Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 5)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

NĂM

Chỉ huy tài giỏi có ý chí sắt đá

 

Vào tháng 5 năm 1950, trong khi chuẩn bị quân đội cho cuộc xâm lược, Bình Nhưỡng đã công khai kêu gọi miền Nam thống nhất hòa bình, kêu gọi thành lập một quốc hội thống nhất vào thời điểm kỷ niệm tháng 8 ngày giải phóng khỏi ách cai trị Nhật Bản. Đó là một đề nghị hoàn toàn có tính tuyên truyền. Kim Il-sung không kỳ vọng người miền Nam cảnh giác sẽ chấp nhận các điều kiện của miền Bắc. Theo kế hoạch, cuộc tấn công tuyên truyền này đã giúp che đậy ý đồ của miền Bắc.

Cùng tháng đó, Liên Xô bắt đầu cử cố vấn quân sự mới đến Triều Tiên: “những cá nhân có nhiều kinh nghiệm chiến đấu”, như Yu Song-chol mô tả về họ. Các cố vấn mới của Liên Xô đã soạn một bản dự thảo về một “kế hoạch tấn công xâm lược phủ đầu”. Nhiệm vụ phiên dịch và hoàn thiện kế hoạch được giao cho Yu và ba sĩ quan Triều Tiên khác, những người giống như anh, đã lớn lên ở Liên Xô và nói tiếng Nga. Sau khi chuẩn bị các cuộc di chuyển quân ngụy trang dưới dạng diễn tập huấn luyện, kế hoạch kêu gọi tiến hành một cuộc xâm lược dọc theo vĩ tuyến 38. Ngăn chặn bất kỳ bước tiến nào của miền Nam, Quân đội Nhân dân Triều Tiên sẽ tiến tới chiếm thủ đô Seoul của miền Nam sau bốn ngày.

Moscow cũng bắt đầu vận chuyển các thiết bị quân sự cần thiết. Khi mọi thứ đã được vận chuyển và lực lượng Triều Tiên sẵn sàng tiến hành cuộc xâm lược, miền Bắc có nhân lực và pháo binh gấp đôi so với miền Nam và ít nhất là có lợi thế 6 trên 1 về máy bay và xe tăng, theo ước tính của Liên Xô.

Trong kế hoạch, cuộc xâm lược được gọi là một “cuộc phản công”. Cố gắng tránh bị coi là kẻ xâm lược, Bình Nhưỡng trong nhiều thập kỷ tới sẽ duy trì một cách nhất quán – đối với cả nước ngoài và trong nước – rằng miền Nam đã ra tay trước và miền Bắc chỉ đơn thuần đáp trả.

Yu Song-chol cho biết ông đã chuyển kế hoạch xâm lược cho Kim Il-sung. Sau đó, Kim đã ký vào kế hoạch và viết “Đồng ý”. Vào lúc 4 giờ sáng ngày 25 tháng 6, lực lượng Bắc Triều Tiên nổ súng. Tuyên truyền chính thức trong nhiều năm sau đó không ngừng lặp đi lặp lại lời nói dối trắng trợn rằng Kim “không bao giờ nới lỏng cuộc đấu tranh ngăn chặn chiến tranh và đạt được sự thống nhất đất nước một cách hòa bình” trong khi Đại Hàn  và Hoa Kỳ đáp lại ông bằng cách tung ra “một cuộc chiến đáng nguyền rủa, tội lỗi, và hung hãn mà họ đã chuẩn bị từ lâu.”

 

Ở Seoul, đó không phải là một cuộc tấn công hoàn toàn bất ngờ. “Chúng tôi biết rõ hơn hầu hết mọi nơi trên thế giới rằng người cộng sản đã lên kế hoạch tấn công,“ Harold Noble, một nhà ngoại giao Mỹ ở Seoul, nói: “Nhưng chuyện đó đã từ năm 1946”. Thời gian trôi qua đã ru ngủ cả người Hàn Quốc và người Mỹ ở thành phố. Như những người sống bên cạnh một núi lửa, “chúng tôi biết một ngày nào đó nó sẽ phun trào, nhưng ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác trôi đi mà nó không nổ ra, chúng tôi khó có thể tin rằng ngày mai sẽ khác.” Vì vậy, khi vụ nổ súng bắt đầu vào sáng Chủ nhật ngày 25 tháng 6, quân miền Nam đã không canh gác như những người lập kế hoạch xâm lược đã hy vọng. Nhiều quân nhân đang đi nghỉ cuối tuần, người khác đang ngủ thì cuộc tấn công tổng lực của pháo binh và xe tăng đánh vào họ.

Nhận được báo cáo tình hình trong một hang động tự nhiên gần Bình Nhưỡng mà họ đã biến thành sở chỉ huy của mình, Thiếu tướng Yu Song-chol và các cấp chỉ huy quân sự khác của Triều Tiên đã rất ngạc nhiên về việc lực lượng miền Nam sụp đổ quá dễ dàng. 150 xe tăng T-34 do Liên Xô sản xuất của Quân đội Nhân dân Triều Tiên tiến lên ồ ạt, khiến lính miền Nam hoảng sợ rút lui trong hoảng loạn bất lực khi 7  sư đoàn phía Bắc tràn xuống Seoul.

Yu chỉ nhớ lại một vài sai sót ở giai đoạn đó trong kế hoạch xâm lược vốn rất thành công. Một đơn vị xe tăng đã bị trì hoãn khi vượt qua địa hình núi hiểm trở hơn những gì người lập kế hoạch đã tính toán. (Rốt cuộc, những người lập kế hoạch không phải là người dân địa phương mà tất cả đều đến từ Liên Xô.) Hệ thống thông tin liên lạc của Sư đoàn 1 bị hư hỏng và một cơ sở lưu trữ vũ khí bị nổ tung, cũng gây ra sự chậm trễ. Kim Il-sung giận dữ ra lệnh thay thế Sư đoàn 1 bằng Sư đoàn 4 và ra lệnh tử hình bằng cách xử bắn Tư lệnh Sư đoàn 1, Thiếu tướng Choe Gwang, một đồng chí cũ thời du kích Mãn Châu. Chỉ huy tiền tuyến của quân đội đã thuyết phục Kim rút lại mệnh lệnh. (Sau ít nhất một lần xung đột với Kim, vào năm 1968, gần bốn thập kỷ sau, vào năm 1988, Choe được bổ nhiệm làm tổng tham mưu trưởng KPA (Quân đội Nhân dân Triều Tiên). Năm 1995, với cái chết của Nguyên soái O Jin-u, bộ trưởng quốc phòng, Phó nguyên soái Choe trở thành quân nhân cấp cao nhất của Triều Tiên.)

Khi lực lượng Bắc Triều Tiên hành quân vào Seoul trong chiến thắng chỉ ba ngày sau cuộc tấn công đầu tiên, lực lượng miền Nam của Rhee rút lui về phía nam. Người miền Bắc hy vọng cuộc chiến sẽ kết thúc thắng lợi. Ở Hàn Quốc, mọi con đường đều dẫn đến Seoul. Bình Nhưỡng dự đoán rằng việc mất đi thành phố từng là thủ đô trong hơn 5 thế kỷ sẽ gây áp lực buộc chế độ Rhee phải đầu hàng.

Dựa trên tiên lượng lạc quan của Pak Hon-yong, kế hoạch xâm lược đã dự đoán trước rằng người miền Nam sẽ giúp đỡ quân xâm lược bằng cách tổng nổi dậy rầm rộ chống lại những kẻ cai trị họ. Đã từng là lãnh đạo cộng sản Hàn Quốc trước khi chạy trốn sang miền Bắc, Pak mong muốn khôi phục cơ sở quyền lực của mình thông qua một cuộc xâm lược. Ông đã đảm bảo với Kim – và Stalin – rằng 200.000 người cộng sản ẩn náu ở miền Nam “sẵn sàng nổi dậy khi có tín hiệu đầu tiên từ miền Bắc”.

Ở Seoul không có chuyện gì như vậy xảy ra cả. Chắc chắn là có những người dân Seoul hồ hởi, đeo băng tay màu đỏ và chạy tới cổ vũ đoàn quân giải phóng. Hạnh phúc nhất có lẽ là những tù nhân vui sướng hò hét “Tổ quốc muôn năm!” khi quân Triều Tiên mở cửa các nhà tù  Chẳng bao lâu sau, đường phố được trang hoàng bằng những tấm áp phích có hình Kim Il-sung và Stalin. Cuộc xâm lược diễn ra tốt đẹp với những người dân cảm tình viên cộng sản, chẳng hạn như một người bán kem, hô hào hàng xóm cùng hét vang chống lại “bè phái” Rhee và tịch thu một biệt thự của một cựu thị trưởng để sử dụng làm nơi ở của gia đình hắn. Nhưng sau khi những kẻ chiếm đóng thoạt đầu có thái độ tốt bây giờ bắt đầu vây bắt và tiêu diệt những “kẻ phản động” miền Nam, ngay cả những tiếng hò reo ủng hộ cũng bắt đầu lắng xuống. Yu đi đến Seoul và rất ngạc nhiên khi thấy rằng “người đi đường vô cảm với chúng tôi. Khi chúng tôi vẫy tay chào họ, rất ít người đáp lại.”

Kế hoạch tác chiến kêu gọi quân đội Triều Tiên tiến từ 9 đến 12 dặm một ngày và chiếm toàn bộ bán đảo trong 22 đến 27 ngày. Quân miền Bắc đã phạm sai lầm lớn khi dừng cuộc tiến quân ở Seoul trong hai ngày để nghỉ ngơi và ăn mừng – cho phép lực lượng miền Nam có thời gian tập hợp lại. Và với những sự cố liên lạc tiếp theo, các kế hoạch hậu Seoul tỏ ra không khả thi ở một số khía cạnh. Du kích tại chỗ đã giúp đỡ quân miền Bắc trong một số trận đánh. Nhưng cuộc tổng nổi dậy mà Kim mong đợi đã không xảy ra ở nội địa, cũng như ở Seoul và vùng lân cận. Tuy nhiên, lực lượng phương Bắc háo hức tràn xuống bán đảo.

Trong khi đó, bộ máy tuyên truyền của Kim bắt tay vận hành nhằm cố gắng thu hút dân Hàn Quốc tin tưởng. Học sinh ở Seoul do Triều Tiên chiếm đóng đã học bài hát hấp dẫn “Bài hát về tướng Kim Il-sung”:

Kể đi, bão tuyết đó cơn thịnh nộ trên vùng đồng bằng Mãn Châu hoang dã,

Hãy kể cho các bạn những đêm trong rừng sâu nơi sự im lặng ngự trị,

Ai là đảng phái có hành động vượt trội?

Ai là người yêu nước mà danh tiếng sẽ tồn tại mãi mãi?

Danh hiệu vinh quang của Đại tướng chúng ta thật thân thương,

Danh tiếng bất diệt của Kim Il-sung thân yêu của chúng ta.

Về phía tiền tuyến, tinh thần đã cao. Chỉ một số ít người Bắc Triều Tiên biết rằng quân đội của họ đã xâm chiếm miền Nam. Hầu hết đều tin rằng miền Bắc đã là mục tiêu của một cuộc xâm lược của miền Nam và Hoa Kỳ, một cuộc xâm lược mà Quân đội Nhân dân Triều Tiên đã anh dũng đẩy lùi. Chiêu bài kêu gọi thống nhất  của Bình Nhưỡng ngay trước cuộc tấn công đã đánh lừa chính người dân của Kim.

Ở miền Bắc, một khi “chiến tranh giải phóng dân tộc” bắt đầu, các người trẻ chú ý đến khẩu hiệu tuyển dụng quân tình nguyện: “Tất cả chúng ta hãy bước ra và hy sinh thân mình!” Kang Song-ho, một người Triều Tiên đến từ Liên Xô đang sống ở Bắc Triều Tiên khi chiến tranh nổ ra, xuất hiện trên truyền hình Hàn Quốc nhiều năm sau và kể lại chuyện mình và bạn bè đã hăng hái chiến đấu chống Lực lượng miền Nam như thế nào. “Trong thời gian đó, có rất nhiều tuyên truyền về Triều Tiên luôn kêu gọi Hàn Quốc thống nhất hoà bình,” ông nói. Tuyên truyền miền Bắc như Kang nhớ lại, tuyên bố rằng “Mỹ chỉ đạo và Nam Hàn đã từng biến thành thuộc địa của họ.” Rhee đang ra sức kích động người dân miền Nam  “ra trận và thậm chí ăn thịt người dân Bắc Triều Tiên.”

Nghiêm trọng hơn nhiều so với giả định sai lầm về chiến thắng nhanh chóng là sai sót lớn thứ hai của kế hoạch này: giả định rằng Hoa Kỳ sẽ đứng ngoài cuộc. Có lẽ điều đó đã xảy ra nếu không có chuyến dừng quân chết người kéo dài hai ngày của lực lượng miền Bắc ở Seoul. Nhưng giả định của Kim rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp để đảo ngược tình thế đã rồi có nhiều khả năng là sai lầm – nếu ông thực sự tin vào điều đó chứ không chỉ đơn giản đưa ra cho Stalin một mồi ngon nhằm tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô. Vì theo giả định của các nhà hoạch định chính sách Mỹ về ý nghĩa của cuộc xâm lược, việc đáp trả gần như là tự động – và chắc chắn ở Hoa Kỳ dân chúng đồng tình việc chiếm lại miền Nam ngay cả khi miền Bắc đã tràn ngập toàn bộ lãnh thổ.

Acheson và các quan chức Mỹ khác cho rằng Stalin có vai trò trong cuộc xâm lược ngày 25 tháng 6 là một giả định đúng, như đã được chứng minh rõ ràng qua việc mở các kho lưu trữ của Liên Xô cũ. Nhưng người Mỹ đã phóng đại vai trò của Liên Xô, tưởng tượng rằng cuộc xâm lược của Triều Tiên chỉ là bước đầu tiên trong kế hoạch bành trướng của mình. Họ không biết rằng chính Kim – chứ không phải Stalin – là người đã đưa ra sáng kiến ​​và vì mục đích thuần túy Triều Tiên của riêng ông ta. Tổng thống Harry Truman nói trong cuộc họp báo trước quốc hội: “Hành động này rõ ràng được lấy cảm hứng từ Liên Xô”. Trợ lý Ngoại trưởng Edward W. Barrett so sánh mối quan hệ Moscow-Bình Nhưỡng với “Walt Disney và Chú Vịt Donald.”

Vấn đề phức tạp là xu hướng chung “đánh cuộc chiến cuối cùng”, một xu hướng được củng cố bởi các trào lưu chính trị Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Những ký ức sâu sắc vẫn còn về những hậu quả tiêu cực nảy sinh từ việc xoa dịu Đức Quốc xã theo chủ nghĩa bành trướng ở Munich khiến Hitler tự tin dấn tới, phát động thế chiến. Gần đó hơn, Đảng Dân chủ của Truman và Bộ Ngoại giao đã bị Đảng Cộng hòa chỉ trích vì những quyết định và hành động được cho là “để mất” Trung Quốc: chiến thắng năm 1949 của Mao Trạch Đông trước Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch.

Đến năm 1950, các nhà lý thuyết âm mưu trong cơn điên cuồng giết-bọn đưa tin đặt câu hỏi về lòng trung thành của một loạt quan chức đã nghi ngờ khả năng tồn tại của Tưởng. Chỉ bốn tháng rưỡi trước cuộc xâm lược của Triều Tiên, vào ngày 9 tháng 2, Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy đã bắt đầu chiến dịch mắc mồi câu bọn Đỏ bằng  cách tuyên bố tại Wheeling, Tây Virginia rằng ông có trong tay danh sách 205 đảng viên Đảng Cộng sản nằm vùng tại Bộ Ngoại giao. Việc Truman để yên cho cuộc xâm lược của Triều Tiên và do đó chủ trì “việc để mất” một quốc gia khác – sẽ khiến ông ta ngay lập tức trở thành lúa của nhà máy xay McCarthy. Mặc dù Truman chắc chắn đã nhận thức được các yếu tố chính trị cấp bách trong nước khi ông  quyết định đáp trả ở Triều Tiên, và công khai bám vào lập luận Chiến tranh Lạnh mang tính quốc tế khi bắt đầu tập hợp người Mỹ và các đồng minh để đưa ra một lập trường. Truman nói với các thành viên Quốc hội: “Nếu chúng ta để người Hàn thất vọng, thì Liên Xô sẽ tiếp tục nuốt chửng hết phần này đến phần khác của châu Á”. Sau châu Á, họ sẽ chuyển sang Cận Đông và có lẽ là châu Âu. Hoa Kỳ phải vạch ra ranh giới. Đây là sự phát biểu ban đầu về cái được gọi là Học thuyết Domino.

Không lâu trước khi các chứng cứ bổ sung đã xuất hiện gợi ý rằng giả định Truman-Acheson về chủ nghĩa bành trướng của Stalin là không có cơ sở. Triều Tiên giáp với Liên Xô, nên Stalin đương nhiên muốn có một nhà nước có cùng chí hướng ở đó vì lý do an ninh. Nhưng chính sách của Stalin rõ ràng không kêu gọi mở rộng không giới hạn sang các quốc gia không giáp biên giới như nhiều người phương Tây lo ngại – không, ít nhất là vào thời điểm đó.

Mặt khác, chưa bao giờ có nhiều nghi ngờ về tính chính xác của một giả định khác của Truman: Nếu không có sự can thiệp nhanh chóng của Mỹ, quân xâm lược sẽ tràn ngập toàn bộ Nam Hàn. Tổng thống đã hành động nhanh chóng và dứt khoát. Một nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, do Washington đưa ra chỉ hai ngày sau cuộc xâm lược, yêu cầu quân miền Bắc rút lui về phía sau vĩ tuyến 38. Được khoác lên mình chiếc áo choàng của Liên hiệp quốc, Truman cam kết không chỉ hỗ trợ trên không và trên biển mà còn đưa quân đội trên bộ đến giúp đỡ người dân Hàn Quốc đang bị bao vây. Các đơn vị dẫn đầu của Sư đoàn 24 Quân đội Hoa Kỳ, đóng tại Nhật Bản, đổ bộ vào ngày 1 tháng 7, chỉ sáu ngày sau cuộc xâm lược, báo hiệu cam kết đầy đủ của Mỹ đối với cuộc chiến. Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc cuối cùng đã kết hợp quân chiến đấu của 16 quốc gia, cùng với 37 quốc gia khác đóng góp tiền bạc, vật tư và viện trợ y tế.

Người kế nhiệm Acheson làm Ngoại trưởng, Dulles, sau này đã giải thích quyết định này như sau: “Chúng tôi không đến chiến đấu và chết ở Triều Tiên để thống nhất đất nước bằng vũ lực hoặc để giải phóng dân chúng Bắc Triều Tiên bằng vũ lực. Chúng tôi không theo nguyên tắc rằng những bất công như vậy phải được khắc phục bằng cách sử dụng chiến tranh. Nếu đó thực sự là nguyên tắc đúng đắn, chúng ta sẽ phải chiến đấu trên khắp thế giới và tổng số những đau thương và tàn phá sẽ không thể đo đếm được. Chúng ta đến Hàn Quốc để chứng minh rằng sẽ có tình đoàn kết để đẩy lùi sự xâm lược vũ trang.”

Kim Nhật Thành có thể chỉ trích cấp dưới vì đã đánh lừa mình về phản ứng của miền Nam và để Quân đội Nhân dân dừng lại nghỉ ngơi sau khi chiếm Seoul. Tuy nhiên, việc tính toán sai khả năng và ý định của Mỹ là trách nhiệm ở cấp cao hơn. Yu Song-chol cho biết một số quan chức cấp cao của Triều Tiên đã cảnh báo rằng Mỹ có thể can thiệp nhưng ông Kim đã bác bỏ những cảnh báo của họ và coi đó là chủ nghĩa chủ bại.

 

Với cuộc tấn công của Triều Tiên và quyết định bảo vệ Hàn Quốc của Truman, những người Mỹ vốn chưa từng nghe nói nhiều về một đất nước Triều Tiên xa xôi và thậm chí còn không chắc chắn về cách phát âm tên nó đột nhiên nghe tên nó ở khắp nơi. Tôi nằm trong số đó, một học sinh lớp ba tiểu học lúc chiến tranh nổ ra. Truyện tranh nhanh chóng bắt đầu mô tả các lính Mỹ theo khuôn mẫu John Wayne [tài tử màn bạc chuyên đóng vai cao bồi miền Tây, đánh nhau với chiến binh Da Đỏ bản địa: ND] chiến đấu với bọn “gook” cộng sản hung hãn. Đến năm thứ ba của cuộc chiến, Ken Pitts, một bạn học của tôi tại lớp học chủ nhật ở Georgia, đã thực hiện nghi thức cầu nguyện hàng tuần: “Lạy Chúa, xin ở cùng các chàng trai của chúng con ở Ko-rea,” kéo dài âm tiết đầu tiên thêm một hoặc hai nhịp.

Một trong những “chàng trai của chúng tôi”, người cung cấp chính các câu chuyện chiến tranh cho gia đình Martin, là em trai của mẹ tôi. Edward O’Neal Logan đã gia nhập Lực lượng Vệ binh Quốc gia Alabama năm mười sáu tuổi, khai gian tuổi của mình và đã chiến đấu trên một vùng đất rộng lớn ở Tây Nam Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai với một trung đoàn bộ binh và ban tham mưu Tập đoàn quân VI, với tư cách là một sĩ quan tình báo đằng sau chiến tuyến về chiến tranh du kích. Mang ngoại hình phương Đông cậu tôi trông hơi giống Mao Trạch Đông; cậu thừa hưởng vẻ ngoài đặc biệt  từ ông ngoại tôi, người thỉnh thoảng kể lại một nguồn gốc gia đình, cho rằng một trong những tổ tiên của chúng tôi là người Da Đỏ Cherokee.

Logan là một chiến binh trăm phần trăm, tập trung vào công việc tiêu diệt kẻ thù; tính nhạy cảm về văn hóa không phải là điểm mạnh của cậu vào thời điểm đó. Trong một bức thư gửi về nhà năm 1944, kèm theo một bức ảnh cho thấy cậu là một chiến binh trẻ tuổi rám nắng và tự tin trên đảo, cậu đã truyền đạt một mẹo sinh tồn mà mình nhất mực tuân thủ: “Người Nhật tốt duy nhất là một người Nhật đã chết.” [Khẩu hiệu này có nguồn gốc từ thời lập quốc Hoa Kỳ: Người Da Đỏ tốt duy nhất là một người Da Đỏ đã chết: ND].”Được thăng chức thiếu tá ở tuổi 22, sau chiến tranh cậu đã đăng ký ở lại quân đội chính quy (đã giảm nhiều). Từ căn cứ của Sư đoàn 24 ở Nhật Bản, Ed Logan đến Hàn Quốc trước đơn vị của cậu vài ngày và hướng đến Taejon. Phần lớn Trung đoàn Bộ binh 19 thiếu quân số, trang bị kém, mà bộ tư lệnh trong đó  cậu phục vụ với tư cách là sĩ quan tác chiến và huấn luyện (S-3), đã đổ bộ tại bến cảng Pusan ​​​​ngày 10 tháng 7 và đi về phía tây bắc. Nhiệm vụ của họ: cố gắng cầm chân kẻ thù ở sông Kum phía bắc Taejon.

Kim Il-sung muốn “đập tan ý đồ của đế quốc Mỹ”  bằng cách chiếm thành phố,  theo một tiểu sử chính thức. Vì vậy, Kim “đã vạch ra một chiến dịch cẩn thận và tỉ mỉ để giải phóng Taejon và đích thân chỉ đạo nó.” Tiểu sử đó dối trá một cách trắng trợn về một số khía cạnh có thể kiểm chứng được của cuộc chiến, và các nguồn tin khác không đề cập đến vai trò được cho là của Kim trong việc lãnh đạo trận chiến Taejon, điều này cho thấy đây chỉ là một sự lươn lẹo nữa. Thật vậy, Yu Song-chol cho biết Kim đã ở lại bộ chỉ huy của mình trong một hầm ngầm gần Bình Nhưỡng – và trong suốt thời gian chiến tranh, theo như Yu biết, thủ tướng chỉ đến thăm bộ chỉ huy tiền phương một lần, khi nó đặt trụ sở chính tại tòa nhà thủ đô ở Seoul.

Tuy nhiên, nếu có thời điểm áp dụng các chiến thuật cây nhà lá vườn, chẳng hạn những chiến thuật mà các chiến binh chống Nhật, trong đó có Kim, đã học được ở Mãn Châu và các nơi khác ở Trung Quốc, thì thời điểm đó là giữa tháng 7 năm 1950. Yu cho biết các nhà hoạch định cuộc xâm lược của Nga được cử đến đã trở về nhà sau khi thất bại trong việc vận dụng các cuộc điều động xe tăng ở mặt trận phía đông với địa hình thực tế. Và quân “tình nguyện” Trung Quốc lúc đó vẫn chưa tham chiến với những ý tưởng về chiến lược và chiến thuật của riêng họ. Nhắc lại thêm rằng, theo hồi ký của Kim, tấn công vào hậu phương của kẻ thù trong khi vẫn duy trì áp lực ở mặt trận là chiến thuật ưa thích của ông ngay từ khi phòng thủ Xiaowangqing ở Mãn Châu, vào năm 1933. Chiến thuật đó đóng một vai trò quan trọng trong cuộc tấn công của Quân đội Nhân dân Triều Tiên vào Taejon- bất kể chính Kim hay một đồng đội cũ của ông đã đích thân nghĩ ra kế hoạch tác chiến.

Trung đoàn bộ binh 19 phải bảo vệ 42 dặm bờ sông, một khu vực rộng lớn đến mức thường được giao cho ba trung đoàn bao gồm một sư đoàn bộ binh đầy đủ quân số. Như người Hàn Quốc, người Mỹ thoạt đầu cũng bị các xe tăng T-34 Liên Xô của Triều Tiên thổi bay theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Bọn khổng lồ này tiêu diệt tất cả những gì trước mặt chúng, đều bất khả xâm phạm đối với hầu hết vũ khí người Mỹ có trong tay và tạo ra “cơn khiếp sợ và nỗi thất vọng khó diễn tả”, Logan nhớ lại. “Tôi đã sử dụng dàn phóng tên lửa 2,75-inch bắn ở khoảng cách không đến 50 bộ. Năm phát. Chúng làm bật ra các bánh xe nhưng xe tăng vẫn di chuyển.”

Không lực giúp ích trong một thời gian, để củng cố phòng tuyến Mỹ mỏng manh, trong đó có những khoảng trống lớn. Vào ngày 15 tháng 7, trong nỗ lực ngăn chặn cuộc vượt sông trong đêm của kẻ thù, hỏa lực súng cối, pháo binh  Mỹ và các cuộc không kích đã đốt cháy một ngôi làng do Triều Tiên trấn giữ ở phía bên kia, làm sáng bừng bờ sông. Tuy nhiên, sau khi Lực lượng Không quân Hoa Kỳ mất đi đội vô tuyến gồm ba người có nhiệm vụ xử lý việc định vị mặt đất cho các phi công, không còn sự hỗ trợ từ trên không nào nữa.

Vào ngày 16 và 17 tháng 7, người Mỹ đã nhận được một minh chứng mà nhiều người trong số họ mô tả là “sự coi thường mạng sống con người” của lực lượng Triều Tiên  – hay, như chính người miền Bắc tự hào nói, đó là tinh thần xả thân của họ. “Chúng tôi đã cho nổ tung cây cầu nhưng chúng vẫn tiếp tục lao tới, vượt qua những xác chết,” một tay súng máy người Mỹ hoảng sợ nói với Logan. “Chắc phải có ba đến bốn trăm thi thể trên sông ở lối vượt qua chính và chúng tôi hết đạn rồi.”

Lính Triều Tiên lội qua sông và vượt qua những khoảng trống giữa các vị trí do quân Mỹ chiếm giữ quá dàn mỏng. Sau đó quân miền Bắc vòng ra phía sau Quốc lộ 19 và chặn đường quốc lộ chính – đường ra vào và tiếp tế của quân Mỹ – ba dặm về phía sau, nơi một bên là sườn núi dốc, một bên là vách núi. Cấp trên của mình bị thương, Logan nhận quyền chỉ huy một chiến dịch nhằm cố gắng đột phá hoặc vượt qua một rào cản dài một dặm rưỡi do binh lính Triều Tiên bắn xuống từ vùng cao phía trên. Một đội lính Bắc Triều Tiên bất ngờ tấn công thiếu tá, và 4 người đi cùng ông đã thiệt mạng. Ông ngã xuống bụng một người lính đã chết của mình, đầu ập vào thân thể đẫm máu của đồng đội đó, giả chết khi quân địch đâm lưỡi lê vào mông ông để kiểm tra tình trạng.

Được một số đồng đội giải cứu, Logan vượt qua rào cản và tìm thấy tư lệnh sư đoàn, Thiếu tướng William F. Dean. Dean phái Logan lùi xa hơn về phía sau để thiết lập một vị trí mới gần Taejon hơn, sau đó tổ chức đột phá vòng vây bằng hai xe tăng hạng nhẹ và bốn xe phòng không. Nỗ lực này đã thất bại. Khoảng 500 lính bộ binh Mỹ bị mắc kẹt giữa rào chắn và dòng sông chỉ có thể trốn thoát bằng cách leo lên những ngọn núi phía trên con đường. Một số binh sĩ khỏe mạnh, được lệnh cáng  người bị thương nặng, không thể đi xa với họ trong một địa hình trừng phạt và phải bỏ lại họ trên đỉnh núi. Quân đội Bắc Triều Tiên sớm đến nơi và giết chết những binh sĩ bị thương.

Bọn Bắc Triều Tiên tấn công Logan đã lấy đi chiếc ví của cậu, có ảnh của mợ Glennis của tôi và hai anh em họ Eddie và Dennis. Vài ngày sau, khi trung đoàn đang rút về phía nam Taejon để tập hợp lại, phóng viên chiến trường Marguerite Higgins của tờ New York Herald Tribune đã nhìn thấy thiếu tá. “Tưởng anh đã chết rồi,” cô nói. Higgins nói với cậu tôi rằng “Seoul City Sue”, một giáo sĩ trước đây, đang phát sóng tuyên truyền của Triều Tiên đến quân đội Mỹ, đã tuyên bố trên đài ngày hôm trước rằng Glennis, Eddie và Dennis Logan sẽ không bao giờ gặp lại chồng và cha của họ nữa .

 

Vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8, có thêm các sư đoàn bộ binh cũng như các đơn vị không quân của Mỹ đến tăng viện cho Sư đoàn 24 đã bị đánh bại. Quân đội Bắc Triều Tiên sau khi chiếm đóng phần lớn miền Nam, cuối cùng đã bị chặn đứng ở Sông Nakdong ở phía đông nam, bị tê liệt bởi sức mạnh không quân Mỹ. Yu Song-chol nhớ lại: “Việc ném bom bừa bãi đã tạo ra một tình huống trong đó KPA (Quân đội Nhân dân Triều Tiên) không thể chiến đấu cũng như không thể di chuyển vào ban ngày”. Sự hỗ trợ từ phía sau gần như không thể thực hiện được. Ngay khi nghe thấy tiếng máy bay, người ta có thể nhận thấy các binh sĩ rơi vào trạng thái thần kinh nghiêm trọng, sợ hãi đến phát cuồng. Chiến lược ném bom rải thảm này đã giáng một đòn chí mạng vào KPA. Tuy nhiên, nó cũng gây thiệt hại to lớn cho những người dân vô tội.” Bất chấp bước ngoặt của cuộc chiến vì không lực, Kim Il-sung vẫn thúc quân đánh chiếm Pusan, cảng phía đông nam và thành phố thứ hai của Hàn Quốc. Trong một buổi phát thanh trên đài ngày 15 tháng 8, ông đưa ra cho họ thời hạn là cuối tháng 8, giải thích rằng “điều này càng bị trì hoãn lâu thì khả năng phòng thủ của Liên hiệp quốc sẽ càng trở nên mạnh mẽ hơn”. Các cuộc tấn công dữ dội sau đó đã dẫn đến thương vong khủng khiếp cho cả hai bên trước khi nguồn tiếp tế của Triều Tiên cạn kiệt và họ phải rút lui.

Trung đoàn bộ binh 19 được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực phía tây vành đai Pusan. Thương vong đã làm giảm quân số của trung đoàn chỉ còn ba mươi hoặc bốn mươi phần trăm so với mức tiêu chuẩn, Logan nhớ lại. Vào khoảng thời gian Kim đang thúc đẩy quân đội của mình tiến hành các cuộc tấn công mới, Quân đoàn 19 đã có khoảng 400 quân thay thế. Danh sách quân nhân Mỹ ở Nhật Bản đã được sàng lọc kỹ lưỡng để tìm ra bất kỳ ai có quá trình tác chiến trong các đơn vị bộ binh, thiết giáp hoặc pháo binh. Do nhu cầu thay thế rất khẩn cấp nên quân đội đã không thể chia những người lính đó thành các đơn vị theo chủng tộc khác nhau như thường lệ. Đón họ tại sân trường làng đang chịu các cuộc tấn công lẻ tẻ bằng pháo binh và súng cối, “chúng tôi cho họ vào hàng và nói, ‘Nhóm này vào đại đội này nọ,” cậu Logan kể với tôi. Người hướng dẫn đưa họ đến đại đội của họ, và thế là xảy ra một trong những trường hợp được ghi nhận sớm nhất về sự hội nhập chủng tộc đen trắng trong đơn vị tác chiến Mỹ. Trong vòng vài ngày, nhiều binh sĩ thay thế đã tử trận. Như trong Trận chiến Bulge của Thế chiến II, “chúng tôi không có hồ sơ, chỉ có một cái tên trong sổ tay.”

Nếu Chúa đáp lại lời cầu nguyện của Ken Pitts và những người khác bằng cách phù hộ người Mỹ thì binh lính Triều Tiên vẫn đang “chiến đấu” cho  nhà lãnh đạo,” Kim Il-sung, người lúc này đã bắt đầu tự đảm nhận địa vị thần thánh.

 

Mao Trạch Đông và Ủy ban Trung ương Đảng của mình, lắng dõi theo cuộc chiến từ Bắc Kinh, bắt đầu lo sợ vào đầu tháng 8 khi quân đội Triều Tiên đã “tiến quá xa trong sự cô lập, khiến hậu phương của họ dễ bị tổn thương”. Hoa Kỳ “có thể phát động một cuộc phản công.” Cuối tháng 8, Mao gửi lời tới Kim thông qua đại diện Triều Tiên tại Bắc Kinh rằng Inchon có khả năng là vị trí cho một cuộc đổ bộ của Liên Hiệp Quốc. Theo báo cáo, Kim không mấy ấn tượng. Tuy nhiên, chắc chắn là do phần lớn nhân lực của miền Bắc tập trung ở vành đai Pusan, lực lượng Mỹ vào ngày 15 tháng 9 đã thực hiện cuộc đổ bộ quan trọng của họ xuống Inchon, nằm xa phía sau phòng tuyến của KPA. Họ gặp rất ít sự kháng cự. Bị kẹt giữa hai lực lượng Mỹ, quân Bắc Triều Tiên rút lui, người Mỹ đuổi theo họ.

Trong khi thừa nhận rằng việc rút lui là “một thử thách đau đớn”, các tài liệu chính thức của Triều Tiên mô tả đây là một cuộc thử nghiệm “rút lui chiến lược tạm thời.” Họ giải thích, “người chỉ huy tài giỏi, có ý chí sắt đá” Kim Il-sung “đã quyết tâm dụ dỗ và phân tán kẻ thù, ném chúng vào sự hỗn loạn của một mê cung chứ không đánh thẳng vào chúng như trước”. Để đảm bảo rằng cái bẫy sẽ thành công, các đơn vị chủ lực của KPA “rút lui với tốc độ hồ hởi”.

Đó không phải là cách mà chỉ huy văn phòng tác chiến của ông Kim, Yu Song-chol, sẽ nói. Sau Inchon, bộ chỉ huy cấp cao của Triều Tiên đã ra lệnh không cho lực lượng của họ xung quanh vành đai Pusan ​​rút nhanh về vĩ tuyến 38 và xa hơn nữa; đúng hơn, các tướng lĩnh của Kim đã ra lệnh rút lui chỉ đủ xa để thiết lập một tuyến phòng thủ mới tại lưu vực sông Kum và dãy núi Sobaek của Hàn Quốc. Tuy nhiên, theo Yu, “toàn bộ mạng lưới liên lạc ΚΡΑ đã bị phá hủy và chúng tôi không thể truyền lệnh rút lui vượt quá cấp sư đoàn.”

 

Vượt ra khỏi vành đai Pusan, Trung đoàn bộ binh 19 được giao nhiệm vụ dẫn đầu chiếm lại Taejon – lần này được yễm trợ bởi xe tăng và máy bay Mỹ. Khi những chiếc xe tăng dẫn đầu của Trung đoàn 19 đi ngang qua họ, những người lính Bắc Triều Tiên – còn lâu mới thiết lập được tuyến phòng thủ mới ở Kum, hiện trường chiến thắng trước đó của họ – đã nhanh chóng thay trang phục dân sự màu trắng và vứt bỏ vũ khí. Đối mặt với chiến thuật này khi họ truy đuổi lực lượng KPA cả ngày lẫn đêm, người Mỹ đã bắn “bất cứ thứ gì chuyển động”, theo Logan, lúc đó là sĩ quan điều hành trung đoàn.

Khi Trung đoàn 19 đến ngoại ô Taejon, một cảnh sát Hàn Quốc vẫy xe jeep của Logan và nói: “Nhanh lên! Nhanh lên! Người Mỹ bị giết-chôn sống tại đồn cảnh sát.” Các đơn vị dẫn đầu của đoàn quân, trong đó có một số xe tăng, lao tới đồn cảnh sát và tìm thấy một con mương ở đó có tay chân của tù binh Mỹ thò ra ngoài, một số còn cử động. “Chúng tôi đã cứu được một số người còn sống,” Logan nói.

Ngày hôm trước, khi đang bay qua thành phố trên một chiếc máy bay hạng nhẹ để trinh sát, Logan nhìn thấy trên những ngọn đồi phía bắc và tây bắc Taejon thi thể của nhiều người khác, trong trang phục nhiều màu sắc. Ông cho rằng đó là những người mà quân Bắc Triều Tiên đã giết chết khi họ rút lui. Không thể đếm được chính xác từ trên không, nhưng Logan ước tính số lượng thi thể đã vượt quá hai nghìn. Sau này ông nghe được con số khoảng 5.000 nạn nhân của vụ thảm sát này, phần lớn là dân thường Hàn Quốc.

Lực lượng Liên hiệp quốc tái chiếm Seoul vào ngày 28 tháng 9. Một cách định mệnh, nhưng không cần tranh luận nhiều, Washington đã đồng ý với đề nghị của tư lệnh Liên hiệp quốc, Tướng Douglas MacArthur, không dừng lại ở đó mà tiếp tục tiến tới và chiếm Bình Nhưỡng – một mục tiêu vượt xa mục đich ban đầu là ngăn chặn cuộc xâm lược vũ trang.

Lý do để tiếp tục bao gồm cả nỗi sợ hãi nếu để Kim còn cai trị phía trên vĩ tuyến 38, y đơn giản sẽ xây dựng lại quân đội của mình và tấn công trở lại. Định mệnh thay, lằn ranh đỏ mà Bắc Kinh đã quyết là vĩ tuyến 38 – chứ không phải sông Áp Lục như người ta đã nghĩ cho đến khi chứng cứ tư liệu của Trung Quốc làm rõ sự việc trong những năm 1990. Trung Quốc cố gắng phát tín hiệu rằng họ sẽ chiến đấu nếu quân LHQ vượt qua vĩ tuyến 38. Nhưng lực đẩy về phía bắc đã tích lũy đà tiến và không được dừng lại. MacArthur quý như vàng sau cú đánh ngoạn mục ở Inchon; lúc này khó có ai dám cản đường ông. Washington, trong bất kỳ trường hợp nào, cũng sẽ  gặp khó khăn trong việc ngăn chặn Rhee đưa quân đội Hàn Quốc của mình lên phía bắc. Để trả thù cho sự sỉ nhục của mình trong phần đầu cuộc  chiến tranh, người miền Nam đã đi suốt ngày đêm lên bờ biển phía đông để truy đuổi quân Bắc Triều Tiên đang tháo chạy. Hai sư đoàn của họ đã chiếm cảng Wonsan vào ngày 10 tháng 10, trước lực lượng xâm lược mà MacArthur cử đi bằng đường biển.

Các lực lượng của Liên hiệp quốc đã đẩy lùi Triều Tiên phía trên biên giới cũ vào ngày 1 tháng 10. MacArthur kêu gọi phía Bắc đầu hàng, và Kim Il-sung đáp trả bằng cách ra lệnh cho quân đội của mình “chiến đấu đến cùng”. Quân Mỹ toàn lực vượt qua vĩ tuyến tuyến từ ngày 9 tháng 10. Logan tham gia truy đuổi, nắm quyền chỉ huy Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 19 vài ngày sau sinh nhật thứ 29 của mình. Với tiểu đoàn của mình dẫn đầu, Sư đoàn 24 chạy đua với Sư đoàn kỵ binh số 1 về phía bắc. Đơn vị đầu tiên đến được giao lộ chính trên đường đến thủ đô Bình Nhưỡng của Triều Tiên sẽ trở thành đơn vị dẫn đầu cuộc tấn công về phía bắc từ đó. Logan “đến đó muộn khoảng hai giờ.”

Kim Il-sung ra lệnh binh sĩ bảo vệ Bình Nhưỡng không được lùi dù chỉ “một bước xa hơn” và giao nhiệm vụ cho một đội chuyên bắn bỏ những kẻ đào ngũ. Lần này nỗ lực vực dậy tỉnh thần chiến đấu của ông là không đủ. Năm ngày sau, vào ngày 19 tháng 10, quân đội Mỹ và Hàn Quốc có mặt ở Bình Nhưỡng, nơi họ có thể lục soát văn phòng và hầm chỉ huy của Kim. Đi vào qua bốn phòng chờ, mỗi phòng có một bức chân dung của Stalin, văn phòng có các bức tượng bán thân bằng thạch cao của Stalin và Kim. Trong hầm trú ẩn, người chơi đàn organ của nhà thờ trước đây có một chiếc đàn organ. Mất thủ đô, quân Bắc Triều Tiên tiếp tục rút lui về phía bắc. Đơn vị của Logan tiến về phía bắc với nhiệm vụ “quét sạch”, tiêu diệt các ổ kháng cự và gửi nhiều tù binh về hậu cứ để các đơn vị khác chăm sóc. Đó là một công việc lộn xộn và nhiều thường dân là nạn nhân. Một phóng viên tin tức kinh hoàng khi tiểu đoàn của Logan pháo kích các ngôi làng và đốt cháy nhà cửa dân chúng, nói rằng điều đó khiến anh nhớ đến cuộc hành quân ra biển của Sherman trong nội chiến Hoa Kỳ. Logan bảo vệ hành động của mình, nói rằng chính trong những ngôi làng đó, trong những ngôi nhà đó, lính Bắc Triều Tiên đã thay quân phục sang quần áo dân sự và bắn vào người của ông ta. Nếu bỏ qua các ngôi làng, họ sẽ tấn công từ phía sau. Ít nhất, có nhiều sự thật trong câu nói sau này của Kim về một “mê cung”, một “cái bẫy”. (Cho dù ý nghĩ đó có đến với Kim hay không, Mao ngay từ ngày 9 tháng 10 đã đánh điện cho nhà lãnh đạo Triều Tiên để đề xuất bẫy quân đội Liên hiệp quốc và Hàn Quốc đang tiến lên bằng cách mở một mặt trận khác ở hậu phương của họ. “Nó sẽ rất hữu ích cho các hoạt động ở miền bắc nếu có 40.000 đến 50.000 binh sĩ Quân đội Nhân dân [Triều Tiên] có thể ở lại Hàn Quốc để thực hiện nhiệm vụ,” Mao nói.)

Logan đưa cho phóng viên chỉ trích một bản điều lệnh của mình: Tấn công về phía bắc để giải cứu một đơn vị bị bao vây với tốc độ tối đa – tiêu diệt bất cứ thứ gì có thể gây nguy hiểm cho nhiệm vụ của bạn. Sau đó, ông ta hỏi phóng viên rằng y sẽ làm gì nếu được chỉ huy tiểu đoàn. “Trước khi y có cơ hội trả lời, một loạt đạn đã bắn cách chúng tôi khoảng 20 bộ, khiến y bỏ chạy. Loạt đạn đến từ một căn lều mà chúng tôi chưa kịp phá hủy. Tôi không nhận được câu trả lời.” Logan trầm ngâm, nói “các cuộc chiến của chúng ta giết chết nhiều thường dân, dù vô tội hay không, hơn là số thương vong trong trận chiến.” Chiến tranh “không phải là trò chơi của một quý ông. Các quy tắc danh dự và ứng xử rất khó tách rời khỏi các tình huống chiến đấu khác nhau. Cái mà người ta gọi là cần thiết, người khác, không có mặt, sẽ gọi là hành động sai quấy.”

 

Khi cuộc phản xâm lược của Triều Tiên diễn ra, rõ ràng là ngay cả khi Kim nhận được sự ủng hộ đáng kể từ thần dân của mình, lòng trung thành với chế độ của ông không có nghĩa là nhất trí. Người dân nhiều vùng phía Bắc – “bọn xấu có vị thế xã hội nào đó,” như Bình Nhưỡng mô tả – hợp tác với các lực lượng chiếm đóng. Tập hợp lại thành “quân đoàn bảo vệ hòa bình”, họ đã giúp lật đổ những nhà cầm quyền cộng sản địa phương.

Tại huyện Songhwa thuộc tỉnh Nam Hwanghae, các cựu địa chủ vẫn còn ác cảm với phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện vì vai trò lãnh đạo của y trong cuộc cải cách ruộng đất 4 năm trước. Người này trước đây từng là một chủ đất lớn, theo tiêu chuẩn địa phương, y đã trồng trọt khoảng 5 mẫu Anh với sự giúp đỡ của họ hàng. Được giao trách nhiệm phân phối lại đất đai của quận, y đã chia đất cho những người họ hàng trước đây không có đất đủ để bù đắp cho diện tích mà cá nhân y buộc phải từ bỏ. Bây giờ những người hàng xóm đau khổ của y đã nhìn thấy cơ hội để trả thù. Hợp tác với quân đội Hàn Quốc chiếm đóng quận, họ ném vợ và sáu đứa con của viên chức này xuống hầm mỏ thẳng đứng sâu 100 mét, giết chết tất cả.

 

Kim Il-sung đã kêu gọi tiếp viện, các tài liệu trong kho lưu trữ của Liên Xô cũ cho thấy. Vào ngày 29 tháng 9, ba tháng sau cuộc xâm lược, Kim đã viết thư yêu cầu Stalin đưa Liên Xô tham chiến và yêu cầu Trung Quốc cũng tham gia chiến đấu. Ngày 1 tháng 10, Kim viết thư trực tiếp cho Mao để cầu xin một sứ mệnh giải cứu.

Người Trung Quốc đã dự kiến sẽ được kêu gọi. Các học giả Sergei Goncharov, John W. Lewis và Xue Litai cho biết, khi người Mỹ can thiệp, Mao “nhanh chóng kết luận rằng mục đích thực sự của Mỹ là đe dọa chính Trung Cộng và ông bắt đầu hành động tương xứng”. Trong vòng một tuần sau sự can thiệp của Mỹ, nhà lãnh tụ Trung Quốc bắt đầu lo lắng rằng Triều Tiên không thể đạt được chiến thắng nhanh chóng mà Kim đã hứa. Ngay từ ngày 7 tháng 7, khi KPA vẫn đang tiến về phía nam và phá hủy mọi kháng cự, các quan chức quân sự cấp cao của Trung Quốc đã điều động các đơn vị quân đội tinh nhuệ đến gần biên giới Triều Tiên để chuẩn bị cho khả năng tham chiến. Họ nhanh chóng triển khai thêm các đơn vị dự bị và đưa quân đội vào các cuộc tập trận huấn luyện, với người Mỹ là kẻ thù giả định của mình

Mao và một số đồng chí sau khi xem xét, đã tính toán rằng họ không cần phải lo sợ sự leo thang vượt quá chiến tranh quy ước vì người Mỹ sẽ không sử dụng vũ khí hạt nhân ở cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên. Quân đội của họ đã sẵn sàng chiến đấu và vào vị trí, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang theo dõi cuộc chiến. Khi quân đội Liên Hiêp Quốc đổ bộ vào Inchon, Mao đã viết thư cho vị tướng hàng đầu của mình ở vùng Đông Bắc: “Rõ ràng chúng ta không can thiệp vào cuộc chiến cũng không được.” Sau khi Kim Il-sung yêu cầu giúp đỡ và nói rằng Triều Tiên không thể tự mình kháng cự đủ sức, Bộ Chính trị Trung Quốc đã họp vào ngày 2 tháng 10, trong đó Thủ tướng Chu Ân Lai tiếp tục lập luận rằng chính phủ cộng sản mới nên tập trung vào các vấn đề cấp bách trong nước thay vì cử binh lính được trang bị kém đến đối đầu với Quân đội Hoa Kỳ.

Trước viễn cảnh đáng báo động rằng một chế độ được Mỹ hậu thuẫn sẽ sớm cai trị toàn bộ bán đảo Triều Tiên và gõ cửa Trung Quốc, áp lực từ Stalin đã giúp làm họ cứng lưng. “Nếu chúng ta không gửi quân,” Mao nói, “bọn phản động trong và ngoài nước sẽ vênh váo xấc xược khi quân địch áp sát sông Áp Lục. Lời đảm bảo của Ngoại trưởng Acheson rằng Hoa Kỳ không có âm mưu nào trên lãnh thổ Trung Quốc đã gây ra ít sự tin tưởng. Nếu một cuộc đối đầu với người Mỹ là không thể tránh khỏi, như Mao tin tưởng, thì Hàn Quốc là nơi có lợi thế hơn Đài Loan hoặc Việt Nam, hai khả năng khác. Vào ngày 8 tháng 10, một ngày sau khi các đơn vị của Sư đoàn kỵ binh số 1 của Mỹ vượt qua vĩ tuyến 38 tiến về phía bắc, Mao ra lệnh chính thức cho Lực lượng Biên giới Đông Bắc của Trung Quốc, dưới tên mới là Quân Tình nguyện Nhân dân Trung Quốc, nhanh chóng “tiến quân đến Triều Tiên hiệp đồng cùng các đồng chí Triều Tiên đánh bọn xâm lược, giành thắng lợi vẻ vang.”

Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là lời cuối cùng. Những suy nghĩ thứ hai xuất hiện khi có một mắc mứu trong vấn đề hỗ trợ. Một cuộc họp khác của Bộ Chính trị được triệu tập vào tối ngày 18 tháng 10. Yu Song-chol đã cùng Pak Hon-yong tới Bắc Kinh theo lệnh của Kim. Khoảng nửa đêm ngày 18 tháng 10, hai người gặp Bộ Chính trị Trung Quốc để thông báo tóm tắt về cuộc chiến và nhắc lại yêu cầu viện trợ. Khi họ kể xong, “Mao Trạch Đông bắt đầu thông báo với chúng tôi rằng Bộ Chính trị đã quyết định cử lực lượng tình nguyện đến Triều Tiên.” Mao sử dụng ngôn ngữ cơ thể để tư vấn về chiến lược quân sự, yêu cầu người nghe tưởng tượng rằng một bên chân của ông là lực lượng Mỹ và chân còn lại là lực lượng Hàn Quốc. Đầu tiên hãy bao vây và tiêu diệt lực lượng Hàn Quốc, và sau đó người Mỹ sẽ bất lực, ông nói và ông “giơ một chân của cơ thể to lớn của mình lên và nhảy lò cò xung quanh bằng một chân.”

MacArthur phản đối lệnh của Lầu Năm Góc là chỉ sử dụng lực lượng Hàn Quốc gần Biên giới Trung Quốc. Ngày 20 tháng 10, ông ra lệnh nỗ lực tối đa để làm chủ toàn bộ Triều Tiên. Vào ngày 24 tháng 10, Mao tuyên bố rằng việc Mỹ chiếm đóng Triều Tiên sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh Trung Quốc và không thể dung thứ được. Lần đầu tiên Trung Quốc tham chiến là vào ngày 25/10. Trong tháng 10 và tháng 11, hàng trăm nghìn quân Trung Quốc đã tham chiến.

Theo Yu Song-chol, Kim Il-sung vào thời điểm đó đã mất quyền chỉ huy tổng thể cuộc chiến: Quân đội Nhân dân Triều Tiên bị giảm xuống vai trò hỗ trợ, phụ trách mặt trận phía đông, trong khi quân Trung Quốc hoạt động độc lập trên mặt trận trung tâm. Tuy nhiên, với bất cứ giá trả tạm thời nào đối với lòng tự trọng của ông, Trung Quốc đã cứu được miếng thịt xông khói của Kim. Kết quả quân sự quan trọng nhất của “cuộc rút lui chiến lược” của ông cho đến thời điểm đó là đã bộc lộ quá nhiều điểm yếu của Triều Tiên nên người Trung Quốc cảm thấy buộc lòng phải giúp đỡ.

Khrushchev nhớ lại trong cuốn hồi ký về Chiến tranh Triều Tiên rằng đại sứ Liên Xô tại Triều Tiên đã viết “những báo cáo rất bi thảm liên quan đến tâm trạng của Kim Il-sung. Kim Il-sung đã chuẩn bị vào núi để theo đuổi cuộc đấu tranh du kích một lần nữa” – nói cách khác, để kẻ thù kiểm soát phần lớn Triều Tiên trong thời điểm hiện tại. Ông ấy sẽ có rất ít sự lựa chọn nếu không có sự can thiệp của Mao. Stalin kiên quyết từ chối đóng vai trò người giải cứu – ông đã buông xuôi chấp nhận, như Khrushchev đã viết, “tình cảnh  Triều Tiên bị tiêu diệt và người Mỹ sẽ tiến đến biên giới của chúng ta.”

 

Các lực lượng của Liên Hiệp Quốc chậm chạp nhận ra rằng họ phải đối mặt với một đối thủ mới. Đầu tháng 12, trong khi đơn vị của Ed Logan mới được thăng chức Trung tá bị chặn ngay gần Sông Áp Lục, một trung đoàn khác của Sư đoàn 24 báo cáo đã bắt được lính Trung Quốc. Logan nhớ lại: “Không ai tin điều đó ở bộ chỉ huy cấp cao hơn”. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau họ phải tin. Tiểu đoàn 3 của Logan được lệnh quay trở lại khu vực Anju-Sinanju và trấn giữ một ngã tư cho đến khi Sư đoàn kỵ binh 1 đang rút lui có thể tiến về miền Nam. “Kỵ Binh 1 đã bị băm nhỏ khá khủng khiếp.” Tiểu đoàn của Logan trấn giữ ngã tư trong hai ngày, giúp sơ tán số binh sĩ thương vong của Sư đoàn kỵ binh số 1 – “một công việc máu me.” Cuộc rút lui của Liên Hiệp Quốc tiếp tục. Đến ngày 6 tháng 12, Bình Nhưỡng lại nằm trong tay miền Bắc.

Người Trung Quốc không sử dụng xe tăng như người Triều Tiên đã sử dụng vào tháng 6 và tháng 7. Thay vào đó, “từng bầy đàn” binh lính, những cựu binh dày dặn kinh nghiệm nhiều năm nội chiến Quốc-Cộng, tấn công vào ban đêm, lội bộ, bỏ qua vũ khí hạng nặng. Logan ngạc nhiên: “Họ có thể đi nhiều ngày với một bao gạo, áo khoác quân đội, đạn và súng trường”. Người Mỹ không quen với kiểu chiến đấu đó. “Chúng ta bám vào đường xá. Chúng ta cố gắng sống trên chiến trường như chúng ta sống ở nhà.” Các sư đoàn Hàn Quốc, gồm những lính nghĩa vụ được chuyển ngay ra tiền tuyến chỉ sau vài ngày huấn luyện, thậm chí còn chưa đủ sẵn sàng. Họ gánh chịu nặng nề các mũi tấn công và, giống như nhiều đơn vị Mỹ, hoàn toàn tan tác.

MacArthur đã nói rằng tình hình sẽ kết thúc vào Giáng sinh. Như đã xảy ra, vào ngày Giáng sinh, một quả lựu đạn gây choáng của Trung Quốc đã thổi bay Logan khỏi đỉnh đồi ở vùng lân cận sông Imjin, phía bắc Seoul, nơi lực lượng Liên hiệp quốc đang đóng quân. Cả hai màng nhĩ đều bị thủng và lưng bị thương, cậu tôi được chở bằng máy bay đến tàu bệnh viện để chữa trị. Được thông báo mình sẽ được sơ tán sang Nhật Bản, cậu từ chối và quay trở lại chỉ huy vì tin rằng quân Trung Cộng sẽ tấn công vào đêm giao thừa. Quả thực, quân Trung Quốc đã tấn công vào ngày hôm đó, xua vô số  binh lính cố gắng vượt sông. Đơn vị của Logan trụ vững cho đến ngày 2 tháng 1 năm 1951. Quân Trung Quốc xâm nhập qua hai bên sườn của Trung đoàn 19, nơi bị lộ do sự sơ tán của các đơn vị bên phải. Ba người lính Trung Quốc tiến đến khu vực lều của bộ chỉ huy, tại đó người của Logan cận chiến tay đôi với địch. Đến lúc đó, ông quyết định đã đến lúc phải sơ tán đơn vị của mình về phía nam, tham gia cuộc tổng rút lui.

Ngày 4/1/1951, quân Trung Quốc và Triều Tiên tái chiếm Seoul. Lực lượng Liên Hiệp Quốc rút lui về một phòng tuyến xa hơn về phía nam. Logan băng qua những con đường chật cứng người dân Hàn Quốc và binh lính chán nản, một lần nữa cố gắng chạy trốn lực lượng cộng sản, già và trẻ đều đội những túi đồ đạc trên đầu, trên lưng, trên xe đẩy tay. Bọn lính Bắc Triều Tiên cải trang thành người tị nạn và hòa vào đám đông để xâm nhập vào phía sau phòng tuyến của Liên hiệp quốc – “nhưng làm sao bạn có thể ngăn chặn chúng?”

Tư lệnh Quân đoàn số 8, Tướng Matthew Ridgway, đã ra lệnh cho các đơn vị phòng thủ phòng tuyến mới không áp dụng phương pháp chiến đấu đến chết mà phải tiết kiệm nguồn lực cho một ngày khác. Tuy nhiên, họ gần như đã mất liên lạc với kẻ thù. Logan nói: “Chúng tôi không biết chính xác chúng đang ở đâu hoặc sức mạnh ra sao – một sự vi phạm thực sự các nguyên tắc chiến tranh”. Chống lại mệnh lệnh, các chỉ huy tiểu đoàn cử các cuộc tuần tra lên phía bắc mỗi ngày – hai dặm, rồi ba, rồi bốn dặm. Không nhìn thấy kẻ thù, cuối cùng họ đã báo cáo việc này cho bộ phận chỉ huy” và bị đay nghiến một chút.” Sau một vài ngày, Ridgway ra lệnh một lực lượng tác chiến gồm xe tăng, pháo binh và bộ binh đi trinh sát về phía bắc hướng tới Suwon và xa hơn nữa. Họ đã thành công, khiến binh sĩ phấn chấn lên tinh thần.

Tuy nhiên, vai trò của Logan trong trận chiến đã kết thúc. Vào tháng 2 năm 1951, Ridgway, thay dòng máu mới cho giai đoạn tiếp theo của cuộc chiến, đã sơ tán những chỉ huy trung đoàn và tiểu đoàn mệt mỏi vì chiến tranh, bị tù túng và ốm yếu, đã ở Hàn Quốc trong suốt cuộc chiến đó.

Mang trên ngực hai Ngôi sao Bạc thể hiện lòng dũng cảm, Logan đến một bệnh viện ở Nhật Bản để phẫu thuật những ngón chân bị tê cóng và hồi phục sau nhiều căn bệnh khác.

 

Tuyên bố tình trạng khẩn cấp vào tháng 12 năm 1950, Truman đã kêu gọi “nông dân, công nhân trong ngành công nghiệp và doanh nhân của chúng ta nỗ lực sản xuất mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu phòng thủ của đất nước.” Lời tuyên bố của ông và ngân sách phòng thủ tăng lên đáng kể báo hiệu rằng tổ hợp công nghiệp – quân sự đã hoạt động trở lại trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và hơn thế nữa. Điển hình của các kết quả từ lời tuyên bố của Truman là sự hồi sinh của quê hương tôi, nơi giấc ngủ sau thời nội chiến đã sớm bị phá vỡ bởi Thế chiến II với quyết định xây dựng và vận hành ở đó một nhà máy chế tạo máy bay lớn nhất thế giới dưới một mái nhà. Xưởng máy bay số 6 đóng cửa sau Ngày Chiến thắng Nhật và đến năm 1950 dây leo hoang dại đang đe dọa nhấn chìm cơ sở vang bóng một thời. Nhưng bây giờ nhà thầu mới của nhà máy, Tập đoàn Hàng không Lockheed triệu hồi các nhà quản lý, kỹ sư và thợ máy lành nghề đã phân tán sang nền kinh tế dân sự sau Thế chiến. Theo lời triệu tập của Truman, Lockheed đã thông báo với những người chăn nuôi gà và thợ cơ khí nghiệp dư  ở Bắc Georgia rằng hãng cần một lực lượng lao động sản xuất khổng lồ và được trả lương cao để dọn dẹp cơ sở Marietta và tiếp tục gửi máy bay ném bom đến Lực lượng Không quân.

 

Sức mạnh không quân là chìa khóa cho chiến lược phát triển ở Triều Tiên. Hai tháng sau khi mất Seoul lần thứ hai, lực lượng Liên Hiệp Quốc đã giành lại được quyền kiểm soát thủ đô. Nhưng những trận chiến bập bênh vẫn tiếp tục, khi hai bên dàn trận chống lại nhau ở khu vực lân cận biên giới cũ. Thực hiện chính sách tiêu thổ hủy diệt bằng các cuộc oanh tạc trên không và trên biển ở Triều Tiên, các lực lượng Liên hiêp quốc đã tìm cách tước đi sự hỗ trợ hậu cần từ phía sau của quân đội Trung Quốc và Triều Tiên và cuối cùng là ý chí chiến đấu của địch. Giết chết hàng triệu người, điều mà Bruce Cumings từng dự đoán cuối cùng sẽ được công nhận là “trận đại tàn sát của người Mỹ”, các vụ đánh bom đã giúp ngăn chặn việc tái chiếm miền Nam nhưng không đạt được hiệu quả mong muốn là đánh bại cộng sản.

Trong khi binh lính Trung Quốc và Triều Tiên ngoan cố bảo vệ vị trí của mình, xây dựng mạng lưới đường hầm quân sự dọc mặt trận, thì dân thường Triều Tiên cũng đào vào sườn núi để xây dựng các nhà máy dưới lòng đất có thể chịu được các cuộc tấn công ném bom. Theo các tài liệu chính thức, trẻ em vẫn tiếp tục đến trường trong thời gian chiến tranh “trong khi hộp bút chì của chúng kêu lạch cạch” trong trận đánh bom. Nếu những nguồn tin chính thức đó có thể được xác nhận thì người miền Bắc quả đã trở nên quyết tâm hơn – và than ôi, dài dòng hơn: “Anh hùng Kang Hoyung bị thương nặng cả hai tay và cả hai chân trong trận chiến trên đồi Kamak nên anh liền lăn vào giữa kẻ thù với một quả lựu đạn ngậm trong miệng và tiêu diệt chúng, hét lên: ‘Tay chân tao bị gãy. Nhưng tinh thần trả thù bọn vô lại các người của tao lại mạnh mẽ gấp ngàn lần. Tao sẽ thể hiện ý chí chiến đấu kiên cường của một thành viên Đảng Lao động Triều Tiên và ý chí kiên cường tận trung với Đảng và Lãnh tụ!'”

Tất nhiên, sự thật là chiến tranh đã ảnh hưởng tới tinh thần ngay cả của những người có động lực. Theo lời khai của những lính đào ngũ, binh sĩ Triều Tiên đã trở nên mệt mỏi vì chiến tranh đến mức nhiều người chỉ đơn giản hy vọng giao tranh chấm dứt, bất kể bên nào giành chiến thắng.

 

Khi giao tranh và giết chóc tiếp tục diễn ra, MacArthur tìm cách giải quyết tình trạng bế tắc đẫm máu bằng cách đưa chiến tranh sang Trung Quốc. Ông ta muốn tung quân Quốc dân đảng đóng tại Đài Loan của Tưởng Giới Thạch để tái đấu với cộng sản Trung Quốc, lần này hỗ trợ họ bằng các cuộc ném bom của Mỹ – bao gồm cả bom nguyên tử.

Các tướng lĩnh Mỹ đã cân nhắc và chuẩn bị cho khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân ngay từ những tuần đầu của cuộc chiến, và Truman đã công khai thảo luận về khả năng này trong cuộc họp báo ngày 30 tháng 11 năm 1950.

Tuy nhiên, Truman lại ủng hộ một thế trận phòng thủ cơ bản vì sợ rằng kế hoạch hung hãn của MacArthur sẽ thu hút sự can thiệp của Liên Xô (đúng như người Trung Quốc, mà ông không hề hay biết, đã tính toán). Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ ba sau đó, với lực lượng của Mỹ bị dàn trải quá mỏng, châu Âu hoặc Nhật Bản hoặc cả hai có thể rơi vào tay các lực lượng cộng sản. Khi MacArthur, chống lại mệnh lệnh, kiên trì vận động công khai và riêng tư để đạt được mục đích của mình, Truman đã sa thải ông ta vì tội không phục tùng. Cuộc chiến sẽ chỉ giới hạn ở một “hành động cảnh sát” thông thường. Chiến tranh hạn chế là một khái niệm không được người Mỹ ưa chuộng. Các lực lượng cánh hữu phản đối nó vì họ không chỉ muốn “ngăn chặn” các chế độ cộng sản ở biên giới hiện tại của họ – chính sách thông thường của các chính phủ thời Chiến tranh Lạnh ở Washington – mà là một sự “quay lại” tích cực để đương đầu các chế độ đó và loại bỏ chúng.

Tuy nhiên, sự thay đổi chế độ chỉ là quan điểm thiểu số. Điều quan trọng hơn trong việc thay đổi quan điểm của người Mỹ là cuộc đổ máu tiếp tục diễn ra ở Triều Tiên sau cuộc hành quân của MacArthur đến sông Áp Lục. Bạo lực dường như vô cớ, làm nảy sinh sự hoài nghi trong lĩnh vực mà sau này sẽ được miêu tả bằng đồ họa trong phim điện ảnh và loạt phim truyền hình dài tập M*A*S*H. Ở trong nước cũng vậy, ngày càng nhiều người Mỹ hỏi một câu hỏi đơn giản nhưng thuyết phục: Tại sao để người của chúng ta bị giết chết người khi chiếm đoạt rồi từ bỏ từng tấc đất bất động sản ở vùng đất xa xôi đó – đặc biệt là khi Hoa Kỳ có thể tiêu diệt kẻ thù bằng một số vũ khí hạt nhân bỏ xuống đúng chỗ?

Các cuộc đàm phán ngừng bắn bắt đầu vào giữa năm 1951, với các sĩ quan Mỹ và một người Hàn Quốc đại diện cho phía Liên hiệp quốc trong khi phía Triều Tiên và Trung Quốc thành lập một phái đoàn chung. Phát triển tâm lý ủng hộ việc sử dụng các biện pháp mạnh mẽ hơn để ngăn chặn giao tranh của người Mỹ có thể là một yếu tố khiến bên kia đồng ý đàm phán. Tuy nhiên, phía Triều Tiên đã sẵn sàng cố gắng miêu tả sự háo hức đàm phán của Washington như một bằng chứng cho thấy Bình Nhưỡng là bên thắng trận: Mỹ “điên cuồng”, “hoang mang hoàn toàn.”

Các cuộc đàm phán gặp trở ngại về việc đối xử với tù nhân chiến tranh. Các nhà đàm phán của Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh rằng mỗi tù binh chiến tranh được phép quyết định có trở về nước mình hay không. Ngoài những cân nhắc mang tính nhân đạo của Washington, mục tiêu tuyên truyền là muốn cho thấy bộ mặt của chủ nghĩa cộng sản bằng cách khuyến khích nhiều người Bắc Triều Tiên và Trung Quốc từ chối quay trở lại chế độ cộng sản. Phía cộng sản không chấp nhận điều đó, và nhấn mạnh phải trao trả toàn bộ tù binh theo các điều khoản của Công ước Genève.

Sự ủng hộ của công chúng Mỹ dành cho Truman suy yếu khi các cuộc đàm phán và giao tranh kéo dài, và ông quyết định không tái tranh cử. Dwight Eisenhower vận động tranh cử dựa trên lời hứa “đi đến Triều Tiên” – điều mà cử tri coi đó là cam kết cố gắng ngăn chặn chiến tranh, ngay cả khi điều đó đòi hỏi các biện pháp nghiêm túc hơn. Sau khi nhậm chức tổng thống vào tháng 1 năm 1953, vị cựu tướng lĩnh này đã cho các đồng minh của Triều Tiên ở Bắc Kinh và Moscow biết rằng ông đã sẵn sàng chấm dứt tình trạng bế tắc bằng cách mở rộng chiến tranh. Ông rút lại mệnh lệnh mà Truman đã vô hiệu hóa Đài Loan; Tưởng Giới Thạch giờ đây được “thả lỏng”, và có khả năng quyết định xâm chiếm lục địa Trung Quốc, mở ra mặt trận thứ hai. Cái chết của Stalin vào tháng 3 năm 1953 càng làm phức tạp thêm vấn đề đối với những người ủng hộ Triều Tiên. Vào tháng 5, Ngoại trưởng John Foster Dulles nói với Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru rằng Hoa Kỳ đã chuẩn bị thực hiện lựa chọn hạt nhân. Nehru đã loan truyền lời đe dọa một cách hợp lý.

Cuối cùng, vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, đại diện của Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc và Triều Tiên, gặp nhau tại làng trung lập Bàn Môn Điếm (“Quán rượu Cổng Gỗ”), đã ký một thỏa thuận ngừng bắn. Hàn Quốc không ký vì Rhee muốn tiếp tục chiến tranh và thống nhất bán đảo. Nhiều chỉ huy quân sự phía Liên hiệp quốc cũng đồng tình với ông. Các tướng lĩnh lo ngại rằng lệnh ngừng bắn, trong khi ngăn chặn đổ máu thêm trong cuộc xung đột trước mắt, đã trì hoãn việc tính toán cuối cùng không thể tránh khỏi đối với những gì họ vẫn coi là lực lượng bành trướng của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới – một sự tính toán sẽ chứng minh thậm chí còn đẫm máu hơn vì sự trì hoãn.

Các bên ký kết đình chiến đã ấn định một biên giới dọc theo một “khu phi quân sự” dài 155 dặm, rộng 2,5 dặm. Điều đó khiến miền Bắc và miền Nam gần giống như thời điểm xảy ra cuộc xâm lược năm 1950. (Miền Bắc đã giành được thành phố lớn Kaesong. Ngoài ra, biên giới mới thậm chí còn gần Seoul hơn trước, một lợi thế cho miền Bắc trong trường hợp xung đột tái diễn – và do đó là nguyên nhân gây ra nhiều thập kỷ lo lắng ở thủ đô Hàn Quốc.) Trong cuộc chiến này khoảng 3,5 triệu người Triều Tiên đã chết – trong số đó có 2,5 người miền Bắc, đại diện cho 1/4 dân số CHDCND Triều Tiên trước chiến tranh. Có lẽ một triệu ngườikTrung Quốc đã thiệt mạng. Số người chết trong Liên Hiêp Quốc bao gồm 33.629 người Mỹ và 3.194 người nước khác – Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Pháp, Anh, Canada, Thái Lan, Colombia, v.v. – mờ nhạt bên cạnh con số của Triều Tiên và Trung Quốc. Nhưng nhìn từ góc độ của đồng đội, gia đình và bạn bè của những quân nhân nước ngoài thiệt mạng thì tổn thất là quá lớn.

Khi tôi hỏi đại tá về hưu Ed Logan ông nghĩ thế nào về cuộc chiến  đã khép lại, câu trả lời của ông rất tích cực nhưng ngắn gọn: “Đã cứu được Hàn Quốc.” Nhưng về quan điểm về chính sách “chiến tranh giới hạn” chống lại Trung Quốc và Triều Tiên những năm 1950–1953, ông nói cụt ngủn: “Đáng lẽ chúng ta nên chơi vũ khí hạt nhân”.

 

Kim Il-sung đã giành được sự tôn trọng của kẻ thù nhờ khả năng lãnh đạo quân sự mà ông thể hiện trong những ngày đầu của cuộc chiến. Như Joseph C. Goulden tiết lộ trong cuốn sách xuất sắc của ông về chiến tranh, ai đó ở CIA ở Washington đã nghĩ đủ về tầm quan trọng của Kim trong nỗ lực chiến tranh của đất nước để treo cho một sát thủ một “phần thưởng lớn với số tiền đáng kể” để tìm cách ám sát thủ tướng Triều Tiên. Mặt khác, ở quê nhà, Kim phải đối mặt với một vấn đề chính trị tiềm năng mà chính Truman có thể đã nhận ra: đổ lỗi cho một cuộc chiến bước đầu thắng lợi hóa ra chua chát. Triều Tiên nằm trong đống đổ nát, bị tàn phá nặng nề hơn cả Nhật Bản vào thời điểm nước này đầu hàng năm 1945.

Kim trong những ngày du kích Mãn Châu chưa bao giờ chỉ huy hơn vài trăm binh sĩ – và đó là những hoạt động quấy rối không thể nào so sánh được với cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện mà ông ta tiến hành chống lại miền Nam. Nếu trong cuộc đấu tranh chống Nhật, ông được coi là một anh hùng huyền thoại thì giờ đây ông lại mắc kẹt trong thảm họa chiến tranh đẫm máu. Những quyết định quan trọng trước đó sau năm 1945, chẳng hạn như cải cách ruộng đất, đều do người Nga ra lệnh và đã thành công, nhưng kế hoạch xâm lược là lời kêu gọi của Kim – một sự thật mà một số nhà lãnh đạo cấp cao khác đã biết, mặc dù quần chúng thì không – và đó là một thất bại. Như Stalin đã nói với Chu Ân Lai tại cuộc họp ở Biển Đen vào tháng 10 năm 1950, Kim đã đánh giá thấp “sức mạnh của kẻ thù.”

Không giống như Truman, Kim không có ý định tự nguyện bước xuống. Tuy nhiên, nếu không hành động khôn ngoan, có thể hình dung ông có thể mất quyền lãnh đạo và những điều kiện cần thiết của nó. Bất kể đặc quyền là gì, ông dường như không nhường nhịn. Bất chấp lời tuyên bố đầy cảm hứng của ông rằng “khi mọi người ăn hạt kê đuôi chồn luộc, chúng tôi cũng ăn theo”, những bức ảnh từ thời chiến cho thấy Kim thực sự ra vẻ ăn uống phủ phê – một sự tương phản nổi bật với những thần dân gầy gò của mình.

Đặc quyền không hề nhỏ của Kim là ánh mắt ngưỡng mộ của đại đa số dân chúng, những người tin vào phiên bản chính thức của các sự kiện, hoàn toàn không biết rằng chính Kim là người đã lên kế hoạch và bắt đầu một cuộc chiến toàn diện khiến rất nhiều người trong số họ thiệt mạng và bị thương. Đối với Kim rõ ràng sự ngưỡng mộ không bao giờ đủ. Một tiểu sử chính thức kể lại một sự việc hùng hồn: Khi chiêu đãi một nhóm anh hùng quân đội trong chiến tranh, Kim bẽn lẽn hỏi họ: “Ở tiền tuyến có một bài hát. Hãy hát bài đó đi”. Những chiến sĩ này vâng lời hát bài hát mà Kim biết rõ là “Bài hát về tướng Kim Il-sung.”

Một phần trong cách tiếp cận của Kim đối phó với những thất bại của chiến tranh là đùn đẩy trách nhiệm, đồng thời quay trở lại thời kỳ được cho là hoàng kim của các hoạt động du kích của ông. Ông viết, thương vong của Triều Tiên trong chiến tranh đã có thể cắt giảm đáng kể chỉ cần những cấp dưới “xu nịnh” dạy cho người dân những bài học về cuộc đấu tranh chống Nhật của ông, thay vì hướng mắt họ ra nước ngoài nhìn vào những thành tựu của đất nước mẹ xã hội chủ nghĩa, Liên Xô.

“Nếu chúng ta giáo dục mọi người về truyền thống cách mạng của chúng ta,” Kim viết trong hồi ký của mình, “họ có thể đã thành lập các đơn vị nhỏ từ năm đến sáu người hoặc mười lăm đến hai mươi người, mỗi người mang theo một chiếc rìu và một hoặc hai mal [khoảng nửa giạ đến một giạ] gạo, di chuyển từ núi này sang núi khác, thỉnh thoảng bắn vài phát rồi dán truyền đơn; bằng cách này họ có thể chịu đựng được một hoặc hai tháng trên núi.” Ở đây có một số điểm tương đồng với cách mà quân du kích cộng sản Triều Tiên ở miền Nam, cũng như các “tình nguyện viên” Trung Quốc thực sự đã hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên. Và có lẽ nhận xét của ông là một sự ám chỉ đáng tiếc tới đề xuất của Mao về việc thành lập một mặt trận thứ hai ở.miền Nam vào tháng 10 năm 1950. Tuy nhiên, phân tích nhận thức muộn màng của Kim có vẻ hơi kỳ lạ khi đối chiếu với thực tế quân sự tổng thể của cuộc xung đột đó – một cuộc đấu tranh khốc liệt gần như chiến tranh tổng lực đến mức nó chỉ có thể được gọi là “hạn chế” do không sử dụng vũ khí hạt nhân và thực tế là giao tranh trên bộ không lan sang các nước khác.

Tuy nhiên, chủ yếu, Kim đã giải quyết thất bại của cuộc chiến bằng cách tuyên bố nhiều lần rằng Triều Tiên đã giành được một chiến thắng vĩ đại, đẩy lùi cuộc xâm lược của miền Nam và các lực lượng Liên hiệp quốc. “Vào thời điểm chúng ta có thể được sống xứng đáng, do mình gây dựng sau giải phóng, đế quốc Mỹ đã châm ngòi chiến tranh”, ông nói với nhân dân.

Như một người viết tiểu sử chính thức đã nói, “tất cả các cuộc tấn công của kẻ thù đều bị đảo ngược, như thể chúng đập đầu vào vách đá. Quân đội Nhân dân đã đánh không thương tiếc kẻ thù đang tới, đương đầu chúng và đè bẹp các vị trí của chúng. Quân đội Nhân dân và toàn thể người dân Triều Tiên đứng như một ngọn núi cao chót vót trên bầu trời, vung đôi cánh tay sắc bén của mình. Trên đỉnh núi là đồng chí Kim Il-sung, người có ý chí sắt đá. người chỉ huy tài giỏi, người nắm trong tay kết cục của cuộc chiến, nhìn xuống bọn đế quốc xâm lược Mỹ đang hoảng sợ – bằng đôi mắt bình tĩnh và sáng ngời.”

 

Tuyên truyền của miền Bắc đề cập đến “toàn thể người dân Triều Tiên” như thể người dân miền Bắc và miền Nam dưới sự lãnh đạo của Kim đang hợp lực đấu tranh chống lại các nhà cầm quyền Hàn Quốc – sẽ khiến nhiều người miền Nam cảm thấy rỗng tuếch. Binh sĩ của họ đã đủ tệ, hống hách và kiêu ngạo đối với thường dân. Nhưng trải nghiệm với quân chiếm đóng miền Bắc dường như còn tồi tệ hơn. Quân Bắc vào Nam say sưa và cướp bóc. Nhiều người miền Nam chứng kiến người thân trẻ tuổi của họ bị buộc phải nhập ngũ vào Quân đội Nhân dân Triều Tiên và những người thân lớn tuổi của họ – những thường dân có nền tảng chính trị hoặc có học thức – đã bị bắt mang ra miền Bắc và không bao giờ quay trở lại. Những người khác mất bạn bè hoặc người thân trong các vụ hành quyết hàng loạt vì bị chụp mũ là chống cộng. Một số vụ hành quyết đặc biệt ghê rợn là những vụ chặt đầu của các tay kiếm sĩ. Người Thiên Chúa giáo là mục tiêu chính để bắt giữ và ngược đãi. Hàng nghìn người được dán nhãn “thân Mỹ” đã bị bỏ tù và bị tước đoạt tài sản, khi miền Bắc áp dụng điều mà phóng viên Marguerite  Higgins mô tả là các kỹ thuật của nhà nước cảnh sát “tàn nhẫn hơn nhiều so với những gì tôi từng thấy ở Ba Lan.”

Trong khi chiếm đóng nhiều vùng ở miền Nam, người miền Bắc cố gắng thể hiện mình một cách tích cực như những người giải phóng, nhưng chỉ đạt được một số kết quả khác nhau. Các nhà tuyên truyền cộng sản đã tìm cách tận dụng tối đa sự can thiệp của Mỹ để bêu rếu chế độ Rhee là tôi tớ Mỹ, nhằm khơi dậy tinh thần dân tộc của người miền Nam. Mặc dù Moscow sử dụng đòn bẩy của mình với tư cách là nhà cung cấp viện trợ và kỹ năng để duy trì quyền kiểm soát phần lớn việc ra quyết định cơ bản của chế độ Bình Nhưỡng, thông qua đại sứ quán Liên Xô, người Nga đã mất nhiều công sức để che giấu sự thật đó. Khi cuộc xâm lược đến gần, Moscow đã rút các cố vấn quân sự của mình để giấu kín những đóng góp to lớn của họ cho nỗ lực chiến tranh của miền Bắc. Điều đó khiến Bình Nhưỡng có tư thế khi lên án sự lệ thuộc của miền Nam vào sự hậu thuẫn quân sự của Mỹ. Một họa sĩ vẽ tranh biếm họa tài năng trong văn phòng tuyên truyền cộng sản được thành lập vội vã ở Seoul đã vẽ một thứ mà một học sinh lớp ba Hàn Quốc thời đó coi là một tấm áp phích rất hiệu quả. Nó cho thấy Tổng thống Hàn Quốc Rhee hèn hạ đang quỳ xuống và cầu xin Truman giúp đỡ.

Chế độ miền Bắc liên minh với các thành phần trong Quốc hội Hàn Quốc. Một số trong đó đã bị đánh bại trong các cuộc đấu tranh phe phái và do đó có thể cảm thấy mình chẳng có gì nhiều để mất. Tuy nhiên, những người khác, thuộc phe ôn hòa, đã đánh bại lực lượng Rhee trong một cuộc bầu cử ngay trước cuộc xâm lược và đã nắm quyền kiểm soát quốc hội. Phe ôn hòa đó đã quyết định ở lại Seoul sau khi phe cộng sản đến chiếm đóng.

Sau khi chiếm đoạt kho gạo, chính quyền chiếm đóng miền Bắc ra sức thu hút các cảm tình viên bằng cách cấp khẩu phần đặc biệt cho các gia đình miền Nam có thành viên tham gia các tổ chức thanh niên cộng sản và công đoàn. Một đối trọng cho thành công của kế hoạch là đảm bảo ruồng bỏ tất cả những ai không nhận được khẩu phần đặc biệt – nhiều người trong số họ, đã bị dán nhãn, sẽ ở lại sau khi cộng sản ra đi. Trong một nỗ lực khác để giành được sự ủng hộ của quần chúng, phe chiếm đóng đã thành lập các “ủy ban nhân dân” được cho là dân chủ để quản lý các địa phương – nhưng họ lại bố trí các thị trưởng và các quan chức khác đưa đến từ miền Bắc, cùng với các quan chức cộng sản miền Nam khác.

Đất nông nghiệp được phân phối lại một cách vội vàng cho tá điền trở thành gánh nặng vì hạn ngạch giao nộp lượng thu hoạch cho chính phủ khá cao; kết quả là, Higgins nhận thấy, các sắc lệnh “không khơi dậy mấy phấn khởi.” Sau khi quân đồng minh chiếm lại Seoul, phóng viên Mỹ cũng nhận thấy có sự thay đổi lớn trong quan điểm các nhà báo Hàn Quốc mà cô quen biết ở thủ đô. Ngay trước chiến tranh, họ đã hưởng ứng và có phần đồng cảm với tuyên truyền của cộng sản. Nhưng bây giờ cô nhận ra nhiệt tình trước đây của họ muốn thấy đất nước được thống nhất, ngay cả khi đất nước phải nằm dưới sự thống trị của cộng sản, đã nhanh chóng chuyển thành quyết tâm chạy trốn điên cuồng khỏi vùng bị cộng sản chiếm đóng.

Trong nhiều thập kỷ sau đó, các nhà bình luận trong và ngoài nước Hàn Quốc đều nhất mực tin rằng chiến tranh đã khiến hầu hết người dân miền Nam nhất quyết đi theo lập trường chống cộng. Chứng cứ đi trước lời nhận định đó bao gồm nhiều dòng người tị nạn khổng lồ từ bắc xuống nam, còn số người đi theo hướng ngược lại không đến một dòng. Higgins đưa tin, những người chạy trốn khỏi miền Bắc bao gồm nhiều nông dân “từ bỏ đất đai của mình để trở thành những người tị nạn không tài sản ở Hàn Quốc. Những đám người tị nạn đáng thương chạy trốn về phía nam sau chân quân đội chúng ta rút lui là bằng chứng không thể chối cãi về nỗi khiếp đảm của dân chúng trước người Cộng sản.”

Tuy nhiên, có thể là nhiều người di cư vào miền Nam không phải để tị nạn thực sự tự nguyện mà đơn giản là họ sợ bị đánh bom nếu ở lại miền Bắc? Đó là lập luận của học giả Jon Halliday và Bruce Cumings. “Có bằng chứng cho thấy người dân miền Bắc thực sự lo sợ rằng họ có thể bị tấn công”  bằng vũ khí nguyên tử, họ viết – và “bất kỳ ai đã từng xem những bức ảnh về miền Bắc vào mùa đông năm 1950-51 và cảnh tàn phá của Hungnam (hoặc Inchon), với nhiệt độ giảm xuống âm bốn mươi độ C, kho dự trữ lương thực bị đốt sạch, súc vật bị tàn sát và toàn bộ làng mạc bị san bằng, sẽ xem xét lại tại sao dân chúng bỏ đi.” Halliday và Cumings cũng nói rằng không có quan chức “quan trọng” của Miền Bắc nào đào tẩu xuống miền Nam.

Miền Nam đã thông qua luật cải cách ruộng đất của riêng mình trước cuộc xâm lược. Việc phân phối lại, giới hạn mỗi gia đình chỉ có ba chongbo hoặc khoảng 7,5 mẫu Anh, được cho là sẽ diễn ra sau vụ thu hoạch lúa mùa thu năm 1950. Sau khi giành lại quyền kiểm soát miền Nam, Rhee đã tìm cách trì hoãn cuộc cải cách, nhưng cuối cùng ông cũng thực hiện nó. Halliday và Cumings tin rằng nỗ lực cải cách ruộng đất ngắn ngủi của những người chiếm đóng phương Bắc, bất chấp những thiếu sót của nó, đã đủ thành công để gây áp lực buộc chế độ Rhee phải tiếp tục bất chấp sự phản đối của giai cấp địa chủ.

Tuy nhiên, một điểm mấu chốt về mức độ chống cộng ở miền Nam dâng cao trong những năm tiếp theo chắc chắn là do thực tế những người miền Nam có cảm tình với miền Bắc hoặc đã đi về Bắc hoặc đã chết. Giống như Kim Nhật Thành ở miền Bắc, Rhee đã sử dụng chiến tranh để thanh lọc phân nửa Triều Tiên của mình khỏi tính đa dạng ý thức hệ. Gregory Henderson, một nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Seoul trong thời kỳ trước chiến tranh, đã viết bốn thập kỷ sau đó rằng những người theo đuổi lập trường trung gian về ý thức hệ có nhiều bằng chứng đã ở đó khi chiến tranh đến gần, và một số người trong số họ đã di cư sang miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh. Nhưng “người ta tìm kiếm họ vô vọng ở miền Bắc nơi họ đã đến Có lẽ họ ẩn náu ở các xó xỉnh nào đó ở miền bắc mà chúng ta chưa thể tìm thấy. Họ cũng đã bị loại bỏ ở miền Nam.”

 

Sự leo thang của hận thù tất nhiên là thuộc cả hai bên. Sau chiến tranh, trong khi người miền Nam nhớ lại tính tàn bạo của người miền Bắc, thì cũng có những cuộc cuồng sát bừa bãi của phía bên kia để cho người Bắc không quên, nếu kế đến nạn nhân của những cuộc không kích và bỏ bom napalm. Chế độ Triều Tiên không mấy khó khăn khi thổi bùng ngọn lửa căm thù phổ biến đối với cả Hàn Quốc và Hoa Kỳ vì những hành động đáng tiếc có thực cũng như tưởng tượng: “Đế quốc Mỹ và bọn liếm gót chúng giẫm đạp dưới chân và đốt sạch mọi thứ trong tất cả xóm làng. Chúng tàn sát hàng loạt dân chúng vô tội. Chúng đạp trẻ em và phụ nữ mang thai vào lửa và chôn sống người già.”

Ngay cả khi nhiều dân tị nạn chỉ đơn giản là chạy trốn khỏi bom đạn, việc di cư bổ sung càng làm giảm số lượng người bất mãn ở miền Bắc có thể chống lại chính sách của Kim. Ngoài khoảng 3,5 triệu người Bắc Triều Tiên đã di cư vào miền Nam từ năm 1945 đến khi chiến tranh bùng nổ, một triệu người tị nạn khác đã chạy trốn trong Chiến tranh Triều Tiên. Nhiều người (kể cả các dân làng đã ném gia đình một quan chức cộng sản xuống hầm mỏ) đã theo chân lực lượng Liên Hiệp Quốc rút lui khỏi miền Bắc vào mùa đông năm 1950 sau khi quân Trung Cộng  tham gia cuộc xung đột.

 

Mặc dù cuộc chiến mà ông ta gây ra nói là để tìm cách đoàn tụ những người Triều Tiên hóa ra lại chia rẽ họ nhiều hơn, tuy nhiên, chế độ của Kim vẫn không ngừng lặp lại lời dối trá về một chiến thắng vĩ đại trong cuộc chiến do đế quốc Mỹ bắt đầu. Trong thời gian chiếm đóng ngắn ngủi của lực lượng Liên Hiệp Quốc và Hàn Quốc, một số người Bắc Triều Tiên đã nghe được sự thật về việc ai đã xâm lược ai. Tuy nhiên, phần lớn người dân vẫn sẵn sàng tin vào phiên bản của chế độ.

Cuối cùng, phiên bản chính thức cũng bỏ đi những đề cập đến sự trợ giúp của Trung Quốc. Chiến thắng vĩ đại được cho là sẽ trở thành một chiến thắng thuần túy của Triều Tiên. Việc xuyên tạc lịch sử đó không thể được thực hiện ngay lập tức, vì quân đội “tình nguyện” của Trung Quốc vẫn tồn tại cho đến năm 1958 để bảo vệ Triều Tiên trước bất kỳ hành động thù địch tái diễn nào của Hoa Kỳ. người Bắc Triều Tiên vẫn giữ lại những ký ức sống động về sự giúp đỡ hào phóng của Trung Quốc – ngay cả khi một số họ chỉ trích Liên Xô và Đảng Lao động Triều Tiên là chưa làm đủ.

Tuy nhiên, đến những năm 1960, người viết tiểu sử chính thức của Kim không có một từ nào để nói về sự hỗ trợ của Trung Quốc, mà chỉ mô tả của ông về “sự cổ vũ nhiệt tình của Triều Tiên và thế giới” vào ngày 28 tháng 7 năm 1953. Đó là ngày Đoàn Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tối cao phong tặng Danh hiệu Anh hùng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Quốc kỳ Hạng nhất và Huân chương Sao vàng cho Nguyên soái Kim Il-sung, người đã “tổ chức và lãnh đạo nhân dân và Quân đội Nhân dân Triều Tiên giành thắng lợi chói sáng trong Chiến tranh giải phóng Tổ quốc bằng chiến lược và chiến thuật kiệt xuất của mình”, bỏ qua một chi tiết nhỏ là danh hiệu Anh hùng CHDCND Triều Tiên cũng được trao cho Tướng Bành Đức Hoài, tư lệnh lực lượng Trung Quốc.

 

Dành cho công chúng Bắc Triều Tiên, cuộc chiến được tuyên bố là thắng lợi. Người dân Triều Tiên tiếp tục được biết người Hàn Quốc và Mỹ đã phát động chiến tranh để tiêu diệt miền Bắc. Phá vỡ âm mưu xấu xa của chúng là thắng lợi vẻ vang, khẳng định thể chế và truyền thống cách mạng của nước Cộng hòa của Kim. “Tinh thần của những chiến sĩ anh hùng đã chống lại quân xâm lược Mỹ trên Cao điểm 1211 [được quân đội Liên Hiệp Quốc gọi là Heartbreak Ridge] bắt nguồn từ tinh thần của các khu du kích vào những năm 1930,” ông Kim viết trong hồi ký của mình. “Chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần này khi tiến bước trên con đường thẳng tắp theo phong cách chủ nghĩa xã hội của riêng mình  trong vòng vây của đế quốc.” Giật lấy một “chiến thắng” được tuyên bố từ trong một thảm bại đã gần kề nhờ sự hỗ trợ của Trung Quốc, giống như những gì ông đã có thể làm được vào năm 1945 nhờ quân Đồng minh, Kim hẳn đã tin rằng vận mệnh mãi mãi ở về phía mình. Chúng ta có thể không tin lòng tự tin của ông ta bị sứt mẻ nghiêm trọng sau thất bại trong Chiến tranh Triều Tiên, cũng như sau thất bại rốt ráo  trước đây của ông ta trong cuộc chiến chống Nhật.

Bình luận về bài viết này