
Trần Văn Mãnh
A/ Lời dẫn:
Những độc giả thường hay nghiên cứu hay đọc qua các số báo Nam Phong Tạp Chí thường thấy các bài báo ký tên Đông Hồ (và Trác Chi, Lâm Tấn Phác) hoặc thấy ít bài hơn ký tên Trúc Hà và rất hiếm thấy bài có ký tên Trúc Phong. Tuy nhiên với tờ tạp chí nầy, ba nhà báo nói trên đã bắt đầu đi vào sự nghiệp viết báo, viết văn. Có điều lạ là tuy có nguồn gốc là người miền Nam, nhưng Đông Hồ, Trúc Hà, Trúc Phong lại khởi nghiệp văn trên đất Bắc, nơi báo Nam Phong đặt tòa soạn ở Hà Nội và xuất bản kể từ năm 1917. Vậy điều gì đưa ba nhà văn miền Nam nầy đến với báo Nam Phong và có phải đó là lý do ngoài một Đông Hồ với tiếng tăm vang dội cả nước về các hoạt động cổ súy chữ Quốc Ngữ và phong trào thơ mới, người ta lại biết rất ít về hai tên tuổi Trúc Hà và Trúc Phong?
Điều đầu tiên phải nhấn mạnh là ba nhà báo nói trên đều có cùng một quê quán là Hà Tiên, hay chính xác hơn là ba vị đều sinh ra tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên vào những năm đầu của thế kỷ 20. Cả ba đều được đi học cùng một ngôi trường tên là Trường Sơ Đẳng Pháp Việt ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên, cùng hoạt động trong công việc giáo dục, phổ biến việc dùng chữ Quốc Ngữ khi viết văn, làm thơ và sau đó cùng nhau tiếp tục công việc nầy với hình thức lập ra một tờ báo, xuất bản ở Sài Gòn và truyền ra cả ba miền…
Đông Hồ Lâm Tấn Phác có nói rõ trong một bài viết là khi ông đọc một bài thơ Pháp được dịch ra Quốc Ngữ, ông nhận thấy Quốc Văn vẫn có thể diễn tả sự sâu sắc, nét sáng sủa của thơ Tây và lại cũng diễn được ý tứ thâm trầm cao cả của thơ Tàu, và từ đó ông đã “tỉnh ngộ”; ông quay ra chuyên luyện tập Quốc Ngữ và có cơ duyên đến với báo Nam Phong. Rồi sau đó Đông Hồ truyền cảm hứng yêu chữ Quốc Ngữ và đưa Trúc Hà đến với Nam Phong Tạp Chí. Còn Trúc Phong, vì bản thân vốn là một học trò của ngôi trường Trí Đức Học Xá (Hà Tiên), thường ngày tiếp xúc với thầy dạy Quốc Ngữ là Đông Hồ và Trúc Hà nên Trúc Phong cũng bắt đầu đến với Nam Phong …
Nếu như Đông Hồ được xem như là một trong những cây bút quen thuộc và được chú ý khi thành công “chen chân” vào ngôi nhà Nam Phong ở tận ngoài Bắc, vốn là tờ báo được xếp vào loại tạp chí văn học đạt tính chất hàn lâm thì Trúc Hà, một thanh niên miền Nam vừa mới 17, 18 tuổi mà lại có bài đăng trên báo Nam Phong thì cũng phải cho là có tính chất đặc biệt so với làng văn thời đó, tuy nhiên Trúc Hà vào buổi đầu tay đó chưa tạo được cho mình một văn phong mới mẻ và chưa phát huy hết các chức năng vì thời gian không gắn bó lâu dài với Nam Phong tuy là ông đã có một số bài đăng trên Nam Phong từ 1927 đến năm 1932 với đủ thể loại dịch thơ, tản văn, xã luận và nghiên cứu, phê bình văn học. Phải đợi đến năm 1932, khi Trúc Hà viết ra bài phê bình văn học “Lược khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết » đăng trên Nam Phong Tạp Chí, giới báo chí và văn học bắt đầu chú ý tới tên tuổi Trúc Hà và chấp nhận ông như là một trong những tác giả phê bình có tiếng tăm thời đó và được xem như một trong những nhà báo đi tiên phong trong lãnh vực phê bình vốn còn rất hiếm hoi với một vài tên tuổi nổi bật như Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Thiếu Sơn, ….
Vài năm sau đó, Trúc Hà và “nhóm bạn Trí Đức” (từ để chỉ những nhà giáo, nhà văn Hà Tiên trong thời gian hoạt động của ngôi trường Trí Đức Học Xá chuyên dạy Quốc Ngữ ở Hà Tiên thời 1926 – 1934) có sáng lập ra tờ tuần báo mang tên “Sống” vào năm 1935 và về sau với các thành tích cộng tác với các báo: Nam Kỳ Tuần Báo, Phụ Nữ Tân Văn, Đại Việt Tập Chí, Nay,…, Trúc Hà mới được vinh danh trong làng văn, làng báo và được xếp hàng với các “tên tuổi lớn” như Đông Hồ, Mộng Tuyết trong danh xưng “Hà Tiên Tứ Tuyệt” (1).
Trong khi đó Trúc Phong vốn xuất thân là một học trò của trường Trí Đức Học Xá (Hà Tiên), cũng có viết bài đóng góp trên báo Nam Phong tuy chỉ có vài bài và sau đó viết mạnh hơn trên báo Sống, Tân Văn Tuần Báo…, và trở thành một nhà văn viết tiểu thuyết với khuynh hướng lãng mạn. Tuy nhiên tên tuổi của ông chỉ được biết đến trong thời kỳ nầy (khoảng những năm 1934 – 1935). Hiện nay đối với những nhà chuyên nghiên cứu lịch sử văn học miền Nam, những tên tuổi Trúc Hà, Trúc Phong tuy không xa lạ nhưng nói chung với đa số quần chúng, vẫn còn rất ít người biết đến hai nhà báo Hà Tiên nầy, ngay cả đối với những người cùng quê quán ở Hà Tiên, nhất là vào thời đại hiện nay. Mục đích của bài viết ở đây là cố gắng nhắc lại thân thế, sự nghiệp của Trúc Hà, Trúc Phong hầu đem lại cho tên tuổi hai nhà báo, nhà văn một chỗ đứng xứng đáng trong làng tiền bối Hà Tiên xa xưa.
B/ Trúc Hà:
B1- Về năm sinh và năm mất và gia đình của Trúc Hà:
Muốn nói đến Trúc Hà, trước hết phải nhắc lại thời thơ ấu của Đông Hồ. Thầy Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1906 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Có một sự kiện quan trọng ảnh hưởng hoàn toàn đến cuộc sống của ba chị em ông Lâm Tấn Phác, đó là lúc khoảng hai song thân là ông Lâm Tấn Thoại và bà Trần Kim Phụng trạc độ trên dưới 30 tuổi, khoảng năm 1909, ông Lâm Tấn Thoại đột nhiên qua đời, hai tháng sau đến phiên bà vợ Trần Kim Phụng cũng lìa đời trong cùng năm. Ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác lúc đó khoảng 3 hoặc 4 tuổi cùng hai chị gái trở thành mồ côi cha mẹ, bác ông là Lâm Tấn Đức cùng với vợ là Phan Thị Cạo đem 3 chị em của ông Đông Hồ về nhà nuôi, xem như là con ruột trong nhà. Dưới sự giáo dục nghiêm khắc và đúng đắn của một nhà Nho như người bác, ông Đông Hồ hấp thụ được một nền văn hóa cổ truyền, trang nghiêm, học chữ Hán, biết đọc sách xưa và học cách viết chữ bằng bút lông tài hoa của người bác, từ đó đã tạo cho ông Đông Hồ một phong cách sống và viết văn thơ rất thanh tao, trang nhã.
Ông bà Lâm Tấn Đức, Phan Thị Cạo không có con, nhưng có nuôi một người con gái tên là Lâm Thị Việt. Bà Lâm Thị Việt có chồng tên là ông Trần Văn Tân. Hai ông bà có nhiều con, người con trai đầu tên là Trần Thiêm Thới, một người con trai khác tên là Trần Văn Quyện. Trần Thiêm Thới tức là nhà báo Trúc Hà và em trai của ông tên Trần Văn Quyện tức là nhà văn Trúc Phong. Vậy Trúc Hà và Trúc Phong là hai anh em ruột, cả hai người cùng với ông Đông Hồ sống trong cùng một căn nhà của người bác Lâm Tấn Đức và được ông bà người bác nuôi dưỡng từ khi còn nhỏ tuổi. Trúc Hà và Trúc Phong gọi Đông Hồ bằng cậu vì thân mẫu của Trúc Hà, Trúc Phong là bà Lâm Thị Việt có vai vế trong nhà như là chị em của Đông Hồ.
Về ngày tháng năm sinh của Trúc Hà thì ta không có một tư liệu nào còn ghi lại rõ ràng. Hiện nay tại ngôi nhà « Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường » ở Hà Tiên còn lưu giữ vài dòng tưởng niệm được treo trang trọng trên tường có ghi năm sinh và năm mất của Trúc Hà : « Trúc Hà Trần Thiêm Thới 1909-1937 ». Như vậy có thể nói Trúc Hà Trần Thiêm Thới sinh năm 1909 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Về năm ông mất có nhiều chi tiết như sau :
a- Chiếu theo các hoạt động viết báo của Trúc Hà sau khi tuần báo Sống đình bản (1935), người ta thấy còn có nhiều bài viết với tính chất thời sự rất rõ nét, ký tên Trúc Hà vẫn còn đăng trên các báo Đại Việt tập chí và Nam Kỳ tuần báo cho đến tháng 6 năm 1943.
b- Nguyễn Hiến Lê có nhắc đến Trúc Hà khi nói đến « nhóm Hà Tiên » và xác định là Trúc Hà mất trước năm 1945 (2).
c- Nguyễn Phước Thị Liên có kể lại khi Trúc Hà mất tại Sài Gòn, người ta đưa ông về Hà Tiên chôn cất vội với một nấm mộ đất. Sau đó là thời kỳ bất ổn ở Hà Tiên, năm 1945 Đông Hồ và Mộng Tuyết sơ tán về Sài Gòn, không ai lập mộ bia (3).
d- Theo một tư liệu ghi lại của gia đình Trúc Hà, năm sinh và năm mất thật sự của Trúc Hà là 1909 và 1944 ; tư liệu do hậu duệ của Trúc Hà còn lưu lại cho đến ngày nay.
Như vậy từ những căn cứ nói trên, các thông tin đều hòa hợp với nhau, ta có thể kết luận là Trúc Hà mất vào năm 1944.
Ngày nay rất tiếc là không còn một bức ảnh nào của Trúc Hà, chúng ta hoàn toàn không biết gương mặt và vóc dáng của Trúc Hà ra sao. Trong một bài viết về Hồ Hữu Tường kể chuyện lúc học ở Trung Học Cần Thơ, tác giả Trần Ngươn Phiêu có viết như sau : « Trần Thiêm Thới gốc Hà Tiên dáng cao như cây tre nên lấy bút hiệu Trúc Hà, sau này cộng tác viết tạp chí với Đông Hồ » (4). Như vậy ta chỉ hình dung Trúc Hà là một thanh niên trẻ tuổi, người cao ráo. Về tên hiệu của ông, đúng hơn là ông đã lấy hai chữ đầu của tên Trúc Bằng Thành và Hà Tiên ghép lại thành Trúc Hà.
Có rất ít tài liệu nói rõ về việc Trúc Hà lập gia đình, tuy nhiên theo học giả Trương Minh Đạt (5) và lời góp ý của bác sĩ Nguyễn Như Sơn, hậu duệ của chí sĩ Nguyễn Thần Hiến, Trúc Hà có người vợ tên là Lê Thị Thượng, bà còn được gọi là cô Tư Dẩn, bà là con gái của ông Lê Chí Thuần và bà Nguyễn Thị Mân. Bà Nguyễn Thị Mân chính là con gái của chí sĩ Nguyễn Thần Hiến và phu nhân là cụ bà Huỳnh Thị Đắc đều là người quê quán ở làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Ông Lê Chí Thuần (tức Hội đồng Thuần) được nhạc phụ là chí sĩ Nguyễn Thần Hiến truyền lại nghề bốc thuốc và châm cứu chửa bệnh, sau đó ông Lê Chí Thuần truyền lại nghề cho con gái là bà Lê Thị Thượng (vợ của ông Trúc Hà). Bà Lê Thị Thượng có hợp tác với Hội Chữ Thập Đỏ Kiên Giang và bà cũng có một người học trò học bốc thuốc tên là Dương Văn An, ngày nay ở Hà Tiên có một Đông y sĩ bốc thuốc chửa bệnh, đó chính là ông Dương Văn An. Sau khi người chồng là Trúc Hà qua đời, trước khi tu theo đạo Cao Đài, bà Lê Thị Thượng là giáo viên dạy kèm tiếng Pháp ở Sài Gòn. Vì ông mất sớm nên bà đi tu theo Đạo Cao Đài, phái Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý ở Rạch Giá, đạt đến phẩm Nữ Đầu Sư (6).
B2- Về sự học vấn và hoạt động giáo dục ở Hà Tiên của Trúc Hà :
Trúc Hà học xong trường Sơ Học ở Hà Tiên và sau đó thi đậu vào trường Trung Học Cần Thơ (Collège de Cần Thơ) năm 1925, bắt đầu năm học thứ nhất trong học trình bậc Thành Chung (7). Tình hình chánh trị lúc nầy rất sôi nổi vì có nhiều biến cố : vụ án Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, học sinh một số trường lớn ở Sài Gòn và trường Cần Thơ bải khóa phản đối. Trúc Hà cùng với vài bạn học như Ung Văn Kiêm, Hồ Hữu Tường…tham gia làm báo viết bài chánh trị mang nội dung ái quốc, việc nầy khiến cho nhiều học sinh bị đuổi học, mất học bổng, cả nhóm làm báo đều bị đuổi học khi chưa kết thúc được năm học thứ nhất bậc Thành Chung, giám đốc trường Cần Thơ lúc đó là ông Louis Reybouber cũng bị cấp trên thay thế.
Trở về Hà Tiên, Trúc Hà tham gia giúp trường Trí Đức Học Xá của Đông Hồ dạy tiếng Việt miễn phí cho học trò khắp nơi đến học bằng cách viết sách chỉ dạy, hướng dẫn phương pháp rèn luyện Quốc Ngữ cho học trò. Thời gian nầy Trúc Hà hoạt động mạnh vừa tham gia ở trường Trí Đức Học Xá vừa viết bài cho Nam Phong Tạp Chí trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1932. Sau đó ông cũng có cộng tác với tuần báo Phụ Nữ Tân Văn (tờ báo hoạt động trong thời gian : 1929 – 1935)
B3- Sự nghiệp làm báo của Trúc Hà :
Một thời gian sau, Trúc Hà lên Sài Gòn dạy môn Quốc Văn ở các trường tư thục Lê Bá Cang, Huỳnh Khương Ninh…Trước đó ở Hà Tiên ngôi trường Trí Đức Học Xá cũng gặp nhiều khó khăn với sự dòm ngó của chánh quyền Pháp, trường phải đóng cửa vào năm 1931 và sau 3 năm dạy qua lối hàm thụ cho các học trò ở các tỉnh xa qua lối gởi thư rồi mọi hoạt động dạy chữ Quốc Ngữ do thầy Đông Hồ chủ xướng tại nhà ông mới chấm dứt thật sự (1934).
Nhóm bạn Trí Đức với tuần báo Sống
Đầu năm 1935 Trúc Hà và nhóm bạn Trí Đức cùng chung tay cho ra đời một tờ tuần báo mang tên Sống chuyên về văn học. Đây là một tờ báo hoàn toàn do nhóm nhân tài ở Hà Tiên sáng lập và hợp lực viết bài. Nhóm nầy gồm có 8 người : Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Trúc Hà (Trần Thiêm Thới), Trúc Phong (Trần văn Quyện), Lư Khê (Trương Văn Em), Trọng Toàn (Nguyễn Văn Kiêm), Quang Đẩu (Nguyễn Văn Tượng), Bạch Như (Lê Quang Phấn), Mộng Tuyết (Thái Thị Sửu). Công việc ra báo nầy cũng là sự tiếp tục cho việc cổ động việc học Quốc Ngữ dưới một hình thức khác. Vì thế mục đích của tờ báo Sống là dùng văn chương để cải tạo xã hội nhân sinh và phát triển văn chương tiến đến giá trị thẩm mỹ, tiến đến sự viết văn trong sáng, giản dị, lạc quan.
Vào lúc nầy chỉ có Trúc Hà hiện ở Sài Gòn nên ông chuyên lo các việc hành chánh, xin phép ra báo. Vì chọn tên báo là Sống nên lúc đầu gây hiểu lầm và tạo khó khăn cho việc cấp giấy phép vì chánh quyền nghĩ là một tờ báo đấu tranh về chánh trị… !! Sau cùng báo cũng được ra đời dưới hình thức tuần báo, số đầu tiên ra ngày 22/1/1935 với các tên tuổi : Trần Phước Phận (8) là người sáng lập báo, Trần Thiêm Thới là chủ nhiệm và tòa soạn đặt tại Sài Gòn. Lúc nầy có Trúc Phong lên Sài Gòn tiếp việc. Đông Hồ và các bạn khác trong nhóm vẫn còn ở Hà Tiên viết bài gởi lên và cũng gởi thư mời các nhà văn tên tuổi miền Bắc : Trần Tuấn khải, Tản Đà, giúp thêm bài vở cho báo.
Khi báo ra đến số 8 ngày 19/3/1935 thì có ghi tên Đông Hồ thực sự là chủ bút và cũng chính ông lên Sài Gòn coi sóc tờ báo, quản lý nhiều mặt từ biên tập đến việc in ấn, và nhất là kiểm soát kỹ lưởng việc viết đúng chánh tả các từ ngữ, đúng dấu hỏi ngã..v…v…Đây chính là đặc điểm quan trọng của báo Sống khi mà ở miền Nam thời đó báo chí rất ít chú ý đến việc viết đúng chánh tả, chỉ theo khuynh hướng viết theo như nói, không câu nệ …
Chính trong thời gian làm báo nầy Trúc Hà viết rất mạnh với mọi thể loại : phê bình văn học, truyện ngắn, thơ, phóng sự và đặc biệt là các bài nghị luận xã hội thường được đăng trên trang đầu của mỗi số báo, với các bài nầy, Trúc Hà ký với một bút hiệu khác là Hà Nhân. Ngoài ra có 3 cây bút khác : Đông Hồ, Mộng Tuyết và Trúc Phong cũng được xem như là nồng cốt của báo Sống.
Tuy nhiên mặc dù tờ báo Sống được xem như là thành công về mặc văn chương, báo chí nhưng báo lại không sống lâu, tổng cộng báo chỉ ra được 30 số thì phải tự đình bản vào ngày 18/9/1935 vì gặp khó khăn về kinh tế, tài chánh.
Sau khi báo Sống đình bản, Trúc Hà tiếp tục ở lại Sài Gòn dạy học ở các trường tư thục và lại tiếp tục cộng tác với Đại Việt Tập Chí và Nam Kỳ Tuần Báo do Hồ Văn Trung sáng lập (tên thật của nhà văn Hồ Biểu Chánh). Đó là những tờ báo văn hoá, văn học viết về lịch sử, triết học, giáo dục … Trong khi đó thì Đông Hồ trở về Hà Tiên sinh sống và nghiên cứu văn học, còn Trúc Phong thì không có tài liệu nào nói rõ hoạt động của ông sau đó.
C/ Trúc Phong :
Trúc Phong tên thật là Trần Văn Quyện, là em ruột của Trúc Hà Trần Thiêm Thới. Thuở nhỏ hai anh em Trúc Hà , Trúc Phong và Đông Hồ đều được người bác của Đông Hồ là ông Lâm Tấn Đức đem về nhà nuôi, vì thế cả ba người rất là thân thuộc, trạc tuổi mặc dù Trúc Hà, Trúc Phong đều gọi Đông Hồ là cậu vì theo vai vế trong nhà. Trong thời gian có mở trường Trí Đức Học Xá ở xã Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, Trúc Phong có theo học ở trường nầy và có ký tên dưới một vài bài viết đăng trên báo Nam Phong là « Học trò của Trí Đức Học Xá ».
Hiện nay trong giới nghiên cứu văn học chưa có công bố tài liệu nào đề cập đến năm sinh, năm mất của Trúc Phong, ngay hình ảnh của Trúc Phong cũng không có lưu truyền đến ngày nay.
Trong một bài viết đăng trên báo Nam Phong với tựa đề « Tết chơi biển », Trúc Phong có nhắc đến sự liên hệ gia đình như sau : « Một thuyền chín người, trong ấy có những người thường đã có cùng nhau trong nhiều cuộc tráng du : « Chị Ái Ngọc, chị Ái Hà, anh Nguyên Thắng là chỗ thân tình, với anh Trúc Hà là tình trong cốt nhục. Đi chơi, chuyến nầy, trong bọn thiếu mất hai người : cậu Đông Hồ, tay thơ hay, bác Bạch Như, tay đàn giỏi. ». Như vậy rõ là Trúc Hà là anh ruột của Trúc Phong và hai người gọi ông Đông Hồ bằng cậu (9).
Trúc Phong có tham gia viết bài trên báo Nam Phong như sau :
– Tôn giáo với ái tình : Nam Phong (NP) số 201, 202, năm 1934, trang (tr) 51, 53.
– Tết chơi biển : NP số 207, năm 1934, tr 194, 200.
Ngoài ra khi thành lập báo Sống, Trúc Phong là một trong nhóm bạn Trí Đức viết rất mạnh, đóng góp bài cho tờ báo. Đặc biệt là Trúc Phong trở thành người viết tiểu thuyết lãng mạn trên tờ báo nầy, với các tác phẩm : Băn Khoăn, Đời vui đẹp và Sóng gió hồ Đông.
Trên tờ tuần báo Tân Văn trong giai đoạn 1934 – 1936, có xuất hiện một tiểu thuyết của Trúc Phong, tựa là « Lỡ lầm » đăng liên tiếp trên tất cả 16 số (từ số báo 1 đến số báo 16). Trong tiểu thuyết nầy Trúc Phong lấy bối cảnh là Phương Thành (tên xưa của Hà Tiên) và các nhân vật ở tỉnh lẻ nầy, kể lại một chuyện tình lãng mạn và kết thúc bằng một tình cảnh éo le, buồn bã.
Nói tóm lại về Trúc Hà và Trúc Phong, hiện nay trong giới nghiên cứu văn học không có nhiều thông tin hơn những gì chúng ta đã biết đến thời điểm nầy, hy vọng rằng càng ngày càng có thêm nhiều khám phá, thông tin mới để việc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của hai nhà báo, nhà văn Hà Tiên nầy được hoàn thiện hơn.
D/ Một số tác phẩm tiêu biểu của Trúc Hà trên diễn đàn báo chí :
D1- Đọc lại vài bài thơ của Trúc Hà :
Trích trong bài « Bài ký về giáo dục » do Đông Hồ biên tập, đăng trên Nam Phong số 157, năm 1930.
1/ Thú ngày xuân
Ngày sáng xem mai cảm đẹp nhiều
Vườn trưa thăm cảnh, cảnh xinh sao,
Ríu ran đàn sáo quanh vườn hót
Hoa nọ chim kia thú đủ điều.
2/ Ngày giờ thắm thoát
Hết nghĩ gần thôi lại nghĩ xa
Ngày giờ thắm thoát tựa thoi qua
Thơ xuân bút chép còn tươi mực
Sen hạ hồ trông đã nở hoa
Vừa hái chiếc gương chia lũ trẻ
Thì nghe khóm trúc đã chồi tơ
Chúa đông trang điểm vườn xuân lại
Oanh hót mai cười liễu thướt tha.
Tác giả Trúc Hà
D2- Bài trên Nam Phong Tạp Chí:
– Cảnh đìu hiu (dịch thơ L’Isolement của Lamartine): Nam Phong (NP) số 124, năm 1927, trang (tr) 626, 627.
– Câu chuyện dưới trăng: NP số 126, năm 1928, tr 126, 130.
– Quốc văn đối với công dụng và thời gian: NP số 128, năm 1928, tr 337, 342.
– Truyện tao đàn. Bức thư gửi người bạn gái: NP số 129, năm 1928, tr 455, 459.
– Nhà nho có lẽ chịu sầu?: NP số 130, năm 1928, tr 561, 568.
– Lời cảm cựu: Đi học – Hai cái sợ – Một bầy khỉ – Một cắc bạc: NP số 141, năm 1929, tr 127, 132.
– Chuyện giáo dục ở Phương Thành: NP số 144, năm 1929, tr 450, 460.
– Lược khảo về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết: NP số 175, năm 1932, tr 116, 134.
D3- Bài trên Phụ Nữ Tân Văn:
– Le poète Mistral của Alphonse Daudet : dịch từ văn xuôi Pháp qua Quốc Ngữ.
– Cảm tưởng sau khi đọc Tố Tâm: Phê bình văn học.
D4- Bài trên tuần báo Sống:
– Bài phê bình văn học do Trúc Hà viết: Anh với em của Nguyễn Lan Sơn, Mấy vần thơ của Thế Lữ, Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, Trông dòng sông Vị của Trần Thanh Mại, Cái hay cái dở của Tự Lực văn đoàn và Phong trào thi ca mới, khuynh hướng, hiện trạng, đặc sắc, khuyết điểm.
– Về truyện ngắn : Hối hận, Sau đám cướp, Giấy đâu, Ngày xét trường, Chúa xuân để tội một mình cho hoa, Cô gái rừng sim, Một cách trợ cấp.
– Về thơ : Dưới rèm và Giận bức rèm
– Về phóng sự : Trên vùng đất đỏ, Hội chợ năm nay có những gì?, Cuộc diễn thuyết về cụ thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa ở Cần Thơ.
– Về nghị luận : Mới và cũ, Đời mới tục mới, Mưu lợi trước hết, Nhơn nghĩa và quyền lợi…
– Một vài “mẹo luật” trong quốc ngữ.
D5- Bài trên Nam Kỳ Tuần Báo (NKTB) :
– Sự tích người óc vàng : dịch từ bài « La Légende de l’homme à la cervelle d’or » của Alphonse Daudet. NKTB số 1, ngày 3/9/1942.
– Quan niệm của Kiều về chữ trinh và bài Trang nhã trong văn chương: NKTB số 3, ngày 17/9/1942.
– Ý nghĩ về cuộc lễ kỷ niệm Nguyễn Du : NKTB số 5, ngày 1/10/1942.
– Nhơn lễ Toussaint : NKTB số 11, ngày 12/11/1942.
– Đi coi « Chơn ái tình » : NKTB số 16, ngày 17/12/1942.
– Hội chợ năm nay có những gì ?: NKTB số 18, ngày 31/12/1942.
– Lời và nhạc của thanh niên : NKTB số 19, ngày 7/1/1943.
– Xem hoa nở : NKTB số xuân 22, ngày 28/1/1943.
– Một bóng sao mờ : Bác sĩ Yersin tạ thế : NKTB số 25, ngày 4/3/1943.
– Một nước trẻ là thế nào ?: NKTB số 28, ngày 26/3/1943.
– Làm việc xã hội : NKTB số 29, ngày 1/4/1943.
– Ta có thể làm gì ?: NKTB số 32, ngày 22/4/1943.
– Ta làm gì trước : NKTB số 33, ngày 29/4/1943.
– Truyền bá quốc ngữ : NKTB số 35-36, ngày13 và 20/5/1943.
– Tổ chức cuộc truyền bá quốc văn : NKTB số 37, ngày 27/5/1943.
– Phải có danh gì ? và bài Cuộc diễn thuyết về cụ thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa ở Cần Thơ : NKTB số 39, ngày 10/6/1943.
– Cuộc lễ kỷ niệm cụ Nguyễn Đình Chiểu : NKTB số 41, ngày 26/6/1943.
E/ Kết luận :
Với tuổi đời khoảng 35 và một văn nghiệp trên 15 năm, Trúc Hà đã tạo được một chỗ đứng trong làng văn, làng báo quốc ngữ thời đại trước 1945. Hơn thế nữa, văn giới luôn biết ông với cái danh xưng là một trong Hà Tiên tứ tuyệt… Trúc Hà dùng cây bút của mình góp mặt trên báo giới, văn đàn với rất nhiều thể loại, từ dịch thuật, phê bình, tả chân đến các phóng sự, nghị luận, xã luận. Ngay cả khi vừa mới 26 tuổi, Trúc Hà đã đảm nhận vai trò một chủ nhiệm của một tờ báo đứng đắn về văn học. Nếu ngày nay trong việc nghiên cứu văn học miền Nam, các tác giả thường nhắc nhở vai trò đóng góp lớn lao vào việc truyền bá, cổ động cho Quốc Ngữ của cây bút kiện tướng Đông Hồ, thì chúng ta cũng nên nói rõ đến công lao của một Trúc Hà, tuy có cuộc đời khá ngắn nhưng đã biết đóng góp trong một mức độ để việc dùng chữ Quốc Ngữ trong thơ, văn được thành công một cách quyết định.
Bên cạnh Trúc Hà, người em trai Trúc Phong cũng biết tạo cho mình một chỗ đứng tương đối riêng biệt với phong cách viết tiểu thuyết lãng mạn và sự đóng góp không nhỏ của Trúc Phong cho tờ báo Sống được ra đời và được nuôi dưởng bằng những bài viết lôi cuốn ở trang bìa báo.
Rất tiếc là ngày nay, tư liệu và thông tin về hai nhà báo Hà Tiên Trúc Hà và Trúc Phong còn quá thiếu sót và chưa được kiểm chứng, phổ biến nhiều, chúng tôi rất mong những hậu duệ của hai ông còn sinh sống ở Hà Tiên, người Hà Tiên cùng quê với hai ông, cũng như toàn thể các nhà nghiên cứu thể loại văn học miền Nam nói chung hay văn học Hà Tiên nói riêng, một thứ « văn học » mà chính nhà bác học Lê Quý Đôn cách đây hơn 250 năm đã từng thốt ra lời công nhận « Không thể bảo rằng ở hải ngoại xa xôi không có văn chương vậy », xin vui lòng chia sẻ thông tin, hình ảnh nếu có để công việc tìm hiểu về Trúc Hà và Trúc Phong được phong phú, đầy đủ. Hà Tiên vẫn luôn tự hào về những nhân tài, những người con của xứ sở đã từng được nêu danh là « Hà Tiên tứ tuyệt » và những vị nhà giáo nhóm « bạn » của ngôi trường Trí Đức Học Xá.
Chú thích:
(1): Đầu nửa trước thế kỷ 20, giới văn học gọi danh xưng “Hà Tiên Tứ Tuyệt” để chỉ nhóm gồm 4 người thi sĩ, nhà văn, nhà báo rất nổi tiếng cùng quê quán ở Hà Tiên, xếp theo thứ tự tuổi tác đó là: Đông Hồ – Lâm Tấn Phác (1906-1969), Trúc Hà – Trần Thiêm Thới (1909 – 1944), Mộng Tuyết – Thái Thị Sửu (1914 – 2007) và Lư Khê – Trương Văn Em (1916 – 1950).
(2) : Trong bài viết « Mười câu chuyện văn chương », phần « Đất Hà Tiên với họ Mạc và họ Lâm » của Nguyễn Hiến Lê, có câu : « như Trúc Hà, có họ hàng với Đông Hồ, , cũng quê ở Hà Tiên, hơi có tiếng tăm, mất trước 1945 ». Theo phiên bản của nhà xuất bản Văn Nghệ – 1986, bản quyền thuộc bà Trịnh Thị Tuệ và nhà Văn Nghệ, được đăng lại trên site Việt Nam Thư Quán. http://vietnamthuquan.eu/
(3) : Bài của nhà văn Nguyễn Phước Thị Liên « Chuyện ít người biết”, đăng trên tạp chí « Chiêu Anh Các », số đặc biệt kỷ niệm 300 năm lập trấn Hà Tiên.
(4) : Bài đăng trên site « T.Vấn & Bạn Hữu ». Ngộ Không : « Tác Giả và Tác Phẩm – Hồ Hữu Tường (II) – Hồ Hữu Tường và cái nghiệp làm báo ». https://t-van.net/ng%E1%BB%99-khng-tc-gi%E1%BA%A3-v-tc-ph%E1%BA%A9m-h%E1%BB%93-h%E1%BB%AFu-t%C6%B0%E1%BB%9Dng-ii/
(5) : Trương Minh Đạt : Nghiên cứu Hà Tiên (Tạp chí Xưa&Nay – NXB Trẻ – 2008)
(6) : Hội Thánh Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý là một trong nhiều chi phái của Đạo Cao Đài và có Thánh Tòa Ngọc Kinh đặt tại Thánh thất Mông Thọ tỉnh Kiên Giang do quý Ngài Trương Minh Tòng và Tô Bửu Tài lập ra năm 1936. Ngài Tô Bửu Tài được thiên phong Ngọc Đầu Sư Chưởng Quản Hội Thánh Bạch Y.
(7) : Vào thời điểm nầy (1925), trước một niên khóa, ở trường Trung Học Cần Thơ có thầy Lý Văn Nhơn dạy môn vẽ, tuy nhiên vừa lúc Trúc Hà vào học là năm thầy Nhơn đổi về Hà Tiên. Thầy Lý Văn Nhơn chính là ông đốc Nhơn quê ở Hà Tiên.
(8) : Trần Phước Phận là con nuôi của ông Lâm Tấn Đức (người bác của Đông Hồ). Trần Phước Phận người gốc Chợ Lớn, làm việc ở Ty Quan Thuế tại Hà Tiên, vì cảm kích phong cách của ông Lâm Tấn Đức nên xin được làm con nuôi của ông.
(9) : Bài « Tết chơi biển », Nam Phong số 207, năm 1934, trang 194, 200.
Tài liệu tham khảo :
* Trang web « Kho sách xưa – Nhà kho quán ven đường » do ông Huỳnh Chiếu Đẳng thực hiện, trang nầy cung cấp rất nhiều bản chụp hầu hết các loại báo chí xưa rất giá trị cho việc nghiên cứu văn học. Xin cám ơn chủ quán. http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoChuaSachCu.htm
* Nam Phong Tạp Chí : Các số báo: 124, 126, 128, 129, 130, 141, 144, 175, 201, 202, 207.
* Tân Văn Tuần Báo: từ số 1 đến số 16.
* Nam Kỳ Tuần Báo: Các số báo 1, 3, 5, 11, 16, 18, 19, 22, 25, 28, 29, 32, 33, 35, 36, 37, 39, 41.
* Bách Khoa: Số 76, năm 1960.
* Nguyễn Hiến Lê: Mười câu chuyện văn chương, NXB Văn Nghệ, 1986. Việt Nam Thư Quán, http://vietnamthuquan.eu/
* Nguyễn Phước Thị Liên: Chuyện ít người biết. Tạp chí Chiêu Anh Các, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm lập trấn Hà Tiên.
* Ngộ Không; Trần Ngươn Phiêu: Tác Giả và Tác Phẩm – Hồ Hữu Tường (II) – Hồ Hữu Tường và cái nghiệp làm báo, 13/12/2013. https://t-van.net/ng%E1%BB%99-khng-tc-gi%E1%BA%A3-v-tc-ph%E1%BA%A9m-h%E1%BB%93-h%E1%BB%AFu-t%C6%B0%E1%BB%9Dng-ii/
* Trương Minh Đạt : Nghiên cứu Hà Tiên – Họ Mạc với Hà Tiên (NXB TH-TPHCM – 2017)
* Trương Minh Đạt : Nghiên cứu Hà Tiên (Tạp chí Xưa&Nay – NXB Trẻ – 2008)
* ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ : Bát Quái Đồ Thiên xưa và nay, Chương Trình Chung Tay Ấn Tống Kinh Sách Đại Đạo. Nhà xuất bản TÔN GIÁO, Hà Nội, 2013.
* Lê Anh Dũng : Ngô Văn Chiêu & Gia tộc Đông Hồ Lâm Tấn Phác : Tạp chí Xưa và Nay, số 308, ra tháng 5 năm 2008, trang 30.
* ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ THÁNH ĐỨC TỔ ĐÌNH – CHIẾU MINH TAM THANH VÔ VI CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ ĐẠI ĐẠO : Cuộc đời đạo đức của ngài Ngô Văn Chiêu, Nhà xuất bản TÔN GIÁO, 2021.
* Nguyễn Thị Phương Thúy – Võ Văn Nhơn: Trúc Hà – một trong « Hà Tiên tứ tuyệt »: Văn Học Việt Nam, 05/Tháng 6/2010
* Nguyễn Thị Phương Thúy : Trúc Hà, nhà văn Hà Tiên khởi nghiệp trên đất Bắc. Văn Học Việt Nam, 13/Tháng 6/2010
* Nguyễn Thị Phương Thúy : Giới thiệu báo Sống. Luận văn của NCS, HVCH & SV, 30/Tháng 5/2011
* Nguyễn Thị Phương Thúy : Mảng văn học trên báo « Sống ». Văn Học Việt Nam, 25/Tháng 8/2011. http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/
* Trần Đình Ba : Tờ báo được Tản Đà làm thơ khen mừng. Văn hóa & Đời sống, 25/Tháng 1/2024. https://vanvn.vn/
Xin kính lời cám ơn bác sĩ Nguyễn Như Sơn và con trai là bác sĩ Nguyễn Như Thạch, hậu duệ của chí sĩ Nguyễn Thần Hiến, hai ông đã góp thêm nhiều ý kiến chính xác trong gia tộc về gia thế của nhà báo Trúc Hà để bài được thông tin đáng tin cậy.
Xin cám ơn hậu duệ của hai nhà báo Trúc Hà và Trúc Phong đã lưu lại và chia sẻ tư liệu quý giá gia đình và nhà sưu tầm tài liệu lịch sử Hà Tấn Tài (Phú Quốc) đã giới thiệu cho chúng ta được biết các hình ảnh, thông tin đúng đắn và chính xác.
Trần Văn Mãnh, Paris viết xong ngày 20 tháng 11 năm 2025.

Một tư liệu vô cùng quý giá, lưu bút của gia đình nhà báo Trúc Hà ghi lại rõ năm sinh và mất của Trúc Hà và hai quyển sách của ông được xuất bản. Nguồn: Tư liệu gia đình Trúc Hà, do Hà Tấn Tài chia sẻ trên trang fb cá nhân.

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của ông Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ, Hà Tiên. Thuở nhò, Đông Hồ, Trúc Hà và Trúc Phong được ông bác Lâm tấn Đức nuôi dưởng trong căn nhà nầy. Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do ông Đông Hồ lập ra. Hình do Huệ Nhẫn sưu tầm. Theo tài liệu của học giả Trương Minh Đạt, tấm hình trên được chụp ngày 13/03/1940

Toàn bài thơ « Cảnh đìu hiu » do Trúc Hà dịch từ bài thơ Pháp L’Isolement của Lamartine đăng trên báo Nam Phong số 124, năm 1927, trang 626, 627.

Hình bìa tờ tuần báo Sống số 1 (trái) xuất bản ngày 22/1/1935 tại Sài Gòn. Nguồn hình: TL, trích trong bài viết « Tờ báo được Tản Đà làm thơ khen mừng « , của Trần Đinh Ba (Tạp Chí Trí Thức), và Sống số 6 (phải) ra ngày 26/2/1935. Nguồn: Tư liệu gia đình Trúc Hà, do Hà Tấn Tài chia sẻ trên trang fb cá nhân.

Mục lục các bài đăng trong tờ báo Sống số 6 ra ngày 26/2/1935 trên tờ bìa báo. Có bài « Đời mới, tục mới » do Trúc Hà viết và ký bút hiệu là Hà Nhân, và tiểu thuyết « Băn khoăn » của Trúc Phong. Nguồn: Tư liệu gia đình Trúc Hà, do Hà Tấn Tài chia sẻ trên trang fb cá nhân.

Toàn bộ các số báo Sống do hậu duệ nhà thơ Trúc Hà và Trúc Phong lưu giữ lại được và đã gửi tặng cho nhà sưu tầm tài liệu lịch sử Hà Tấn Tài (Phú Quốc). Nguồn: Tư liệu gia đình Trúc Hà, do Hà Tấn Tài chia sẻ trên trang fb cá nhân.