Quân Minh “thua đau” như thế nào ở bãi Phả Lữ, Nghệ An

 

Đặng Bá Quân

“Hồn Phá Lữ, xứ đồng này

Giặc Minh tan xác hồn bay Bắc Triều”

Phúc Sơn, Anh Sơn là vùng đất có địa hình đa dạng, địa thế quan trọng. Phúc Sơn là dải đất nằm vắt ngang huyện Anh Sơn cũ, kéo dài hơn 42km từ biên giới Việt Lào đến bờ hữu ngạn sông Lam. Cũng là xã duy nhất của đất Anh Sơn tiếp giáp với nước bạn Lào từ cột mốc số 7 đến số 9, dài gần 7km. Độ cao nghiêng từ cao xuống thấp, theo tổng quan địa lý từ Tây Nam đến Đông Bắc. Địa hình ở đầy vừa có núi ( núi Cao Vều), đồi, vừa có sông suối(sông Giăng), vừa có đồng ruộng bãi bờ…mà theo sách vở Phả Lữ là một bãi  trong số đó.

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do chủ tướng Lê Lợi chỉ huy, năm 1924, theo hiến kế của Nguyễn Chích “Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi  đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay ta trước hãy đánh lấy Trà Long, chiếm được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra đánh thành Đông Đô để tính xong việc dẹp yên thiên hạ” (theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán nhà Nguyễn). Lê Lợi quyết định đưa nghĩa quân vào Nghệ An xây dựng căn cứ để chống lại giặc.

Vào đất Nghệ An, nghĩa quân được sự ủng hộ của nhân dân Phúc Sơn và cả vùng phụ cận lân quanh rộng lớn, từ Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà của đất này nghĩa quân của Lê Lợi đã đủ sức mạnh làm nên những chiến công lẫy lừng mà sau này hồi tưởng lại Bình Ngô Đại Cáo đã có câu:

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay

Chính những thất bại ở đất Nghệ An chính quyền đô hộ hết sức lo sợ trước phong trào của nhân dân ta. Ngay cả những bản tường trình tình hình Giao Chỉ cho Minh triều các quan đô hộ đều dấu giém tình trạng nghiêm trong của khởi nghĩa Lam Sơn. Sau khi biết tin Vua Minh phê bình nặng nề chính quyền độ hộ, buộc Trần Trí phải phát binh tái chiếm  Trà Lân.  Đầu năm 1425, quân Minh tập trung lực lượng phản công, cuộc hành quân tìm diệt nghĩa quân ta huy động gần như toàn quân chủ lực ở thành Nghệ An kết hợp với quân tiếp viện từ Đông Quan vào.

Như đã biết, Lê Lợi là một pho tàng Binh pháp sống động và uyên thâm của nước ta thế kỉ 15 cùng vị quân sư tài ba Nguyễn Trãi đã chủ trương đúng tôn chỉ nhà binh “Thiện chiến giả, trí nhân nhi bất trí ư nhân” (Người giỏi đánh trận là người điều khiển được địch chứ không để địch điều khiển mình). Trước đợt hành quân được xem như phản công của Minh quân tàn bạo, nghĩa quân ta được chỉ đạo triển khai lực lượng theo 3 hướng chính:

  • Đinh Liệt chỉ huy 1000 quân từ Trà Lân đi đường tắt xuống chiếm giữ Đỗ Gia (Hương Sơn) để dành chỗ tiện lợi
  • Đinh Lễ, đi tuần Diễn Châu
  • Bước ngoặt của trận chiến ở đất Anh Sơn nói chung và Phả Lữ Phúc Sơn nói riếng bắt đầu khi cánh quân chính do Lê Lợi trực tiếp chỉ huy tiến quân xuống Khả Lưu thuộc Mạc Điền ( nay thuộc xã Vĩnh Sơn huyện Anh Sơn cũ)

Khả Lưu là một bài đất rộng, bằng phẳng. Mặt Nam và Đông Nam có sông Lam bao bọc, Tây và Tây Bắc có núi che chở. Mặt Đông mở rộng nối liền cánh đồng ven bờ sông Lam. Đây là cửa ải trọng yếu từ thành Nghệ An đến Trà Lân. Chính vì địa thế ấy, do đường thượng đạo đã bị Đinh Liệt đóng giữ ở hướng đầu, Trần Trí và Phương chính huy động quân thuỷ bộ đi dọc theo sông Lam tiến lên Khả Lưu và hạ trại ở bờ Nam sông. Đối mặt với nghĩa quân Lam Sơn.

Tại đây quân Lam Sơn cho một bộ phận tinh nhuệ, có cả tượng binh, bí mật vượt từ tả sang hữu ngạn sông Lam phục sẵn quân ở bãi Sở là nơi hiểm yếu (xưa thuộc làng Đa Cụ, xã Tri Lễ, nay là xã Long Sơn Anh Sơn cũ). Bãi Sở cách bãi Phả Lữ 3km về phía Đông Bắc, bãi Sở là một bãi đất rộng hướng Đông Nam Bắc có sông bao bọc, phía Tây có núi Pheo hiểm trở che chắn.

Còn ở Khả Lưu nghĩa quân tiếp tục phô trương thanh thế , bàn ngày thì cờ xí rợp trời ban đêm đốt lửa sáng chói.

Vì thấy quân Khả Lưu phòng thủ vững chắc chặn đường tiến, quân Minh buộc phải đóng quân ở cả bãi PHẢ LỮ (xưa thuộc làng Yên Phúc nay thuộc xã Phúc Sơn cũ). Chúng chọn Phả Lữ vì lẽ Phả Lữ phía Bắc có sông Lam che chắn, phía Tây lại có thành luỹ là các dãy đồi Nhật Tự, Động Đá, Chọ Chai. Tuy nhiên quân Minh lại không nhận ra rằng Phả Lữ chính là “cái bẫy tâm lý”. Quân Minh chọn nơi này vì tưởng là thế thủ vững chắc chờ thế công (có sông phía Bắc, đồi phía Tây), nhưng thực tế lại bị nghĩa quân biến thành nơi “lưỡng đầu thọ địch” biến cách.

Địch cậy thế đông quân và hung hãn xua quân vượt sông định mưu đánh gấp phá tan nghĩa quân ta. Nghĩa quân liệu thế liền giả thua vừa cầm cự vừa rút lui, nhử quân minh vào thiên la địa võng đã chuẩn bị từ trước rồi bất thần xông ra đánh quyết liệt. Quân Minh dù thất bại trước ta nhiều lần với kiểu đánh nhử của quân Lam Sơn nhưng chẳng làm được gì, thất bại cứ nối tiếp thất bại. “Bị chém đầu và chết đuối kể đến vạn tên”.

Đúng lúc này, để buộc quân Minh rơi thế lưỡng đầu thọ địch dù chính chúng ban đầu mới là kẻ tiến công trước, cùng lúc trận ở Khả Lưu, nghĩa quân phục sẵn ở bãi Sở tấn công địch ở Phả Lữ,” lửa cháy hai đầu”, buộc lòng Trần Trí, Phương Chính phải lui về chống giữ. Dù đã thiệt hại nặng nhưng không thể để vua Minh phê thêm Trí và Chính vẫn cố thủ chờ thời mưu tiến.

Với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn tuy đã dành chiến thắng quan trọng ở Phả Lữ, buộc quân Minh làm chậm kế hoạch thu lại Trà Lân và chôn chân trong thành. Nhưng lực lượng không phải không có tổn thất, lương thực lại thiếu thốn ( nhân đây có câu chuyện một cô gái ở đất Anh Sơn làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho nghĩa quân hồi quân ta còn chiến đấu ở Khả Lưu Bồ Ải rất có công. Một lần lên núi “An Nam tiểu Thái Sơn” kiếm thuốc bị một con hổ vồ chết, khi chết tay vẫn cầm chặt bó lá thuốc. Sau này có đền Cửa Luỹ thì người ta cho là Lê Lợi hứa ngày thống nhất sẽ lập đền thờ cô gái, ấy là 1 số cụ kể, cũng có tài liệu viết thật hay hay không thật không rõ).  Trước thế khó, nghĩa tướng Nguyễn Vĩnh Lộc bàn với Lê Lợi “Nghĩa quân nên đốt doanh trại của mình, giả rút lui về phía trên như bỏ trốn, rồi quay lại mai phục nơi hiểm yếu là Bồ Ải ( Nay là xã Đức Sơn cũ), chờ giặc đến sẽ phá, Lê Lợi y theo.

Bấy giờ ở bờ sông Lam và Phả Lữ, Trí và Chính cho rằng quân ta hết lương, binh hao mà bỏ chạy nên định một phen ruổi dài và diệt sạch nghĩa quân. Đến khi toàn bộ quân Minh lọt vào trận địa mai phục của ta ở Bồ Ải thì đã muộn. Lê Lợi chỉ huy nghĩa binh xông ra phá giặc. “ Quân giặc bị giết không biết bao nhiêu mà kể, thuyền giặc trôi ngổn ngang, thây chết duối tắc cả sông, khí giới bỏ chồng chất khắp núi”( Đại Việt sử ký toàn thư). Tại đây, Hoàng Thành bỏ mạng, Chu Kiệt và hơn ngàn tên bị bắt sống.

Như vậy, Trong hệ thống chiến trận Khả Lưu – Bồ Ải, Bãi Phả Lữ không chỉ đơn thuần là một địa điểm đóng quân tạm thời của địch, mà nó đóng vai trò là mắt xích trọng yếu trong thế trận của Lê Lợi. Phả Lữ nằm ở vị trí “tiến thoái lưỡng nan”. Mặc dù có sông Lam che chắn phía Bắc và đồi núi phía Tây làm thành lũy, nhưng chính sự “khép kín” này đã biến nơi đây thành một cái túi khi bị tấn công từ hai phía (Bãi Sở đánh xuống và Phả Lưu phục kích đánh trả thì Phả Lữ chẳng khác nào là bức tường tử). Phả Lữ còn là nơi bẻ gãy ý chí tấn công của quân Minh. Việc quân Minh buộc phải điều một phương diện quân hạ trại tại đây thay vì tiến thẳng lên Trà Lân cho thấy quyền chủ động trên chiến trường đã hoàn toàn nằm trong tay nghĩa quân Lam Sơn.

Trong cuộc trường chinh của chiến dịch Lam Sơn trên đất Nghệ An năm 1425, nếu Khả Lưu là tấm khiên vững chãi chặn đứng mũi giáo hung hãn của quân thù hướng đến Trà Lân, và Bồ Ải là nhát gươm quyết định hạ gục tham vọng của Minh triều, thì Phả Lữ chính là ‘nút thắt’ nghệ thuật, nơi bản lĩnh và trí tuệ quân sự của Lê Lợi – Nguyễn Trãi rực sáng nhất. Không chỉ là một bãi bồi ven sông Lam, Phả Lữ trong binh pháp Lam Sơn đã biến thành một cái bẫy tâm lý hoàn hảo: nó vừa đủ hiểm yếu để dụ địch dừng chân đóng trại, nhưng cũng vừa đủ trống trải để trở thành tâm điểm, lửa cháy hai đầu ,khi sự hung hãn áp mất lý trí của các dũng tướng Minh triều.

Chính tại bãi đất này, sự kiêu ngạo của Trần Trí và Phương Chính đã bị thiêu rụi, buộc chúng từ thế kẻ đi tìm diệt phải co cụm vào thế cố thủ chờ thời. Phả Lữ không chỉ chứng kiến máu giặc nhuộm đỏ dòng Lam, mà còn là nơi nghĩa quân thực hiện cú nghi binh vĩ đại – đốt trại giả rút – tạo ra ảo giác về một sự suy kiệt để dẫn dụ toàn bộ quân chủ lực Minh tiến thẳng vào cửa tử Bồ Ải. Vượt lên trên một địa danh chiến trận, Phúc Sơn nói riêng và Anh Sơn nói chung còn lưu dấu tính nhân văn sâu sắc qua hình tượng người con gái bốc thuốc hy sinh bên núi “An Nam tiểu Thái Sơn”, minh chứng cho một tư tưởng quân sự bất diệt: Chiến thắng không chỉ được tạo nên từ binh pháp, mà còn từ sự đồng lòng của nhân dân và linh khí của đất trời xứ Nghệ.

Thế nhưng, có một nỗi niềm đau đáu đối với những người trẻ và yêu sử học hôm nay: đó là sự mờ nhạt dần của những địa danh vang bóng một thời ngay chính trên vùng đất mà chúng từng tồn tại. Cái tên  Phả Lữ (Phúc Sơn, Anh Sơn) – nơi từng là mắt xích nhỏ nhưng quan trọng chiến lược xoay chuyển cục diện chiến tranh – giờ đây dường như chỉ còn nằm im lìm trong những trang sách cũ. Khi tìm về thực địa, đối diện với những cánh đồng, những bãi bồi, ta chợt nhận ra khoảng cách mênh mông giữa con chữ và hiện thực; bởi ngay cả những bậc cao niên, những pho sử sống của làng quê cũng không còn mấy ai nhớ hay biết đến cái tên Phả Lữ năm nào. Là do không còn ai nhớ hay Phả Lữ đã thay tên đổi họ, thật tôi cũng không rõ. Chỉ biết nếu thực tiễn khảo sát, “một bãi đất rộng được chắn bởi sông Lam” thì không ít, mà mấy ai còn biết tên các đồi Nhật Tự, Chọ Chai,… để chứng thực. Ngay cả nhiều pho sử, tài liệu sử internet ngày nay khi nói về chiến sự đất Nghệ An trong khởi nghĩa Lam Sơn cũng quên dần sự hiện diện của Phả Lữ. Khó quá.

Việc khôi phục lại diện mạo chiến trường xưa, để có thể tận mắt đứng trên mảnh đất Phả Lữ mà hình dung về hào khí năm xưa ngay trên mảnh đất quê hương, vẫn còn là một hành trình đầy gian nan phía trước do sự thiếu hụt về tư liệu thực chứng. Nó làm cho bài viết này chưa đạt được “độ chín” như mong muốn của tôi, nhưng có sẽ làm thoả mãn, thắp thêm ngọn đuốc tự hào cho nhân dân Phúc Sơn cũ.

Tài liệu tham khảo

  1. Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Phúc Sơn, 2015, NXB Nghệ An
  2. Đại Việt Sử ký toàn thư, NXB KHXH và NV
  3. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Quốc sử quán triều Nguyễn
  4. Các tư liệu Internet: báo, Wikipedia,….

 

 

 

Bình luận về bài viết này