Đỗ Ngọc Giao
31-Jan-2026
2. Chuyện hai bà Trưng: khi sử gia bỏ qua địa lý
Cách nay hơn 60 năm, nhà sử học Trương Bửu Lâm (1933–), nguyên giám đốc viện Khảo-cổ Saigon, trong lời giới thiệu tập sách Hồng Đức bản đồ, có nói qua ‘quan niệm sử-địa’ ở nước ta thời xưa như sau.[1]
-trích-
Ngày nay, chúng ta luôn nghe bên tai hai chữ ‘Sử Địa’ đi chung cùng nhau. Hỏi một giáo sư dạy môn gì, thì ông ấy sẽ trả lời là dạy Sử-Địa … Sử-Địa là hai môn học đi đôi với nhau, và cho đến nay, ít ai quan niệm được một sử gia mà không biết một tí gì về địa lý, hay một địa-lý-gia mà không biết một ít về lịch trình diễn tiến của nhân loại. Không hiểu trong thời xưa, các tổ tiên ta có quan niệm như vậy hay không? Nhưng điều mà chúng ta biết chắc chắn là dưới triều Nguyễn, Quốc-sử-quán mà nhiệm vụ trọng yếu là sưu tập và gìn giữ tài liệu sử ký cổ truyền cùng ghi chép chính sử, Quốc-sử-quán lại còn phụng chỉ vua Tự Đức soạn từ năm 1865 (Tự Đức năm thứ 18) một bộ sách địa lý với nhan đề là Đại Nam nhứt thống chí. Vậy thì quan niệm ‘sử-địa’ cũng đã có một phần nào rồi dưới thời Nguyễn. Nếu cần một bằng chứng nữa thì chúng ta có thể trưng bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782–1840). Chúng ta có thể nói một cách không mấy quá đáng là bộ sách ấy, mà nhiều người đã mệnh danh là một bộ sách bách khoa, chỉ là một bộ sách ghi chép lịch sử. Nhưng … tác giả đã không quên môn địa lý. Trái lại, ông ấy đã dành năm quyển đầu của bộ Lịch triều để ghi chép tất cả những sự thay đổi trong lãnh thổ của nước Việt cùng tất cả những sự phân chia các khu vực hành chánh. Năm quyển đầu đó, tác giả đặt cho một tên đầy ý nghĩa là Dư địa chí. Đó chẳng phải là một bằng chứng cho ta thấy rõ là tác giả đã có một quan niệm ‘sử-địa’ rồi hay sao ?
Nếu chúng ta lần lên quá khứ xa xưa hơn một ít nữa, thì quan niệm ‘sử-địa’ cũng thịnh hành một phần nào với Lê Quí Đôn (1726–1784). Đôn là tác giả của Đại Việt thông sử, nhưng cũng đã có biên soạn 6 quyển Phủ biên tạp lục ghi chép về lịch sử, địa lý, phong tục, núi sông, thành trì của hai đạo Thuận Hóa và Quảng Nam nhân dịp ông được bổ nhiệm làm chức ‘Hiệp đồng kinh lý quân sự’ tại đó vào năm 1776…
-hết trích-
Cùng thời đó, học giả Trần Văn Giáp (1902–1973) cũng có một bài lược khảo địa-lý-học nước nhà, nêu thêm nhiều chi tiết.[2]
Hai bài trên cho ta hiểu rằng sử gia muốn chép gì thì cũng nên để ý tới địa lý, chớ đừng bỏ qua.
Ngày nay sử gia có bỏ qua địa lý hay chăng?
2.1 Chuyện bà Trưng trong sách Tàu
Hậu Hán thơ, thế kỷ 5, quyển 86 Nam man tây nam di liệt truyện 南蠻西南夷列傳, có lẽ là tài liệu xưa nhứt nhắc tới hai bà Trưng ở một đoạn như sau.[3]
建武十二年,九真徼外蠻里張游,率种人慕化内屬,封為歸漢里君。明年,南越徼外蠻夷献白雉、白菟。至十六年,交阯女子徵側及其妹徵贰反,攻郡。徵側者,麊泠縣雒將之女也。嫁為硃珪人詩索妻,甚雄勇。交阯太守苏定以法绳之,側忿,故反。于是九真、日南、合浦蠻里皆应之,凡略六十五城,自立為王。交阯刺史及諸太守仅得自守。光武乃詔长沙、合浦、交阯具车船,修道桥,通障谿,储粮谷。十八年,遣伏波將軍馬援、楼船將軍段志,发长沙、桂阳、零陵、苍梧兵萬余人討之。明年夏四月,援破交阯,斬徵側、徵贰等,余皆降散。進擊九真贼都阳等,破降之。徙其渠帅三百余口于零陵。于是领表悉平。
Dịch nghĩa:
Năm Kiến-võ 12 (AD 36) Trương-du ở xứ man ngoài biên Cửu-chơn đưa chúng dân theo Hán, được phong Quy-hán-lý-quân. Năm sau, man di ngoài biên Nam-việt hiến trĩ trắng với thỏ trắng. Tới năm 16 (AD 40) người đờn bà Giao-chỉ tên Trưng-trắc và em gái Trưng-nhị làm phản, đánh quận. Trưng-trắc là con Lạc tướng huyện Mi-linh. Gả làm vợ của Nhơn-thi-sách ở Châu-khuê, thiệt là hùng dũng.* Thái thú Giao-chỉ Tô-định vì pháp ràng buộc, Trắc giận nên phản. Vậy là các xứ man Cửu-chơn, Nhựt-nam, Hợp-phố hùa theo, chiếm 65 thành hết thảy,** [Trắc] tự lập làm vua. Thứ sử Giao-chỉ cùng các thái thú chỉ biết tự thủ.*** Quang-võ bèn chiếu cho Tràng-sa, Hợp-phố, Giao-chỉ có đủ xe thuyền, sửa đường cầu, thông dòng sông, trữ lương cốc. Năm 18 (AD 42) sai Phục-ba-tướng-quân Mã-viện, Lâu-thuyền-tướng-quân Đoàn-chí phát binh Tràng-sa, Quế-dương, Linh-lăng, Thương-ngô hơn 2 vạn người đi đánh bọn họ. Tháng 4 hè năm sau Viện phá Giao-chỉ, chém Trưng-trắc cùng Trưng-nhị, kỳ dư đầu hàng tan rã. Tấn kích giặc Cửu-chơn cùng Đô-dương, phá hàng bọn họ. Dời cừ soái bọn họ hơn 300 mống qua Linh-lăng. Vậy là ngoài lãnh tất bình xong.
Ghi chú:
* Câu này dường như muốn nói chồng của Trưng-trắc tên là Nhơn-thi-sách. Lưu ý rằng Nhơn 人, Châu 硃, Sách 索, Trưng 徵 đều là họ của người Tàu, còn Thi 詩 thì không phải.[4]
** Hán thơ nói 55 thành (coi bên dưới).
*** Câu này chưa rõ: nếu thành nào cũng bị chiếm thì các thái thú ‘tự thủ’ ở đâu? Dường như quân man chiếm được một số thành mà thôi.
2.1.1 Dữ liệu địa lý của câu chuyện
Lãnh-nam là tên gọi vùng đồng bằng sông Châu-giang, phía nam rặng Ngũ Lãnh bên Tàu (hình 1).

Hình 1.[5]
Hình 2 là vị trí các thành ở Lãnh-nam từ thời Tiền Hán (AD 2) tới Hậu Hán (AD 140), theo Hán thơ và Hậu Hán thơ.[6]

Hình 2.6
2.1.2 Dữ liệu khảo cổ của câu chuyện
Lãnh-nam có 7 huyện và 55 thành, nay còn để lại nhiều di tích ở phía bắc đồng bằng sông Châu-giang; những thành này có lẽ đều xây theo kiểu ‘Thất-lý-vu vương-thành’ 七里圩王城 ở Hưng-an 興安 Quảng-tây: hình chữ nhựt, 4 tháp 4 góc, xung quanh là hào rộng 10–20 m, chứa nhiều khí giới, nhứt là mũi tên đồng (hình 3, ô màu đỏ).[7]

Hình 3. một số thành ở Lãnh-nam có bằng chứng khảo cổ.7
2.1.3 Nhận xét
Với dữ liệu địa lý và khảo cổ nêu trên, thì rõ ràng chuyện hai bà Trưng đã xảy ra ở một vùng đồng bằng sông Châu-giang đại khái là Quảng-tây và Quảng-đông ngày nay (hình 4).
Và các quận Giao-chỉ, Cửu-chơn, Nhựt-nam, nơi xảy ra chiến sự, hẳn cũng ở trong vùng đó.

Hình 4. vẽ trên hình nền của de Crespigny.6
2.2 Chuyện bà Trưng trong sử ta
Chuyện bà Trưng trong sử sách [và truyền thuyết] nước ta thì xảy ra ở đồng bằng sông Hồng và vùng kế bên (hình 5).[8]

Hình 5. vẽ trên hình nền của de Crespigny.6
2.2.1 Dữ liệu địa lý của câu chuyện
Đồng bằng sông Hồng trong 6000 năm qua thay đổi như hình 6.

Hình 6.[9]
Hình 6 cho thấy lối 2000 năm trước, đường bờ biển chưa ra tới Nam Định và Hải Phòng ngày nay, còn bên trong thì đã có một số ‘bãi phù sa’ (floodplain) cao hơn mực nước biển nhưng vẫn thường bị nước sông làm lụt (số 13), nằm giữa các con đê cát thiên nhiên (số 12) cặp theo bờ sông (số 11). Các bãi đó cũng có lác đác người tới ở, nhưng việc sanh sống ắt còn khó khăn vì họ chưa biết đắp đê ngăn lụt. Di tích thực vật tìm thấy nhiều nhứt là cói (Cyperus spp) và bụp (Hibiscus spp).[10] Nói chung, thời trào Hán, miệt này vẫn chưa phải là một cái ‘đồng bằng sông Hồng’ đông dân, ít nhứt cho tới năm 1248, thời trào Trần Thái Tông, khi người ta đắp đê quai vạc từ đầu sông tới cửa biển để dứt hẳn nạn lụt.[11]
2.2.2 Dữ liệu khảo cổ của câu chuyện
Đồng bằng sông Hồng nói riêng, và khắp nước nói chung, chỉ có di tích của một cái thành giống như 55 thành ở Lãnh-nam nêu trên: đó là thành Luy Lâu ở Bắc Ninh ngày nay.
Thành này cũng xây thời Tây Hán theo kiểu ‘Thất-lý-vu vương-thành’: hình chữ nhựt, 4 tháp 4 góc, xung quanh là hào rộng 05–40 m (hình 7).[12] Thành đã từng bị quân ‘man’ nào đánh chiếm hay chưa, thì chẳng có dữ liệu gì hết.

Hình 7.12
2.2.3 Nhận xét
Với dữ liệu địa lý và khảo cổ nêu trên, thì rõ ràng đồng bằng sông Hồng và vùng kế bên không phải là nơi xảy ra chuyện hai bà Trưng như là sử sách ta đã ghi và truyền thuyết ta đã kể.
Truyền thuyết hai bà Trưng thì cũng mới có từ thế kỷ 12 sau khi vua Lý Anh Tông cho làm đền thờ hai Bà năm 1160,11 tức là hơn một ngàn năm sau khi câu chuyện xảy ra.
2.3 Kết luận
Bài này nêu một ‘vấn đề nhỏ’, nói theo nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu,[13] đó là chuyện hai bà Trưng, để các nhà-chép-sử suy nghĩ giải quyết. Sau đó, họ có làm gì thì It is up to them.
[1] Hồng Đức bản đồ (thế kỷ 15). Bửu Cầm, Đỗ Văn Anh, Phạm Huy Thúy, Tạ Quang Phát, Trương Bửu Lâm dịch (1962).
[2] Trần Văn Giáp. Lược khảo địa lý học Việt nam và một số tên sách cổ về môn ấy trong kho tàng sách Hán-Nôm. Nghiên cứu lịch sử, số 104 (1967).
[4] https://en.wiktionary.org/
[5] D. Jonathan Felt (2021) Structures of the Earth: metageographies of early medieval China.
[6] Refe de Crespigny () Prefectures and population in South China in the first three centuries AD.
[7] Maxim Korolkov. Southern sea ports of the Han empire: urbanization and trade in coastal Lingnan. In Handbook of Ancient Afro-Eurasian Economies, vol 3, ed Sitta von Reden (2023).
[8] Vũ Duy Mền et al (2017). Lịch sử Việt Nam, tập 1.
[9] Hoàng Phan Hải Yến et al. Late Pleistocene-Holocene sedimentary evolution in the coastal zone of the Red River Delta. Heliyon 7 (2021).
[10] Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ. Các giai đoạn phát triển thực vật ngập mặn trong Holocene ở đồng bằng sông Hồng. Các khoa học về trái đất, 6-2000.
[11] Đại Việt sử ký toàn thơ (thế kỷ 17). dịch: Mạc Bảo Thần (1945), Viện Khoa Học Xã Hội (1993).
[12] Phan Huy Lê (2014) Một vài trung tâm quyền lực và văn hóa khác. trong Văn hóa Việt Nam dưới góc nhìn lịch sử.
[13] https://nghiencuulichsu.com/2026/01/11/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-1/