Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 4)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

BỐN

Trời và đất mà người lãnh đạo sáng suốt đã  thuần phục

 

Có phần nghịch lý là khi tự coi mình là một anh hùng dân tộc Triều Tiên đích thực dưới sự chỉ huy của Cộng sản Trung Quốc vào những năm 1930, Kim Il-sung vào những năm 1940 đã bổ sung thêm một nhà tài trợ khác. Ông sống sót sau chiến dịch quân Nhật chống lại mình  nhờ nương náu ở Liên Xô dưới sự bảo hộ của Liên Xô. Ông mặc quân phục Quân đội Liên Xô. Sau thảm bại của Nhật Bản năm 1945, ông tiếp tục giành được quyền lực chính trị với sự ủng hộ của nhiều người dân Triều Tiên nhưng cũng – một yếu tố quan trọng hơn – từ các tướng lĩnh Liên Xô phụ trách việc chiếm đóng miền Bắc Triều Tiên.

Đó là một món hời có lợi cho cả hai bên. Tuy nhiên, trong quá trình này, ở một mức độ nào đó, Kim đã làm tổn hại đến tư tưởng chủ nghĩa dân tộc của mình trong tâm trí của chính mình và trong tâm trí của một số người dân Triều Tiên. Thay vì chủ nghĩa dân tộc, Kim thích mô tả lập trường của mình là “chủ nghĩa ái quốc xã hội chủ nghĩa” Bất kể thuật ngữ là gì, việc tuân theo mệnh lệnh của Moscow buộc ông phải phục tùng nghiêm ngặt các lợi ích của Triều Tiên trước chủ nghĩa quốc tế cộng sản dù ông có muốn hay không. Điều đặc biệt khó nuốt đối với ông là sự thật rằng chiến thắng trước chủ nghĩa thực dân Nhật Bản không phải do ông tự mình làm ra. Tất cả các vị trí và hành động chính thức của ông không phải là của riêng ông, ngay cả sau khi ông được bổ nhiệm làm người Triều Tiên quyền lực nhất ở nửa phía bắc bán đảo.

Kim coi bất kỳ khuyết điểm nào trong hình ảnh Triều Tiên đầu tiên của mình đều là mối đe dọa đối với quyền lực của mình. Ông quyết tâm chuộc lại những thành tích dân tộc chủ nghĩa đã bị tổn hại của mình. Vì vậy, ông đã viết lại câu chuyện cuộc đời mình để che giấu sự thật về cuộc sống của mình ở Liên Xô trong nửa đầu những năm 1940. Sau đó, ngay cả khi thực hiện chương trình của Liên Xô dành cho Triều Tiên, ông vẫn tìm kiếm cơ hội để chứng minh rằng không có người Triều Tiên nào khác ngang hàng với ông với tư cách là một người yêu nước. Quyết tâm của ông về vấn đề đó đã hình thành nên một vấn đề lớn trong lịch sử rối rắm khiến ông lên kế hoạch xâm lược miền Nam, một hành động mà ông hy vọng – dựa trên những đánh giá sai lầm nghiêm trọng, có thể phát sinh một phần từ nhiệt tình và tự tin quá mức – sẽ thống nhất Triều Tiên và biến nước này thành một quốc gia hùng mạnh có thể chống chọi lại sự xâm lược của các nước láng giềng lớn hơn.

 

Một thời gian sau khi trốn qua biên giới vào Liên Xô, Kim và người của ông được đưa vào Quân đội Liên Xô và gửi đến một trại ở làng Boyazk, ở tỉnh Maritime Liên Xô cách Khabarovsk khoảng 50 dặm về phía tây bắc. Ở đó, họ gia nhập một đơn vị trinh sát quốc tế bí mật của Quân đội Liên Xô. Được chính thức đặt tên là Lữ đoàn Bắn tỉa Độc lập Đặc biệt số 88, nhiệm vụ của nó là trinh sát hơn là chiến đấu. Chỉ huy của Đội 88 là Chu Bảo Trung, một tướng du kích Trung Quốc thuộc Quân đoàn Thống nhất Chống Nhật Đông Bắc, người được phong hàm đại tá quân đội Liên Xô. Kim Nhật Thành, người từng cộng tác với Chu ở Mãn Châu, trở thành đại úy quân đội Liên Xô chỉ huy Tiểu đoàn 1 của Đội 88. Khoảng hai trăm binh sĩ trong tiểu đoàn của Kim bao gồm người Trung Quốc và người Triều Tiên cũng như công dân Liên Xô gốc Triều Tiên.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Kim sau khi đến Liên Xô là viết lịch sử về Đệ nhất Lộ quân của Quân đoàn Thống nhất Chống Nhật Đông Bắc – mà trong số chỉ huy hàng đầu của nó ông là thành viên duy nhất còn sống sót chưa bị bắt. Biên niên sử bằng tiếng Trung Quốc của ông vẫn còn tồn tại trong kho lưu trữ  tài liệu của Bắc Kinh

Theo Kim, kể từ khi còn trẻ ở Mãn Châu, ông đã chế nhạo những người Triều Tiên tin rằng các thế lực nước ngoài nắm giữ chìa khóa giải phóng đất nước của họ. Sự phục tùng của chàng thanh niên Kim đối với Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Trung Quốc, và sau đó là Quân đội Liên Xô, hẳn đã khiến ông ngờ vực về sức mạnh của bất kỳ niềm tin ban đầu nào. Nhưng nếu quan điểm này một phần là do suy nghĩ lại, lấy cảm hứng từ những yêu cầu mang tính chiến thuật trong cuộc đấu tranh sau này của ông với các đối thủ chính trị ở Triều Tiên, thì dù sao nó cũng có tác động đến Kim. Ông đã chứng minh điều đó bằng việc lâu nay từ chối bình luận với người dân Triều Tiên về chuyến lưu trú ở Liên Xô của mình; thay vào đó, ông phát triển và bám chặt vào tuyên bố rằng ông đã tiếp tục cuộc đấu tranh ở Mãn Châu và Triều Tiên cho đến khi thành công trong việc giải phóng quê hương vào năm 1945.

Trên thực tế, việc Kim trốn sang Liên Xô đã cho phép ông ta chờ thời cơ – hóa ra là một cách khôn ngoan – trong khi quân Đồng minh đối phó với Nhật Bản. Trong khi đó, ông có thể tận hưởng những tiện nghi của cuộc sống ổn định trong khi hồi phục sau những vấn đề sức khỏe đã hành hạ ông trong những năm sống trốn chạy. Điều quan trọng nhất là ông vẫn còn sống, một người chơi khả thi, ở vị trí có thể tận dụng chiến thắng của Đồng minh bất cứ khi nào nó xảy ra.

Tập trung vào việc tự bảo vệ mình trước Hitler, Liên Xô vẫn còn hơn ba năm nữa mới tuyên chiến với Nhật Bản – nhưng nước này đã bắt đầu sự chuẩn bị của mình. Nhiệm vụ trước mắt của Lữ đoàn 88 của Quân đội Liên Xô là đưa binh lính vào Mãn Châu và Triều Tiên để do thám quân Nhật. Việc đào tạo nhấn mạnh vào tài thiện xạ, liên lạc qua radio và nhảy dù. Vai trò lâu dài hơn của lực lượng thuộc Lữ đoàn 88 là giúp thiết lập các chế độ cộng sản ở Triều Tiên và Trung Quốc sau sự sụp đổ của đế chế Nhật Bản. Để đạt mục đích này, họ đã trải qua các khóa học chính trị cộng sản nặng nề.

Kim Il-sung nhanh chóng gây ấn tượng với các cố vấn Liên Xô của mình – nhờ bộ óc – không phải cơ bắp. Một số báo cáo nói rằng ông đã được cử đi huấn luyện ở Moscow vào năm 1943 và 1944, có thể đi cùng với chỉ huy của mình, Chu. Yu Song-chol, một công dân Liên Xô thế hệ thứ ba gốc Triều Tiên, được bổ nhiệm làm thông dịch viên tiếng Nga cho Kim vào tháng 9 năm 1943. Yu nhớ lại khoảng thời gian đó trong các cuộc phỏng vấn với nhà nghiên cứu Hàn Quốc Chay Pyung-gil gần năm thập kỷ sau. Yu cho biết ông Kim “gầy và yếu, miệng luôn mở”, có lẽ do tắc nghẽn đường mũi. Kim dẫn quân trở lại vượt biên giới  chỉ với một nhiệm vụ trinh sát thực tế mà Yu biết rõ. Ngay cả trong quá trình huấn luyện trượt tuyết, ông ấy cũng kiệt sức đến mức phải buộc mình với một cấp dưới bằng dây thừng để di chuyển. Yu nói, bất chấp những khuyết điểm về thể chất, Kim “được coi là người có phẩm chất lãnh đạo và sở hữu trí thông minh đặc biệt. Tôi tin rằng đây chính là lý do tại sao ông ấy được người Liên Xô ưa chuộng.”

Đối với cấp dưới của Kim trong Lữ đoàn 88, mối quan hệ của họ với người chỉ huy phụ thuộc rất nhiều vào việc họ có chiến đấu bên cạnh ông ta trước đó hay không. Ông nắm giữ quyền lực đáng kể trong số hai chục du kích Triều Tiên từ Mãn Châu tham gia cùng mình trong Lữ đoàn 88. Theo hồi ức của Yu, những người theo đảng phái cũ “đã đoàn kết với nhau dựa trên tình cảm và tình đồng chí mà chỉ họ mới chia sẻ”. Không giống như họ, Yu ​​và những người dân tộc Triều Tiên khác trong Lữ đoàn 88 được nuôi dưỡng ở Liên Xô “chỉ có thể đối mặt với Kim Il-sung một cách vô cảm, bình thản.” Có lẽ một phần vì lý do đó mà Yu không nhìn thấy ở Kim hình tượng nhân hậu nhất mực được miêu tả trong tuyên truyền sau này của chế độ Bắc Triều Tiên. Yu nhớ lại, Kim “nghiêm khắc và lạnh lùng” với cấp dưới và ông ấy mong đợi một sự phục tùng vô điều kiện.”

Mặt khác, Kim lại “ngoan ngoãn và nhiệt tình với Lữ đoàn trưởng Chu Bảo Trung và các sĩ quan Liên Xô,” Yu nói. Đặc điểm đó có vẻ đúng. Hồi ký của Kim nói rõ rằng nhà cách mạng trẻ mồ côi cha, ngay từ những ngày đầu học cấp hai ở Hoa Điện, đã khơi dậy bản năng làm cha của những người lớn tuổi và cấp trên, những người luôn mong muốn giúp đỡ ông trên con đường đi lên. Trong hơn một thập kỷ sau khi giải phóng, Kim đã đóng vai trò là một tay chân xuất sắc đối với các cố vấn Nga, tâng bốc họ và thực hiện chỉ thị của họ khi họ khen thưởng ông bằng cách ngày càng trao cho ông nhiều quyền lực và quyền tự chủ hơn.

 

Trong khi đó, người Mỹ đang thực hiện hai kế hoạch cho thất bại cuối cùng của đế quốc Nhật. Bom nguyên tử sẽ là con át chủ bài – nếu dự án tối mật Manhattan có thể đạt được kết quả kịp thời. Nếu không, một chuỗi các cuộc xâm chiếm các hòn đảo quê hương của Nhật có thể khiến hàng triệu người Mỹ thiệt mạng. Tại một hội nghị chiến lược tại Yalta ở Crimea thuộc Nga vào tháng 2 năm 1945, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã ép Stalin tham chiến. Một mũi tấn công của Liên Xô vào Mãn Châu sẽ khiến quân Nhật không thể chuyển quân từ Trung Quốc và Mãn Châu trở về các đảo quê hương để tham gia phòng thủ. Mặt trận thứ hai đó sẽ làm giảm thương vong của quân xâm lược khoảng 200.000 người. Moscow đã đồng ý thực hiện một cuộc tấn công như vậy trong vòng hai hoặc ba tháng sau khi Đức đầu hàng, để đổi lấy một số lãnh thổ của Nhật Bản – phía nam Sakhalin và quần đảo Kurile – và được ban cho “phần trội hơn” thời hậu chiến ở Mãn Châu. Do đó, người Nga  đã cam kết “chia sẻ cái giá phải trả bằng xương máu để đánh bại Nhật Bản”.

Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima ngày 6 tháng 8 cho thấy rằng sẽ không cần thiết phải xâm lược Nhật Bản bằng bộ binh và do đó, không cần có sự can thiệp quân sự của Liên Xô. Tuy nhiên, tuân theo nội dung thỏa thuận, Moscow vội vã tham chiến hai ngày sau đó. Trong vòng chưa đầy một tuần còn sót lại trước khi Tokyo đầu hàng, quân đội Liên Xô đã tấn công quân Nhật đang mất tinh thần ở Mãn Châu và Triều Tiên và đánh tan họ, chỉ chịu ít hơn 5.000 thương vong trong quá trình này. Ở Triều Tiên, trận chiến thực sự duy nhất có thể là cuộc tranh giành cảng Chongjin phía đông bắc, nơi các đơn vị hải quân gánh chịu mũi nhọn tấn công lớn.

Quân đội Liên Xô chiếm đóng phần lãnh thổ Triều Tiên ở phía bắc vĩ tuyến 38, theo một thỏa thuận đạt được vội vàng quy định Hoa Kỳ chiếm đóng phần phía nam đông dân hơn của bán đảo Triều Tiên. Mặc dù cả hai đồng minh chiến thắng đều muốn tối đa hóa phạm vi ảnh hưởng của mình trên thế giới thời hậu chiến, nhưng người Mỹ không có sẵn quân đội để đến Triều Tiên ngay lập tức. Lo sợ rằng quân đội Liên Xô sẽ tiến tới tận cực nam của bán đảo và tạo ra sự đã rồi, Washington đã đề xuất đường phân giới. Hai đại tá của Bộ Chiến tranh, Dean Rusk (người sẽ trở thành ngoại trưởng trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam) và Charles Bonesteel, xem nhanh bản đồ và đưa ra đề xuất một đường phân chia. Chia đất nước ở vĩ tuyến 38 để lại cho miền nam thủ đô Seoul, cũng như cố đô Kaesong, vẫn còn là một thành phố quan trọng. Liên Xô giành quyền kiểm soát các cảng Chongjin và Wonsan ở phía bắc Triều Tiên. Moscow muốn chiến tranh kéo dài hơn để có thể chiếm được nhiều lãnh thổ của Nhật Bản hơn – nhưng nhận thấy rằng việc chia cắt này là sự mặc cả tốt nhất mà họ có thể đạt được, trong hoàn cảnh Nhật Bản sụp đổ nhanh chóng một cách bất ngờ.

Trong khi chia phần bán đảo Triều Tiên, cả Washington và Moscow đều không nghĩ đến thực tế rằng đường này sẽ cắt xuyên qua các huyết mạch và động mạch chính của Triều Tiên. Tuy nhiên, khi các cuộc chiếm đóng quân sự bắt đầu, người Mỹ nhanh chóng nhận ra rằng cả hai nửa bán đảo Triều Tiên hiện đang bị tê liệt về tài nguyên. Việc cắt đứt thương mại tại đường phân giới nhân tạo đã tước đi nguồn than và điện được sản xuất ở miền Bắc vốn trước đây cung cấp cho miền Nam, và tước khỏi miền Bắc tương đối cằn cỗi nguồn lúa gạo dồi dào do miền Nam sản xuất. Phát hiện ra điều đó đến quá muộn. Người đứng đầu lực lượng chiếm đóng Mỹ, Tướng John R. Hodge, đã cố gắng một cách vô ích để thỏa thuận một hệ thống nhằm khôi phục dòng chảy kinh tế có trước giải phóng qua vĩ tuyến 38. Thậm chí còn ngần ngại thảo luận về vấn đề này trong một thời gian, chính quyền chiếm đóng của Liên Xô bắt đầu áp đặt sự cô lập của Bắc Triều Tiên khỏi Nam Hàn và thế giới tư bản. Đường ranh giới hành chính nhanh chóng trở thành một rào cản kiên cố.

Một số quan chức Liên Xô rõ ràng nghĩ Kim Nhật Thành là một ứng cử viên đầy triển vọng cho một chức vụ quan trọng trong chế độ mới của Bắc Triều Tiên. Họ có thể trông đợi tận dụng được danh tiếng mà ông đã đạt được đối với người Triều Tiên trong những ngày chiến đấu du kích. Nhưng họ không cho ông cơ hội để đánh bóng tên tuổi của mình hơn nữa bằng cách đóng vai trò quân sự thực sự trong thảm bại cuối cùng của quân Nhật. Mặc dù lực lượng Triều Tiên thuộc Lữ đoàn 88 dự kiến ​​sẽ tham gia chiến đấu để giải phóng quê hương, nhưng mọi chuyện đã kết thúc trước khi họ có thể hành động. Quân đội Liên Xô đã giải tán Lữ đoàn 88 và một tháng sau khi Nhật đầu hàng, gửi quân lính Triều Tiên và các thành viên Liên Xô-Triều Tiên tới Bắc Triều Tiên dưới sự chỉ huy của Kim.

Vào thời điểm quân đội đến đất Triều Tiên, đã hơn một tháng trôi qua kể từ khi Nhật đầu hàng. Nhóm người trở về lần đầu tiên cố gắng vào Triều Tiên qua Mãn Châu và thành phố biên giới Sinuiju. Nghe tin quân xâm lược Nga đã cho nổ tung các cầu trên sông Áp Lục trên biên giới Trung-Triều, họ quay trở lại lãnh thổ Liên Xô và thử lại lần thứ hai bằng tàu. Họ rời tàu hải quân Liên Xô Pugachov đỗ tại cảng Wonsan ở bờ biển phía đông Triều Tiên vào ngày 19 tháng 9 năm 1945. Được biết, khi đổ bộ Kim vẫn mặc quân phục đại úy quân đội Liên Xô.

Xem xét từ lời kể của Yu Song-chol ngay cả lúc đó Kim cũng đang cố gắng chỉnh lại lịch sử. Riêng tư, ông dặn dò đồng đội mình rằng, nếu có ai hỏi, họ phải nói rằng Kim Il-sung không nằm trong đoàn đã xuống tại Wonsan mà đã đi riêng biệt. Yu cho rằng điều Kim, vốn nghĩ về danh tiếng của mình như một chiến binh, “muốn che giấu sự thật về việc trở lại Triều Tiên lặng lẽ, khiêm tốn của mình.”

 

Trong việc phân chia hai miền Triều Tiên, vùng chiếm đóng của Mỹ không chỉ có thủ đô mà còn có hầu hết các chính trị gia nổi tiếng của Triều Tiên. Ở khu vực Liên Xô, sự khan hiếm các nhà lãnh đạo Triều Tiên có tầm nhìn cao đã thúc đẩy triển vọng của Kim Il-sung. Chỉ huy chính phủ quân sự ở Triều Tiên, Tướng Ivan M. Chistikov, đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Liên Xô đối với Kim bằng cách đi từ Bình Nhưỡng đến gặp ông sau khi ông đến Wonsan.

Các nhà lãnh đạo chiếm đóng đã bổ nhiệm các thành viên trong nhóm của Kim vào các vị trí an ninh công cộng quan trọng hoặc, trong trường hợp của một số người dân tộc Triều Tiên sỉnh ra ở Liên Xô, làm thông dịch viên cho các tướng lĩnh Liên Xô. Theo lời kể của Yu, họ không giao cho Kim nhiệm vụ ngay lập tức; họ đang dành cho ông một chức vụ còn lớn hơn cả chức cảnh sát trưởng Bình Nhưỡng, mà trước đây họ đã tính giao cho Kim  trong các cuộc thảo luận hồi còn ở trại của Lữ đoàn 88. (Yu nói rằng thay vào đó chức vụ này được giao cho O Jin-u, người cuối cùng đã trở thành quân nhân hàng đầu ở Triều Tiên và giữ chức vụ đó cho đến khi qua đời vào tháng 2 năm 1995. Ο đã theo Kim đi khắp nơi khi còn là một thiếu niên đầy ngưỡng mộ đối với Kim trong khu vực du kích Mãn Châu, đùa giỡn với  khẩu súng ngắn Mauser trong bao súng của người đàn anh trước khi được phép gia nhập đơn vị du kích vào giữa thập niên )

Trong những ngày đầu ở Bình Nhưỡng, Kim thường xuyên trao đổi với các tướng lĩnh Liên Xô khi họ phân vân về việc lựa chọn ban lãnh đạo bản địa để thực hiện các chính sách chiếm đóng để quản lý khu vực miền Bắc. Hiện tại, chính quyền Liên Xô muốn hợp tác thông qua một liên minh bao gồm các phần tử dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản ở miền Bắc. Với tư cách là lựa chọn đầu tiên của họ cho vị trí lãnh đạo trên danh nghĩa, họ đã quyết định chọn Cho Man-sik người theo chủ nghĩa dân tộc được tôn kính rộng rãi.

Trước giải phóng Cho từng là người lãnh đạo phong trào cải cách bất bạo động, chịu ảnh hưởng của Gandhi và Tolstoy. Thay vì cố gắng lật đổ sự thống trị sắt đá của người Nhật một cách vô ích, phe cải cách đó đã lập luận rằng người Triều Tiên nên tập trung sức lực vào giáo dục và phát triển một nền kinh tế tự cung tự cấp để chuẩn bị cho nền độc lập cuối cùng. Trong nhiều năm, vị phó tế giáo phái Trưởng lão Cho đã tự hóa trang cho vai diễn của mình, mặc hanbok, trang phục truyền thống Triều Tiên bằng vải bông, áo khoác ngoài và giày Triều Tiên. Ngay cả danh thiếp của Cho, chính Kim Il-sung cũng lưu ý, được in trên giấy quốc nội như “biểu tượng cho sự bảo trợ của ông đối với các sản phẩm của Triều Tiên”

Là nhà lãnh đạo của những người cộng sản Bắc Triều Tiên từng phục vụ ở Liên Xô theo mệnh lệnh của quân đội Liên Xô, Kim Nhật Thành mới đến đã hội ý với các sĩ quan Liên Xô trong những bữa tối xa hoa tại các nhà kisaenggeisha Triều Tiên (Cho Man-sik cũng có mặt một dịp). Chẳng bao lâu sau, Kim nổi lên như một ứng cử viên rõ ràng cho vai trò cấp cao của chính mình. Vào ngày 14 tháng 10 năm 1945, chưa đầy một tháng sau khi ông đến Bắc Triều Tiên, người dân Bình Nhưỡng được mời tham dự một cuộc mít tinh do Liên Xô tổ chức được coi là “Chào mừng ngày trở lại thắng lợi của Tướng Kim Il-sung”. Sau khi nhân vật có tiếng tăm hơn, Cho, được các sĩ quan Liên Xô thuyết phục, lên miễn cưỡng phát biểu bài diễn văn mở đầu, Kim bước lên bục trong tiếng hò reo của đám đông “Tướng Kim Il-sung muôn năm!”

Kim đọc bài phát biểu do các quan chức Liên Xô chiếm đóng soạn thảo. Trong suốt bài phát biểu, tin đồn bắt đầu lóe lên trong đám đông rằng ông là một kẻ giả danh và một nhân vật bù nhìn của Liên Xô. Người Triều Tiên đã được dạy dỗ để tôn trọng tuổi tác và thâm niên. Cho đến lúc đó họ vẫn tưởng tượng Kim Il-sung là một cựu chiến binh tóc hoa râm. Mới ba mươi ba tuổi và thậm chí trông còn trẻ hơn với bộ vest màu xanh quá nhỏ so với mình và điều mà một khán giả không thân thiện mô tả là kiểu tóc ông giống như “một bồi bàn Trung Quốc”, diễn giả hầu như không có vẻ gì tương xứng với huyền thoại.

Các quan chức Liên Xô đã thăm dò ý kiến ​​khán giả sau bài phát biểu và rất thất vọng trước phản ứng này. Theo một báo cáo, người Nga đã nghiêng về việc biến Kim thành bộ trưởng quốc phòng- vị trí của một con người  mạnh mẽ trong một chế độ do Cho Man-sik đứng đầu trên danh nghĩa. Nhưng sẽ không ổn nếu người dân Triều Tiên tin rằng người Nga chiếm đóng đang cài đặt một kẻ bù nhìn.

Câu trả lời là tấn công trên mặt trận tuyên truyền để củng cố hình ảnh của Kim. Chiến dịch đó đã tìm cách biến tuổi trẻ của ông thành một đức tính tốt. Như một cuốn tiểu sử chính thức sau này đã trình bày công thức, lời hứa về “sự thịnh vượng vĩnh cửu cho nhân dân” được đưa ra một cách thuyết phục không phải bởi “một ông già luôn hồi tưởng lại những vinh quang trong quá khứ mà là một chàng trai trẻ hướng tới tương lai xa.” Theo hầu hết các lời kể, trong thời kỳ đó, Kim tỏ ra một phong thái khiêm tốn, giản dị. Do đó, người Liên Xô quản lý ông không mấy khó khăn để khắc phục những vấn đề về hình ảnh ban đầu của nhà lãnh đạo trẻ hấp dẫn. Đây là mô tả của một phóng viên choáng váng của một tờ báo Nam Hàn đã phỏng vấn ông vào tháng 12 năm 1945:

Nụ cười má lúm đồng tiền, đôi mắt dịu dàng và ánh sáng thiên tài lấp lánh trong đó

… Hãy để tôi trình bày chi tiết về diện mạo của tướng quân. Nước da nâu rám nắng, mái tóc ngắn kiểu hiện đại, đôi mắt hai mí hiền lành, má lúm đồng tiền xuất hiện khi cười – ông ấy là một thanh niên đẹp trai hoàn hảo của tuổi trẻ. chiều cao có lẽ khoảng 1m7 và ông ấy không quá mập mạp. Tính cách phóng khoáng, cởi mở, và vui vẻ khiến mọi người đối thoại cảm thấy như thể mình đã là bạn của ông ấy từ lâu. Thật khó để đoán được tinh thần đầy tham vọng và sự táo bạo của ông được giấu ở đâu. . . Vị tướng sử dụng cách diễn đạt đơn giản và rõ ràng. Bản thân ông ấy là người khiêm tốn, và khi được hỏi liệu ông có ý định trở thành chính khách hay không, ông ấy trả lời rằng mình không phù hợp với một chức năng như vậy. Khi những người trẻ hay sinh viên gọi ông là Tướng quân, ông trả lời: “Không, tôi không phải là Tướng quân mà là bạn các anh. Xin hãy gọi tôi là dongmoo [đồng chí].” Ông ấy yêu thương đông đảo mọi người; trên hết ông yêu thương sâu sắc lớp người trẻ; ông gặp gỡ mọi người một cách ân cần, lắng nghe họ một cách chân thành và trả lời những câu hỏi của họ một cách tử tế. Tướng Kim hiện đang ở giữa nhân dân chúng ta với tư cách là một công dân bình thường. Làm thế nào trí tuệ tuổi trẻ và lòng dũng cảm của ông ấy sẽ thể hiện trong sự phát triển của đất nước chúng ta phải là vấn đề quan tâm lớn của Triều Tiên.

Kế hoạch ban đầu của chính quyền Liên Xô gặp trở ngại khi Cho Mansik tỏ ra mình không phải là một nhân vật bù nhìn dễ bảo. Ông phàn nàn rằng quân chiếm đóng Liên Xô đã tịch thu ngũ cốc cần thiết cho nhân dân Triều Tiên đang đói khát. Cũng vấn đề đó vào tháng 11 năm 1945 đã gây ra các cuộc bạo loạn do sinh viên lãnh đạo ở Sinuiju, mở ra vài tháng đấu tranh thường là bạo lực.

Quan trọng hơn, Cho từ chối thỏa hiệp việc mình yêu cầu được độc lập ngay lập tức thay vì kế hoạch “ủy thác” cho Triều Tiên bởi Liên Hiệp Quốc. Trên thực tế được người Mỹ đưa ra đầu tiên, kế hoạch đó giao việc giám hộ lên đến 5 năm bởi bốn cường quốc Đồng minh – Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh và Trung Quốc thuộc Quốc dân đảng cai trị. Trong thời gian đó người Triều Tiên sẽ học cách tự quản lý đất nước mình. Đề xuất của Mỹ đáp ứng với mối lo ngại về sự mất cân bằng tài nguyên và các tác động tiêu cực khác của việc phân chia Triều Tiên vào khu vực độc quyền của Mỹ và Liên Xô. Sự ủy thác mang lại sự thống nhất cho đất nước và nền kinh tế dưới một chính phủ duy nhất

Tuy nhiên, nhiều người Triều Tiên cảm thấy bị xúc phạm và phẫn nộ trước quan điểm cho rằng họ cần được giám hộ. Ở miền Nam, sự phản đối của phe chủ nghĩa dân tộc cánh hữu như Rhee Syngman và Kim Ku rất dữ dội. Các quan chức Mỹ – kể cả một số người ban đầu đã nghi ngờ về ý tưởng này – đã nhanh chóng tìm cách tránh xa đề xuất ủy thác gây tranh cãi này.  Ở phía Bắc, Cho Man-sik đã bỏ lại sau chủ trương bất kháng cự và tự hoàn thiện đất nước mà mình từng theo đuổi lâu nay. Với việc quân Nhật bị đánh bại, đã đến lúc giành độc lập ngay. Cho không hề quan tâm đến việc hoán đổi bọn cai trị Nhật Bản lấy những ông chủ nước ngoài mới dưới danh nghĩa “ủy thác”.

Tuy nhiên, Moscow từ chối thay đổi lập trường công khai của mình. Lập trường Liên Xô thật lạ lùng. Mặt khác, sự chiếm đóng của Liên Xô trong vài tháng đầu nhìn chung được đánh giá cao về khả năng đáp ứng nguyện vọng của Triều Tiên- đặc biệt khi so sánh với sự chiếm đóng thường đè nặng của Mỹ ở miền Nam. Và các nhà phân tích ở Liên Xô có thể thấy rõ rằng sự ủy thác sẽ làm giảm bớt sự kiểm soát của Moscow ở Triều Tiên, có lợi cho Hoa Kỳ và hai đồng minh phi cộng sản khác.

Vậy thì làm thế nào và tại sao chính quyền Liên Xô lại tự đưa mình và đồng minh cộng sản Triều Tiên của mình vào tình thế không được lòng dân khi tỏ ra ủng hộ “quyền ủy thác”? Một giả thuyết cho rằng người cộng sản cần thời gian để củng cố lực lượng chính trị ở miền Nam nên đã coi thời gian ủy trị kéo dài vài năm mang lại lợi ích cho mình. Học giả Hà Lan Erik van Ree đưa ra một lập luận khác, dựa trên các tài liệu của Liên Xô có được sau khi Liên Xô sụp đổ. Van Ree khẳng định Moscow không thực sự muốn có quyền ủy trị; sự ủng hộ được cho là của họ đối với khái niệm này chỉ đơn thuần là sự ngụy trang và một chiến thuật trì hoãn trong khi họ theo đuổi mục tiêu thực sự của mình: thiết lập một chế độ vệ tinh ở miền Bắc. “Moscow không nóng lòng muốn thống nhất Triều Tiên,” ông nói. Mặt khác, người Mỹ ban đầu ủng hộ việc thống nhất vì tin rằng, miền Nam mà họ kiểm soát có đến 2/3 dân số nên “họ sẽ được lợi nhiều hơn từ sự thống nhất so với người Nga.”

Khi Chiến tranh Lạnh hiện ra lờ mờ, rõ ràng là cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều ưu tiên đảm bảo sự tương thích về ý thức hệ  trong các khu vực tương ứng mà họ chiếm đóng ở Triều Tiên, bất chấp mọi tổn thất đối với khát vọng độc lập và thống nhất của người dân Triều Tiên. Đất nước, miền bắc và miền nam, là “con tôm bị nghiền nát trong trận chiến của cá voi”, theo một câu tục ngữ cổ của Triều Tiên.

Chính quyền Liên Xô vào tháng 1 năm 1946 đã đặt Cho Man-sik vào vòng quản thúc, giải trừ tất cả trừ một vẻ ngoài của chính trị liên minh. Số phận chính xác của Cho vẫn chưa được biết nhưng người ta cho rằng chính quyền đã giết ông sau đó, vào khoảng thời gian diễn ra Chiến tranh Triều Tiên. Các tướng lĩnh Liên Xô đã chuyển sang đặt các tổ chức hành chính và đảng phái chính trị Triều Tiên vào tay những người cộng sản – phần đông người Triều Tiên sẵn sàng nuốt những phản đối mang tính dân tộc chủ nghĩa đối với khái niệm ủy trị, một khi Moscow ra roi.

Một số nhân vật cộng sản, chống Nhật nổi bật có sẵn để lựa chọn. Moscow đã loại trừ một nhóm quá gần gũi với phe cộng sản Trung Quốc. Pak Hon-yong lãnh đạo một nhóm khác, những người cộng sản “nội địa”. Vấn đề của Pak là, giống như hầu hết các chính trị gia hàng đầu thuộc mọi thành phần khác, ông sống ở thủ đô Seoul, và do đó nằm trong vùng chiếm đóng của Mỹ. Pak đứng đầu một đảng cộng sản duy nhất có trụ sở chính ở Seoul, tìm cách lên tiếng cho cả hai nửa đất nước Triều Tiên. Ông cũng tham gia vào một kế hoạch mặt trận thống nhất đầy tham vọng nhằm thu hút những người theo chủ nghĩa dân tộc từ mọi hệ tư tưởng thành một “Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên” tuyên bố tính hợp pháp trên khắp bán đảo. Moscow từ chối hỗ trợ vì lo ngại sự kiểm soát của Liên Xô ở miền Bắc sẽ bị suy giảm trong trường hợp Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên hoặc bất kỳ chính phủ liên Triều nào khác có trụ sở tại Seoul ra đời.

Về phần mình, Kim Il-sung đã tích cực tấn công những tham vọng của Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên trong việc quản lý toàn Triều Tiên. Ông lập luận rằng chính ở miền Bắc Hàn, “những điều kiện thuận lợi đã được tạo ra để xây dựng một đất nước mới”. Ông ấy không đề cập đến khả năng điều này có nghĩa là một quốc gia mới mà vai chính sẽ thuộc về Kim Il-sung chứ không phải Pak Hon-yong.

Kim cũng tấn công Cho Man-sik và những người theo Cho vì đã tham gia cùng “tầng lớp phản động của Mỹ” để phản đối thỏa thuận ủy thác.  Như ông viết trong hồi ký của mình, Kim từ thời sinh viên đã khinh thường những người theo chủ nghĩa cải cách – chính xác là do họ phục tùng sự cai trị của nước ngoài trong thời kỳ mà họ coi là thời kỳ “chuẩn bị” cho độc lập. Ông cố tình ghét việc ám chỉ Triều Tiên là một quốc gia “thấp kém”. Nhưng bây giờ người Nhật đã bị đánh bại và các tướng lĩnh Liên Xô chịu trách nhiệm quyết định người Triều Tiên nào sẽ giành được quyền lực ở Bình Nhưỡng. Bằng cách ủng hộ quyền ủy thác, có thể coi Kim là người đã trao đổi vị trí trong vấn đề chủ nghĩa dân tộc quan trọng này với Cho Man-sik đang thất thế..

Nói một cách trắng trợn, Kim phản đối cả việc thống nhất ngay lập tức (dưới danh nghĩa nước Cộng hòa Nhân dân có trụ sở tại Seoul mà Pak Hon-yong ủng hộ) và nền độc lập ngay lập tức (điều mà Cho đã yêu cầu). Rõ ràng không có ghi chép nào về bất kỳ sự đau đớn nào mà những lập trường này có thể đã khiến trái tim người yêu nước của ông đau khổ. Có lẽ ông lập luận rằng Liên Xô, vốn đã ủng hộ việc giải phóng Triều Tiên trong nhiều thập kỷ, đã giành được sự tôn trọng của ông. Trong mọi trường hợp, có thể thấy phần lớn sự nghiệp sau đó của ông là sự chuộc lỗi kéo dài hàng thập kỷ cho nỗ lực có ý thức, đạt được những thành tích theo chủ nghĩa dân tộc mà ông đã bị vấy bẩn bởi việc nhận lệnh từ Moscow về Cộng hòa Nhân dân, quyền ủy trị và các vấn đề khác. Từ thời điểm này, không phải lúc nào cũng dễ dàng phân biệt được những hành động mà Kim thực hiện xuất phát từ niềm tin chủ nghĩa dân tộc thực sự với những mưu đồ mà ông dự định trước hết là giúp củng cố và mở rộng quyền lực của chính mình.

Kim Il-sung đã trở thành chủ tịch nhánh Bắc Triều Tiên của Đảng Cộng sản Triều Tiên vào tháng 12 năm 1945. Ngày 8 tháng 2 năm 1946, với sự ủng hộ mạnh mẽ từ chính quyền Liên Xô, ông trở thành Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Lâm thời. Điều đó khiến ông trở thành nhà lãnh đạo hành chính hàng đầu của Triều Tiên ở miền Bắc.  Ông sẽ tiếp tục nắm quyền cho đến khi qua đời vào ngày 8 tháng 7 năm 1994, 48 năm 5 tháng sau đó. Do đó, ở một mức độ đặc biệt, như Dae-Sook Suh nhận xét, nghiên cứu về Kim và sự cai trị của ông “là nghiên cứu về Triều Tiên.”

 

Ủy ban Nhân dân lâm thời của Kim nhanh chóng tuyên bố bình đẳng giới, quốc hữu hóa các ngành công nghiệp lớn và quan trọng nhất là tiến hành cải cách ruộng đất quyết liệt. Mặc dù những biện pháp đó đều thể hiện chính sách của Liên Xô do Stalin truyền lại, nhưng có rất ít lý do để tin rằng Kim có những dè dặt lớn về việc thực hiện các cuộc cải cách năm 1946. Chắc chắn chúng mang lại lợi ích chính trị cho ông về mặt chính trị. Đất nông nghiệp thuộc sở hữu của địa chủ Nhật Bản và Triều Tiên đã đến tay hàng trăm ngàn nông dân, phần lớn trong số họ từng là tá điền hoặc chỉ là công nhân nông trại. Việc phân phối lại ngay lập tức đã tạo ra một lượng người dân ủng hộ chế độ mới. “Liệu vùng đất này có phải là của chúng tôi mãi mãi không?” một cựu tá điền đã hỏi Kim khi ông đến thăm làng của người nông dân đó. Người ta tường thuật câu trả lời của vị lãnh đạo mới: “Chính để trả lại mảnh đất này cho các bạn mà các chiến sĩ chống Nhật đã đổ rất nhiều máu.”

Những người có tài sản phản đối việc chuyển giao tài sản của họ cho những người không có tài sản, và những người Triều Tiên yêu nước chống Liên Xô phản đối Kim Il-sung là “con rối” của Moscow. Một tướng Nga báo cáo bạo loạn và khủng bố vào thời điểm đó khiến ông nhớ đến cuộc nội chiến ở quê hương. Một số sự kiện bạo lực đã tiến đến gần Kim một cách nguy hiểm. Bốn ngày trước sắc lệnh cải cách ruộng đất ngày 5 tháng 3 năm 1946, một kẻ ám sát đã ném lựu đạn vào sân ga nơi Kim cùng các quan chức Triều Tiên và sĩ quan Liên Xô khác đang theo dõi lễ kỷ niệm cuộc nổi dậy ngày 1 tháng 3 năm 1919. Một nhân viên bảo vệ Nga bắt được quả lựu đạn bị thương nặng. Vài ngày sau, sát thủ tấn công nhà của người họ hàng và giáo viên cũ của Kim, mục sư Giám lý hội Kang Ryang-uk, Chánh văn phòng Chính phủ lâm thời. Con trai và con gái của Kang và một giáo sĩ đến thăm đã chết trong vụ tấn công. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, chính quyền đã bắt được hầu hết những kẻ âm mưu và đàn áp những người nổi loạn ở miền Bắc khác.

Trong khi đó, rất nhiều công dân bất mãn đã bỏ phiếu bằng đôi chân của mình. Cải cách ruộng đất và quốc hữu hóa ngành công nghiệp đã xua đuổi một tỷ lệ rất lớn những người giàu có và có học thức, những người phẫn nộ với chương trình cộng sản và có thể sẽ tiếp tục phản kháng nếu họ đã ở lại. Ước tính có khoảng một triệu người đã di cư xuống miền Nam tư bản chủ nghĩa. Nhà sử học người Mỹ Bruce Cumings đã lập luận rằng những cải cách triệt để đã đạt được một cuộc cách mạng chỉ sau một đêm trong cơ cấu giai cấp của Triều Tiên: Hầu hết những người Triều Tiên từng thịnh vượng nhờ hợp tác với Nhật Bản giờ đây đã ra đi, sống ở Miền Nam – hoặc nếu họ vẫn ở miền Bắc, họ sẽ bị tước đoạt tài sản và quyền lực. Những gia đình vốn thuộc tầng lớp thấp trong nhiều thế hệ giờ đây đã trở thành tầng lớp trên của xã hội.

Tuy nhiên, một cách khác để xem xét cuộc di cư của những người khá giả và có trình độ học vấn cao hơn là nó  đã tạo ra một khoảng trống về nhân sự hành chính và kỹ thuật có trình độ mà các tầng lớp thấp hơn trước đây đơn giản là không sẵn sàng lấp đầy, bất kể địa vị xã hội của họ có đi lên. Bằng chứng từ Liên Xô cũ cho thấy Liên Xô đã lấp đầy khoảng trống đó trong nhiều năm bằng cách cử các nhân sự Liên Xô đang nắm giữ quyền chỉ huy trong nền kinh tế, chính quyền và đảng. Nhà sử học Kathryn Weathersby đã phát hiện ra rằng phần lớn hồ sơ lưu trữ về quan hệ Liên Xô-Bắc Triều Tiên trong thời kỳ này chứa các thông điệp từ Bình Nhưỡng – thường là từ chính Kim Il-sung – yêu cầu Moscow gửi đến các chuyên gia.

Khi nhà nước tiếp quản khoảng 90% ngành công nghiệp vào năm 1946, nó đặt ra ngoài vòng pháp luật nhiều hành động lạm dụng lao động trong quá khứ. Một luật mới đặt ra tiêu chuẩn giờ làm việc và áp đặt bình đẳng giới trong mức lương. Chính phủ Kim tiến hành theo phong cách kế hoạch kinh tế Xô Viết từ năm 1947. Viện trợ của Liên Xô đổ vào. Chế độ kêu gọi thần dân tinh thần lao động chăm chỉ và nhiệt tình nhằm tỏ lòng biết ơn vì trật tự cũ đã kết thúc và một trật tự mới đã bắt đầu. Chiến dịch Stakhanovite kêu gọi công nhân công nghiệp hy sinh để đạt được năng suất. Một nhóm công nhân nhà máy tàu hỏa được tuyên truyền rộng rãi đã diễu hành với tư cách là “đội quân xung kích ” đi mở lại một mỏ than bị bỏ hoang, để đối phó với tình trạng thiếu than khiến các đoàn tàu không thể chạy được. Một chiến dịch kêu gọi nông dân chuyển một phần lúa thu hoạch được để góp vào chiến dịch  thi đua “yêu nước” bắt chước một nông dân tên Kim Je-won; y được cho là đã rất xúc động trước cuộc cải cách ruộng đất đến nỗi đã quyên góp 30 kiện lúa thu hoạch của mình, chỉ giữ lại số lương thực đủ nuôi sống gia đình trong năm tiếp theo.

Kim Il-sung đã đi khắp nơi để đưa ra “chỉ đạo tại chỗ” cho thần dân của mình. Đến thăm một ngôi làng miền núi vào mùa xuân năm 1947, ông giải thích rằng ngay cả đất nghèo cũng có thể cao sản nếu được bón nhiều phân. Thúc giục nông dân canh tác vùng đất dốc đó, ông khuyên người nghe: “Hãy gặt bông lúa vàng từ mọi ngọn núi”. (Dù ông ấy có nghĩ ra ý tưởng đó ở đâu đi chăng nữa, nếu nó không áp dụng kỹ thuật canh tác ruộng bậc thang thì chính sách đó – điều mà ông đã tiếp tục hàng thập kỷ- thật là ngu ngốc. Cuối cùng nó đã chứng tỏ là thảm họa đối với nền nông nghiệp Triều Tiên.) Tại buổi lễ đốt lò luyện cốc ở Hwanghae năm 1947, lò luyện cốc mà người Nhật hằn học đã phá hư vào thời điểm họ thất trân, Kim đã kêu gọi các công nhân nỗ lực gấp đôi và một lò cao cực kỳ quan trọng cũng đi vào hoạt động trở lại. Ông tuyên bố: “Người dân Triều Tiên có thể làm bất cứ điều gì họ nỗ lực”. Ông khuyên các nhà quản lý nên giải quyết những thiếu hụt về mức sống của người lao động bằng cách thành lập đội tàu đánh cá và vườn rau.

Ở một mức độ nào đó, những nỗ lực nâng cao năng suất thông qua thay đổi thái độ đã có hiệu quả và Triều Tiên đã đạt được sự phát triển kinh tế bùng nổ vào năm 1947 và 1948, đặc biệt là trong ngành công nghiệp nặng. Ví dụ, lò cao Hwanghae được cho là đã được khôi phục trong vòng 4 tháng, mặc dù người Nhật được cho là đã tuyên bố 10 năm nữa nó cũng không thể hoạt động trở lại.

Đó không phải là hiện tượng  chỉ xảy ra ở Triều Tiên. Các vệ tinh Đông Âu mới của Liên Xô vào thời điểm đó cũng đạt được những tiến bộ ấn tượng – tương tự như chính Liên Xô đã có trong những năm đầu đầy nhiệt huyết của chế độ cộng sản. Nhưng một yếu tố đặc biệt có lợi cho miền Bắc là cách nước này được ban tặng phần lớn tài nguyên khoáng sản của bán đảo. Minh chứng cho điều này, một số thành phố trên bờ biển phía đông đã hình thành nên trung tâm công nghiệp Triều Tiên mà thực dân Nhật đã phát triển.

Điều đáng chú ý nữa là, trong thời kỳ này, nhiều thành phần vốn vẫn do tư nhân nắm giữ. Trong khi nhà nước chính thức sở hữu đất nông nghiệp sau cải cách ruộng đất, sự phân phối lại đã đặt nó vào quyền sở hữu của cá nhân người cày – được cho là đến suốt đời. Mặc dù người cộng sản Triều Tiên muốn tập thể hóa hoàn toàn nông nghiệp, các cố vấn Liên Xô đã kiềm chế họ, nhấn mạnh rằng đất nước vẫn chưa sẵn sàng.

Ngay sau khi giải phóng, người miền Bắc đã sống sót sau tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong năm 1948, chế độ này đã tự hào về sản lượng ngũ cốc đạt 1,78 triệu tấn – cao hơn 10% so với mức lớn nhất từng được ghi nhận trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng. Trang trại được cơ giới hóa nhận được nhiều công lao chính thức. Tuy nhiên, đối với nông dân, việc giành được đất mà họ có thể sở hữu có thể đã kích thích nỗ lực và sản lượng cao hơn.

Chiến dịch xóa mù chữ trên toàn quốc đã góp phần phát triển kinh tế đồng thời nâng cao tinh thần của người dân. Đến tháng 3 năm 1949, Triều Tiên tuyên bố là quốc gia châu Á đầu tiên xóa mù chữ hoàn toàn. Đất nước này đã loại bỏ các ký tự tiếng Trung phức tạp để chỉ dựa vào hệ thống chữ viết hangul bản địa, đơn giản và chính xác về mặt ngữ âm.  Nhà nước xây dựng trường học cho cả trẻ em và người lớn. Nửa phía bắc của Triều Tiên không có trường cao đẳng và đại học dưới thời cai trị của Nhật Bản. Khi chế độ miền Bắc thành lập Đại học Kim Il-sung ở Bình Nhưỡng vào tháng 10 năm 1946, nó đã vấp phải sự phản đối của “những phần tử xấu”, họ phàn nàn rằng đất nước chưa xây dựng được những nền tảng phù hợp để xây dựng một cơ cấu giáo dục đại học. Vào thời điểm miền Bắc bắt đầu áp dụng giáo dục tiểu học cưỡng bách vào năm 1950, nước này đã có thêm 13 trường cao đẳng.

Niềm tự hào mà nhiều người Bắc Triều Tiên cảm thấy về sự chuyển đổi của xã hội mình là rất thực tế, như những người nước ngoài từng sống một thời gian ở miền Bắc đã chứng thực. Phóng viên Philip Deane của tờ London Observer, bị bắt vào năm 1950 trong những ngày đầu của Chiến tranh Triều Tiên, vẫn là tù nhân ở miền Bắc gần như suốt thời gian xảy ra xung đột. Sau đó, ông đã chấm phá vào cuốn hồi ký thời bị giam cầm của mình những câu trích dẫn từ người Bắc Triều Tiên bày tỏ niềm tự hào của họ về xã hội mới, không giai cấp và theo quan điểm của họ, công bằng hơn nhiều. Bắc Triều Tiên, “dưới sự hướng dẫn của nhà lãnh đạo và người thầy vĩ đại Stalin của chúng ta, và theo lệnh của Tướng Kim Il-sung, đã giải phóng phụ nữ”, một thông dịch viên ở Bình Nhưỡng khoe khoang trong một cuộc trao đổi. “Mọi người đều được học đọc từ trẻ đến già.”

 

Trong khi nhiều yếu tố thực sự kết hợp lại để tạo ra những thành tựu ban đầu, Kim vẫn vui sướng nhận hết công lao về mình và nhiều người theo ông cũng háo hức vụn đắp điều đó. Đến năm 1947, ông đã trở thành trung tâm của thói sùng bái cá nhân, theo mô hình của Stalin, trong đó ông được hình dung là người sáng suốt, mạnh mẽ, giàu lòng nhân ái và đủ năng lực để tham gia vào hầu hết mọi quyết định quan trọng. Ông được cho là đã giám sát chặt chẽ ngay cả việc sáng tác quốc ca. Có lẽ dựa vào kinh nghiệm chơi đàn organ của nhà thờ, ông đã kêu gọi ủy ban liên quan chèn một đoạn điệp khúc vào giữa các câu nhạc để “cải thiện nhịp điệu và hòa âm của âm nhạc và tăng thêm tính trang trọng cho toàn bộ bài hát, đồng thời truyền cảm hứng cho ca sĩ vào niềm tự hào dân tộc và sự tự tin”. Theo tiểu sử chính thức, “không ai trong số các nhà thơ và nhà soạn nhạc tụ tập ở đó đã nghĩ đến điều này cho đến khi ông chỉ ra.”

Tại các lễ kỷ niệm được tổ chức trên khắp đất nước, Kim đón nhận được sự tín nhiệm trực tiếp, cá nhân và lời tri ân vì công cuộc cải cách ruộng đất. Một lá thư được cho là do dân làng ở tỉnh Bắc Hamgyong viết ca ngợi ông vì đã giải phóng đất nước khỏi quân Nhật và sau đó, thậm chí không được nghỉ ngơi, đã giải quyết vấn đề đất đai của đất nước. Dân làng nói: “Hãy mạnh dạn giao cho chúng tôi bất cứ mệnh lệnh nào của ngài, chúng tôi sẽ không bao giờ thất bại trong việc hoàn thành mệnh lệnh của ngài.”

Những câu chuyện mà chế độ phổ biến bao gồm một câu chuyện về chuyến thăm một ngôi làng, vào thời điểm cải cách ruộng đất, khi Kim gọt vỏ khoai tây luộc nóng và trao một củ khoai tây cho một ông lão. “Lão Pak Jang-ban được trao củ khoai tây đầu tiên, cầm nó trên tay, nức nở, cúi  mái tóc bạc trắng thật sâu. Đột nhiên ông gục đầu vào ngực Lãnh tụ và bắt đầu khóc lớn.” Cả đời ông lão “đã bị đối xử như nô lệ và bị sử dụng như ngựa bò. Bây giờ ông lần đầu tiên được đối xử như một con người – bởi không ai khác ngoài Tướng quân Kim Il-sung, Vị lãnh tụ vĩ đại, đáng kính và yêu quý!” Khi rời đi, Kim dùng bút lông viết tên Pak lên cột cổng ngôi nhà đẹp nhất làng, biến ông già trở thành chủ nhân mới của cơ ngơi của tên địa chủ cũ. Sau đó, Pak “sẽ nói lại với mọi người ông gặp: ‘Kể từ khi thế giới khai sinh, từng có ai giống như Tướng Kim Il-sung chưa?’”

Đây là vấn đề khó khăn đối với một nhà lãnh đạo vẫn còn ở độ tuổi ba mươi. Những bức ảnh chụp thời kỳ đó cho thấy người anh hùng du kích mảnh khảnh, đẹp trai và trẻ trung dần dần phát triển vòng eo và hàm dưới khi quyền lực và bổng lộc đi kèm được mở rộng. Trong khi đó một số người theo dõi kỹ ông đã nhận thấy những dấu hiệu cho thấy quyền lực đang ảnh hưởng đến nhân cách của nhà cai trị trẻ. Nổi lên hàng đầu là sự thèm khát những lời khen ngợi xa xỉ và sự phục tùng tuyệt đối.

Một số nhà phân tích đã nhìn thấy ở nhu cầu đó những dấu hiệu của một mặc cảm tự ti bắt nguồn từ việc Kim không thể học hết cấp hai – trái ngược với truyền thống Nho giáo đã ăn sâu vào văn hóa Triều Tiên là luôn tôn sùng một người có giáo dục chính quy cao, một điều cần thiết thực sự cho một nhà lãnh đạo. Những nhà cách mạng Triều Tiên bị Kim đánh bại để giành quyền lãnh đạo là những người có thâm niên cao hơn ông nhiều năm và không hề thua kém về thành tích cống hiến cho cuộc đấu tranh chống Nhật. Một số người vượt hơn ông về mặt giáo dục và được cho là không ngại nêu lên sự thật đó. Nhưng trong khi yếu tố này có thể có tác động mạnh mẽ hơn, chúng ta nên nhớ lại rằng lòng khao khát được tôn trọng sâu sắc đã trở nên rõ ràng ngay từ những ngày Kim còn là một sĩ quan du kích và sĩ quan quân đội Liên Xô. Và Kim hoàn toàn không phải là người duy nhất về mặt đó. Bất kể trình độ học vấn như thế nào, sẽ rất khó để tìm được một nhà dân chủ thực sự trong số những người ở miền Bắc hoặc miền Nam tìm cách lãnh đạo Triều Tiên sau khi giải phóng. Những cá tính chuyên quyền là nguyên tắc cai trị ở một đất nước không có bất kỳ truyền thống nào về chủ nghĩa tự do hay dân chủ.

Mặc dù Triều Tiên nhanh chóng đưa bộ máy công an vào hoạt động quyền lực cá nhân của  Kim vẫn chưa đến mức tuyệt đối. Trong chế độ, vẫn còn một số nhân vật mạnh mẽ. Nhưng ông phải bằng lòng với tình huống đó trong một thời gian. Trong một cuộc họp năm 1946 nhằm sáp nhập Đảng Cộng sản Triều Tiên của ông với một đảng cánh tả khác để thành lập Đảng Lao động, một người nịnh nọt đứng lên nhận xét rằng Kim Il-sung là “nhà lãnh đạo duy nhất” của Triều Tiên và bất kỳ sự phản đối nào đối với ông đều là phản động và phản bội. Bản thân Kim nói rằng đảng mới cần sự đoàn kết và kỷ luật sắt, điều đó đòi hỏi “một cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống lại tất cả những ai có khuynh hướng đối lập.” Đến mùa thu năm 1948, ông đã hạ gục các đối thủ của mình một cách có phương pháp, loại bỏ họ hoàn toàn hoặc đẩy họ sang một bên để đảm nhận các vị trí thứ yếu. Lần đầu tiên ông không có người ngang hàng.

 

Những người cánh hữu Nam  Hàn đã chiếm được thế thượng phong dân tộc chủ nghĩa bằng cách phản đối chế độ ủy trị, coi Kim và những người cộng sản của ông là công cụ của Moscow. Việc ông nhậm chức với sự hậu thuẫn của Liên Xô có xu hướng xác nhận bức chân dung không mấy tốt đẹp. Đó hẳn là một vai diễn xa lạ và cực kỳ không được chào đón đối với Kim.

Với mong muốn được công nhận là nhà yêu nước hàng đầu của Triều Tiên, Kim đã phản công. Ông nhấn mạnh xuất thân của một số nhà lãnh đạo Nam Hàn đã cộng tác với người Nhật trước khi giải phóng. Cộng tác với người Mỹ lần này, họ đã biến người dân Nam Hàn thành một quần thể nô lệ rách rưới và đói khát, ông buộc tội trong một bài phát biểu vào tháng 6 năm 1946. Trong một bài phát biểu khác vào tháng 8 năm 1946, ông gọi các nhà lãnh đạo cánh hữu miền Nam là bọn thân Nhật, bọn con buôn phản động đã bỏ tù những người yêu nước trong khi những nhà chứa kisaeng (kỹ nữ) ngày càng nhiều. Thường trong thời kỳ này, Kim nói về sự cần thiết phải mở rộng địa vị tạm thời của mình thành một chính quyền khắp Triều Tiên – một “nước cộng hòa của nhân dân dân chủ”, mà ông đã định nghĩa như một chế độ khuynh tả, khác với mô hình tư bản-nghị viện nhìn thấy ở miền Nam. Một khi đã loại bỏ được bọn chống cộng, và theo suy nghĩ của ông bọn không yêu nước, những nhà lãnh đạo ở miền Nam và bọn Mỹ bảo hộ, Triều Tiên phải được thống nhất. Mở rộng quyền cai trị của mình ra toàn bộ bán đảo vẫn là mục tiêu không thay đổi của Kim, chỉ đứng sau việc củng cố và duy trì quyền lực ở miền Bắc, cho đến những ngày cuối cùng trong cuộc đời và sự nghiệp lâu dài của con người vô cùng kiên quyết và bướng bỉnh này.

Những nỗ lực của cộng sản và cánh tả khác nhằm chiếm lấy Hàn Quốc từ bên trong dường như đã đạt được tiến bộ vào năm 1946 nhưng chính quyền chiếm đóng Hoa Kỳ đã sớm ngăn chặn, bắt giữ những nhân vật chủ chốt. Đến năm 1948, cộng sản miền Nam rút về hoạt động ngầm, sử dụng chiến tranh du kích nhằm tìm cách lật đổ lực lượng quân đội và cảnh sát miền Nam. Miền Bắc huấn luyện quân sự cho hơn 2000 người miền Nam và gửi họ vào miền Nam làm du kích. Trong khi đó, Chiến tranh Lạnh gia tăng nhanh chóng đã làm tiêu tan hy vọng thống nhất qua thương lượng giữa miền Bắc do Liên Xô chiếm đóng và miền Nam do Mỹ chiếm đóng – những hy vọng  có lẽ đã không thực tế ngay từ đầu, dựa trên thái độ của cả hai bên.

Trong khi các nhà đàm phán bàn về việc sáp nhập, cả hai bên đều chuẩn bị thành lập các chế độ Triều Tiên riêng biệt trên thực tế. Không muốn bị coi là người gây ra sự chia cắt đất nước, Kim thề sẽ không bao giờ ra tay trước. Vào tháng 4 năm 1948, ông chủ trì một số chính trị gia miền Nam, nhận lời mời của ông tới dự một hội nghị chung phản đối việc tuyên bố các chế độ riêng biệt.

Cuối cùng, miền Nam đã có hành động chính thức trước tiên. Với sự thúc giục của Washington, Liên Hiệp Quốc đã cử một ủy ban để xem xét khả năng tổ chức bầu cử trên toàn bán đảo. Loại bỏ Liên Hiệp Quốc (và không phải vô cớ) như một công cụ của Mỹ, miền Bắc từ chối tiếp nhận các quan sát viên của nó. Phái đoàn LHQ sau đó đã quan sát cuộc bỏ phiếu riêng ở miền Nam.  Rhee giành chiến thắng và chính phủ của ông tuyên bố thành lập Đại Hàn Dân Quốc vào ngày 15 tháng 8 năm 1948.

Miền Bắc đã sẵn sàng. Tháng 2 năm đó, với sự hỗ trợ của Liên Xô và sự giúp đỡ của các đồng chí du kích cũ, Kim đã chính thức thành lập Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Rất lâu trước đó – gần như ngay sau giải phóng – dưới sự bảo trợ của Liên Xô, ông đã bắt đầu phát triển thực sự lực lượng chiến đấu phương Bắc. Ông đã làm điều đó bất chấp những lời chỉ trích từ “các phần tử gây chia rẽ” – một nhãn hiệu  dường như bao gồm bất kỳ người cộng sản nào không đồng ý 100% với Kim – cho rằng không cần có quân đội “khi Bắc Nam chưa thống nhất.” Theo cách mà các nhà tuyên truyền của Kim nhìn nhận, trong việc thành lập Quân đội Nhân dân “người dân Triều Tiên đã phát triển từ một dân tộc bị bắt nạt và khinh thường trở thành một dân tộc mạnh mẽ và có phẩm cách mà không ai có thể coi thường.”

Vào ngày 10 tháng 9 năm 1948, chưa đầy một tháng sau tuyên bố chính thức của Đại Hàn Dân Quốc tại Seoul, người miền Bắc đã thành lập Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, với Kim Nhật Thành là thủ tướng. Cơ quan lập pháp của CHDCND Triều Tiên, Hội đồng Nhân dân Tối cao, bao gồm cả các ghế của “đại diện” miền Nam – thể hiện ý định cuối cùng là hợp nhất miền Nam vào CHDCND Triều Tiên.

Biện pháp chính trị thất bại trong việc thống nhất đất nước, Kim đã xây dựng quân đội của mình thành “lực lượng cách mạng mạnh nhất thế giới”. theo lời của Yu Song-chol, người từng là chỉ huy văn phòng tác chiến của quân đội vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950. Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô và tiến bộ kinh tế trong nước, đây là một lực lượng vũ trang mạnh mẽ hơn nhiều so với miền Nam. Quân đội Nhân dân Triều Tiên đã phát triển trên cơ sở những chỉ huy giàu kinh nghiệm, như ông, trong cuộc đấu tranh chống Nhật. Họ ghen tị với chiến thắng năm 1949 của người Cộng sản Trung Quốc trước phe Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch. Họ khao khát thống nhất Triều Tiên thông qua chiến thắng tương tự trước Rhee của miền Nam.

Ở Seoul, Rhee đang đưa ra những lời đe dọa của riêng mình đối với miền Bắc, bất chấp quyết tâm của Washington ngăn cản ông tiến hành một cuộc xâm lược. Ông tuyên bố vào ngày 1 tháng 3 năm 1950: “Chúng ta sẽ đáp lại tiếng kêu cứu của những người anh em đang gặp nạn của chúng ta, mặc dù một số bạn bè bên kia biển của chúng ta nói với chúng ta rằng chúng ta không được ấp ủ ý nghĩ tấn công con rối nước ngoài đang bóp nghẹt các quyền tự do của người dân chúng ta ở phía bắc.” Rhee cũng háo hức như Kim trong việc thống nhất đất nước, bằng vũ lực nếu cần thiết. Thật vậy, sẽ khó tìm được bất kỳ người Triều Tiên nào nghi ngờ rằng cuối cùng đất nước bị chia cắt sẽ thống nhất dưới hệ thống này hay hệ thống khác. Điều tự nhiên là cả Kim và Rhee đều nhìn thấy một trò chơi có tổng bằng 0, trong đó một hệ thống và một nhóm người lãnh đạo sẽ thắng hoàn toàn, trong khi hệ thống kia sẽ thua hoàn toàn.

Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn là Kim đã chuẩn bị cuộc xâm lược của mình với sự khuyến khích và giúp đỡ của Moscow nơi có quan điểm mở rộng sự cai trị của cộng sản sang miền Nam được coi là một mục tiêu chính sách đáng giá, trong khi Rhee quát tháo vì bị trói chân trói tay bởi chính những người bảo vệ từ Washington. Những lời đe dọa của Rhee chẳng khác nào để làm ra vẻ hiên ngang, nếu xét theo tình trạng chuẩn bị quân sự tương đối kém của miền Nam. Quân đội Mỹ từ chối cung cấp vũ khí hạng nặng, máy bay và thậm chí cả một lượng lớn đạn dược cho Đại Hàn, chính xác là nhằm ngăn cản họ tiến hành một cuộc xâm lược về phía bắc. Tuy nhiên, các cuộc đụng độ vũ trang ở biên giới vẫn nổ ra lẻ tẻ.

Kim Nhật Thành từ lâu đã khởi sự trình bày với Stalin đề xuất của mình về việc xâm chiếm Đại Hàn. Ở Moscow vào tháng 3 năm 1949, Kim nêu lên triển vọng thống nhất Triều Tiên thông qua một chiến dịch quân sự. Kim nói với Stalin rằng người Triều Tiên muốn “chạm vào miền Nam bằng lưỡi lê”, Nikita Khrushchev nhớ lại. “Sau xung lực đầu tiên từ Triều Tiên, sẽ có một vụ bùng nổ nội bộ miền Nam và quyền lực nhân dân sẽ được thiết lập.”  Stalin Khi đó đã bác bỏ đề xuất, các tài liệu của Liên Xô cho thấy việc tấn công vào miền Nam là “không cần thiết”, nhà lãnh đạo Liên Xô cho biết trường hợp duy nhất mà quân đội Triều Tiên phải vượt qua vĩ tuyến 38 là để phản công một cuộc tấn công của Đại Hàn

Vào tháng 8 và tháng 9 năm đó, Kim gửi lời tới Stalin rằng quân Đại Hàn sắp tấn công miền Bắc. Một lần nữa ông yêu cầu lãnh đạo Liên Xô chấp thuận một cuộc tấn công về phía nam. Nó sẽ chỉ được thực hiện nếu miền Nam tấn công trước, bằng một cuộc phản công quyết liệt tương đương, Kim hứa. Tuy nhiên, ông đảm bảo với nhà lãnh đạo Liên Xô rằng Triều Tiên có thể chiếm toàn bộ bán đảo “nếu tình hình quốc tế cho phép” – có lẽ ám chỉ đến câu hỏi liệu Hoa Kỳ có can thiệp hay không

Giới lãnh đạo Liên Xô vào ngày 24 tháng 9 đã từ chối chấp thuận vào thời điểm hiện tại, nói rằng quân đội Triều Tiên chưa đủ mạnh và chưa có đủ cơ sở để chiêu mộ người miền Nam lật đổ chính phủ của họ. Bên cạnh việc tăng cường xây dựng lực lượng Bắc Triều Tiên, Bộ Chính trị Liên Xô kêu gọi nỗ lực tối đa để “phát triển phong trào du kích, thành lập các vùng giải phóng và chuẩn bị cho một cuộc tổng nổi dậy vũ trang ở Đại Hàn nhằm lật đổ chế độ phản động.”

Kim thử lại vào ngày 19 tháng 1 năm 1950, cho rằng đấu tranh giữa các đảng phái sẽ không đủ. Ông cầu xin được phép noi gương những người Cộng sản Trung Quốc, những người vừa giành chiến thắng trong cuộc nội chiến ở đại lục. Kim phàn nàn rằng Rhee không cho mình cái cớ cần thiết để phản công. Ông muốn được phép tung quân đội của mình tấn công trước. Kim khẳng định rằng thành tích chủ nghĩa dân tộc của chính mình đang bị đe dọa: “Gần đây tôi không ngủ hàng đêm, suy nghĩ làm thế nào để giải quyết vấn đề thống nhất đất nước. Nếu vấn đề giải phóng người dân miền nam Triều Tiên và sự thống nhất đất nước bị trì hoãn,  tôi có thể đánh mất lòng tin của người dân Triều Tiên.” Stalin, lưu ý rằng một nỗ lực như vậy “cần sự chuẩn bị kỹ lưỡng” và nhấn mạnh rằng nó “phải được tổ chức để không xảy ra rủi ro quá lớn”, trả lời ngày 30/1 rằng ông ta sẵn sàng tiếp Kim để bàn bạc vấn đề.

Kim đã đến Moscow vào cuối tháng 3, ở lại đến tháng 4. Khrushchev đã ghi lại trong nhật ký của mình một câu chuyện về bữa tối mà ông tham dự do Stalin tổ chức cho Kim tại nhà nghỉ của mình. Ở đó, nhà lãnh đạo Triều Tiên đưa ra chủ đề rằng sự thống nhất Triều Tiên là điều cần thiết vì sự phù hợp kinh tế tự nhiên của miền Bắc và miền Nam. Bất chấp lợi thế của miền Bắc về tài nguyên khoáng sản, 4/5 lãnh thổ của miền Bắc bao gồm núi non và cao nguyên và đất nông nghiệp chủ yếu là ruộng khô cằn. Miền Nam sở hữu hầu hết đất trồng lúa nước và khí hậu thuận lợi cho việc trồng trọt, chưa kể nguồn thủy sản dồi dào. Kim khẳng định, việc gắn kết miền Bắc và miền Nam lại với nhau là công thức để xây dựng một đất nước hùng mạnh.

 

Trong chuyến thăm đó, Stalin – tính đến “tình hình quốc tế đã thay đổi” – đã chấp thuận cuộc xâm lược trên nguyên tắc. Một thông điệp của Stalin gửi Mao Trạch Đông, xác nhận chính sách này, không đề cập đến những thay đổi nào trong tình hình quốc tế đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của Stalin. Rõ ràng là chính sách mới mà Washington đã phát triển là động lực cho quyết định của Stalin.

Sau Thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ đã cắt giảm quy mô quân đội của mình một cách nhanh chóng – theo ý kiến của nhiều người sau này. Vào ngày Nhật Bản đầu hàng có tới 12 triệu người Mỹ mặc quân phục trong các lực lượng vũ trang khác nhau. Những gia đình của họ nhanh chóng yêu cầu Washington “đưa các chàng trai về nhà.” Chú ý đến những lời kêu gọi đó, và cũng để cắt giảm ngân sách, Quốc hội thúc đẩy mức giảm sâu chỉ còn để lại một quân đội thường trực bằng một phần nhỏ lực lượng của quy mô thời chiến. Với việc cắt giảm quân sự được tiến hành,  các nhà quy hoạch phải gãi đầu suy nghĩ nhằm tìm ra nơi cần thiết nhất để đóng số quân ít ỏi còn lại. Vì mối bận tâm chính của họ là một cuộc chiến toàn cầu khác, lần này chống lại Liên Xô và các nước cộng sản khác, châu Âu đứng ở vị trí cao trong danh sách. Nhưng khoảng 40.000 lính Mỹ ở Triều Tiên có nhiều khả năng gây bối rối hơn là lợi thế chiến lược tiềm năng một khi Thế chiến thứ ba xảy ra, vì họ có thể dễ dàng bị tràn ngập hoặc buộc phải rút khỏi đất nước Đại Hàn trong nhục nhã.

Năm 1948, Liên Xô – tin tưởng rằng Quân đội Nhân dân Triều Tiên đã được huấn luyện bài bản – tuyên bố sẽ rút toàn bộ quân vào năm đó. Bất chấp cảnh báo rằng Hoa Kỳ đang lên kế hoạch cho một cuộc chiến sai lầm, và phải ém lại một số quân để ngăn chặn cuộc xâm lược tiềm năng của Triều Tiên,  tất cả lực lượng tác chiến của Hoa Kỳ đã rút khỏi Triều Tiên vào cuối tháng 6 năm 1949. “Chúng ta dường như không muốn dính líu đến đất nước này, vậy mà chúng ta đã cắm cờ, ” như David Halberstam đã viết. “Thế kỷ của nước Mỹ sắp bắt đầu nhưng rõ ràng là không ai muốn trả giá cho nó.”

Các quan chức Hoa Kỳ vào tháng 1 năm sau đã đưa ra chính sách từ chối (cả công khai lẫn riêng tư) bảo đảm sự bảo vệ của người Mỹ cho Nam Hàn hoặc Đài Loan. Trong cuộc họp báo ngày 5 tháng 1, năm 1950, Harry S. Truman nói rằng “vào thời điểm này” sẽ không có sự bảo vệ của Mỹ đối với Đài Loan. Nhận xét này có tác động đáng kể – và không chỉ đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc và kẻ thù cộng sản của họ. Học giả người Nga Sergei N. Goncharov đã nhìn thấy trong kho lưu trữ của Nga một báo cáo tình báo về cuộc họp bí mật của nội các Đại Hàn một ngày sau cuộc họp báo của Truman. Báo cáo dẫn lời các quan chức Đại Hàn lo lắng bày tỏ quan điểm rằng Mỹ, giống như trường hợp của Đài Loan và Trung Quốc, sẽ đứng ngoài cuộc chiến nếu Triều Tiên xâm lược Đại Hàn. Goncharov tin rằng chính báo cáo tình báo Liên Xô này là “mẫu thông tin kích hoạt” thuyết phục Stalin bật đèn xanh cho Kim Il-sung.

Câu hỏi đặt ra là có phải Bình Nhưỡng và Moscow đã không đọc hết các tín hiện  của Washington hay không. Hiểu được sự miễn cưỡng của những người lính chuyên nghiệp sợ bị sa lầy ở Triều Tiên, liệu họ có bỏ lỡ một số luồng quan điểm rốt ráo mạnh mẽ hơn trong mạch suy nghĩ của Washington – chẳng hạn như quan điểm được Bộ Ngoại giao cổ xúy ngay từ năm 1947 rằng việc Liên Xô thống trị Triều Tiên sẽ trở thành “mối đe dọa chính trị và quân sự cực kỳ nghiêm trọng” đối với lợi ích của Mỹ ở Nhật Bản và các nơi khác trong khu vực? Quả thực, có bằng chứng đáng kể cho thấy rằng Washington thực sự không có ý định để Đại Hàn rơi vào tay kẻ thù, và trên thực tế đã chuẩn bị lãnh đạo một liên minh quốc tế để ngăn chặn hậu quả như vậy trong trường hợp xảy ra một cuộc xâm lược.

Chính sách “ngăn chặn” – phong tỏa sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản vượt ra ngoài các biên giới hiện có – đã có được chỗ đứng. Trong tác phẩm hai tập đầy tham vọng của mình về nguồn gốc của Chiến tranh Triều Tiên, Bruce Cumings cho thấy rằng logic áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với Triều Tiên xuất phát từ một cặp tiền đề. Đầu tiên, Washington muốn duy trì uy tín trong các cam kết của mình. Rốt cuộc, Hoa Kỳ đã khuyến khích thành lập một chính phủ phi cộng sản ở Đại Hàn; bỏ rơi chính phủ đó sẽ báo hiệu cho các đồng minh ở nơi khác không dám đặt niềm tin vào Hoa Kỳ. Thứ hai, để đối phó với sự bùng nổ của Chiến tranh Lạnh Washington đã quyết định ngừng trừng phạt các nhà lãnh đạo thời chiến của Nhật Bản và khuyến khích họ xây dựng lại nền kinh tế đất nước mình làm động lực tăng trưởng cho các nền kinh tế phi cộng sản ở châu Á. Các nhà sử học ngày nay gọi đó là “quá trình đảo ngược”. Tất nhiên, một sự hồi sinh hoàn toàn của Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á là điều không thể xảy ra. Nhưng các nhà quy hoạch Mỹ tin rằng Nhật Bản, để đảm nhận vai trò được giao, cần ít nhất một vùng đất công nghiệp nội địa và vùng đệm quân sự ngay bên kia eo biển ở miền nam Triều Tiên.

Ngăn chặn là chính sách của Bộ Ngoại giao đối với Hàn Quốc và vẫn là chính sách này ngay cả sau khi quân đội Mỹ rút đi. Hơn nữa, vào tháng 6 năm 1949, khi quân đội đang rời đi, Lầu Năm Góc trong một nghiên cứu tuyệt mật đã miễn cưỡng đồng ý rằng phản ứng trước một cuộc xâm lược toàn diện của Triều Tiên vào miền Nam có thể bao gồm việc quay trở lại – với một lực lượng đặc nhiệm quân sự dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc – nếu “tất cả những cách khác đều thất bại.”

Tuy nhiên, trong một bài phát biểu ngày 12 tháng 1 năm 1950, tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Washington, Ngoại trưởng Dean Acheson đã mô tả “chu vi phòng thủ” của Mỹ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là chạy từ Quần đảo Aleutian tới Nhật Bản, Okinawa và Philippin. Thế hệ các nhà bình luận từ đó đã tự hỏi: Tại sao ông ấy không đề cập đến Hàn Quốc? Câu trả lời tốt nhất giờ đây có sẵn là Acheson muốn giữ bí mật cam kết của Mỹ đối với việc phòng thủ Hàn Quốc, để tránh tiết lộ quân bài của Washington không chỉ với Moscow mà còn với Tổng thống Hàn Quốc Rhee. Ông sợ rằng nếu Rhee biết, ông ta sẽ lợi dụng sự đảm bảo phòng vệ đó để lao vào cuộc xung đột vũ trang với phe cộng sản miền Bắc, điều mà Washington muốn tránh.

Các nhà sử học tiếp tục tranh luận liệu một số người thuộc phía cộng sản có xem bài nói chuyện của Acheson như một tín hiệu rằng bờ biển đã trống trải cho một cuộc xâm lược. Thậm chí có tính đến mong muốn của Acheson cứ để Rhee đoán già đoán non, nếu ngăn chặn là mục tiêu của ông ấy nó dường như kỳ lạ đối với một nhà ngoại giao lão luyện và kinh nghiệm khi khiến Moscow hiểu lầm rằng Hoa Kỳ sẽ vẫn tiếp tục ngồi yên khi Triều Tiên xâm chiếm Nam Hàn. Nếu chuyện xảy ra thực sự là một thất bại của việc ngăn chặn, có thể đây là một trong những tình huống tín hiệu tạp giao đắt giá nhất trong lịch sử chiến tranh.

Mặt khác, các nhà sử học theo chủ nghĩa xét lại bắt đầu với I. F. Stone cho rằng các phần tử ở Hoa Kỳ và một số đồng minh của họ ở châu Á muốn có một cuộc chiến, ở một nơi nào đó trên thế giới – như một phương tiện để tập hợp người dân Mỹ tích cực phản kháng chủ nghĩa cộng sản – và vui sướng dẫn dụ phía bên kia ra đòn đầu tiên. Bằng cách đó, người Mỹ sẽ cảm thấy họ đang chiến đấu trong một cuộc chiến chính nghĩa. Acheson, nếu đồng tình với nỗ lực như vậy, hẳn đã muốn Moscow đánh giá sai ý định của Mỹ. Lý thuyết đó thậm chí còn có ít bằng chứng thuyết phục hơn so với quan điểm tương tự, dai dẳng của thiểu số cho rằng chính quyền Franklin D. Roosevelt đã cố tình lôi kéo Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng trước.

Một báo cáo cho biết bài phát biểu của Acheson đã thuyết phục Kim Il-sung rằng Washington sẽ không sẵn sàng bảo vệ chính phủ Rhee. Dù Kim có thực sự tin hay không, ông ấy cũng có thể đã áp đặt cách giải thích đó lên Stalin để mong thuyết phục nhà lãnh đạo Liên Xô đến giúp đỡ mình. Mao Trạch Đông cũng vậy, sau bài phát biểu của Acheson, đã nói trong một thông điệp gửi tới Stalin rằng ông ấy nghi ngờ việc Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Hàn Quốc trong cuộc tấn công của Triều Tiên.

Điều đó dẫn đến một sự thay đổi quan trọng khác trong tình hình quốc tế có thể đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của Stalin. Nhà lãnh đạo Liên Xô đang trong quá trình cố gắng trói chặt Trung Quốc mới do cộng sản kiểm soát vào phe chống phương Tây – như Goncharov và các đồng nghiệp John W. Lewis và Xue Litai đã chứng tỏ bằng cách sắp xếp các bằng chứng tài liệu bằng tiếng Nga và Hoa quan trọng cũng như các cuộc phỏng vấn với những người chủ chốt còn sống sót. “Bằng việc ‘vẽ ranh giới’ ở châu Á, Stalin đang thực hiện các ý tưởng của mình về cách chuẩn bị cho một thế chiến thứ ba,” họ lập luận. Nó sẽ giúp ích cho quá trình đó và tạo ra tình huống đẩy Mao đứng về phía Kim Il-sung về mặt quân sự để chống lại chế độ được Mỹ hậu thuẫn của Rhee.

Trên thực tế, như một điều kiện để chấp thuận cuộc xâm lược, Stalin đã nhấn mạnh rằng Kim phải nhận được sự ủng hộ của Mao. Kim đến thăm Mao vào tháng 5 năm 1950. Trong lòng Mao tỏ ra miễn cưỡng vì ưu tiên thực sự của ông ta là xâm lược Đài  Loan để thống nhất đất nước của mình. Sẽ là không thực tế nếu cố gắng xâm lược Đài Loan đồng thời gửi quân đội đến giúp Kim – điều mà Mao dự kiến ​​​​sẽ làm nếu cuộc xâm lược của Triều Tiên dẫn đến sự can thiệp của Mỹ. Nhưng đã nhận được sự trợ giúp của Liên Xô lúc lâm nguy,  Mao đành phải ký vào. Chỉ khi đó Stalin mới đưa ra sự chấp thuận cuối cùng.

Stalin đã thể hiện tài ngoại giao khéo léo trong việc lôi kéo Trung Quốc chấp nhận rủi ro lớn trong khi Liên Xô đứng ở phía sau, nhưng ông không phải là người thông minh duy nhất. Kim Il-sung cũng đạt được điều mình mong muốn vào thời điểm đó (khi đó không biết rằng cuộc chiến mà ông ta mong muốn sẽ trở thành một thảm họa vượt xa bất cứ điều gì ông có thể tự mình giải quyết). Kim “có thể sử dụng lòng tin của Stalin cho các mục đích riêng của mình thậm chí khi Stalin đang lợi dụng ông ấy”. Nhà lãnh đạo Triều Tiên “đã khiến Moscow nhìn thấy tình hình trên bán đảo bằng chính con mắt của mình”. Ông thuyết phục Stalin rằng một cuộc xâm lược của miền Nam vào miền Bắc sắp xảy ra và sẽ lật đổ chế độ cộng sản – nhưng nếu Kim xâm lược trước, một số lượng lớn những người cánh tả Hàn Quốc sẽ chào đón quân giải phóng bằng cách nổi dậy lật đổ các nhà lãnh đạo miền Nam.

Ngay sau các cuộc họp Stalin-Kim năm 1950, Tom Connally, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện, đã tận dụng trường hợp của Kim bằng cách nói rằng Hoa Kỳ sẽ “bỏ rơi” Hàn Quốc. Ông nói: Liên Xô “có thể tràn ngập Triều Tiên giống như Liên Xô có thể sẽ tràn ngập Đài Loan”. Người Hàn Quốc, có thể hiểu được, đã bị sốc. Rhee cáo buộc Connally đã đưa ra “lời mời mọc” xâm lược cho cộng sản.”

Mặc dù Acheson từ chối công khai nêu vấn đề với nhận xét của Connally, nhưng uối cùng, Ngoại trưởng có thể khẳng định rằng bài phát biểu trong câu lạc bộ báo chí đã mô tả khá thẳng thắn về những gì các nhà hoạch định chính sách Mỹ dự định. Mặc dù không đề cập cụ thể đến Hàn Quốc trong bài phát biểu, ông nói về những khu vực mà ông chưa liệt kê là một phần của “chu vi” và nói rằng không ai có thể đảm bảo những khu vực đó sẽ chống lại được cuộc tấn công. Tuy nhiên:

Nếu một cuộc tấn công như vậy xảy ra thì … sự phụ thuộc ban đầu phải dựa vào nhân dân bị tấn công để chống lại nó và sau đó là những cam kết của toàn bộ thế giới văn minh theo Hiến chương Liên hiệp quốc, điều mà cho đến nay vẫn chưa tỏ ra là cây sậy yếu đuối để bất kỳ dân tộc nào quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình trước sự xâm lược từ bên ngoài có thể dựa vào.

 

Mãi đến ngày 19 tháng 6 năm 1950, chưa đầy một tuần trước khi miền Bắc xâm lược, đại diện của Acheson, John Foster Dulles, nhắc nhở Quốc hội Hàn Quốc rằng Hoa Kỳ đã can thiệp “bằng sức mạnh vũ trang” hai lần trong thế kỷ XX “để bảo vệ tự do khi bị gây áp lực nặng nề bởi sự xâm lược quân sự vô cớ. Chúng tôi không bị ràng buộc bởi bất kỳ hiệp ước nào để thực hiện việc này.”

Có lẽ Stalin và Kim Il-sung đã biết về những cảnh báo tiềm ẩn trong những bình luận như vậy. Một lời giải thích tại sao họ lại phớt lờ chúng đến từ hồi ức của Yu Song-chol cho rằng Kim, ở Moscow vào mùa xuân năm 1950, đã thuyết phục Stalin rằng Triều Tiên có các yếu tố vượt trội về quân sự, bất ngờ và tốc độ về phía mình – đến mức Washington sẽ không thể can thiệp trước khi Triều Tiên chiếm đóng toàn bộ bán đảo.

Yu không phải là người có khả năng đọc được suy nghĩ người khác, và chúng ta không cần phải chấp nhận kết luận của ông ấy cho rằng lập luận của Kim là điều thực sự thuyết phục được Stalin. Nhà lãnh đạo Liên Xô rất có thể đã bị ru ngủ nhiều hơn bởi những nỗ lực mà chính ông đã thực hiện để đảm bảo rằng đó sẽ là người Trung Quốc chứ không phải người Liên Xô, sẽ tham gia cuộc chiến nếu người Mỹ can thiệp.

Đối với suy nghĩ của Kim Il-sung, nếu bản thân Kim thực sự tin vào lập luận mà Yu cho rằng ông đã đưa ra, thì tất cả những câu hỏi cũ về ý định của Hoa Kỳ gắn liền với cuộc họp báo của Truman, bài phát biểu về Acheson, cuộc phỏng vấn với Connally, v.v., sẽ giảm đi sự quan trọng tương đối như những yếu tố trong quyết định xâm lược. Một yếu tố gần tương đương hoặc có lẽ còn quan trọng hơn là vấn đề năng lực: nhận định của nhà lãnh đạo Triều Tiên rằng Washington có thể mong muốn đáp ứng nhưng sẽ quá muộn. Vẫn chưa biết chính xác làm thế nào Kim Il-sung có thể đi đến kết luận như vậy. Sau khi quân Mỹ rút khỏi Triều Tiên vào tháng 6 năm 1949, bộ máy tình báo của Kim có làm ông thất vọng về khả năng Mỹ quay trở lại sử dụng vũ lực hay không – vì, có lẽ, thiếu khả năng tiếp cận và sự hiểu biết, hậu quả của tiến trình cô lập với phương Tây mà Moscow đã tạo ra và Chiến tranh Lạnh kéo dài? Hay đúng hơn, đây chỉ là vấn đề đơn giản về tham vọng và khao khát của Kim đã áp đảo sự thật và lý trí – “chủ nghĩa phiêu lưu” và “gây chiến liều lĩnh thuộc loại tồi tệ nhất,” như Goncharov, Lewis và Xue diễn đạt?

Bây giờ là bí mật, câu trả lời có thể xuất hiện nếu và khi cánh cửa kho lưu trữ của Triều Tiên một ngày nào đó sẽ mở ra.

 

Bình luận về bài viết này