trói ghịt cơ bắp, một kẻ thù không thể sử dụng sức mạnh của mình một cách hiệu quả. Theo thời gian, với sự thông minh và kiên nhẫn, ngay cả vũ khí hạt nhân của Mỹ cũng có thể làm mất đi sức mạnh răn đe của họ.
Một bài học khác là chính phủ Hoa Kỳ chịu nhiều tai tiếng đối với chính người dân của mình, đặc biệt là về Việt Nam, đến nỗi một số người Mỹ sẵn sàng tin vào phiên bản sự kiện của Triều Tiên, bao gồm cả những lời thú tội bị ép buộc của thủy thủ đoàn Pueblo. Không hề bận tâm đến việc Hoa Kỳ phủ nhận chính thức được hỗ trợ bởi hoạt động chặn sóng vô tuyến, cho thấy các tàu Bắc Triều Tiên sắp tham gia tấn công vào Pueblo đã khai báo vị trí của họ là bên ngoài vùng biển Triều Tiên. Trong những năm tới, các phân khúc dư luận Mỹ có thể (và đã) chứng tỏ là dễ tiếp thu hơn trước đây đối với các quan điểm, ít nhất là có cảm tình với Triều Tiên.
Bình Nhưỡng chắc chắn đã cân nhắc với lợi ích lớn nhất về mối quan tâm quá mức của Mỹ đối với sự an toàn của thủy thủ đoàn. Không còn nghi ngờ gì nữa, yếu tố thời gian đã làm tăng thêm mối lo ngại đó. Vụ việc Pueblo bắt đầu ngay khi sự phản đối của công chúng đối với cuộc chiến ở Đông Dương đang lên đến đỉnh điểm. Người Mỹ không có tâm trạng gửi những chiến binh trẻ đến chết ở một khu vực khác của châu Á xa xôi, và đặc biệt là không có mục đích rõ ràng. Ưu tiên mà Hoa Kỳ đặt ra là bảo vệ quân nhân của mình được phản ánh qua các hành động từ quyết định đầu hàng con tàu của Bucher – không bắn dù chỉ một phát súng, và trước khi tài liệu nhạy cảm cuối cùng trên tàu có thể bị phá hủy – cho đến việc các quan chức Washington né tránh bất kỳ hành động quân sự nào có thể gây nguy hiểm cho những người bị bắt. Khi Tổng thống Johnson nóng nảy tuyên bố với một phụ tá, Hoa Kỳ sẽ “làm bất cứ điều gì để đưa những quân nhân đó quay trở lại – kể cả việc khỏa thân gặp nhau giữa đường phố vào buổi trưa, nếu đó là điều cần thiết.”
Một quốc gia có thể văn minh khi sự an toàn của các thành viên lực lượng vũ trang bắt đầu trở nên quan trọng hơn các mục tiêu chính sách mà họ được cử đi chiến đấu vì chúng, nhưng điều đó phải trả giá: Ngay cả sức mạnh của một siêu cường cũng mất đi giá trị răn đe. Điều đó đặc biệt đúng đối với một kẻ thù không ngần ngại cử người đi thực hiện một nhiệm vụ tự sát vô vọng, chẳng hạn như cuộc đột kích Nhà Xanh.
Không có gì ngạc nhiên khi những người theo truyền thống hải quân thất vọng với hành vi của Bucher. Vị chỉ huy ấy “đã có thể là anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử Hải quân Hoa Kỳ,” Vị Đô đốc Mỹ tham gia tòa án hải quân điều tra về vụ án Pueblo cho biết. “Đối với một sĩ quan chỉ huy làm bất cứ điều gì khác ngoài bảo vệ con tàu của mình bằng cả mạng sống của mình là không thể bào chữa được. Tôi thừa nhận chuyện đó phải có gan; có gan là điều bạn phải có. Ý tưởng cứu thủy thủ đoàn của mình là thú vị, nhân văn, nhưng nó không có gì liên quan đến công việc ông ấy được giao phó.” Người khác nói: Nếu ông ta chỉ bắn một phát thôi là đã tạo ra tất cả sự khác biệt. Chỉ cần một loạt súng máy thôi, thì toàn bộ sự việc có thể đã giải quyết xong. Chúng có thể đã không tung một nhóm người xông lên tàu ngay từ đầu.”
Tuy nhiên, chúng đã xông lên tàu và bài học trực tiếp nhất mà Bình Nhưỡng rõ ràng đã rút ra được từ sự cố Pueblo là nước này có thể tiến hành một cuộc tấn công đáng kể nhưng có giới hạn vào lực lượng Mỹ mà vẫn vô sự. Mười lăm tháng sau vụ chiếm được Pueblo, các lực lượng Bắc Triều Tiên đã bắn hạ một máy bay trinh sát EC-121 không vũ trang của Mỹ. Trong nhiều thập kỷ, chế độ Bắc Triều Tiên coi Pueblo như một ngôi đền tưởng niệm chiến thắng của họ trước “kẻ thù độc ác nhất trên thế giới”.
Cả việc chiếm giữ Pueblo và bắn hạ EC-121 đều là những canh bạc có rủi ro cao, trong đó ông Kim sẵn sàng đối phó với bất kỳ phản ứng nào có thể xảy ra từ Hoa Kỳ. Trong cả hai trường hợp, theo lời khai được báo cáo sau đó của một quan chức Triều Tiên đào tẩu sang miền Nam, chính quyền tin rằng chiến tranh có thể sắp xảy ra, đã di tản dân thường đến nơi trú ẩn và chuẩn bị cho quân đội chiến đấu.
Đến năm 1970, mặc dù ông chẳng đi đến đâu với công việc của mình nhằm phá hoại và “giải phóng” miền Nam, Kim Il-sung xác định nhân dân phải cố gắng hơn nữa và phải sẵn sàng “chiến đấu kiên cường bất cứ lúc nào để đánh đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi Hàn Quốc và thực hiện sự nghiệp cách mạng thống nhất đất nước đến cùng”. Trong khi đó, ông có thể báo cáo rằng miền Bắc đã được củng cố kỹ lưỡng và toàn bộ người dân được trang bị vũ khí. “Ở đất nước chúng ta, mọi người đều biết bắn súng và mang theo súng bên mình”, Kim khoe.
Mối lo ngại về âm mưu của miền Bắc đã giúp kích thích sự đàn áp của chế độ độc tài Park đối với người dân Hàn Quốc. Có khả năng miền Nam, dưới một cái nắp đậy quá chặt, sẽ sôi sục. Kim Il-sung cần đảm bảo rằng sự hỗ trợ của Mỹ dành cho miền Nam sẽ không tự động xảy ra, trong trường hợp một cuộc nổi dậy của dân chúng chống lại Park Chung-hee hoặc các dấu hiệu khác của sự yếu kém của miền Nam khiến Hàn Quốc một lần nữa trở thành mục tiêu hấp dẫn cho sự can thiệp quân sự của miền Bắc.
Ông Kim biết rằng việc dỡ bỏ sự bảo hộ của Mỹ khỏi Hàn Quốc cũng sẽ dỡ bỏ những hạn chế mà Mỹ áp đặt quân đội miền Nam. Tuy nhiên, ông muốn người Mỹ đi khỏi. Rõ ràng là ông sẵn sàng mạo hiểm chờ cơ hội sự vắng mặt của họ sẽ khuyến khích các tướng lĩnh miền Nam chọn chiến tranh làm phương tiện đoàn kết dân chúng bất hòa của họ. Sau khi củng cố hệ thống phòng thủ của mình trong nỗ lực làm cho nó không thể xuyên thủng, ông hy vọng sẽ đẩy lùi bất kỳ cuộc tấn công nào của miền Nam, nhanh chóng chuyển sang tấn công và chiếm ưu thế trong một cuộc chiến Bắc-Nam tay đôi, không có sự can thiệp lộn xộn của các lực lượng nước ngoài có thể biến Chiến tranh Triều Tiên thứ hai thành chiến tranh hạt nhân.
Không phải là Kim tích cực tìm kiếm một cuộc chiến khác vào thời điểm đó, sau bao năm các thần dân của mình đã tiêu tốn bao nỗ lực mệt mỏi để xây dựng lại đất nước tan hoang của họ. Kế hoạch A, rõ ràng, vẫn là thống nhất thông qua việc lật đổ chính quyền miền Nam. Nhưng nếu Kế hoạch A thất bại và Kế hoạch B, một cuộc chiến khác, được yêu cầu, sớm thì tốt hơn muộn cho Kim. Ông không đủ khả năng chờ đợi trong khi kinh tế miền Nam tiến bộ vượt trội miền Bắc. “Toàn đảng, toàn dân phải nai nịt nhanh chóng để sẵn sàng chiến đấu,” ông nói. Họ phải đề phòng nghiêm ngặt “xu hướng lo sợ chiến tranh, ngăn chặn nó xâm nhập vào hàng ngũ của chúng ta.”
Mặt khác, “nỗi ám ảnh chiến tranh Việt Nam” đang phát triển ở Hoa Kỳ, dường như là một diễn biến có lợi cho Kim, đến mức nó sẽ buộc Washington phải suy nghĩ lại về vai trò cảnh sát toàn cầu của mình. Hàn Quốc trở thành tâm điểm trong cuộc tranh luận của Mỹ, là nơi duy nhất ở châu Á ngoài Đông Dương – nơi họ đang chiến đấu – có nhiều khả năng nhất xảy ra một cuộc chiến khác.
Với hy vọng khuyến khích người Mỹ rời khỏi Hàn Quốc, Kim đã áp dụng – đặc biệt chỉ để tiêu thụ ngoài nước – một lập trường ít đối đầu hơn.
Một học giả-nhà phê bình viết, sự tương đồng giữa các cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam “là rất nhiều. Trong cả hai trường hợp, Hoa Kỳ ủng hộ các chính phủ tham nhũng và không được lòng dân, thích tin rằng ‘trật tự quốc tế’ quan trọng hơn chủ nghĩa dân tộc hợp pháp của người dân liên quan.”
Một cặp học giả Hàn Quốc tập trung vào so sánh Việt Nam nhận thấy điều đáng chú ý là “trong khi Việt Nam và Hồ Chí Minh gây được thiện cảm đáng kể ở phương Tây, thì bản chất và thông tin của cách mạng Triều Tiên lại hoàn toàn bị bỏ qua. Không có sinh viên nào phóng qua đường phố Berkeley hét lên, ‘Kim, Kim, Kim Il-sung.”
Các nhà phê bình thời kỳ Việt Nam hay khinh thường các tuyên bố của Washington cho rằng hỗ trợ cho Hàn Quốc chính là bảo vệ tự do trong một xã hội hướng đến dân chủ.
Một học giả người Mỹ đã nhìn thấy chế độ Park Chung Hee là “một nhà nước cảnh sát khoác bên ngoài ‘các thể chế hình thức’ của một chính phủ hợp hiến- để tránh sự chỉ trích của nước ngoài.”
Dị ứng chiến tranh phát triển ở Hoa Kỳ vào cuối những năm 1960 và trở nên rõ ràng vào thời điểm xảy ra sự kiện Pueblo vẫn ăn sâu vào tâm thức người Mỹ. Được mệnh danh “Hội chứng Việt Nam,” nó vẫn tồn tại dai dẳng, gây trở ngại lớn đối với các nhà hoạch định chính sách của Washington ít nhất cho đến ngày 11 tháng 9 năm 2001. Chỉ sau khi phiến quân Hồi giáo trên những chiếc máy bay bị cướp giết chết hàng nghìn thường dân Mỹ trong các vụ đánh bom liều chết vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington, các cuộc thăm dò cuối cùng đã cho thấy dư luận đã chuyển hướng dứt khoát ủng hộ việc cử các chiến sĩ hy sinh mạng sống trong các trận chiến cần thiết.