
Lâm Hoài Phương
Tên gọi chính thức là một cổ họ Lâm, ngôi mộ nằm trong Công Viên Tao Đàn phía bên phải đường Trương Định vô trong khoảng 30m , gần dãy nhà Ban quản lý Công Viên Tao Đàn. Đây là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố, được công nhận vào tháng 4 năm 2014. Đây là một trong số ít những ngôi mộ xây bằng hợp chất nhựa cây ô dước (vôi, cát, mật mía, nhựa cây rừng) dùng đắp mộ cổ. Ngôi mộ có diện tích lớn và kiến trúc đẹp còn lại tại thành phố Hồ Chí Minh.
Mộ có hai bia đá xanh ghi chữ Hán. Do ngôi mộ xây đã lâu và đã được sơn sửa nhiều lần nên các chữ trên văn bia có vài chữ bị sai nét dẫn đến đọc sai trên bia của Ông, hoặc không còn đọc được, nhiều nhất là bia của Bà. Điều này, trong thời gian qua, đã dẫn đến những thông tin sai lệch và ngộ nhận về người nằm trong mộ.
Chúng tôi hy vọng qua những phân tích dựa trên văn bia cùng tư liệu sử địa có thể mang lại những thông tin chính xác nhất về ngôi mộ cổ này.

Đây là mộ song táng tuân theo nguyên tắc “ Nam tả nữ hữu” (từ trong nhìn ra) văn bia bằng chữ Hán trong mộ ông và Bà họ Lâm thường được đọc và dịch nghĩa thấy trước đây . văn bia của Ông H.2
“Hiển khảo trọng giang (?) Ất Mùi (vị) (?) thu quyên (?) chủ húy tự trường Lâm Tam Lang chi mộ” tức mộ cha là con trai thứ ba Lâm gia. Không dịch được và không hiểu nghĩa nguyên nguyên câu, do không biết Trọng Giang, thu quyên chủ là gì và H.1 là van bia trên mộ Bà
“Hiển tỷ… chủ lâm nguyên thất… chi mộ” chỉ dịch nghĩa là mộ mẹ… vợ nhà họ Lâm
Trước tiên xét văn bia trên mộ Ông Bà: so với ảnh chụp văn bia và nội dung trong sách của Phạm Ngọc Hường “Văn bia Hán Nôm TP HCM khảo cứu và giới thiệu” cũng như báo chí và cộng đồng mạng công bố trước đây ta thấy có vài chữ cần chỉnh lại do sơn đi sơn lại nhiều lần.
| Trước đây | Cần chỉnh |
| Phần giới thiệu :
Mộ xây năm Ất Tỵ (1895) [1] |
Mộ xây năm Nhâm Dần (1842) |
| Mộ Ông:
Trọng Giang 仲江 quyên chủ 捐主 |
Bình Giang[2] 平江 quyên sinh 捐生 |
| Mộ Bà:
quyên chủ 捐主 nguyên thất 元室 Lăng thị [3] 棱氏 |
quyên sinh 捐生 chánh thất 正室 Mai thị 枚氏 |
Sau khi chỉnh một vài chữ tô vàng cho đúng ta có:
.大南 壬寅年造
顯考平江乙未秋捐生諱字長林三郎之墓
Phiên âm :
Đại Nam Nhâm Dần niên tạo
Hiển khảo Bình Giang Ất Mùi thu quyên sinh húy tự Trường Lâm tam lang chi mộ.
Tạm dịch nghĩa:
Mộ xây vào năm Nhâm Dần quốc hiệu Đại Nam (1842)
Mộ của Cha họ Lâm, người con thứ ba trong gia đình, tên tự là Trường/Trưởng, quyên sinh tại Bình Giang vào mùa thu năm Ất Mùi (1835)
Mộ vợ ông họ Lâm là bà Mai Thị Khả cũng khắc quốc hiệu Đại Nam. ghi :
顯妣….捐生林正枚氏可之墓
Hiển tỷ (Bình Giang Ất Mùi thu) quyên sinh, Lâm chánh thất Mai Thị Khả chi mộ.
Trên văn bia này khoảng 5-6 chữ khó đọc–trong ngoặc- theo chúng tôi dự đoán là (Bình Giang Ất Mùi thu, và tạm dịch “ Mộ của mẹ, họ tên Mai Thị Khả, vợ chánh của Ông họ Lâm, ông này quyên sinh tại Bình Giang vào mùa thu năm Ất Mùi (1835) ”. H.3
Hai mộ này cùng do người con – không rõ tên – lập năm 1842 .
Bình Giang là gì ?:
Bình Giang là tên 1 khúc sông thuộc sông Sài Gòn (hiện nay), chảy qua phủ Tân Bình do tục lấy tên phủ đặt tên sông [4] . Chúng tôi không dùng từ sông Bình Giang, chỉ dùng từ “sông Bình” hoặc “Bình giang” vì giang có nghĩa là sông. Sau đây là một số thông tin về Bình Giang có trên tư liệu xưa và nay:
- Ở thôn Giai Quý, huyện Nghĩa An tục gọi chợ Thủ Thiêm ; trông ra Bình Giang (sông Sài Gòn) [5].
- Bình giang ở cách huyện Vĩnh An 16 dặm về phía Tây Bắc, phân địa giới với tỉnh Gia Định, trên tiếp sông Băng Bọt, hợp với sông Thanh Lưu tỉnh Gia Định mà chảy vào ngã ba theo hướng đông nam chảy 23 dặm thành ngòi Thị Lũ, lại chảy 20 dặm đến huyện Nghĩa An làm ngòi Ngô Chè, lại chảy 17 dặm làm sông Thủ Đức. Từ đấy chảy xuống phía đông gồm 34 dặm đến cửa sông Nhà Bè huyện Long Thành, hợp với sông Phước Long mà đổ ra biển. [6]
- Về sông ngòi, Thành phố Hồ Chí Minh có sông chính là sông Sài Gòn, xưa gọi là sông Bình Giang, vì chảy qua phủ Tân Bình cũ, tục danh gọi là sông Bến Nghé) [7]
- “Sông Ngưu Chữ (Bến Nghé) ở cách huyện Bình Dương 5 dặm về phía bắc, có tên nữa là sông Tân Bình. Tương truyền sông này trước nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau, rống lên như trâu rống cho nên gọi tên như thế. Đầu năm Mậu Thân, đầu đời Trung hưng, thu phục Gia Định, nước sông trong; năm Gia Long thứ 16 nước sông lại trong; năm Minh Mệnh thứ 2 và thứ 6 nước sông lại hai lần trong, người ta cho như thế là điềm thái bình. Năm thứ 17 đúc cửu đỉnh, đúc tượng hình sông vào Cao đỉnh. Năm Tự Đức thứ 3, ghi vào điển thờ”.[8]
Chúng ta chú ý điểm này, thông thường trên mộ bia, ngày, tháng, năm mất ghi vào lạc khoản bên phải, nhưng trên bia mộ này lại ghi địa điểm và thời điểm ngay giữa dòng chánh, lại thêm chữ “ quyên sinh “, nhưng không có ngày cụ thể . Điều này chứng tỏ người lập mộ muốn nhắc đến 1 biến cố nào đó tại sông Bến Nghé (Bình Giang) vào mùa thu năm 1835, buộc người này phải chủ động hy sinh một cách như giữ tròn khí tiết, quyết không hàng phục, hoặc để bị bắt. Lật lại lịch sử ta thấy địa điểm và thời gian này liên quan đến sự thất thủ của thành Gia Định trong cuộc nổi loạn của Lê văn Khôi.
Trong ảnh sau có vị trí thành Gia Định (Thành Bát Quái) và sông Bến Nghé ( Bình Giang) rất gần nhau

Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi trong những ngày cuối tại thành Gia Định :
Dù Lê Văn Khôi đã chết năm 1834, quân nổi dậy vẫn giữ được thành trước quân triều đình cho tới tháng 9 năm 1835. Lúc bấy giờ, hiện trạng rất nguy ngập: Thành bị bao vây, dịch tả hoành hành, súng đạn hư hỏng vơi cạn dần, lương thực tuy nhiều nhưng bị ẩm mốc, tinh thần và sức lực quân dân đều suy kiệt và ly tán. Vảo giờ Thìn ngày 16 tháng 7 năm Ất Mùi (tức 8 tháng 9 năm 1835), quân nhà Nguyễn chia nhiều đường tấn công vào thành Phiên An.[9] Thành Phiên An thất thủ, quan quân bắt hoặc chém được toàn bộ 1.832 người . Vua dụ cho đem 6 người đầu sỏ là Nguyễn Văn Chắm cùng Lê Bá Minh, Đỗ Văn Dự, Lưu Tín, Phú Hoài Nhân, Lê Văn Viên đều tống vào cũi sắt, phái giải đến Kinh. Những đầu mục giặc, đưa về bộ xét, rồi sẽ gộp với vợ cả, vợ lẽ, con trai, con gái của Lê Văn Khôi đều lăng trì xử tử mà quăng xác xuống sông. Lại trích lấy một số đầu mục giặc, giao cho Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên và Trấn Tây mỗi nơi 1 tên cũng lăng trì xử tử, bêu đầu 3 ngày rồi quăng xuống sông. Còn những người khác không kể trai, gái, già trẻ chẳng cần tra rõ quê quán, đều điệu ra ngoài đồng, chém đầu, rồi đào một cái hố lớn ở cách thành vài dặm về mặt sau, vứt thây xác xuống đó mà lấp đất, chất đá đắp thành gò to trên dựng bia khắc chữ “nghịch tặc biền tru xứ” (chỗ bọn giặc chụm đầu bị giết) để tỏ rõ phép nước. Cái gò đó sau này gọi là Mả Ngụy hay Mả Biền Tru, gần Ngã Sáu Công trường Dân chủ nay thuộc khu vực Quận 3– trước 7-2025- Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối chiếu lịch sử và văn bia ta có thể kết luận:
– Ông Lâm Trường/Trưởng quyên sinh vào một trong những ngày thành Gia Định bị bao vây chiếm lại: tháng 9 năm 1835 (tháng 7 -mùa thu – năm ất mùi) tại sông Bến Nghé (Bình Giang), trong lúc hỗn loạn đã chạy thoát khỏi thành, nhưng bị truy đuổi và Ông quyết không để bị bắt nên đã nhảy xuống sông Sài Gòn tự vẫn. Có thể Ông là một trong những đầu mục[10] của Lê Văn Khôi. Thân nhân tìm được thi thể đem chôn trong vườn Ông Thượng. Mãi cho
– đến năm 1841 khi Vua Thiệu Trị phục hồi danh dự cho Lê Văn Duyệt , lúc đó thân nhân Ông mới xây lại mộ năm nhâm Dần (1842).
Phần ngộ nhận về hậu duệ
Báo Vietnamnet có đề cập đến Gia phả họ Lâm tại tỉnh Kiên Giang ghi
“Đời Thứ 1: Ông Lâm tam lang (17?? – 1795), tự là Nguyên Thất, mất vào mùa thu năm Ất Mão (1795). Ông là người gốc ở Quảng Đông, Trung Quốc di cư sang Việt Nam, cư ngụ tại Sài Gòn, Gia Định. Ông có vợ là bà Mai Thị Xã (không rõ năm sinh, năm mất). Mộ nguyên táng của họ tại Vườn Ông Thượng, Sài Gòn (nay là Vườn Tao Đàn, Quận 1, TP.HCM)”.[11]
Phân tích hai dữ kiện ta thấy
Năm mất của Lâm tam lang trong mộ là Ất mùi (1835), khác với Lâm tam lang của gia phả là Ất Mão (1795).
- Lâm tam lang trong mộ có tên là Trường/Trưởng , còn trong gia phả tên tự là Nguyên Thất.
- Chữ “nguyên thất” trên bia thật ra là chữ “chánh thất”
Do đó chúng tôi nhận định Ông Lâm quang Ky (phó tướng Nguyễn Trung Trực), Ông Lâm Đình Phùng ( nhạc sĩ Lam Phương) không có quan hệ huyết thống với người trong mộ như bài báo và công luận đã truyền tụng từ trước đến nay theo lời kể của cố Phó giáo sư – tiến sĩ Phạm Đức Mạnh, Trưởng Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH KHXH-NV), ĐH Quốc gia TP.HCM, trong bài báo ngày 16-10-2013 trên mục văn hóa- báo Thanh Niên [12]
Khi làm nghiên cứu này chúng tôi hy vọng mang lại sự thật, không còn những nghi vấn đồn đoán về thân thế người nằm trong ngôi mộ này. Và cũng mong sau này nếu được trùng tu thì các văn tự trên bia được vẽ lại chính xác chữ như ban đầu .
Tháng 1-2026

Tài liệu tham khảo:
- Phạm Ngọc Hường – Văn bia Hán Nôm-NXB Tổng Hợp Tp HCM 2020
- Đại Nam Nhất Thống Chí – Viện Sử học- Quốc Sử Quán triều Nguyễn NXB Thuận Hóa – 2006,
- Trịnh Hoài Đức – Gia định thành thông Chí -Nha Văn Hóa Xuất Bản 1972
- Cổng thông tin tP. HCM : Nguồn nước và thủy văn https://www.hochiminhcity.gov.vn/vi/web/hcm/w/ngu%E1%BB%93n-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-v%C3%A0-th%E1%BB%A7y-v%C4%83n-2
- Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi https://vi.wikipedia.org/wiki/Cu%E1%BB%99c_n%E1%BB%95i_d%E1%BA%ADy_L%C3%AA_V%C4%83n_Kh%C3%B4i
- Báo Vietnamnet: bí ẩn ngôi mộ cổ trong công viên Tao Đàn
https://vietnamnet.vn/giai-ma-bi-an-quanh-ngoi-mo-co-trong-cong-vien-tao-dan-356551.html
- Bản Đồ Gia Định 1815 V.2 của Trần văn Học
[1] Phạm Ngọc Hường – Văn bia Hán Nôm TP HCN -NXB Tổng Hợp Tp HCM 2020 tr. 70. Năm Ất Tỵ là năm 1845, có thể tác giả muốn nói năm Ất Mùi 1835
[2] xem phần Bình Giang
[3] Phạm Ngọc Hường – Văn bia Hán Nôm-NXB Tổng Hợp Tp HCM 2020 tr. 70
[4] Trịnh Hoài Đức – Gia định thành thông Chí -Nha Văn Hóa Xuất Bản 1972 q. thượng tr. 18
[5] Đại Nam Nhất Thống Chí – Viện Sử học- Quốc Sử Quán triều Nguyễn NXB Thuận Hóa – 2006, quyển 5, Tr. 80
[6]Đại Nam Nhất Thống Chí – Viện Sử học- Quốc Sử Quán triều Nguyễn NXB Thuận Hóa – 2006, tập 5, tr 65
[7] trang web của TP HCN nguồn nướ và thủy văn
[8] Đại Nam nhất thống chí –Viện Sử học – Quốc sử quán triều Nguyễn , NXB Thuận Hóa 2006 – tập 5, quyển 31 – tỉnh Gia Định
[9] McLeod, Mark W. (1991). The Vietnamese response to French intervention, 1862–1874. tr.30
[10] Người đứng đầu một nhóm, băng đảng, hoặc tổ chức nhỏ, còn gọi là thủ lĩnh hay cầm đầu
[11] https://vietnamnet.vn/giai-ma-bi-an-quanh-ngoi-mo-co-trong-cong-vien-tao-dan-356551.html
[12] https://thanhnien.vn/bi-mat-cum-mo-co-o-cong-vien-tao-dan-185314809.htm