Chứng cứ không thể bác bỏ (Bài 11)

Những cuộc phiêu lưu vào lịch sử khoa học pháp y

MICHAEL KURLAND

 Trần Quang Nghĩa dịch

 

16: Bộ đồ vét hai hàng khuy nút

 

NGƯỜI PHÂN TÍCH TÂM LÝ là một nhà ảo thuật mới của khoa học pháp y. Và cũng như ảo thuật, việc phân tích tâm lý khơi gợi nhiều phản ứng khác nhau từ cả người quan sát lẫn người thực hành. Khái niệm cơ bản rất đơn giản. Nếu bạn có thể suy nghĩ như một tên tội phạm, bạn có thể dự đoán hành động của hắn. Hoặc nếu bạn có nhiều ví dụ về hành động của hắn, bạn có thể hình dung rõ ràng hắn là loại người nào. Cả hai khái niệm này đều đã được thử nghiệm, và đôi khi chúng hoạt động cực kỳ hiệu quả. Nhưng đôi khi thì không.

 

Có lẽ kẻ giết người khét tiếng nhất mọi thời đại là gã đàn ông chỉ được biết đến với biệt danh “Jack Đồ Tể”. Hắn đã gieo rắc kinh hoàng khắp London trong vài tháng vào năm 1888, giết chết 5 người phụ nữ mà chúng ta biết và có thể còn ít nhất 2 người nữa. Các nạn nhân, tất cả đều là gái mại dâm làm việc tại khu Whitechapel ở khu East End của London, đã bị giết một cách nhanh chóng và tàn bạo, một số ở ngay góc phố nơi bất kỳ ai cũng có thể đi ngang qua bất cứ lúc nào – trong một trường hợp, dường như hắn đã bị ngăn cản trước khi kết thúc hành động. Các nạn nhân bị cắt xẻo cơ thể một cách khủng khiếp, và với mỗi vụ giết người, hành động cắt xẻo ngày càng tăng lên. Kẻ giết người đã mang theo các bộ phận cơ thể khi rời khỏi hiện trường. Sau một vụ giết người, hắn đã gửi một nửa quả thận của nạn nhân cho chỉ huy đội dân phòng ở Whitechapel, tuyên bố trong thư rằng hắn đã chiên và ăn nửa còn lại. Hắn kết thúc bức thư bằng lời chế nhạo: “Cứ bắt tao nếu mày có thể.”

Một nạn nhân khác của Jack the Ripper ở East End, London.

 

Bác sĩ phẫu thuật ngành cảnh sát, Tiến sĩ Thomas Bond, người đã hỗ trợ khám nghiệm tử thi Mary Kelly, một trong những nạn nhân, đã được các điều tra viên yêu cầu phân tích y khoa các vết thương. Trong các ghi chú đề ngày 10 tháng 11 năm 1888, Bond đã cung cấp những gì ngày nay được gọi là hồ sơ về kẻ giết người khả nghi.

 

Bond khẳng định, vụ giết người do một người đàn ông thực hiện, hành động một mình. Hắn có lẽ ở độ tuổi trung niên, trầm lặng và trông có vẻ bình thản, nhưng vẫn khỏe mạnh, điềm tĩnh và táo bạo. Hắn ăn mặc chỉnh tề và có lẽ đã mặc áo choàng để che giấu vết máu do hành động của mình gây ra. Hắn hẳn là một kẻ cô độc, không có nghề nghiệp thực sự, lập dị và bất ổn về mặt tinh thần. Hắn có thể mắc chứng Satyriasis (ngày nay chúng ta gọi là chứng cuồng dâm), và những người quen biết hắn sẽ biết rằng hắn “không tỉnh táo”. Bond khá chắc chắn rằng tên Đồ Tể đã ra tay với nạn nhân thứ sáu, một gái mại dâm tên là Alice McKenzie, mặc dù vết thương của cô không giống những người khác. Ông nghĩ rằng việc treo thưởng cho thông tin có thể khơi gợi trí nhớ hoặc lương tâm của ai đó.

 

Vì Kẻ Đồ Tể chưa bao giờ bị bắt, nên độ chính xác trong những lời khẳng định của Tiến sĩ Bond vẫn chưa được xác định. Đã có nhiều bài viết về vụ án Kẻ Đồ Tể và nhiều giả thuyết được đưa ra về danh tính của hắn. Tuy nhiên, không có giả thuyết nào hoàn toàn thuyết phục.

 

Trước thời kỳ cảnh sát lập hồ sơ chính thức, đã có trường hợp của George Metesky (1904-1994), “kẻ đánh bom điên loạn” của thành phố New York. Hắn bắt đầu cho nổ bom trước Thế chiến II, để lại quả bom đầu tiên trong một hộp dụng cụ trên bệ cửa sổ tại một cơ sở của Consolidated Edison trên phố West Sixty-fourth. Đó là vào ngày 16 tháng 11 năm 1940. Quả bom không phát nổ, và đội gỡ bom đã tìm thấy một mảnh giấy được quấn quanh nó: “BỌN LỪA ĐẢO CON EDISON, CÁI NÀY DÀNH CHO TỤI BÂY.” Sự hiện diện của mảnh giấy này thật khó hiểu, bởi nếu quả bom phát nổ thì nó đã bị tan tành.

 

Kẻ đánh bom bất thành có vẻ là một nhân viên hoặc cựu nhân viên bất mãn của Con Edison. Nhưng Con Edison rất rộng lớn. Ngoại trừ một góc nhỏ xíu của Queens, nó phục vụ toàn bộ Thành phố New York và hầu hết Quận Westchester. Và nó là một tập đoàn gồm hơn 20 công ty trước đó, một số mới được thêm vào gần đây. Hồ sơ nhân viên của tất cả các công ty này đều nằm rải rác và được lưu trữ kém.

 

Quả bom tiếp theo, gần một năm sau quả bom đầu tiên, cũng không phát nổ. Nó được tìm thấy bọc trong một chiếc tất và nằm trên phố Nineteenth gần văn phòng Con Edison. Ba tháng sau, Trân Châu Cảng bị tấn công, và New York, cùng với phần còn lại của đất nước bận bịu với nhiều việc quan trọng hơn phải lo toan hơn là truy lùng một kẻ chế tạo bom giả. Kẻ đánh bom cũng đồng ý và gửi thư cho cảnh sát:

 

TÔI SẼ KHÔNG CHẾ TẠO BOM NỮA TRONG SUỐT THỜI GIAN CHIẾN TRANH – LÒNG YÊU NƯỚC ĐÃ KHIẾN TÔI QUYẾT ĐỊNH ĐIỀU NÀY – SAU ĐÓ TÔI SẼ ĐƯA CON EDISON RA CÔNG LÝ – CHÚNG SẼ PHẢI TRẢ GIÁ CHO NHỮNG HÀNH ĐỘNG ĐÁNG TỘI CỦA CHÚNG… F.P.

 

Và F.P. đã giữ đúng lời hứa. Ngoại trừ một vài lá thư nặc danh và bưu thiếp gửi cho cảnh sát, báo chí, Con Edison và những người lạ mặt, mãi đến năm 1951, mười năm sau, người ta mới nghe lại tin tức về hắn.

 

Qua nhiều năm, kỹ năng chế tạo bom của hắn đã được cải thiện, và việc lựa chọn mục tiêu cũng trở nên hoành tráng hơn. Quả bom đầu tiên trong lô mới này, và cũng là quả đầu tiên thực sự phát nổ, được đặt ở tầng dưới của Nhà Ga Grand Center. May mắn thay, không ai bị thương trong vụ nổ.

 

Rõ ràng là bực tức vì những quả bom của mình ít được công khai (cảnh sát đã thúc giục các tờ báo không nên thổi phồng sự việc), F.P. đã gửi một lá thư khác, lần này là cho tờ New York Herald Tribune:

 

BẠN CÓ NHẬN THẤY NHỮNG QUẢ BOM TRONG THÀNH PHỐ CỦA BẠN KHÔNG – NẾU BẠN LO LẮNG, TÔI XIN LỖI VÀ CŨNG NHƯ NẾU CÓ AI BỊ THƯƠNG, NHƯNG KHÔNG THỂ LÀM GÌ KHÁC VÌ CÔNG LÝ PHẢI ĐƯỢC THỰC THI. TÔI KHÔNG KHỎE, VÀ VÌ ĐIỀU NÀY TÔI SẼ KHIẾN CON EDISON PHẢI XIN LỖI – VÂNG, CHÚNG SẼ PHẢI HỐI TIẾC VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG ĐÊ HÈN CỦA MÌNH – TÔI SẼ ĐƯA HỌ RA TRƯỚC TÒA ÁN – TRƯỚC SỰ LÊN ÁN CỦA CÔNG CHÚNG, CHÚNG SẼ CẨN THẬN, TÔI SẼ ĐẶT NHIỀU BOM HƠN DƯỚI GHẾ Ở NHÀ HÁT TRONG TƯƠNG LAI GẦN ĐÂY. F.P.

 

Trong 6 năm tiếp theo, hắn tiếp tục đặt hơn 30 quả bom. Mục tiêu của hắn bao gồm Nhà hát Radio City Music Hall, Nhà hát Capitol, Nhà hát Roxy, Nhà hát Paramount, Thư viện Công cộng New York và cửa hàng bách hóa Macy’s. Năm 1954, một vụ đánh bom thứ hai tại rạp Radio City phát nổ trong lúc chiếu bộ phim White Christmas của Bing Crosby, khiến bốn người bị thương. Một quả bom khác phát nổ trong bồn cầu ở phòng vệ sinh nam tại ga Pennsylvania, khiến một nhân viên 74  tuổi bị thương nặng khi đang vệ sinh bồn cầu.

 

Mặc dù chưa có ai thiệt mạng, nhưng các vụ đánh bom đã làm khá nhiều người bị thương và gây ra sự hoảng loạn gần như khắp thành phố. Cảnh sát đã tốn quá nhiều thời gian vào việc lần theo những manh mối mà không có kết quả, tìm kiếm bom chưa nổ và xử lý những kẻ bắt chước và chơi khăm.

 

Đến năm 1956, sau 16 năm F.P. đặt bom, chính quyền vẫn chưa bắt được hắn, thậm chí còn không tìm được manh mối nào khả quan. Điều này khiến cảnh sát thành phố New York phải nhờ đến nhà phân tâm học James A. Brussel để lập hồ sơ tính cách của kẻ đánh bom điên loạn. Sau khi xem xét toàn bộ tài liệu vụ án, Tiến sĩ Brussel bắt đầu với những điều hiển nhiên:

 

– Kẻ đánh bom bị hoang tưởng.

-Kẻ đánh bom có ​​mối bất bình cụ thể với Con Edison.

– Kẻ đánh bom là nam giới (hơn 90 phần trăm kẻ đánh bom là nam giới).

– Kẻ đánh bom khoảng 50 tuổi (chứng hoang tưởng thường đạt đỉnh điểm ở độ tuổi 35 và tình trạng này đã kéo dài trong 15 năm).

– Kẻ đánh bom là một công nhân tỉ mỉ (quá trình chế tạo bom cho thấy điều đó).

 

Sau đó, Tiến sĩ Brussel tiến vào nơi chưa biết:

 

– Kẻ đánh bom không phải là người Mỹ bản địa. Cách hắn sử dụng ngôn từ trên tờ tin nhắn đã chứng minh điều này.

– Kẻ đánh bom có ​​thể đã tốt nghiệp trung học, nhưng có lẽ ít hoặc không học đại học. Suy luận này cũng được rút ra từ ngôn ngữ trong các tin nhắn

– Kẻ đánh bom có ​​nguồn gốc Slavơ và có thể là người Công giáo La Mã. Người Đông Âu được biết đến là hay sử dụng bom, và hầu hết người Slavơ đều theo Công giáo.

– Kẻ đánh bom sống ở Connecticut chứ không phải New York.

 

Nhiều lá thư được gửi từ Quận Westchester, nằm giữa New York và Connecticut. Ở Connecticut có  một cộng đồng người Đông Âu đông đảo.

 

Tiến sĩ Brussel cũng kết luận rằng kẻ đánh bom có ​​phức cảm Oedipus [Trong tiềm thức muốn quan hệ tình dục với mẹ ruột của mình]. Do đó, hắn có thể chưa kết hôn và có thể sống với một hoặc nhiều người thân là nữ, nhưng không phải mẹ hắn.

 

Tiến sĩ Brussel đưa ra nhận xét cuối cùng: “Khi các anh bắt được hắn,” ông nói, “và tôi tin chắc là các anh sẽ bắt được, hắn sẽ mặc một bộ vest cài hai hàng khuy nút.” Trước khi các thám tử kịp nói gì, ông nói thêm: “Và bộ vest sẽ được cài cúc!”

 

Sau đó, Tiến sĩ Brussel đưa ra cho các thám tử một lời khuyên trái ngược với thông lệ và bản năng cảnh sát của họ: hãy công khai những phát hiện này. Sẽ có người đến hoặc thấy điều gì đó hữu ích. Thậm chí có khả năng kẻ đánh bom sẽ thấy điều gì đó hắn phản đối trong hồ sơ của Tiến sĩ Brussel và gọi điện khiếu nại.

 

Vì vậy, cảnh sát đã công bố hồ sơ của Tiến sĩ Brussel cùng với các thông tin khác về vụ đánh bom, chỉ giữ lại một vài chi tiết.

 

Vào ngày Giáng sinh năm 1956, theo đề nghị của Tiến sĩ Brussel, các tờ báo ở Thành phố New York đã đăng một phiên bản tiểu sử mà ông dự đoán về kẻ đánh bom. Ngày hôm sau, tờ New York Journal-American đã đăng một bức thư ngỏ gửi kẻ đánh bom, kêu gọi hắn ta đầu thú. Tờ báo hứa sẽ đăng tải những lời than phiền của hắn và đảm bảo hắn được xét xử công bằng. F.P. đã trả lời, liệt kê tất cả những nơi hắn đã đặt bom trong năm qua và nói rằng, “Những ngày tháng trên đời này của tôi đang được đếm ngược – phần lớn cuộc đời trưởng thành của tôi chỉ nằm trên giường – niềm an ủi duy nhất của tôi là tôi có thể trả thù – ngay cả từ dưới mồ vì những hành động đê hèn chống lại tôi.”

 

Tờ Journal-American đã đăng một phiên bản chỉnh sửa bài trả lời của hắn và kèm theo yêu cầu hắn cho độc giả biết những bất bình của mình. Hắn trả lời. Hắn nói rằng mình đã bị thương tại một nhà máy của Con Edison và phải tự trả các hóa đơn y tế; Con Edison thậm chí đã chặn vụ kiện bồi thường lao động của hắn. Hắn tiếp tục:

 

Khi một người lái xe làm bị thương một con chó – anh ta phải báo cáo – không giống như một công nhân bị thương – y bị đánh giá thấp hơn một con chó – Tôi đã cố gắng đưa câu chuyện của mình đến báo chí – Tôi đã thử hàng trăm lần khác – tôi đã gõ hàng chục nghìn từ (khoảng 800.000 từ) – không ai quan tâm… Tôi quyết định công khai những hành động đê hèn này – Tôi đã có nhiều thời gian để suy nghĩ trước khi quyết định dùng bom.

 

Sau đó, hắn gửi lá thư thứ ba, trong đó tiết lộ ngày bị thương – 5 tháng 9 năm 1931. Alice Kelly, một nhân viên của Con Edison, liền lục lại các hồ sơ cũ, đã tìm thấy những lá thư của George Metesky trong một lô đơn xin bồi thường lao động bị từ chối từ năm 1931. Cô nhận thấy những từ ngữ trong thư của anh ta tương tự như những từ ngữ trong các câu trả lời được công bố của kẻ đánh bom. Trong đó có cụm từ “những hành động đê hèn”.

 

Cảnh sát New York đã đến nhà Metesky ở Waterbury, Connecticut, vào lúc gần nửa đêm ngày thứ hai, 21 tháng 1 năm 1957. Họ đi cùng một số cảnh sát địa phương và mang theo lệnh khám xét.

 

Metesky ra mở cửa trong bộ đồ ngủ. “Tôi biết tại sao các anh lại đến đây,” hắn nói với họ. “Các anh nghĩ tôi là Kẻ Đánh Bom Điên rồ.” Các thám tử hỏi hắn F.P. là viết tắt của từ gì, và hắn trả lời, “Fair Play (Chơi đẹp).”

 

Các thám tử nói với hắn họ sẽ đưa hắn đến đồn cảnh sát Waterbury, vì vậy hắn lên lầu để mặc quần áo. Khi trở xuống, hắn mặc một bộ vest hai hàng khuy và cài cúc.

 

Tác giả và nhà tâm lý học đại chúng Malcolm Gladwell không cho rằng việc phân tích tâm lý là một khoa học. Về Tiến sĩ Brussel và vụ án Metesky, ông viết:

 

Brussel không thực sự hiểu được tâm trí của Kẻ Đánh bom Điên rồ. Ông ta chỉ biết rằng, nếu đưa ra nhiều dự đoán, những dự đoán sai sẽ sớm bị lãng quên, còn những dự đoán đúng sẽ giúp ông ta nổi tiếng. Đây không phải là một thành tựu của phân tích pháp y. Nó chỉ là một chiêu trò mua vui.

 

Nhưng còn một bộ vest hai hàng khuy thì sao? Cài cúc thì sao?

 

Năm 1943, OSS, Cơ quan Tình báo Chiến lược thời chiến và tiền thân của CIA, đã yêu cầu Tiến sĩ Walter C. Langer phát triển một bản phân tích hành vi và tâm lý về Adolf Hitler. Họ muốn có thể dự đoán phản ứng của Hitler trước các kịch bản chiến tranh khác nhau.

 

Langer đã sử dụng nhiều nguồn để xây dựng hồ sơ cá nhân – tự truyện của Hitler, Mein Kampf (Cuộc Đấu tranh của tôi), các bài phát biểu và các cuộc phỏng vấn với những người từng biết ông ta. Trong hồ sơ dài 135 trang, Langer nhận thấy Hitler là người tỉ mỉ, khuôn mẫu và dè dặt về ngoại hình và vóc dáng. Tuy nhiên, ông ta không hề ngại ngần khi mô tả bản thân. Khi Đức tái chiếm vùng Rhineland vào năm 1936, ông ta nói: “Tôi theo đuổi con đường của mình với sự chính xác và an toàn của một kẻ mộng du.” Đây khó có thể là lời mô tả về một người đàn ông có khả năng kiểm soát hành động của mình một cách có ý thức. Và sự đánh giá của ông ta về bản thân gần như không còn nghi ngờ gì nữa: “Anh có nhận ra rằng mình đang đứng trước người Đức vĩ đại nhất mọi thời đại không?” và “Tôi không thể nhầm lẫn. Những gì tôi làm và nói đều mang tính lịch sử.” Langer dự đoán rằng trong trường hợp bộ máy quân sự Đức sụp đổ, Hitler sẽ tự sát. Năm 1945, khi đang ẩn náu trong boongke ở Berlin lúc quân đội Nga tiến đến ngoại ô thành phố, Hitler đã tự sát bằng súng.

 

Ngày 29 tháng 12 năm 1977, khi Ambrose Griffin ở Sacramento, California, đang lái xe vào nhà với hai bao tải hàng tạp hóa, anh đột nhiên ngã xuống. Vợ anh nghĩ anh lên cơn đau tim nên vội đưa anh đến phòng cấp cứu, nhưng anh đã tử vong. Nguyên nhân cái chết hóa ra là vết thương do hai viên đạn cỡ .22 gây ra. Vợ anh sau đó nhớ lại đã nghe thấy hai tiếng nổ lách tách ngay khi chồng mình ngã gục.

 

Ngày hôm sau, một nhóm phóng viên tìm thấy hai vỏ đạn trên đường trước nhà Griffin. Cùng ngày hôm đó, một cậu bé mười hai tuổi báo cáo rằng cậu đã bị bắn khi đang đạp xe hôm trước. Cậu bé nói rằng kẻ tấn công lái một chiếc Pontiac Trans Am màu nâu – trẻ con mười hai tuổi rất giỏi nhận dạng xe – tóc nâu, và có lẽ ngoài hai mươi.

 

Một phụ nữ sống cách đó hai dãy nhà báo cáo rằng cô đã bị bắn tại nhà mình hai ngày trước đó. Một viên đạn .22 trùng khớp với viên đạn lấy từ thi thể Griffin được tìm thấy trong tường bếp của cô.

 

Gần một tháng sau, vào ngày 23 tháng 1 năm 1978, Theresa Wallin, hai mươi hai tuổi, đã bị tấn công dã man khi cô đang đi đổ rác. Một viên đạn xuyên qua tay cô, rồi qua cánh tay và ra khỏi khuỷu tay. Một viên đạn thứ hai xuyên qua đỉnh đầu cô. Sau khi cô ngã xuống đất, kẻ giết người lại bắn cô vào đầu, kéo xác cô vào trong phòng ngủ và tấn công dữ dội bằng dao. Cô bị đâm nhiều nhát và bị cắt toạc. Lá lách, thận và ruột của cô bị moi ra. Sau đó, thận của cô được đưa trở lại bên trong cơ thể. Núm vú trái của cô bị cắt bỏ. Một hộp sữa chua rỗng dính máu được tìm thấy gần thi thể cô, như thể ai đó đã dùng nó để múc và uống máu của cô. Những dấu chân đẫm máu được tìm thấy trong một số căn phòng.

 

Khi chồng của Theresa về nhà sau giờ làm và tìm thấy vợ mình vốn đang mang thai ba tháng, anh ta chạy ra khỏi nhà và không ngừng la hét.

 

Cảnh sát Sacramento lo sợ họ đang nắm trong tay một kẻ giết người hàng loạt nên đã nhờ FBI giúp đỡ. Chuyên gia phân tích Robert Ressler đã thu thập những thông tin ít ỏi được biết về kẻ giết người và đề nghị họ tìm kiếm một người

 

Nam da trắng, tuổi từ 25-27; gầy gò, thiếu dinh dưỡng. Nơi ở sẽ cực kỳ luộm thuộm và nhếch nhác, và bằng chứng về tội ác sẽ được tìm thấy tại nơi ở. Có tiền sử bệnh tâm thần và đã từng sử dụng ma túy. Là một người cô độc, không giao du với cả nam lẫn nữ, và có thể sẽ dành phần lớn thời gian ở nhà riêng, và sống một mình. Thất nghiệp. Có thể nhận được một khoản tiền trợ cấp khuyết tật. Nếu sống với bất kỳ ai, đó sẽ là với cha mẹ anh ta; tuy nhiên điều này không chắc xảy ra. Không có tiền án tiền sự; bỏ học trung học hoặc đại học. Có thể mắc một hoặc nhiều dạng rối loạn tâm thần hoang tưởng.

 

Có hai loại sát nhân hàng loạt: những kẻ giết người có tổ chức, lên kế hoạch mọi thứ một cách bài bản, và những kẻ giết người vô tổ chức, chẳng lên kế hoạch gì cả, hành động hoàn toàn theo cảm tính, và để lại rải rác các manh mối khắp hiện trường. Tên này rõ ràng là một kẻ giết người vô tổ chức, nhưng những manh mối như dấu giày chỉ hữu ích khi bạn có giày của nghi can để so sánh.

 

Bốn ngày sau, vào ngày 27 tháng 1, hàng xóm của Evelyn Miroth, 38 tuổi, bắt đầu lo lắng khi một bé gái được cử đến nhà Miroth làm việc vặt báo cáo rằng mặc dù thấy có động tĩnh gì đó trong nhà nhưng không ai trả lời chuông. Một người hàng xóm bước vào nhà, thấy Dan Meredith, 51 tuổi, bạn của Evelyn, nằm chết ở hành lang, và ngay lập tức gọi cảnh sát. Viên cảnh sát đầu tiên đến hiện trường phát hiện Meredith với một vết thương do súng bắn vào đầu. Anh ta tiến sâu hơn vào trong nhà và thấy Evelyn trong phòng ngủ. Bà trần truồng và bị bắn xuyên qua đầu. Bà đã bị cưỡng hiếp và sau đó bị giết và thi thể bị xử lý theo cách tương tự với nạn nhân Theresa Wallin. Nằm ở phía bên kia giường là Jason, con trai sáu tuổi của Evelyn, bị bắn hai phát vào đầu.

 

Evelyn đang trông trẻ cho một người bạn, và giờ đứa bé đã mất tích. Một lỗ đạn được tìm thấy trên chiếc gối nơi đứa bé rõ ràng đã ngủ.

 

Chiếc xe bán tải màu đỏ của Dan Meredith đã bị kẻ giết người lấy đi và được tìm thấy đỗ cách đó vài dãy nhà với chìa khóa vẫn còn trong xe.

 

Cảnh sát phỏng đoán rằng kẻ giết người sống trong phạm vi có thể đi bộ từ nơi hắn để xe và cũng gần nạn nhân – nếu hắn ăn cắp xe, có lẽ hắn đã đi bộ đến hiện trường vụ án. Một người phụ nữ đã kể với họ về việc nhìn thấy một thanh niên cặp mắt hoang dã lái một chiếc xe bán tải màu đỏ. Dựa trên mô tả này, họ đã đi khắp khu phố với bản phác thảo nghi phạm.

 

Khi Nancy Holden nhìn thấy bức phác họa, cô chợt nhớ ra. Trông nó giống một cậu bạn học cùng trường trung học với cô. Cô sẽ không thể nhận ra cậu ta nếu không phải gần đây cô tình cờ gặp cậu ta trong một trung tâm mua sắm và nghĩ rằng cậu ta đã hành động kỳ lạ. Tên cậu ta là Rick Chase – Richard Trenton Chase.

 

Hai cảnh sát đến căn hộ của Chase, chỉ cách nơi anh ta để lại chiếc xe bán tải vài trăm thước. Mặc dù họ nghe thấy tiếng anh ta di chuyển bên trong, anh ta vẫn không chịu ra mở cửa. Họ rời đi nhưng vẫn canh chừng căn hộ và chờ đợi. Một lúc sau, Chase ra ngoài, tay cầm một hộp các tông và hướng về phía xe của mình. Khi các thám tử cố gắng tóm lấy anh ta, anh ta ném hộp vào họ và bỏ chạy. Họ đuổi theo và sau một cuộc vật lộn dữ dội, đã khống chế và còng tay anh ta.

 

Họ tìm thấy một khẩu súng lục cỡ nòng .22 đã lên đạn trong thắt lưng anh ta, một đôi găng tay cao su và ví của Dan Meredith trong túi quần. Trong hộp các tông có giấy tờ và giẻ rách dính máu.

 

Các thám tử đưa Chase về đồn cảnh sát, rồi trong khi thẩm vấn, họ quay lại khám xét căn hộ của anh ta. Căn hộ phủ đầy vết máu và phân. Tủ lạnh chứa đầy những đĩa đựng nội tạng người, bao gồm cả mô não. Có ba chiếc vòng cổ chó nhưng không có con chó nào. Sau đó, họ phát hiện ra rằng Chase đã từng mua chó để giết chúng. Trên một cuốn lịch, anh ta đã ghi “HÔM NAY” vào những ngày xảy ra vụ án mạng Wallin và Miroth, với 44 ngày tương tự vẫn chưa đến.

 

Những dự đoán của Robert Ressler, chuyên gia phân tích tâm lý tội phạm của FBI, lại chính xác đến kỳ lạ. Ông ta ước lượng chính xác tuổi của Chase. Ông ta đã đúng về ngoại hình của Chase, diện mạo căn hộ của hắn, và việc những tang vật của các vụ án sẽ được tìm thấy ở đó. Chase quả thực có tiền sử bệnh tâm thần, nhưng xét theo bản chất của các vụ án, đây có lẽ là dự đoán dễ nhất. Anh ta là một kẻ cô độc, nghiện ngập và nhận trợ cấp khuyết tật. Mẹ anh ta trả tiền thuê nhà cho anh ta. Anh ta bỏ học đại học.

 

Trong quá trình thẩm vấn, Ressler hỏi Chase cách anh ta chọn nạn nhân. “Tôi đi dọc các con phố, kiểm tra cửa ra vào và tìm một cánh cửa không khóa,” anh ta giải thích. “Nếu cửa bị khóa, điều đó có nghĩa là anh ta không được chào đón.”

 

Chase rõ ràng là bị hoang tưởng. Anh ta vừa được xuất viện khỏi bệnh viện tâm thần chỉ vài tháng trước khi cầm súng và dao.

 

Ngay cả khi ở bệnh viện, các bệnh nhân khác vẫn sợ hãi và tránh xa anh ta. Hai nhân viên đã nghỉ việc sau khi thấy anh ta cắn đứt đầu chim trong vườn. Chase tin chắc rằng máu của anh ta đang hóa thành bột và anh ta phải uống máu tươi để duy trì sự sống.

 

Bất chấp tiền sử bệnh tâm thần nghiêm trọng, bên công tố tại phiên tòa đã quyết tâm không để Chase thoát tội với lý do tâm thần. Bồi thẩm đoàn đã chấp thuận, và vào ngày 8 tháng 5 năm 1978, họ tuyên Chase phạm sáu tội danh giết người cấp độ một. Anh ta bị đưa đến xà lim tử tù San Quentin để chờ thi hành án. Trong thời gian ở đó, sức khỏe thể chất và tinh thần của anh ta suy giảm, và được đưa đến cơ sở dành cho những người mắc bệnh tâm thần hình sự tại Vacaville. Vào đêm Giáng sinh năm 1980, Chase đã tự tử bằng cách uống quá liều thuốc chống trầm cảm mà hắn đã tích trữ từ liều dùng hàng ngày.

 

Sáng sớm thứ tư, ngày 11 tháng 2 năm 1987, thi thể bị cắt xẻo của Peggy Hettrick, 37 tuổi, được một người đi xe đạp phát hiện trên đường Landings Drive ở Fort Collins, Colorado. Ban đầu, anh nghĩ đó là một ma-nơ-canh nằm trên cánh đồng phía trước. Khi nhận ra đó thực sự là thi thể của một phụ nữ, anh đã gọi cảnh sát.

 

Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy Hettrick bị giết bằng một nhát đâm duy nhất vào phần lưng trên bên trái. Thi thể cô sau đó đã bị cắt xẻo.

 

Timothy Masters, 15 tuổi, sống trong một ngôi nhà bên cạnh cánh đồng, cũng đã nhìn thấy thi thể khi đi bộ đến trường vào sáng hôm đó. Cậu bé đã không đến gần nó, cũng nghĩ rằng đó là một hình nộm ma-nơ-canh bị bỏ lại ở đó như một trò đùa. Khi cảnh sát nghe cha cậu bé nói rằng Timothy đã đi bộ qua cánh đồng trên đường đến trường, họ đã kéo cậu ra khỏi lớp học và đưa cậu đến đồn để thẩm vấn. Điều tra viên chính, thám tử Jim Broderick của Fort Collins, ngay lập tức xác định Masters là nghi phạm chính của vụ án. Cậu bé đã bị thẩm vấn trong hơn sáu giờ mà không được đề cập đến quyền được có luật sư. Bất chấp các chiến thuật hung hăng của Broderick, Masters vẫn ngoan cố từ chối nhận tội.

 

Phòng ngủ và tủ đựng đồ ở trường của cậu bị khám xét, và một bộ sưu tập dao kéo được phát hiện cùng với hơn hai nghìn trang viết và tranh vẽ của cậu, nhiều trang “mang tính chất khiêu dâm và bạo dâm, thể hiện thái độ thù địch dữ dội với phụ nữ”. Cảnh sát cũng tìm thấy một bài báo về vụ giết người. Broderick tin chắc Masters có tội và vẫn giữ nguyên niềm tin đó trong nhiều năm bất chấp mọi bằng chứng trái ngược – không đủ bằng chứng để truy tố, chứ đừng nói đến việc kết án.

 

Hai sợi tóc không phải của Peggy Hettrick được tìm thấy trên thi thể cô, và dấu vân tay không phải của cô được tìm thấy trong ví. Chúng được so sánh cẩn thận với dấu vân tay của Timothy Masters, nhưng không phải của cậu

 

Vụ án cuối cùng đã được đưa vào hồ sơ vụ án chưa được giải quyết, và Masters tiếp tục cuộc sống của mình. Năm năm sau, vào năm 1992, cảnh sát Fort Collins nghe một người bạn học cũ thời trung học của Masters kể rằng khi Masters và cô ấy nói chuyện về vụ giết người vào tuần xảy ra vụ án, Masters đã nói với cô ấy rằng núm vú của Hettrick đã bị cắt. Đây là một trong những sự thật đã bị che giấu với công chúng.

 

Dựa trên thông tin mới này, cảnh sát đã xin được lệnh bắt giữ. Hai sĩ quan bay đến Philadelphia, nơi các sĩ quan gia nhập hải quân, đang đóng quân trên tàu USS Constitution.

 

“Có lẽ tôi đã nói với cô ấy điều đó,” Masters thừa nhận. “Tôi nghe được từ một cô gái trong lớp mỹ thuật.”

 

Các thám tử vội vã quay lại Fort Collins để thẩm vấn cô gái này, và cô thừa nhận đã kể với Masters về việc núm vú bị mất. Cô là một thành viên trong nhóm trinh sát thám hiểm được cảnh sát yêu cầu hỗ trợ tìm kiếm các bộ phận cơ thể mất tích của Hettrick trên cánh đồng. Vì vậy, Masters vẫn ở lại hải quân.

 

Năm 1995, tám năm sau vụ sát hại Peggy Hettrick, Lynn Burkhardt, một sinh viên đại học đang trông nhà cho Tiến sĩ Richard Hammond và gia đình ông, đã phát hiện ra một ống kính máy ảnh được giấu dưới sàn phòng tắm. Dùng kẹp giấy, cô và một người bạn mở cánh cửa khóa của “phòng làm việc dự phòng” của Tiến sĩ Hammond ở phía bên kia tường phòng tắm. Bên trong, họ tìm thấy một đống máy ảnh và thiết bị điện tử cùng với một bộ sưu tập ảnh khiêu dâm, phần lớn là ảnh phụ nữ ngồi trên bồn cầu của nhà vệ sinh bên cạnh. Một trong số đó là ảnh cận cảnh ngực và bộ phận sinh dục. Nhà Hammond cách nơi tìm thấy thi thể Peggy Hettrick một trăm thước về phía đông.

 

Khi gia đình Hammond trở về sau kỳ nghỉ, Tiến sĩ Hammond bị bắt vì tội lạm dụng tình dục. Vợ ông khai với cảnh sát rằng bà không biết gì về căn phòng bí mật hay sở thích riêng tư của ông. Bà đã lo lắng cho ông, tuy nhiên gần đây ông lại bắt đầu sưu tầm súng và dao.

 

Hammond được tại ngoại và tự mình đến Bệnh viện Mountain Crest ở Fort Collins để được tư vấn tâm lý. Vài ngày sau, cảnh sát được gọi đến một nhà nghỉ ở phía bắc Denver. Hammond được phát hiện đã chết trong phòng. Một kim tiêm tĩnh mạch chứa cặn xyanua thò ra từ đùi ông. Ông để lại một bức thư tuyệt mệnh có đoạn: “Cái chết của tôi sẽ thỏa mãn cơn khát máu của giới truyền thông.”

 

Theo chỉ đạo của Thám tử Jim Broderick, cảnh sát Fort Collins đã tiêu hủy toàn bộ bằng chứng trong vụ án Hammond. Ngọn lửa đã cháy hơn tám giờ đồng hồ. Miles Moffeit, một phóng viên của tờ Denver Post, đã nói như sau về quyết định của Broderick: “Nếu Hammond được điều tra chính thức và bằng chứng được bảo quản, các thám tử có thể đã bị thu hút bởi những điểm tương đồng với vụ án Hettrick.

 

Họ có thể đã lục soát kho của Hammond để tìm các bộ phận cơ thể của Hettrick. Họ có thể đã xét nghiệm DNA trên đồ chơi tình dục của ông ta, cũng như con dao trên thắt lưng. Họ có thể đã so sánh tóc của ông ta với hai sợi tóc được tìm thấy trên người Hettrick.

 

Nhưng Broderick không quan tâm đến Hammond; ông vẫn tập trung vào Masters. Ông tin chắc rằng động cơ gây án nằm ẩn giấu trong đống tranh vẽ mà cảnh sát tịch thu từ Masters vào ngày hôm sau vụ án mạng. Ông đã liên hệ với nhà tâm lý học pháp y J. Reid Meloy, tác giả của cuốn Tâm lý Bệnh hoạn: Nguồn gốc, Động lực và Điều trị cùng nhiều cuốn sách khác về bệnh lý của những kẻ tâm thần tội phạm. Meloy quan tâm đến các vụ giết người có động cơ tình dục và đã trở thành một nhân chứng chuyên môn về chủ đề này. Ông đưa ra giả thuyết rằng tác phẩm nghệ thuật có thể là chìa khóa để hiểu được tâm trí của một kẻ giết người tâm thần. Không nhiều chuyên gia trong lĩnh vực của ông đồng tình với ông, nhưng ông chính là người mà Broderick cần.

 

Meloy nhìn vào đống tranh vẽ mà Masters đã vẽ hồi còn là thiếu niên và sẵn sàng làm chứng rằng động lực đã biến thành hành động. “Vụ giết cô Hettrick đã biến ảo tưởng vĩ đại của Tim Masters thành hiện thực”, ông viết. Ông đưa ra tuyên bố này mà không hề phỏng vấn hay thậm chí gặp Masters.

Nhà tâm lý học pháp y J. Reid Meloy giải thích bức vẽ này của Timothy Masters là hình ảnh mô tả vụ giết người mà hắn đã gây ra.

 

Bản phác thảo bằng bút chì về một người đàn ông thấp bé đang kéo một người đàn ông khác khi những mũi tên bay về phía họ thật kỳ lạ.

 

Đây không phải là bức vẽ hiện trường vụ án mà Tim Masters nhìn thấy vào sáng ngày 11 tháng 2 khi cậu ta đến trường. Đây là một bức vẽ chính xác và sống động về vụ án mạng đang diễn ra. Tim Masters khó có thể suy ra hành vi phạm tội như vậy chỉ bằng cách nhìn vào xác chết, trừ khi cậu ta là một điều tra viên pháp y giàu kinh nghiệm. Theo tôi, nhiều khả năng cậu ta đang phác họa vụ án mạng để khơi lại ký ức về vụ giết người tình dục mà cậu ta đã gây ra vào ngày hôm trước.

 

Và cả hai nhân vật đều là nam? Còn những mũi tên thì sao? Meloy dường như không biết đến lời khuyên cáo của Freud (cha đẻ của ngành phân tâm học hiện đại) cho rằng đôi khi một điếu xì gà chỉ là một điếu xì gà.

 

Được Meloy sẵn sàng làm chứng cho những giả thuyết của mình, Broderick đã thực hiện bước tiếp theo. Vào ngày 10 tháng 8 năm 1998, mười một năm sau vụ sát hại Peggy Hettrick, Tim Masters, đang định cư ở California sau khi rời hải quân, đã bị dẫn độ về tội giết người cấp độ một.

 

Phiên tòa bắt đầu vào tháng 3 năm 1999. Không có bằng chứng mới hay vật chứng nào liên quan đến vụ sát hại Peggy Hettrick trên cánh đồng bên ngoài nhà Masters vào ngày tháng hai năm xưa. Chỉ có những bức vẽ thời niên thiếu của Masters và một người đàn ông tự xưng là nhà tâm lý học pháp y, thừa nhận bị ám ảnh bởi các vụ giết người tình dục.

 

Tại phiên tòa, bên công tố đã chiếu những bức tranh phóng to thô thiển của Masters lên tường cùng với ảnh chụp thi thể của Hettrick. Hình ảnh người đàn ông nhỏ bé kéo lê thi thể một người đàn ông là một trong những hình ảnh yêu thích của Meloy. Ông giải thích những mũi tên như thế nào? Đó là chứng Piquerism – một chứng loạn dục, trong đó người ta thỏa mãn bằng cách đâm hoặc cắt bằng vật sắc nhọn.

 

Masters bị kết án và bị tống giam. Với tỷ lệ bỏ phiếu 3-2, Tòa án Tối cao Colorado đã từ chối hủy bỏ bản án. Thẩm phán Michael Bender, đại diện cho bên phản đối, phát biểu: “Hầu hết các bài viết và hình vẽ này không liên quan gì đến vụ giết người man rợ đó. Khối lượng lớn bằng chứng khó chấp nhận đã lấn át bằng chứng được chấp nhận đến mức bị cáo không thể có một phiên tòa công bằng…. Có nguy cơ đáng kể là bị cáo bị kết án không phải vì những gì anh ta đã làm, mà vì con người anh ta.”

 

Năm năm sau khi thụ án tù, Masters đã thuê một luật sư mới, Maria Liu, người nhanh chóng tin chắc rằng y vô tội. Bà rất ngạc nhiên khi thấy y bị kết án dựa trên một bằng chứng mỏng manh như vậy. Trước tiên, bà muốn các chuyên gia của mình kiểm tra vật chứng. Và bước đầu tiên trong quá trình này là bảo quản vật chứng. Động thái bảo quản vật chứng của bà bị văn phòng công tố quận chống đối quyết liệt. Họ lập luận, trong số những điều khác, rằng “Luật pháp không quy định nhiệm vụ phải bảo quản vật chứng.”

Thật ra, hai sợi tóc tìm thấy tại hiện trường và những bức ảnh chụp dấu vân tay không xác định đã biến mất.

 

Nhưng Liu đã thắng kiện và mang ảnh chụp vết thương của Hettrick do giám định y khoa ghi lại cho bác sĩ Warren James, một bác sĩ sản phụ khoa tại Fort Collins. Ông nhận ra những vết cắt ở bộ phận sinh dục là một ca phẫu thuật thực sự. “Cô Hettrick đã trải qua một ca phẫu thuật được gọi là cắt bỏ một phần âm hộ”, ông nói. Ông nói với Liu rằng đây không phải là một ca phẫu thuật đơn giản. Nó đòi hỏi “trình độ phẫu thuật cao và dụng cụ phẫu thuật chất lượng cao”. Ngoài ra, cần phải có đèn chiếu sáng mạnh, và nạn nhân phải được đặt ở tư thế dang rộng hai chân. Tim Masters không có đủ kỹ năng, ánh sáng, sự riêng tư, cũng như thời gian để làm điều này.

 

Khi xem lại các ghi chú từ cuộc điều tra ban đầu, Liu thấy rằng ngay cả bác sĩ giám định y khoa cũng gọi vết cắt là “phẫu thuật” vào thời điểm đó.

 

Sau hai năm đấu tranh pháp lý, Liu và nhóm luật sư bào chữa cuối cùng đã được phép gửi số quần áo còn lại tại hiện trường vụ án đến một phòng thí nghiệm ở Hà Lan để phân tích DNA. Đội pháp y ở đó không tìm thấy dấu vết DNA của Masters, nhưng họ lại tìm thấy DNA của một người lạ bên trong quần lót của Peggy Hettrick.

 

Sau 20 năm ngồi tù, Masters được trả tự do vào tháng 1 năm 2008. Một số quan chức liên quan đến vụ truy tố ban đầu đã bị điều tra về hành vi phi đạo đức, vì đã không chuyển giao một số lượng lớn bằng chứng giải tội cho bên bào chữa. Khi được hỏi ông cảm thấy thế nào về việc phải chịu trách nhiệm phần lớn cho một vụ án oan sai kéo dài 20 năm, J. Reid Masters trả lời: “Miễn bình luận.”

 

 

 

17: Một khát vọng cháy bỏng

 

Cũng như không khí, đất và nước, con người cũng sống nhờ lửa.

-George R. Stewart, Lửa

 

Khi xảy ra hỏa hoạn chết người và có người sống sót, người sống sót sẽ bị buộc tội phóng hỏa và giết người

-Gerald Hurst, Tiến sĩ

 

Về bản chất, phóng hỏa là một tội ác khó chứng minh. Trong quá khứ, nó cũng là một tội ác khó bác bỏ. Kẻ phạm tội có thể dễ dàng gây ra hỏa hoạn khi hắn ta đang ở một nơi khác – vật liệu hắn cần dễ dàng kiếm được, và bản thân vụ hỏa hoạn đã thiêu rụi tất cả bằng chứng.

 

Trong cuốn sách Điều tra Hình sự xuất bản năm 1906, Hans Gross đã liệt kê một số tác nhân được sử dụng để nhóm lửa: nến, bùi nhùi tẩm diêm tiêu, và diêm gắn vào đồng hồ báo thức. Ông kể lại rằng ở Mỹ:

 

Một phương pháp đặc biệt nguy hiểm và phổ biến… là sử dụng một chiếc chuông điện thông thường. Phần phát ra âm thanh của chuông được thay thế bằng một quả bóng thủy tinh mỏng chứa đầy axit sunfuric. Búa đập vào quả bóng thủy tinh và làm vỡ nó, axit sunfuric chảy vào một bình chứa đặt bên dưới và chứa đầy hỗn hợp… axit cloric và đường. Hỗn hợp này tạo ra lửa, dễ dàng biến thành hỏa hoạn.

 

Theo Gross, ngày xưa có một cậu trai thợ xay bột đã đốt nhà của một người nông dân mà cậu ta thâm thù. Điều đáng chú ý là phải chín tháng sau khi cậu trai bỏ đi, ngôi nhà của người nông dân, nằm cạnh nhà máy xay bột, mới bốc cháy và thiêu rụi vào giữa trưa, thời điểm mọi người đang làm việc trên đồng ruộng.

 

Điều mà cậu trai ranh mãnh, độc ác kia đã làm là thế này: Đầu tiên, cậu gắn một cái lò xo chắc chắn vào cửa sổ trên mái nghiêng của nhà máy xay. Bằng cách này, khi cửa sổ bật mở, nó sẽ hất bất cứ thứ gì được đặt trên đó xuống mái tranh của nhà nông bên cạnh. Cậu ta giữ cửa sổ đóng lại bằng một sợi dây buộc vào cửa sổ ở một đầu dây và một vòng trên tường ở đầu kia. Sau đó, cậu bịt kín cửa sổ bằng nhựa đường. Tiếp theo, cậu rải một vật liệu dễ cháy dọc theo lối đi bên dưới sợi dây. Rồi cậu gắn một chiếc kính lúp (khi nhận tia nắng mặt trời,  nó sẽ hội tụ vào một điểm và đốt nóng chỗ đó) vào thiết bị của mình sao cho vào một thời điểm nhất định trong năm, các tia nắng mặt trời giữa trưa sẽ tập trung vào vật liệu dễ cháy đó. Phải một năm sau, mặt trời mới ở vị trí mà các tia sáng của nó xuyên qua kính lúp chiếu vào vật liệu này. Khi nó bắt lửa, nó lại đốt cháy nhựa đường và sợi dây. Khi sợi dây cháy, nó giải phóng lò xo, lò xo bật mở cửa sổ và hất nhựa đường đang cháy lên mái nhà của người nông dân.

 

Theo Gross, điều này chứng minh “chỉ cần một chút kỹ năng và sự khéo léo, những điều phi thường nhất cũng có thể xảy ra”.

 

Tội phóng hỏa được định nghĩa là “hành vi cố ý đốt phá tài sản”. Có hơn 300.000 vụ cháy công trình tại Hoa Kỳ mỗi năm. Cục Điều tra Liên bang (FBI) ước tính khoảng 75.000 vụ trong số đó “có nguồn gốc hình sự hoặc đáng ngờ”. Người ta đồng thuận rằng 15 đến 25% các vụ cháy liên quan đến tài sản là do đốt phá. Trong thời kỳ kinh tế khó khăn, con số này tăng lên. Nguyên nhân của các vụ phóng hỏa rất đa dạng, và điều tra viên phải xác định trạng thái tinh thần của kẻ phóng hỏa trước để biết nên tìm hắn ở đâu. Thống kê cho thấy khoảng 90% kẻ phóng hỏa là nam giới, và một nửa trong số đó dưới 18 tuổi.

 

Những động cơ phổ biến nhất của hành vi phóng hỏa là:

 

– Thù hận hoặc trả thù. Việc đốt nhà thờ, giáo đường Do Thái, trường học hoặc trại trẻ mồ côi của một nhóm dân tộc hoặc tôn giáo mà kẻ đốt phá không ưa được coi là tội thù hận. Việc đốt cửa hàng mà bạn vừa bị đuổi việc hoặc nhà của cô gái vừa từ chối tình yêu của bạn là hành vi trả thù. Gần một nửa số vụ đốt phá ở đất nước này có động cơ trả thù.

 

– Lợi nhuận. Sau trả thù, lợi nhuận là động cơ phổ biến thứ hai cho hành vi đốt phá. Có nhiều cách để kiếm lời từ việc đốt cháy tài sản của chính mình hoặc của người khác: thu tiền bảo hiểm; phá dỡ một công trình mà bạn không muốn và thành phố hoặc tiểu bang không cho phép phá dỡ; đuổi những người thuê nhà không mong muốn; tống tiền; và dọn dẹp khu ổ chuột (để bạn có thể xây dựng tòa chung cư cao tầng). Vào những năm 1980, trên những ngọn đồi ở Berkeley, California, một loạt vụ cháy cỏ đã được gây ra bởi một lính cứu hỏa bán thời gian cần tiền làm thêm giờ.

 

– Cảm giác phấn khích. Một số người bị kích thích tình dục khi nhìn thấy lửa. Hầu hết những người mắc chứng cuồng phóng hỏa là nam giới, họ bắt đầu đốt lửa từ khi còn rất nhỏ, có thể chỉ mới tám hoặc chín tuổi. Việc đốt lửa thường mang tính thúc bách – họ đốt lửa nhiều lần ở cùng một địa điểm hoặc cùng một loại địa điểm, vào cùng một thời điểm trong ngày và theo cùng một cách thức.

 

– Lòng ích kỷ. Con người, đôi khi kể cả lính cứu hỏa, thường đốt lửa để tỏ ra anh hùng khi cứu người gặp nguy hiểm hoặc giúp dập tắt đám cháy.

 

– Phản đối xã hội. Một số người quá bức xúc với các vấn đề xã hội hoặc chính trị đến mức họ cho nổ tung các phòng khám phá thai, trạm tuyển dụng quân sự hoặc tòa nhà liên bang với niềm tin sai lầm rằng họ đang thực hiện một dịch vụ xã hội hữu ích.

 

– Che giấu tội ác khác. Sau một vụ giết người hoặc cướp của, còn cách nào tốt để tiêu hủy bằng chứng hơn là đốt cháy chúng?

 

Vì bản thân đám cháy đã tiêu hủy bằng chứng (và cháy càng lâu thì càng phá hủy nhiều), điều tra viên phóng hỏa sẽ cố gắng đến hiện trường càng nhanh càng tốt và sẽ cẩn thận thẩm vấn bất kỳ ai – lính cứu hỏa hay thường dân – đã có mặt ở đó trước đó. Một số điều điều tra viên sẽ muốn biết là: Có bao nhiêu khói vào thời khắc đầu của đám cháy? Màu sắc của ngọn lửa và khói loại gì? Có điều gì bất thường ở căn phòng trong nhà – sự hiện diện của điều gì đó bất ngờ hay sự vắng mặt của điều gì đó được dự đoán trước?

 

Các vật liệu khác nhau khi cháy sẽ tạo ra ngọn lửa có màu sắc khác nhau. Khói cũng sẽ có màu đặc trưng. Xăng và dầu hỏa cháy màu vàng hoặc trắng và thải ra khói đen. Ngoại trừ gỗ đã qua xử lý, gỗ thường cháy màu vàng hoặc đỏ và thải ra khói xám. Nếu có chỗ nào trên tường vừa mới tháo dỡ hai hoặc ba bức tranh, đây có thể là dấu hiệu cho thấy có người đã dự đoán trận hỏa hoạn.

 

Kho tàng kiến ​​thức, quy tắc, châm ngôn và kỹ thuật liên quan đến phóng hỏa và điều tra phóng hỏa đã được tích lũy dần dần qua nhiều năm kinh nghiệm thực tế của lính cứu hỏa và điều tra viên. Nhưng cho đến gần đây, phần lớn kiến ​​thức uyên bác này vẫn chưa được kiểm chứng một cách khoa học. Và khi được kiểm chứng, phần lớn trong số đó hóa ra lại không chính xác.

 

Trong nhiều thập kỷ, lính cứu hỏa và điều tra viên phóng hỏa đã tin (và dạy học viên của họ tin) rằng:

 

– Lửa luôn cháy lên chứ không cháy xuống. Suy cho cùng, hơi nóng luôn đi qua, lên.

 

– Những đám cháy bùng phát rất nhanh thường được tạo ra bằng cách sử dụng chất xúc tác như dầu hỏa hoặc xăng, và do đó là kết quả của hành vi đốt phá.

 

– Lửa sử dụng chất xúc tác cháy nóng hơn lửa thông thường.

 

– Các lỗ cháy riêng biệt trên sàn nhà hoặc các vết cháy không đều trong một phòng hoặc khắp nhà cho thấy có nhiều nguồn cháy xuất phát. Cháy do tai nạn thường chỉ bắt đầu từ một nơi.

 

– Dây đồng hoặc thép nóng chảy là dấu hiệu cho thấy chất xúc tác đã được sử dụng.

 

-Lò xo giường và lò xo đồ nội thất không bị sập trong trường hợp hỏa hoạn thông thường hoặc bất ngờ.

 

 – Các vết phồng rộp trên tường là dấu hiệu của ngọn lửa nóng hơn bình thường

 

– Kính “rạn nứt” với nhiều vết nứt nhỏ không đều là dấu hiệu của ngọn lửa quá nóng.

 

Không điều nào trong số này nhất thiết là đúng, và một số trong đó hoàn toàn sai. Nhưng mãi đến những năm 1990, bằng chứng khoa học phát triển của thời đại mới đã bác bỏ những quan niệm phổ biến lỗi thời. Ngay cả ngày nay, cũng có người vẫn bị xét xử và kết án về tội phóng hỏa và giết người dựa trên những bằng chứng khoa học sai lệch.

 

Vào ngày 20 tháng 10 năm 1991, một đám cháy rừng trên những ngọn đồi ở Đông Oakland, California đã lan sang các khu dân cư lân cận và thiêu rụi gần 3000 ngôi nhà trước khi được dập tắt. Bốn điều tra viên về hỏa hoạn đã quyết định tận dụng thảm kịch này như một cơ hội để kiểm chứng một số quan niệm phổ biến về các vụ cháy do phóng hỏa. Họ ngạc nhiên nhận ra rằng phần lớn những hiểu biết thông thường về các dấu hiệu rõ ràng của phóng hỏa hoàn toàn không đúng. Điều tra viên hỏa hoạn John Lentini, một trong bốn người, đã viết rất nhiều về những phát hiện của họ và trở thành người lên tiếng ủng hộ chúng. Ông thường làm chứng trong các vụ án mà các công tố viên đang cố gắng kết tội ai đó về tội phóng hỏa bằng cách sử dụng bằng chứng hiện được cho là không hợp lệ.

 

“Kính nứt” được cho là dấu hiệu của việc sử dụng chất tăng tốc. Nhưng hóa ra không phải vậy. Một ngọn lửa rất nóng sẽ làm kính tan chảy nhưng không nứt. Các nhà điều tra đã tìm thấy kính nứt trong những ngôi nhà nằm ngoài vùng cháy ở Oakland Hills. Tất cả chúng là những ngôi nhà bị đội cứu hỏa phun nước. Hóa ra sức nóng từ đám cháy không chỉ làm nứt kính. Vết nứt xuất hiện khi kính bị dội nước lạnh lúc trời rất nóng.

 

Vậy thì lời khai của “chuyên gia” từng khiến nhiều người phải vào tù trong nhiều năm qua là sai. Việc đốt lửa không gây ra kính vỡ, nhưng việc cố gắng dập lửa thì có.

 

Các nhà điều tra cũng phát hiện ra rằng dây đồng nóng chảy thường được tìm thấy trong hầu hết các ngôi nhà ở Oakland, và một số cuộn thép (lò xo giường) dường như đã mất khả năng tôi luyện – vốn được cho là chịu được nhiệt độ cao kéo dài – thực ra lại mất khả năng tôi luyện ở nhiệt độ khá thấp. Và một số cuộn dường như đã tan chảy, cho thấy nhiệt độ cao bất thường, thực ra đã bị oxy hóa mạnh bởi nhiệt. Chúng dường như bắt chước hiện tượng tan chảy trừ khi được kiểm tra dưới kính hiển vi.

 

Một hiện tượng mà các điều tra viên hỏa hoạn trước đây đã bỏ sót hoặc không tính đến là hiện tượng “cháy lan”. Khi đám cháy bùng phát trong một không gian tương đối kín, chẳng hạn như một căn phòng, nhiệt và khí sẽ bốc lên trần nhà và tích tụ ở đó cho đến khi đạt đến điểm tới hạn. Sau đó, chỉ trong một chớp lửa gần như tức thời, toàn bộ căn phòng bốc cháy. Thông thường, căn phòng sẽ cháy từ trần nhà xuống, chứ không phải từ sàn nhà. Hiện tượng này có thể xảy ra chỉ trong vài phút, gây ra đám cháy bùng phát nhanh chóng mà không cần sự hỗ trợ của chất xúc tác hay nhiều điểm bắt nguồn.

 

Đêm 7 tháng 4 năm 2003, Rose Kate Roseborough đang ngủ trên ghế sofa trong phòng khách nhà mình ở Ashland, Ohio thì một đám cháy bùng phát ở tầng trên, nơi hai cô con gái sinh đôi mười một tháng tuổi của cô, Lucie và Julia Bursley, đang ngủ. Cô cố gắng chạy đến phòng của hai cô con gái để cứu chúng, nhưng khói và nhiệt độ quá cao. Cô vừa chạy vừa la hét thảm thiết, không thể với tới điện thoại vì nó đã bị bỏ quên ở tầng trên trong phòng của hai cô con gái. Một người hàng xóm đã gọi cho sở cứu hỏa, nhưng đã quá muộn để cứu cặp song sinh, chúng đã chết thảm trong đám cháy.

 

Kevin Rosser, kỹ thuật viên y tế khẩn cấp, nghe cuộc gọi đã đến nơi, tuyên bố đã nhìn thấy “bồ hóng hạt lớn” trên mặt Roseborough tại hiện trường. Sau đó, cô bị bắt và bị đưa ra xét xử vì tội phóng hỏa và hai tội danh giết người. Rosser, tự nhận mình có chuyên môn về giám định hỏa hoạn, đã làm chứng rằng vì bồ hóng hạt lớn chỉ hình thành khi đám cháy bắt đầu, nên Roseborough hẳn đã tự mình gây ra hỏa hoạn. Luật sư bào chữa đã yêu cầu một phiên điều trần theo luật Daubert (một phiên điều trần về tính hợp lệ của các tuyên bố khoa học được đưa ra trong lời khai), nhưng yêu cầu của ông đã bị từ chối. Khi bác bỏ yêu cầu này, thẩm phán xét xử đã trích dẫn một vụ án mà ông gọi là Tomlinch, kết luận rằng “rất dễ nhận ra anh ta đã chặt đứt ngón tay cái của mình; anh ta đã chặt đứt ngón tay cái của mình vì nó đã biến mất.” Roseborough bị kết án tù chung thân không được ân xá.

 

May mắn cho Roseborough, luật sư của cô đã tìm được một chuyên gia thực thụ trước khi cô kháng cáo. Tại phiên tòa ngày 23 tháng 4 năm 2008, Gerald Hurst, một chuyên gia về hóa học và động lực học hỏa hoạn, đã làm chứng rằng nhân viên cứu thương Rosser đã sai. Thực tế, trong một vụ cháy phòng, sự cạn kiệt dần oxy và việc tích tụ bồ hóng khiến các hạt bồ hóng lớn hình thành ở giai đoạn cuối của đám cháy, chứ không phải ở giai đoạn đầu. Hurst làm chứng rằng không chỉ nhiều chuyên gia khác cũng chia sẻ kiến ​​thức này, mà bất kỳ ai có bằng thạc sĩ hóa học cũng có thể tìm ra lời giải. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2009, phán quyết ban đầu đã bị tòa phúc thẩm hủy bỏ, và một phiên tòa mới được mở ra cho Roseborough.

 

Sau khi di cư từ Hàn Quốc, Han Tak Lee, vợ Esther và hai con gái định cư tại Queens, New York, nơi Lee điều hành một cửa hàng quần áo. Con gái lớn của Lee, Ji Yun, mắc bệnh tâm thần và từng có ý định tự tử. Vào thứ sáu, ngày 28 tháng 7 năm 1989, Lee và Ji Yun đã cãi nhau to về việc cô ấy từ chối uống thuốc. Sau đó, khi Ji Yun ném một chiếc đồng hồ qua cửa sổ lưới, cảnh sát và mục sư của nhà thờ Ngũ Tuần của Lee đã được triệu tập đến căn hộ. Mục sư đề nghị Lee đưa Ji Yun đến Trại Hebron, một nơi tĩnh tâm tôn giáo do Hội Thánh Đức Chúa Trời Hàn Quốc ở Stroud Township, Pennsylvania điều hành.

 

Ngay hôm đó, Ji Yun đã cùng cha đến Trại Hebron, sau đó là mẹ và em gái. Đêm đó, cô bé lên cơn la hét, và hai mục sư ở trại phải giúp Lee khống chế cô bé. Vài giờ sau, cabin gỗ của gia đình Lee bốc cháy.

 

Khi đội cứu hỏa đến, bên trong cabin đã bốc cháy hoàn toàn và lửa phụt ra ngoài cửa sổ. Han Tak Lee ngồi trên một chiếc ghế dài cách đó không xa, lặng lẽ nhìn vào khoảng không. Hoặc, như Sở Cảnh sát Stroud Township đã ghi lại trong báo cáo, Lee “vẫn ngồi đó một cách thản nhiên trong suốt đám cháy.”

 

Trong lời khai với cảnh sát, Lee khai rằng mình ngủ thiếp đi sau khi cầu nguyện cả đêm. Ông bị đánh thức bởi mùi khói và thấy phòng ngủ của con gái đang bốc cháy. Ông chạy ra ngoài xem con gái có ở đó không, nhưng không thấy. Sau đó, ông chạy trở lại vào trong, ném vali của họ ra ngoài cửa và đập cửa phòng tắm. Không thấy con gái trả lời. Cuối cùng, choáng váng vì khói, ông chạy ra cửa sau.

 

Cảnh sát Thomas Jones thuộc Đội Tuần tra Tiểu bang Pennsylvania là điều tra viên chính của vụ việc. Báo cáo của anh cho biết thi thể bé gái được tìm thấy ở hành lang cabin, và “Gần cửa sau của hành lang này, người ta quan sát thấy một vết tràn hoặc dòng chảy. Lúc này, người ta phát hiện bộ lọc nhiên liệu trên lò sưởi đã bị can thiệp và tháo rời, khiến nhiên liệu tràn ra sàn.”

 

Bản báo cáo tiếp tục nói rằng “Cửa sổ trên bức tường phía sau có vết nứt rất nhỏ trên kính và đã bị cháy sạch.” Hơn nữa, “các vết đổ và vết cháy xém sâu” đã được tìm thấy trên

sàn nhà ở nhiều nơi “không phù hợp với đám cháy thông thường”.

 

Còn về Han Tak Lee, ông “gần như vô cảm và không hề có ý định an ủi vợ mình trước mặt viên sĩ quan này.”

 

Ngày 4 tháng 8 năm 1989, Han Tak Lee bị dẫn độ khỏi nhà riêng ở New York để trả lời các cáo buộc phóng hỏa và giết người được đệ trình chống lại mình chắc hẳn tại Stroud Township, Pennsylvania. Tiểu bang đã triệu tập một số nhân chứng chuyên môn chống lại Lee. Người đầu tiên là Daniel Aston, một chuyên gia phòng cháy chữa cháy được chứng nhận. Tiểu bang đã dựa gần như hoàn toàn vào những phát hiện trong báo cáo ngày 20 tháng 12 năm 1989 của ông để đưa ra phán quyết. Aston đã so sánh dòng thời gian của vụ cháy, khi ông tái hiện lại, với một biểu đồ thời gian/nhiệt độ tiêu chuẩn được phát triển vào năm 1918. Mặc dù đường cong trên biểu đồ này ban đầu được dùng để mô tả hoạt động của một lò nung dùng để kiểm tra khả năng chịu lửa của nhiều loại vật liệu khác nhau, nhưng bằng cách nào đó, nó đã được đưa vào ít nhất một cuốn sách giáo khoa tiêu chuẩn như một phương tiện để xác định xem một vụ cháy có “bình thường” hay không. Như chuyên gia phòng cháy chữa cháy John Lentini đã nói, “Mặc dù nhiều thí nghiệm trên các vụ cháy thực tế cho thấy… đường cong thời gian/nhiệt độ này không liên quan gì đến thực tế”, nhưng nó vẫn là một phần quan trọng trong quá trình tái hiện vụ cháy của Aston.

 

Aston đã gán tổng trọng lượng 7.788,28 cân cho lượng “vật liệu dễ cháy loại A” trong cabin. Ông thực hiện điều này bằng cách cộng trọng lượng ước tính của các vật dụng trong cabin – ghế sofa (60 cân), thảm (386,9 cân), nệm (32,85 cân), v.v. Sau đó, ông xác định hàm lượng năng lượng của trọng lượng nhiên liệu này, đưa ra một vài giả định sai lầm về cách gỗ cháy, và tạo ra một bảng so sánh tốc độ cháy “bình thường” của một cấu trúc như vậy với tốc độ cháy “thực tế” của cabin. Ông kết luận rằng điều này không chỉ đòi hỏi toàn bộ 62 gallon nhiên liệu đã mất  trong bình nhiên liệu của cabin (giả sử bình đã đầy) mà còn cần thêm 12,2 cân xăng. Nếu Aston đúng, cabin hẳn đã ngập trong chất lỏng dễ cháy khi đám cháy bùng phát. Và theo Aston, cabin đã bị cháy nặng hơn 81,6% so với “bình thường”.

 

Khi được hỏi đã điều tra bao nhiêu vụ cháy, Aston trả lời: “Có lẽ trong sự nghiệp của mình, tôi đã chứng kiến ​​khoảng 15.000 vụ cháy mà tôi được gọi đến để xác định nguyên nhân.” Aston đã làm giám định viên hỏa hoạn bán thời gian khoảng 20 năm. Và nếu chúng ta xem xét con số của ông một cách nghiêm túc, điều đó có nghĩa là ông đã điều tra trung bình 15 vụ cháy mỗi tuần, bên cạnh công việc thiết kế hệ thống phun nước chữa cháy ban ngày. Theo John Lentini, một điều tra viên hỏa hoạn bận rộn toàn thời gian có thể điều tra 15 vụ cháy mỗi tháng. Luật sư bào chữa đã không tính toán và không phản biện Aston về những con số ông ta đưa ra.

 

Cũng tin chắc rằng vụ hỏa hoạn là do cố ý gây ra, luật sư của Lee đã cố gắng chứng minh rằng chính Ji Yun đã phóng hỏa để tự tử. Người ta cho rằng nếu Lee phóng hỏa, ông sẽ hoan nghênh giả thuyết này. Thực tế, ông hoàn toàn không hài lòng với điều đó — con gái ông sẽ không tự tử vì điều đó trái với tôn giáo của cô ấy.

 

“Theo lẽ thường, các vị biết rằng vụ cháy này được gây ra một cách hiệu quả,” công tố viên quận bắt đầu phần tóm tắt của mình trước bồi thẩm đoàn. “Kẻ nào gây ra vụ việc này đều biết rõ mình đang làm gì.”

 

Thật không may, “lẽ thường” không có tác dụng gì khi bạn không biết gì về chủ đề này. Trên thực tế, bồi thẩm đoàn đã dựa vào lời khai của ba “chuyên gia” đáng ngờ:

 

Aston, người đã nói thêm trong lời khai của mình rằng “Kiểu vết cháy đen hình cá sấu rõ nét thường cho thấy đám cháy diễn ra rất nhanh, trong khi kiểu vết cháy đen hình cá sấu mờ nhạt cho thấy đám cháy diễn ra rất chậm.” Trên thực tế, kiểu dạng cháy đen  trên tường không hề cho thấy tốc độ của đám cháy.

 

Cảnh sát Jones, người đã thông tin sai cho bồi thẩm đoàn về tầm quan trọng của mảnh kính vỡ (lời khai mà Aston đã trích dẫn và củng cố) cũng đã làm chứng rằng việc thiếu giao tiếp giữa nhiều lỗ cháy trên sàn cho thấy đám cháy được cố ý gây ra. Thực tế, điều này có nghĩa là mái nhà đã bị sập.

 

Một nhà hóa học tên là Thomas Pacewicz đã làm chứng rằng một “lượng lớn” xăng đã được tìm thấy. Khi bị đối chất, hỏi tại sao báo cáo bằng văn bản của ông không đề cập đến xăng, Pacewicz trả lời rằng đó là vì “không có đủ lượng chất xúc tác để thiết bị của chúng tôi có thể xác nhận được”. Vậy thì một “lượng lớn” xăng vẫn chưa đủ để xác nhận bằng thiết bị của ông sao?

 

Han Tak Lee bị kết tội giết người vào ngày 17 tháng 9 năm 1990 và bị tuyên án tù chung thân. Nhiều đơn kháng cáo đã bị bác bỏ. John Lentini, người điều tra vụ án, đã nói về vụ án này như sau:

 

Chất lượng bằng chứng do Khối Lợi ích Nhóm đưa ra đã tự nói lên tất cả. Lượng nhiên liệu được tính toán đến sáu chữ số có nghĩa, “phạm vi” hydrocarbon được diễn giải là bằng chứng của một hỗn hợp, hướng dẫn vận hành lò được chào hàng là hành vi cháy bình thường, và một loạt “chuyện bà già” khác đã được sử dụng để kết tội Han Tak Lee.

 

Đồng tình với Lentini, David M. Smith, cựu điều tra viên về bom và đốt phá ở Tucson, Arizona, cho biết: “Đó là một ví dụ hoàn hảo về một hệ thống hoạt động hỗn loạn.”

 

Khoảng bốn giờ sáng thứ Hai, ngày 30 tháng 6 năm 1986, một vụ hỏa hoạn đã xảy ra tại căn hộ ở ngoại ô Cleveland, Ohio, nơi bé Cynthia Collins, hai tuổi, đang ngủ. Kenny Richie, bạn trai 21 tuổi của mẹ bé, đang trông bé Cynthia trong khi mẹ bé đi chơi với bạn. Anh ta đang ngủ và say xỉn ở phòng bên cạnh. Bé gái đã tử vong trong vụ hỏa hoạn.

 

Ngày hôm sau, Trợ lý Cảnh sát trưởng Cứu hỏa Tiểu bang Robert Cryer quyết định rằng vụ cháy là do đốt phá – ông tin rằng một số vết cháy trong căn hộ cho thấy việc sử dụng chất xúc tác. Việc tìm kiếm các thùng chứa chất xúc tác rỗng không phát hiện ra điều gì. Tuy nhiên, Richie bị buộc tội giết người nghiêm trọng với giả thuyết rằng anh ta đã tìm cách giết bạn gái cũ, Candy Barchet, và bạn trai mới của cô ta, Mike Nichols, người sống ở căn hộ bên dưới. Một nhà hóa học pháp y của tiểu bang đã làm chứng rằng sắc ký khí từ Phòng thí nghiệm Tội phạm Đốt phá Ohio cho thấy cặn xăng trên một mẫu thảm phòng khách, và một mẫu gỗ từ ban công cho thấy sự hiện diện của chất pha loãng sơn. Vì khoảng trống giữa các tấm ván bị cháy nhiều hơn mặt trên của các tấm ván, ông kết luận rằng chất xúc tác lỏng đã chảy vào các vết nứt.

 

William Kluge, luật sư do tòa án chỉ định của Richie, với ngân sách chỉ 3.000 đô la cho lời khai chuyên môn, đã thuê L. Gregory DuBois của công ty CTL Engineering. DuBois không có kinh nghiệm hay chứng nhận trong điều tra phóng hỏa, không phỏng vấn cảnh sát trưởng cứu hỏa, và cũng không tự mình thử nghiệm các mẫu mà tiểu bang sử dụng để chứng minh cho tuyên bố của mình. Thêm vào ý kiến ​​của cảnh sát trưởng cứu hỏa là lời khai của Peggy Villearreal, người hàng xóm bên cạnh, khai rằng cô đã nghe thấy Richie đe dọa đốt cháy tòa nhà chung cư.

 

Bất chấp bằng chứng rõ ràng, không thể chối cãi rằng Richie đã cố gắng tuyệt vọng để vào phòng ngủ cứu đứa trẻ, Richie vẫn bị kết án và bị đưa đến phòng tử hình ở Ohio, nơi anh ta ở lại đó trong hai mươi năm tiếp theo.

 

Năm 2005, Tòa Phúc thẩm Liên bang Khu vực 6 đã phát hiện ra rằng “việc luật sư xử lý không đủ năng lực đối với chuyên gia pháp y duy nhất trong vụ án này đã không đáp ứng được nhiều tiêu chuẩn nghề nghiệp được chấp nhận”. Tòa án ra lệnh rằng Tiểu bang Ohio phải xét xử lại Richie trong vòng chín mươi ngày hoặc trả tự do cho anh ta.

 

Tòa án được biết rằng sau khi bị kết án, Peggy Villearreal đã thay đổi lời khai và nói rằng cô chưa bao giờ nghe Richie dọa đốt bất cứ thứ gì. Cô cũng nhớ rằng cô bé Cynthia có thói quen chơi diêm và đã từng đốt diêm cháy lan đến ghế sofa. Nhưng yếu tố chính dẫn đến phán quyết của tòa án là lời khai của một số chuyên gia pháp y cho rằng bằng chứng về hành vi phóng hỏa được trích dẫn tại phiên tòa là không chính xác. Tony Café, một chuyên gia về phóng hỏa người Úc, người tin rằng một bài báo của ông đã bị các chuyên gia bên công tố hiểu sai và bị trích dẫn sai tại phiên tòa, đã đệ đơn xin bảo vệ quyền lợi của luật sư (amicus brief) để cố gắng làm rõ sự việc. Ông chỉ ra rằng hiện tượng phóng điện bề mặt có thể khiến đám cháy trông như thể đã sử dụng chất xúc tác, và hơn nữa, ngay cả khi không có chất xúc tác, khoảng cách giữa các tấm ván vẫn cháy nhiều hơn bề mặt vì có nguồn cung cấp không khí dồi dào thoát ra qua các khe hở. Về sắc ký đồ cho thấy xăng trên thảm: “Tôi không thấy bất kỳ bằng chứng nào trong sắc ký đồ cho thấy sự hiện diện của chất xúc tác. Nói một cách đơn giản, sắc ký đồ của các mẫu từ mảnh vỡ đám cháy không giống với sắc ký đồ từ xăng tiêu chuẩn hoặc chất pha loãng sơn tiêu chuẩn.”

 

Và nếu điều đó vẫn chưa đủ thuyết phục, Café đã nói thêm:

 

Tôi chắc chắn rằng hầu hết các nhà khoa học pháp y hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này sẽ vô cùng kinh hoàng nếu họ nhìn thấy những sắc ký đồ dùng để kết tội Kenny Richie. Nếu Kenny Richie bị hành quyết dựa trên bằng chứng khoa học này, thì những sắc ký đồ này sẽ trở thành tài liệu lịch sử, được các nhà khoa học trên toàn thế giới kiểm tra và sử dụng để chứng minh bằng chứng pháp y có thể sai lệch đến mức nào. Đó sẽ là một thảm kịch lớn cho tương lai của khoa học pháp y.

 

Tổ chức Ân xá Quốc tế đã lên tiếng, gọi vụ án Richie là “một trong những trường hợp rõ ràng vô tội nhất mà các nhà vận động nhân quyền từng chứng kiến”.

 

Nhưng tiểu bang đã không chịu đầu hàng, và hai năm sau, vào năm 2007, tòa án đã lặp lại phán quyết này. Ohio đã kháng cáo phán quyết đầu tiên lên Tòa án Tối cao, nói rằng vì Richie (thực ra là luật sư của ông) đã không nêu vấn đề “hỗ trợ luật sư không hiệu quả” trong các đơn kháng cáo trước đó, nên giờ đây ông không thể nêu ra. Tòa án Tối cao phán quyết ông có thể và đã chuyển vụ án trở lại Tòa Phúc thẩm Liên bang Khu vực Sáu. Tại đó, Thẩm phán R. Guy Cole Jr. đã viết theo ý kiến ​​đa số rằng “năng lực yếu kém của luật sư bào chữa cho Richie làm suy yếu niềm tin của chúng tôi vào kết quả phiên tòa xét xử ông ta.” Một lần nữa, Tòa án cho Ohio chín mươi ngày để trả tự do cho Richie hoặc xét xử lại anh ta.

 

Lần này, Ohio thả Richie, nhưng không quên một lời trách móc cuối cùng. Richie phải nhận tội “không được tranh cãi” với cáo buộc bỏ mặc trẻ nhỏ và đồng ý không bao giờ quay trở lại Quận Putnam, Ohio. Ngay sau khi được thả, Richie trở về Scotland, mặc dù sau đó anh ta đã trở lại Hoa Kỳ.

 

Những quan niệm cũ về cách lửa cháy và các dấu hiệu báo trước của hành vi phóng hỏa vẫn còn tồn tại. Người ta vẫn bị kết tội phóng hỏa, thậm chí giết người, dựa trên những lý thuyết phi khoa học hoặc đã bị bác bỏ. Khi sách giáo khoa mới được biên soạn và các điều tra viên mới được đào tạo bước vào lĩnh vực này, điều này sẽ dần dần thay đổi. Cho đến lúc đó, người ta sẽ tiếp tục phải đối mặt với nỗi kinh hoàng kép: mất đi người thân yêu và phải chịu trách nhiệm cho cái chết của họ.


Dịch xong ngày 8 tháng 2 năm 2026

 

 

Bình luận về bài viết này