
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
BA
Trên chặng trường chinh xuyên qua bão tuyết
Nhiều điều đã được bàn tán về nhân vật biết đến với cái tên Kim Il-sung có tên lúc mới sinh là Kim Song-ju. Kim Il-sung là bí danh du kích của ông, được sử dụng vào những năm 1930. Một số báo cáo cho rằng những nhân vật chống Nhật khác trước ông có thể đã tự xưng là Kim Il-sung, và có điều gì đó giống như một huyền thoại du kích đã lớn lên xung quanh tên này. Trên cơ sở đó, các nhà phê bình ở Triều Tiên và các nơi khác buộc tội rằng người cai trị Triều Tiên gần nửa thế kỷ chỉ là kẻ mạo danh và chưa bao giờ là anh hùng du kích. Do đó, chủ nghĩa hoài nghi có xu hướng sinh ra ở nước ngoài áp dụng một cách bừa bãi vào tất cả những thành tựu của ông, dù có thật hay tưởng tượng.
Các nhà tuyên truyền của Kim đã làm lợi cho những người chỉ trích ông khi họ thêu dệt và bóp méo các khía cạnh trong câu chuyện cuộc đời ông đến mức khiến họ hoài nghi và phì cười. Nhưng bản thân Kim phải gánh chịu trách nhiệm phần lớn cho sự đổ lỗi này. Một khía cạnh thể hiện rõ ràng nhất trong tính cách của ông là ông sẵn sàng nói dối về những vấn đề dù lớn hay nhỏ bất cứ khi nào ông nghĩ rằng điều đó có thể khuyến khích người khác ngưỡng mộ mình.
Đặc điểm này bộc lộ ngay từ những năm cuối tuổi thiếu niên, khi Kim giả vờ là mình lớn tuổi hơn thực tế. Ông đã bỏ học từ năm lớp tám, gần cuối cấp hai. Ông từ chối lời thúc giục của bạn bè nên quay lại và tốt nghiệp. “Tôi có thể tự học được,” ông nhớ lại và khẳng định. Thay vào đó, ông đã chọn con đường “cách mạng chuyên nghiệp”.
Ông cho biết vài tháng sau khi ra tù, ông bắt đầu khôi phục một số tổ chức thanh niên cộng sản. “Ban ngày tôi mặc đồ Trung Quốc và nói tiếng Hoa khi kêu gọi đồng đội, còn ban đêm tôi củng cố các tổ chức mặc trang phục và nói tiếng Triều Tiên.” Mặc dù lúc đó ông mới mười tám tuổi nhưng ông thừa nhận, ông kể với mọi người mình hai mươi ba hoặc hai mươi bốn tuổi để có được sự tôn trọng hơn một chút từ người trẻ cũng như người già.
Việc thay đổi tên khai sinh của ông, Song-ju, dường như đã phục vụ mục đích tương tự. Kim nói rằng mình vẫn còn ở tuổi thiếu niên khi các đồng chí đặt biệt danh cho mình là Il-sung Trước đây họ gọi ông là Han-byol, có nghĩa là “một ngôi sao,” sau này Il-sung có nghĩa là “trở thành mặt trời (Nhật Thành).” Ngay trước khi Kim được thả từ nhà tù, một bài báo ở Mãn Châu đã đề cập cái chết của một người có tên Kim il sung, một người có liên hệ với phong trào cộng sản ở đó. Mặc dù Kim không khi nào thừa nhận cái tên này, tuy nhiên ông tuyên bố mình cảm thấy không xứng đáng. Ông nói rằng mình phản đối việc so sánh mình với một ngôi sao hay mặt trời, cho nó không phù hợp với một chàng trai trẻ – “nhưng các đồng chí của tôi không nghe lời tôi, cho dù tôi có khiển trách họ nghiêm khắc đến thế nào đi nữa.” Giống như những đồng chí đó, chúng ta có thể gạt bỏ những phản đối của Kim về việc họ đặt nền móng đầu tiên cho cái mà sau này trở thành thói sùng bái cá nhân ông.
Tuy nhiên, gạt xu hướng tự đề cao và quanh co của ông sang một bên, các học giả độc lập đã xác lập chắc chắn rằng Kim khi còn trẻ, theo một nghĩa quan trọng nhất, là một nhân vật chân chính: một người Triều Tiên yêu nước có lòng quyết tâm và ý chí kiên cường khác thường. Việc ông có mượn cái tên Kim Il-sung hay không không liên quan đến việc đánh giá thành tích của ông, vì chính ông là người đã mang lại cho cái tên này sự nổi tiếng đáng kể vào những năm 1930. Ông nhanh chóng thăng tiến với tư cách là một chiến sĩ du kích để trở thành lãnh tụ đảng trong một chiến dịch thất bại nhưng dũng cảm chống lại chủ nghĩa thực dân Nhật Bản. Trong khi các cáo buộc ông là một kẻ mạo danh có cuộc sống riêng, xuất hiện trên các phương tiện truyền thông phương Tây với tần suất nhất định, bằng chứng ngược lại đã đủ rõ ràng đến mức ngay cả các nghiên cứu do chính phủ Hàn Quốc tài trợ cũng cho rằng Kim có một vai trò trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Triều Tiên.
Không có đảng cộng sản Triều Tiên riêng biệt nào tồn tại khi Kim trưởng thành, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong nhiều năm để thành lập một đảng. Cảnh sát Nhật Bản đã nhổ tận gốc từng đảng phái Triều Tiên non trẻ một cách triệt để và tàn nhẫn đến mức ít người có thể ở lại Triều Tiên sẵn sàng và có khả năng tiếp tục chính nghĩa cộng sản, như Robert A. Scalapino và Chong-sik Lee giải thích trong tác phẩm tiên phong Chủ nghĩa Cộng sản Triều Tiên. Hơn nữa, chủ nghĩa bè phái đã và đang là một vấn đề có cội rễ sâu xa trong văn hóa chính trị Triều Tiên, trên mọi phạm vi ý thức hệ. Xung đột phe phái đã chứng tỏ sức tàn phá nặng nề đối với các nhóm cộng sản Triều Tiên cả trong và ngoài nước.
Lênin năm 1919 đã thành lập Đệ tam Quốc tế Cộng sản ở Moscow, gọi tắt là Comintern. Lời nói của nó là luật trong phong trào cộng sản quốc tế. Cuối cùng chán ngấy sự tranh cãi giữa những người cộng sản Triều Tiên, cơ quan này đã đưa ra các quy định mới nhằm loại bỏ các đảng cộng sản Triều Tiên hoạt động bên ngoài Triều Tiên. Những người Triều Tiên lưu vong – chiếm đại đa số nhóm người Triều Tiên tìm cách trở thành những người cộng sản trong thời kỳ đó đã được hướng dẫn tham gia các đảng phái địa phương. Đối với người Triều Tiên ở Mãn Châu, điều đó có nghĩa là Đảng Cộng sản Trung Quốc được Moscow hậu thuẫn. Kim gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1931.
Theo lời kể của mình, ông sớm giành được sự bổ nhiệm của Quốc tế Cộng sản với tư cách là nhà tổ chức thanh niên ở khu vực phía đông có nhiều người Triều Tiên thuộc tỉnh Jilin của Mãn Châu. Đi về phía bắc đến thành phố Cáp Nhĩ Tân của Mãn Châu chịu ảnh hưởng của Nga để gặp đại diện của Moscow, ông ở trong một khách sạn sang trọng. Tuy nhiên, khoản trợ cấp chi tiêu của ông quá khiêm tốn nên ông phải ăn bánh kếp bột ngô mua từ những người bán hàng rong. “Ngày đầu tiên tôi vào khách sạn, một nữ tiếp viên người Nga đi cùng tôi đến phòng và đề nghị chăm sóc móng tay cho tôi”, ông nhớ lại. “Tôi nói tôi đã làm việc đó rồi, vì tôi không có tiền để trả cho cô ấy. Một người phục vụ khác bước vào sau cô ấy và hỏi tôi muốn gọi món gì cho bữa ăn của mình. Tôi buộc phải nói rằng tôi đã ăn ở nhà bạn tôi rồi.”
Vào mùa xuân năm 1931, Kim chuyển đến huyện Antu miền núi của Mãn Châu một thời gian, nơi mẹ và các em trai của ông sống. Theo hồi ký của ông, chính tại đó, ông đã quyết định tham gia cuộc chiến tranh du kích chống Nhật, quốc gia mà năm đó đã hoàn thành việc chiếm đóng Mãn Châu. Tại một cuộc họp của các nhà hoạt động vào cuối năm 1931, những người hoài nghi đã hỏi làm thế nào một lực lượng du kích đơn thuần có thể đánh bại quân đội Nhật Bản gồm vài triệu người được trang bị xe tăng, pháo binh và máy bay chiến đấu. Họ chỉ ra rằng quân du kích Triều Tiên đóng tại Mãn Châu thậm chí còn không có lợi thế khi chiến đấu ở quê nhà. Theo Kim, ông đã thuyết phục được họ bằng một cuộc tranh luận kéo dài.
Khi ông hai mươi tuổi, trò chơi chiến tranh thời niên thiếu của Kim đã trở thành hiện thực chết người khi ông cầm vũ khí tham gia cuộc đấu tranh du kích. Trong phiên bản của mình, ông cùng với một số đồng đội thành lập một đơn vị du kích Triều Tiên mà ông là chỉ huy mặc dù đồng ý nhận lệnh từ một chỉ huy Trung Quốc theo dân tộc chủ nghĩa hoạt động trong khu vực. Trong khi ông không đề cập đến quá trình đi lên từ người lính bình thường sang người chỉ huy chiến trường, một số nhà sử học nói rằng ông thực sự đã theo nhiều nhóm du kích khác nhau trong một thời gian trước đó. đủ điều kiện để chỉ huy đơn vị của mình sau này.
Vào mùa xuân năm 1932, theo lời kể của ông, Kim và đơn vị nhỏ của ông lần đầu tiên giao chiến với kẻ thù. Đội du kích phục kích một đoàn xe chở vũ khí được bảo vệ bởi binh lính của chính phủ bù nhìn Trung Quốc mà người Nhật đã thiết lập để điều hành “Mãn Châu Quốc”, tên họ đổi từ Mãn Châu. Sau này Kim nhớ lại: “Tôi căng thẳng và phấn khích đến mức có thể cảm thấy tim mình đang đập trong lồng ngực. Đơn vị thiếu kinh nghiệm của ông đã lên kế hoạch cho một cuộc phục kích ban đêm mà không nhận ra rằng bóng tối khiến việc phân biệt bạn và thù trở nên khó khăn. May mắn là có trăng tròn. Ông nói, quân du kích chiếm ưu thế sau khoảng mười phút nổ súng và chiếm được quân nhu.
Một lát sau, trận chiến đầu tiên của Kim với một đơn vị Nhật Bản thực sự chuyên nghiệp gồm những người lính dày dạn kinh nghiệm hơn binh sĩ Mãn Châu Quốc mở ra. Theo lời khai của ông, trong cuộc giao tranh đó đơn vị của ông gần như tiêu diệt được kẻ thù nhưng đã mất đi một số đồng đội: “Sau khi chôn cất đồng đội đã chết trên một ngọn đồi không tên, chúng tôi đã tổ chức lễ tang trước mộ của họ. Nhìn vào các chiến binh đang thổn thức, với mũ trong tay, tôi đã đọc một lời phát biểu vĩnh biệt với giọng run rẩy. Tôi không còn nhớ những gì mình đã nói. Tôi chỉ nhớ khi phát biểu xong, ngẩng đầu lên, tôi thấy đôi vai các đồng đội phập phồng dữ dội.”
Căn cứ chính của Kim ở một khu vực khác trong cùng quận với nhà của mẹ ông. Bà đang mắc một căn bệnh chưa được chẩn đoán mà sau này ông tin rằng đó là ung thư dạ dày. Kim cho biết mẹ ông không cho ông bỏ công sức giúp đỡ bà việc nhà và thay vào đó thúc giục ông tiếp tục nhiệm vụ cách mạng của mình. Ông nghe lời và hiếm khi đến thăm bà khi bệnh tình bà ngày càng trở nặng. Mỗi lần đến thăm, ông mang ngũ cốc cho bà và các em trai. Trong một lần đến thăm sau một thời gian dài không lui tới, Kim cảm thấy bồn chồn khi từ xa ông không thấy khói bốc lên từ ống khói. Bước vào nhà “sợ hãi và căng thẳng đến mức máu trong tim như đông cứng lại”, Kim thấy giường của mẹ mình trống trải còn các em trai thì đang khóc nức nở.
Kim kể lại một giai thoại đầy cảm động. Khi cái chết của người mẹ nằm liệt giường đến gần, thật khó để giữ cho mái tóc của bà sạch sẽ. Một người phụ nữ hàng xóm chăm sóc bà đã cắt tóc cho Kang Pan-sok để da đầu bà không ngứa ngáy. Kim nhớ lại khi nghe về điều đó, “cõi lòng tôi như tan nát. Tôi không biết nói gì, ngay cả khi mình phải mang tiếng là một đứa con trai bất hiếu.” Kim thú nhận mình cảm thấy ân hận vì nghĩa vụ làm con chưa trọn của mình (một lời thú nhận trái ngược với sự tự tin được phản ánh trong hầu hết những hồi tưởng của ông). Quan niệm của Nho giáo về lòng hiếu thảo rõ ràng đã in sâu vào tâm trí ông. Mặt khác, ông viết: “Trong giới trẻ đồng đội cách mạng của tôi, quan điểm thịnh hành cho rằng một khi chúng ta đã bước vào con đường đấu tranh thì đương nhiên phải quên đi gia đình của mình. Quan điểm của tôi thời đó về lòng hiếu thảo là sự tận lực cống hiến cho cách mạng biểu thị tình yêu cao cả dành cho gia đình mình.” Tuy nhiên, “tôi không có quan điểm rõ ràng và vững chắc về việc một nhà cách mạng cống hiến cho cách mạng phải yêu gia đình mình như thế nào.”
Kim tìm thấy trong lịch sử Triều Tiên một số lý do biện minh cho con đường mà ông đã chọn lựa. Sau khi Nhật Bản áp đặt lên Triều Tiên một hiệp ước “bảo hộ” vào năm 1905, một nhóm chiến binh yêu nước tự xưng là Lực lượng Tình nguyện Chính nghĩa đã tuyên bố bãi bỏ hiệp ước. Lực lượng Tình nguyện Chính nghĩa đang tiến gần đến thủ đô thì người chỉ huy Li Rin-yong nhận được tin cha ông vừa mất. Lý trao quyền chỉ huy cho cấp dưới và tức tốc về nhà, như lời Kim kể lại câu chuyện. Kết hợp với những vận rủi khác, việc bỏ đi của Tướng Li đã làm mất nhuệ khí binh sĩ và dẫn đến sự sụp đổ của quân đội. Kim nói thế khi đang học ở Jilin, một số đồng học của ông lên tiếng bảo vệ Li. “Vào thời ấy, người nào chỉ tận tụy với cha mẹ mình mới được xem là người con hiếu thảo,” Kim giải thích. Nhưng ông nói mình đã lập luận rằng Li lẽ ra phải chiến đấu trước, thực hiện nghĩa vụ của mình đối với quốc gia, trước khi đến viếng mộ thân phụ.
Các thành viên trong gia đình Kim đã phải chịu đựng đáng kể vì chính nghĩa độc lập và nỗi khổ của họ còn lâu mới kết thúc. Kim để lại các em trai mình phía sau cho hàng xóm trông nom hoặc để chúng tự bươn chải. Sau đó ông gia nhập cùng quân Trung Quốc và Triều Tiên khác, rút lui khỏi Antu, nơi quân Nhật đang tăng cường biện pháp đối phó. Người em trai giữa mười sáu tuổi Chol-ju muốn tham gia du kích và chiến đấu, nhưng Kim bảo em phải đợi vài năm nữa. Đó là lần cuối cùng họ gặp nhau. Chol-ju sau này đã tham gia chiến đấu trong một đơn vị khác do người Trung Quốc lãnh đạo, và bị giết trong trận chiến ba năm sau, Kim nói.
Kim cho biết, sau cái chết của Chol-ju, em trai út của ông, Kim Yong-ju, lang thang hết nơi này đến nơi khác, kiếm sống bằng công việc trông trẻ và chạy vặt, cuối cùng kiếm được việc làm trong một nhà máy bia. Trong chuyến về thăm Triều Tiên, Kim Il-sung viết, Yong-ju “đến Mangyongdae trong bộ vest đen và giày trắng. Vẻ ngoài của chú ấy bảnh bao đến mức ông nội chúng tôi thậm chí còn tự hỏi liệu cháu trai út của ông có phải đã có đạt đến địa vị cao và trở nên giàu có.” Tuy nhiên, chuyện đó là về sau này, khi Chủ tịch Kim Il-sung đề bạt cho em trai mình vào các vị trí cao cấp nhất trong ban lãnh đạo Triều Tiên.
Người chú nóng tính của Kim, Hyong-gwon, người mà khi còn trẻ đã đập đầu làm vỡ bát cháo, khi trưởng thành vẫn tiếp tục trút giận – nhưng lần này học cách trút giận lên bọn Nhật. Kim Hyong-gwon và ba đồng đội đã bắn chết một cảnh sát Nhật trong cuộc đột nhập vào Triều Tiên từ Mãn Châu năm 1930. Kim Il-sung kể lại sự ngạc nhiên của mình khi biết rằng một người bạn cũ của gia đình, sau khi giấu họ trong sân nhà, đã tiết lộ nơi ẩn náu của họ cho cơ quan chức năng. Hóa ra người cung cấp thông tin từng làm mật vụ cho người Nhật. Đây là một bài học cho Kim. Ông viết: “Ngay cả bây giờ tôi vẫn cho rằng tin vào con người là điều tốt nhưng thật sai lầm khi nuôi dưỡng ảo tưởng về họ”. Hyong-gwon, “cứng đầu như một con la,” chết trong tù năm 1936 ở tuổi 31, Kim kể. Ông nhớ lại, ngôi nhà Mangyongdae, nơi ở của hai kẻ sống ngoài vòng pháp luật khét tiếng là Kim Il-sung và chú của ông, đã thu hút sự chú ý nghiêm ngặt từ chính quyền. Cảnh sát ngồi dưới bóng cây tần bì trước nhà ông bà nội ông, rình rập và quấy rối gia đình ông. Kim viết: “Để tước đi bóng mát của họ, người chú lớn của ông đã “cầm rìu ra ngoài sân và đốn ngã cây tần bì”. Trong tất cả hộ gia đình trong làng, ông tuyên bố, chỉ một mình nhà ông là không chịu đổi tên Nhật theo yêu cầu của chính quyền thuộc địa vào những năm 1930, mặc dù cảnh sát đã đánh đập người chú lớn của ông vì không tuân thủ.
“Nỗi bất hạnh và đau khổ của gia đình chúng tôi là hình ảnh thu nhỏ của sự bất hạnh và đau khổ ập đến với nhân dân chúng tôi sau khi họ mất đi đất nước mình,” Kim viết trong hồi ký. “Dưới sự cai trị vô nhân đạo của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản, hàng triệu người Triều Tiên đã thiệt mạng – chết vì đói, vì lạnh, vì bị thiêu cháy hoặc bị đánh đập.”
Cuộc rút lui khỏi Antu năm 1932 cuối cùng đã đưa Kim và các chiến binh chống Nhật của ông đến khu vực biên giới Mãn Châu-Xô Viết. Nhật Bản tăng cường áp lực. Các phần tử dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc và Triều Tiên chạy trốn qua biên giới hoặc chuyển sang nghề cướp bóc. Kim nói việc đó đã bỏ lại ông và 17 thanh thiếu niên cộng sản bơ vơ trong một vùng hoang vu, ảm đạm tên là Luozigou. Ông nói, tất cả lương thực của họ đã cạn kiệt, quần áo của họ đã rách rưới. “Trên bầu trời, máy bay lượn vòng quanh, thả truyền đơn thúc giục chúng tôi đầu hàng, và trên mặt đất, đám lính Nhật được huy động cho một ‘cuộc viễn chinh trừng phạt’ đang áp sát chúng tôi từ mọi hướng.”
Choi Jin-sok, người gia nhập đơn vị vào thời điểm đó, cho biết mình nhập ngũ sau khi lực lượng trừng phạt Nhật Bản giết chết hai anh trai của cậu. Lễ giới thiệu chính thức của Choi diễn ra trên một cánh đồng nhân sâm phủ đầy tuyết, nơi quân du kích đói khát đang đào củ nhân sâm để ăn. Choi nói với một phóng viên Hàn Quốc hơn sáu thập kỷ sau: “Tôi đã đề nghị Kim Il-sung nhận tôi vào đơn vị của ông ấy, và ông ấy đã ôm tôi, nắm vai tôi và bảo tôi hãy làm tốt nhiệm vụ ”.
Nhóm Triều Tiên cân nhắc việc từ bỏ vũ khí và từ bỏ chiến tranh du kích. “Không chỉ tôi mà cả nhóm chúng tôi đều dao động”, Kim thừa nhận. Trong một trường hợp hiếm hoi tự chế nhạo mình trước công chúng, ông kể lại rằng “khi chúng tôi hoạt động ở Jilin, viết truyền đơn và tuyên truyền, tất cả chúng tôi đều từng là anh hùng và vĩ nhân. Nhưng ở nơi này, chúng tôi đều là những kẻ tay mơ. May mắn thay, một ông già tên Ma xuất hiện và giúp cứu thế giới. Ma giấu quân du kích trong một túp lều trên núi và cho họ ăn để lấy lại sức và ý chí, theo lời kể của Kim. Dù vậy, ông nói thêm, điều thực sự vực dậy họ vượt qua cuộc khủng hoảng này là ý thức về vận mệnh của ông: “Nếu tôi nghĩ rằng sẽ có người giải cứu Triều Tiên sau khi chúng tôi chết thì chúng tôi đã bị chôn vùi dưới tuyết rồi”.
Nghỉ dưỡng xong, các chiến binh trẻ lên đường vào mùa xuân năm 1933 đến huyện miền núi Wangqing ở tỉnh Kiến Đảo, Mãn Châu. Chủ nghĩa cộng sản đã thay thế hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của dân Triều Tiên địa phương làm nông, đốt nương, thợ rừng và lái bè. Đường lối của Moscow, được truyền qua Đảng Cộng sản Trung Quốc, là thiết lập các khu du kích ở Mãn Châu. Cộng sản đã giết hoặc loại bỏ các đại diện địa phương của giai cấp thống trị và chia lại đất đai của họ cho nông dân. Chính quyền cách mạng, Kim viết sau này, đang thiết lập những xã hội lý tưởng. Giáo dục và chăm sóc y tế được miễn phí. “Lần đầu tiên trong lịch sử, mọi người đều được hưởng sự bình đẳng.” Ông tỏ ra hào hùng khi nhớ lại những người nông dân vui vẻ “múa theo nhịp cồng chiêng khi đóng cọc để đánh dấu các thửa đất được chính quyền cách mạng chia cho nhân dân”.
Ký ức của Kim trở nên kém tươi sáng hơn khi ông mô tả việc Nhật Bản bao vây các khu vực tập kết cộng sản. Trong khi chiến tranh du kích cộng sản ở Mãn Châu chỉ là một màn trình diễn phụ so với cuộc đấu tranh của các lực lượng cộng sản chính của Trung Quốc ở phía nam, do Mao Trạch Đông lãnh đạo, Tokyo đã cảm nhận được mối đe dọa đáng kể đối với kế hoạch của mình và gửi quân tham gia “các hoạt động trừng phạt” chống lại quân du kích Mãn Châu. Một năm trước khi Kim đến quận này, một chiến dịch như vậy của Nhật Bản đã “nhấn chìm những cánh đồng và ngọn núi ở Wangqing trong một cuộc tắm máu”, Kim viết. “Nội tạng người chết trôi theo sông”. Người Nhật “không ngần ngại phá hủy cả một ngôi làng để giết chỉ một người cộng sản”. Chính sách của họ là “giết tất cả mọi người, đốt cháy mọi thứ và cướp bóc mọi thứ.” Những người sống sót sau chiến thuật thiêu đốt đó phải di chuyển từ những ngôi làng biệt lập của họ đến những thị trấn nơi chính quyền có thể kiểm soát họ. (Như Kim lưu ý, người Mỹ sau đó đã mượn và cải tiến cách tiếp cận này ở Việt Nam, nơi họ bắt dân làng từ vùng Cộng sản Việt Nam và tập trung vào các “ấp chiến lược.)
Nhóm của Kim gia nhập lực lượng du kích cộng sản có nhiệm vụ bảo vệ khoảng một nghìn người dân Wangqing, những người đã trốn tránh chiến dịch trừng phạt năm 1932. Họ chạy trốn sâu hơn vào vùng núi, đến Xiaowangqing có rừng rậm. Nuôi dưỡng những người tị nạn là vấn đề trước mắt. Những mảnh đất canh tác nhỏ trong khu vực không thể nuôi sống họ. Các cuộc tấn công du kích vào kẻ thù chỉ mang lại một lượng nhỏ tiếp tế. Người dân ăn cháo làm từ đậu xay bằng cối xay. Khi không còn thứ đó, những người cách mạng phải tìm kiếm rễ cây và thảo mộc. Trong cơn tuyệt vọng, họ đã làm những chiếc bánh bằng vỏ thông đun sôi trong nước xút và giã nhỏ.
Thời gian ông ở các khu du kích có ảnh hưởng lớn đến Kim. Về sau, ông không ngừng nhớ lại những ngày đó và những bài học đã rút ra được. Một số bài học rút ra từ sự bất mãn của ông đối với các thủ lĩnh của các căn cứ du kích. Giống như những tên hề theo chủ nghĩa dân tộc mà ông từng khinh thường thời còn là học sinh, những người cộng sản đó đã ra vẻ thay vì trực tiếp đối mặt với các vấn đề. “Các cán bộ chẳng bận tâm gì đặc biệt, chỉ gây ồn ào và la hét ‘Cách mạng! Cách mạng!’ Họ hiếm khi chiến đấu bên ngoài khu vực du kích, nhưng ngày này qua ngày khác chỉ nói ra những khẩu hiệu rỗng tuếch về việc thiết lập chế độ chuyên chế vô sản.”
Khi du kích chiến thắng trở về, “nhân dân reo hò hoan hô, vẫy cờ”. Tuy nhiên, có rất ít trận đánh lớn. Kim nhớ lại lập luận rằng có quá ít binh lính và vũ khí sẵn có để bảo vệ một khu vực rộng lớn như vậy và đồng thời thực hiện các hoạt động tấn công. Nhưng “quan chức nhu nhược” đã bác bỏ lập luận của ông. Những quan chức đó đã chỉ định tất cả những ai sống bên ngoài khu vực là những kẻ phản động, kết quả là giảm thiểu số người họ có thể thu hút được để cải tạo và tuyển mộ. Đối với bất kỳ tân binh tiềm năng nào đáp ứng được yêu cầu tuyển mộ, họ đặt ra những tiêu chuẩn phi thực tế về xuất thân giai cấp và mức độ nhận thức chính trị..
Kim kể về một thanh niên có cha sở hữu hơn 3 ha đất nghèo trên sườn đồi. Ba ha là điểm loại. Không thành viên nào trong hộ nông dân có nhiều đất đai hơn có thể được coi là “nông dân nghèo”. Thế là chàng trai đã trượt bài kiểm tra lý lịch nghiêm ngặt của khu du kích để được tuyển mộ làm tân binh. Bị từ chối nhiều lần, cuối cùng chàng trai đã thu xếp việc bán mảnh đất mà cha mẹ anh không hề hay biết. Anh ta dùng số tiền thu được để mua một hộp súng lục Browning và tặng vũ khí cho lực lượng phòng vệ của huyện. Bây giờ anh ta đủ tiêu chuẩn là một nông dân nghèo, anh ta đã được chấp nhận. “Anh ấy vui mừng vì đã trở thành du kích, nhưng gia đình anh ấy lâm vào cảnh túng quẫn, không còn phương tiện sinh nhai,” Kim viết.
Kim và những người cùng chí hướng đã tiến hành thiết lập vùng đệm xung quanh khu du kích. Người cộng sản không thể hoàn toàn kiểm soát vùng đệm giống như với vùng du kích được bảo vệ nghiêm ngặt. Nhưng họ có thể chắt chiu từ đó sự hỗ trợ vật chất và lực lượng dự bị. Vùng đệm “ban ngày do địch trấn áp, ban đêm sẽ do ta kiểm soát”. Mặc dù các đối thủ chỉ trích nhóm Kim là “những kẻ lệch lạc hữu khuynh”, nhưng hóa ra phe Kim hành động như vậy là đúng, theo như ông kể lại câu chuyện. Vào giữa những năm 1930, bản thân vùng du kích đã trở thành một mục tiêu quá lớn. Người cộng sản phải giải tán nó. Tuy nhiên, các tổ chức cách mạng ngầm mà họ đã thiết lập ở vùng đệm do địch cai trị vẫn tiếp tục hoạt động.
Sự yếu kém về quân sự không phải là vấn đề tồi tệ nhất đối với các quận du kích khi Kim đến Wangqing năm 1933. Những thay đổi xã hội cấp tiến, do Đảng Cộng sản Trung Quốc áp đặt theo lệnh Moscow, đã khiến người dân vỡ mộng. Nhiều người đã bỏ đi trong sự phẫn nộ. “Mọi thứ đều được chia thành công xã, từ đất đai, lương thực đến các công cụ và dụng cụ làm nông như liềm, cuốc và chĩa đã từng thuộc sở hữu riêng của nông dân.” Cuộc sống, lao động và phân phối đều mang tính cộng đồng. Kim không gặp vấn đề gì với các biện pháp này; hơn một thập kỷ sau, với tư cách là nhà lãnh tụ Triều Tiên, khi ông tự mình áp dụng nhiều biện pháp trong số đó. Thay vào đó, ông không đồng ý về thời điểm : “Chính sách này có nghĩa là gửi trẻ mẫu giáo vào đại học mà không cho chúng học tiểu học và trung học.”
Thuật ngữ của những người cách mạng dành cho cơ quan quản lý khu du kích Mãn Châu là “xô viết”, nghĩa là một chính quyền cộng sản được bầu ra. Tuy nhiên, người dân địa phương không biết thuật ngữ nước ngoài có nghĩa là gì khi áp dụng cho các quận của họ, và những người cộng sản đã không chịu khó dạy dỗ họ. Ở nhiều quận khác nhau, như Kim cuối cùng được biết, người dân đã nhầm thuật ngữ này với soksaepо, từ tiếng Triều Tiên có nghĩa là súng tự động, hay soebochi, một cái thùng thiếc. Một dân làng khuyên mọi người nên nhìn kỹ vào Xô viết và xem nó lớn hay nhỏ. “Người ta kể rằng một số dân làng khác đã mang thúng ra ngoài để hái rau dại vì họ chẳng có gì đặc biệt để dâng tặng cho Xô viết, một vị khách quan trọng.” Ngay cả những nhà tuyên truyền của Liên Xô cũng không biết rõ nó là gì. Để che đậy sự lúng túng của mình, họ đưa ra những từ mượn bổ sung như kommuna.
Một ông lão, cha của một chỉ huy du kích, nói với Kim rằng giọt nước cuối cùng đối với ông đã đến khi các quan chức thu gom thìa và đũa của người dân để sử dụng trong một phòng ăn tập thể mới. Ông già nhổ nước bọt vào họ. Ông nói với họ: “Nếu các anh định tạo ra một địa ngục và gọi nó là kommuпа, thì hãy tự mình làm điều đó đi, các bạn trẻ ạ. Chúng tôi đã hết hơi và không thể theo kịp các anh nữa.” Ông già cũng cảm thấy ghê tởm những cuộc họp đông người mà tại đó các cô con dâu chỉ trích cha mẹ chồng, bậc gia trưởng theo truyền thống, là hống hách,
Chính quyền đã tịch thu các tài sản đất đai lớn và nhỏ như nhau, tịch thu gia súc, ngựa và lương thực của chủ sở hữu. Khi một em bé gái được sinh ra trong một gia đình Trung Quốc, gia đình cô có phong tục chuẩn bị những đôi giày có họa tiết hoa cho những đứa con tương lai của mình và cất chúng vào rương. Trong cuộc thanh trừng các địa chủ Trung Hoa, những người cách mạng thậm chí đã lấy đi đôi giày đó.
Mặc dù trong hồi ký của mình, Kim có kể lại những giai thoại xúc động như vậy, nhưng đó không phải là tình cảm khiến ông phản đối chiến dịch tập thể hóa ở các vùng du kích. Đúng hơn, chiến dịch đã cắt đứt sự hỗ trợ có giá trị mà quân du kích đã nhận được từ các chủ đất. Địa chủ chủ yếu là người Hoa yêu nước, phản đối thực dân Nhật. Việc làm họ xa lánh làm sống lại những sự đối kháng cũ của cư dân Trung Quốc ở Mãn Châu đối với người Triều, những người chiếm đại đa số trong toàn bộ dân số Kiến đảo và những người cộng sản của tỉnh. Kết quả là sự chia rẽ trong phong trào chống Nhật. Kim đổ lỗi vấn đề cho những người cấp cao hơn, những người “không biết rõ hoàn cảnh cụ thể, đã áp dụng những nguyên tắc khó hiểu của các tác phẩm kinh điển” – nghĩa là các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lê. Những người phụ trách địa phương nhận mệnh lệnh từ Quốc tế Cộng sản Moscow và họ từ chối thay đổi chính sách. Một số nhà cách mạng có thể nhìn thấy các chỉ thị đó đã thất bại trên thực tế – nhưng họ tưởng tượng rằng cách để khắc phục tình hình là đến Liên Xô và nghiên cứu cách nước mẹ cách mạng đã thực hiện chúng.
Hệ thống Triều Tiên mà Kim xây dựng trong cuộc đời sau này của ông có vẻ cực đoan đến mức khó có thể hình dung ông là tai họa của những tên cộng sản cực đoan quá nhiệt tình. Tuy nhiên, ông khẳng định rằng trong sáu thập kỷ sau những ngày ở vùng du kích những năm 1930, ông đã đấu tranh không mệt mỏi với các điều xấu ác và xu hướng quan liêu “cánh tả”.
Một số trải nghiệm trong những năm 1930 của ông dường như củng cố một khuynh hướng cá nhân đối với chủ nghĩa độc tài. Kim dành một phần dài của hồi ký của ông để chê bai “chủ nghĩa siêu dân chủ”- một xu hướng “cánh tả” khác trong điều lệnh của một số lực lượng du kích chống Nhật ở Mãn Châu. Những người cánh tả này “chủ trương sự bình đẳng tuyệt đối trong quân đội, không phân biệt cấp bậc.” Các sĩ quan cũng phải làm các công việc phục vụ giống như binh sĩ. Còn tai hại hơn là quy tắc cho rằng, ngay cả trong sức nóng hừng hực của trận chiến, mọi thứ phải được quyết định tập thể thông qua nguyên tắc đa số. Trong thực hành có nghĩa là một loạt vô tận các cuộc họp.
Kim kể về một trường hợp quân Nhật bao vây 13 du kích trong một ngôi nhà vào ban đêm. Những chiến binh dày dạn kinh nghiệm cố thủ trong nhà có thể thấy rằng hy vọng tốt nhất để trốn thoát là tìm được điểm yếu của kẻ thù, đột kích nhanh chóng và tìm đường rút vượt qua kẽ hở của lực lượng đang bao vây. Tuy nhiên, đại đội trưởng không có quyền đưa ra quyết định, và một du kích kỳ cựu biết rõ phải làm gì thì không được hưởng bất kỳ sự tôn trọng đặc biệt nào chỉ vì thâm niên của y. Những người lính tranh cãi không ngừng về việc có nên thử một đột phá hoặc đơn giản cố thủ và chiến đấu. Họ không ngừng tranh cãi và tranh cãi cho đến khi kẻ thù bắt đầu nổ súng thì mới lật đật chiến đấu. Tất cả 13 du kích đã bị bắn chết chỉ trừ một du kích bị thương và xoay sở trốn về được để kể lại câu chuyện. “Kể từ đó tôi đã rùng mình khi nhắc đến chuyện siêu dân chủ trong quân đội, và không bao giờ dung thứ cho xu hướng nhỏ nhất hướng tới chuyện đó trong hàng ngũ của chúng tôi,” Kim nói. Một đội quân trong đó cấp dưới nói chuyện bất lịch sự với cấp trên, tranh cãi mệnh lệnh hoặc chỉ thị của cấp trên hoặc không chào họ “không còn là một đội quân nữa. Đó là một sự hỗn tạp.”
Trong thời gian ở Mãn Châu trong khu du kích Wangqing, Kim tuyên bố, mọi người bắt đầu coi ông là một phiên bản Triều Tiên tiềm năng của nhà lãnh đạo cách mạng nổi tiếng Hồ Chí Minh của Việt Nam. Một đại diện của Quốc tế Cộng sản được gọi là Thanh tra Pan đã đến thăm vào tháng 4 năm 1933, tháng mà Kim tròn 21 tuổi. Kim hỏi vị khách tại sao Moscow không cho phép người Triều Tiên thành lập đảng cộng sản của riêng họ. Suy cho cùng, người Đông Dương đã có một đảng của riêng họ bất chấp những hành động xung đột phe phái của họ. Thanh tra Pan giải thích lý do thực sự của sự phân biệt: Không ai khác ngoài Hồ Chí Minh từng đại diện cho những người cộng sản Đông Dương trong Quốc tế Cộng sản. Mặt khác, không có lãnh đạo cộng sản Triều Tiên xuất sắc nào có thể khiến Moscow phải kính trọng. Thanh tra Pan ở lại nói chuyện vài ngày, theo lời kể của Kim, và cuối cùng khi rời đi, lời chia tay của ông với chủ nhà là: “Xin hãy ráng là Hồ Chí Minh của Triều Tiên.”
Bất kể những bất đồng của ông với chính sách của đảng, nhiệm vụ của Kim như một người lính là giúp bảo vệ khu du kích Xaiowangqing. Ông và lực lượng nổi dậy cộng sản của mình ở Đông Mãn Châu không chỉ làm Tokyo nổi quạu. Họ hạn chế quyền kiểm soát của Nhật trong lãnh thổ đó và có thể cản trở đế quốc bành trướng hơn nữa sang Trung Quốc. Nhật Bản phân công một sư đoàn thuộc Quân đoàn Quảng Đông thiện chiến và tăng cường cảnh sát để kiềm chế quân du kích. Chính quyền cử lực lượng vũ trang dự bị Nhật Bản đến đóng căn cứ với vai trò là thực dân. Họ thiết lập các hiệp hội “để duy trì hòa bình công cộng” trên khắp Mãn Châu. Các hiệp hội nhận chỉ thị tiêu diệt quân nổi dậy và bình định dân chúng. Gián điệp của người Nhật thâm nhập vào các khu vực do cộng sản nắm giữ. Các mật vụ chìm có quyền hành quyết ngay tại chỗ những kẻ nổi loạn.
Ông Kim kể rằng một thử thách lớn là trận chiến kéo dài ba tháng với lực lượng trừng phạt Nhật Bản bắt đầu vào tháng 11 năm 1933. Ông cho biết 5.000 quân địch đã tấn công một khu vực chỉ được bảo vệ bởi hai đại đội du kích. Du kích tấn công bất ngờ, bắn tỉa, phục kích, tác chiến ban đêm và nhử mồi, dụ kẻ thù vào khu vực phòng thủ do họ lựa chọn. Một chiến thuật thành công là chôn một quả bom vào đống lửa ngay trước khi rời bỏ khu đóng quân qua đêm. Quân giặc tiến vào vị trí bỏ hoang sưởi ấm bên đống lửa còn cháy – lần cuối cùng trong đời. Hồ Chí Minh ắt hẳn sẽ tán thành. Tuy nhiên, quân địch đã chấp nhận tổn thất và tiến hành một cuộc bao vây, quyết tâm tồn tại lâu hơn những người cộng sản được tiếp tế kém. Kim cho biết ông đã dẫn một nửa quân du kích và lẻn qua vòng vây, sau đó quay lại và quấy rối địch từ phía sau. Cuối cùng, quân Nhật dỡ bỏ vòng vây và rút lui.
Kim giải thích lý do các sử gia bên ngoài không biết gì về trận chiến này là vì nó lu mờ trước tin tức châu Âu khi Hitler nhậm chức ở Đức trong khi Moscow và Washington thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, các trận chiến khác không thoát khỏi sự chú ý. Từ Wangqing và các căn cứ khác, Kim sau đó đã tiến hành nhiều hoạt động quân sự quy mô nhỏ hơn, thường là ở Mãn Châu nhưng đôi khi xuyên qua biên giới vào Triều Tiên. Thành tích trong chiến tranh du kích đã chứng tỏ ông là người xứng đáng mang tên Kim Nhật Thành lừng lẫy. Báo chí đưa tin từ giữa đến cuối những năm 1930 có rải rác những tài liệu tham khảo về chiến công của đơn vị Kim Nhật Thành. Một báo cáo gửi cho Quốc tế Cộng sản vào tháng 12 năm 1935 mô tả ông là người “được tin cậy và kính trọng” trong phong trào chống Nhật.
Sự kiện quan trọng nhất xây dựng nên danh tiếng của ông với kẻ thù Nhật Bản và với đồng bào Triều Tiên là trận chiến ngày 4 tháng 6 năm 1937. Kim 25 tuổi chỉ huy 200 đồng đội vượt biên giới vào Triều Tiên và tấn công làng biên giới Pochonbo vào ban đêm, giết chết một số cảnh sát Nhật Bản. Sau đó họ rút đi với vật tư và tiền bạc thu giữ từ các địa chủ địa phương. Khi một lực lượng viễn chinh trừng phạt Nhật Bản đuổi theo họ quay trở lại Mãn Châu, Kim cho người của mình ẩn nấp giữa những tảng đá trên một ngọn núi. “Ông ấy dặn chúng tôi chỉ nổ súng khi kẻ thù đến trong tầm bắn,” Choi Jin-sok nhớ lại. Để tiết kiệm đạn dược vốn khan hiếm trong đơn vị, Kim đã cho binh sĩ mình đẩy đá lăn xuống quân Nhật đang tràn tới tấn công. “Những tảng đá lăn xuống sườn núi vang như sấm rền,” theo lời Choi. Khi bọn Nhật bỏ chạy, binh sĩ Triều Tiên tịch thu được đủ vũ khí để mỗi du kích có thể trạng bị một khẩu súng trường hiện đại.
Hầu hết những người phục vụ dưới quyền Kim đều là người Triều Tiên và sau này ông mong muốn được nhớ đến với tư cách là chỉ huy của một lực lượng mà ông gọi là Quân Cách mạng Nhân dân Triều Tiên. Tuy nhiên, các nhà sử học nước ngoài biết đến “QĐCMNDTT” là Quân đoàn số 2 của lực lượng do cộng sản Trung Quốc lãnh đạo mà ban đầu được gọi là Quân Đội Cách mạng Nhân dân Đông Bắc. Từ năm 1936, nó được biết đến với cái tên Quân đội Thống nhất chống Nhật ở vùng Đông Bắc. (Người Trung Quốc gọi Mãn Châu là Đông Bắc Trung Quốc.) Tuyên bố năm 1936 của lực lượng này giải thích rằng “mọi người Trung Quốc có nhiệt tình và trí tuệ đều biết rằng không có con đường sống nào ngoài việc chiến đấu với quân Nhật”. Nó còn kêu gọi “tất cả những dân tộc bị áp bức, Triều Tiên, Mông Cổ, Đài Loan và các tổ chức của họ” hãy gia nhập quân đội.
Kim chỉ huy ở cấp đại đội, tiểu đoàn và đảm nhiệm các nhiệm vụ chính ủy cho đảng. Việc học tiếng Trung của ông đã giúp ông thăng tiến nhanh chóng khi có được kinh nghiệm – và khi các đàn anh Trung Quốc và Triều Tiên của ông bị giết, bị bắt hoặc bị dụ dỗ hợp tác với kẻ thù. Khi còn ở độ tuổi ngoài hai mươi, ông đã chỉ huy một sư đoàn. Từ khoảng năm 1938, ông chỉ huy toàn bộ Quân đoàn Định hướng Thứ hai trong Đệ nhất Lộ Quân của Quân đội Thống nhất chống Nhật ở vùng Đông Bắc. Các đơn vị mà ông thực sự chỉ huy trong trận chiến nhỏ hơn nhiều so với những gì các danh hiệu thổi phồng như vậy có thể gợi ý, không bao giờ vượt quá 300 binh sĩ cùng một lúc. Tuy nhiên, vào cuối những năm 1930, chiến công của Kim Il-sung đã được biết đến rộng rãi. Giữa đồng bào Triều Tiên ông đã trở thành một trong những anh hùng được công nhận trong cuộc đấu tranh chống Nhật.
Người viết tiểu sử Dae-Sook Suh của Đại học Hawaii đã viết: “Ông ấy đã chiến đấu chống lực lượng viễn chinh Nhật Bản một cách rất chật vật Ông ấy đã chịu nhiều thất bại nhưng cũng lập được một số chiến công hiển hách và tạo dựng được tên tuổi cho mình – quả thực ông đã trở thành thủ lĩnh du kích bị truy nã gắt gao nhất ở Mãn Châu. Ông ấy kiên cường trong cuộc chiến vô vọng mà không nhận được nhiều sự hỗ trợ, nhưng ông đã chịu đựng và không đầu hàng hay phục tùng đối với người Nhật.”
Người Nhật gọi Kim và người theo ông là “thổ phỉ” và một số đơn vị đảng phái khác trên thực tế được biết là đã thoái hóa thành những băng cướp đúng nghĩa. Đôi khi, như trường hợp ở Pochonbo, đơn vị của Kim đột kích vào các thị trấn và các tiền đồn khác của nền văn minh để tịch thu nguồn cung ứng. Theo lời kể của chính Kim, ông hoạt động theo đúng nguyên tắc chính trị, tịch thu của người giàu để phân phát cho người nghèo. “Hãy đóng góp súng nếu bạn có súng, tiền nếu bạn có tiền”, ông yêu cầu.
Quân du kích có thể rất tàn bạo. Trong một lá thư, một đơn vị thuộc Quân đoàn Thứ hai đã cảnh báo các gia đình địa chủ rằng họ sẽ bắt đầu nhận trước tiên là tai và sau đó là đầu của người thân đã bị bắt làm con tin nếu họ không giao 150 bộ đồ lót như yêu cầu trước đó. Báo chí thời đó, chịu ảnh hưởng của chính quyền Nhật Bản, đã vẽ nên một bức tranh không mấy tốt đẹp về các hoạt động của Kim.
Nhưng khi thể hiện mình là Robin Hood, Kim đã nói lời cuối cùng – gần như mặc định. Mô tả trong hồi ký của mình về chuyến hành quân tới Bắc Mãn Châu vào năm 1934, ông viết rằng mình không có “đồng đội còn sống” nào có thể nhớ lại được. Đoạn văn đó được viết trước khi cựu xạ thủ súng máy Choi Jin-sok tái xuất hiện để trả lời phỏng vấn cho một tạp chí Hàn Quốc sau 5 thập kỷ sống ở Nga. Choi ủng hộ phiên bản của Kim, tuyên bố rằng khi vị chỉ huy trẻ phải nhờ cậy vào dân làng nghèo để nuôi sống và che chở cho đơn vị, ông ấy đã trả bằng tiền mặt “ngay cả khi thiếu tiền.” Tuy nhiên, ví dụ duy nhất mà Choi đưa ra là thời điểm đơn vị của Kim đóng quân tại nhà bố mẹ Choi.
Có rất ít chi tiết về cuộc sống cá nhân của Kim trong thời kỳ du kích, nhưng trong lời kể của ông và của những người khác ông tạo một ấn tượng vừa là một đấng nam nhi – dũng cảm, trung thực trong tình bạn – và một người đàn ông biết nịnh đầm. Rõ ràng ông rất thích làm bạn với phái nữ. “Người cộng sản trẻ tuổi yêu người khác phái trong khi họ hoạt động cho cuộc cách mạng,” Kim nhớ lại sau đó. “Một số người cho rằng người cộng sản không có cảm xúc của con người và không biết đến cuộc sống hay tình yêu thiết thân với con người. Nhưng đó là những kẻ không biết gì về người cộng sản . Nhiều người trong số chúng tôi vẫn yêu đương khi đấu tranh cho cách mạng. . . ” Đúng vậy. Trong giới tỉnh hoa Bình Nhưỡng, sau này người ta thì thầm rằng bản thân Kim có nhiều bạn nữ khác nhau trong những năm du kích của mình, bao gồm cả các đồng chí du kích và bọn gái mua vui và có con với một số phụ nữ đó.
Kim rất mơ hồ về người yêu của mình trong những năm đầu đời. Nhưng ông vẫn trìu mến nhớ lại một số nữ đồng chí trẻ. Một người tên là Han Yong-ae, đi cùng ông đến Cáp Nhĩ Tân để gặp đại diện Quốc tế Cộng sản, chia sẻ những bữa ăn với ông (nhưng ông khẳng định không hề chia sẻ phòng khách sạn với ông) và giúp ông cải trang thành người Trung Quốc để tránh lôi thôi với cảnh sát. Trong hồi ký của mình, ông nói rằng khi về già ông vẫn ngắm nhìn ảnh của cô ta – nhưng ông nghiêm túc nhận xét rằng “tất cả những việc cô ấy giúp đỡ tôi đều là kết quả của một tình yêu siêu việt trong sáng, vô vị kỷ.”
Kim tuyên bố sau đó một lúc đã thực hiện một cuộc giải cứu anh hùng trên lưng ngựa cho Hong Hye-song, người mà ông mô tả là một “nữ cán bộ chính trị xinh đẹp”. Cô đang sử dụng thuốc thảo dược cổ truyền để điều trị các nạn nhân bị ghẻ chốc ở khu du kích Wangqing. Ở một đoạn thể hiện nét chấm phá của nhà viết kịch bản phim, Kim kể rằng mình đang cưỡi bạch mã thì nghe thấy tiếng súng và phát hiện Hong Hye-song đang bị địch phục kích. “Tôi thúc ngựa tiến về phía cô ấy, nơi cô ấy đang bắn trả hỏa lực đich và sắp bị bắt làm tù binh, cô ấy và nhanh chóng bế xốc cô ấy lên. Con ngựa dường như nhận ra ý định của tôi, liền phóng đi như một mũi tên và phi nước đại vài dặm.” Kim không nói rõ mối quan hệ của ông với Hong là gì nhưng ông viết rằng, nếu cô ấy không bị giết trong trận chiến sau đó, cô ấy “bây giờ hẳn sẽ vui sướng chia sẻ với tôi những hồi ức về con bạch mã.”
Choe Kum-suk, ủy viên công tác phụ nữ huyện Wangqing, “rộng lượng như một người đàn ông và có trái tim ấm áp, đồng thời là một người phụ nữ có nguyên tắc, trung thành với cách mạng. Cô ấy có thể chèo cả một chiếc thuyền trên một bãi biển đầy cát nếu tôi yêu cầu cô ấy làm điều đó.” Choe đồng cảm với Kim vì đã mất cha mẹ và coi ông như em trai mình. Cô đã chăm sóc ông qua cơn sốt phát ban nặng. “Cô ấy sẽ đến thăm tôi trước bất kỳ ai khác khi tôi trở về từ chiến trường, dúi vào tay tôi thứ gì đó mà cô cảm thấy tôi cần. Đôi khi cô ấy khâu vá những chỗ rách trên quần áo tôi và đan len đồ lót cho tôi.” Kim hay nhại giọng nói “buồn cười” của tỉnh Hamgyong quê quán cô và trêu chọc cô xinh đẹp – mặc dù thực ra, với khuôn mặt bầu bĩnh, “cô ấy không phải là một người phụ nữ xinh đẹp gì cho lắm. Nhưng với tôi, những người phụ nữ như Choe Kum-suk ở khu du kích đều cao quý và xinh đẹp hơn nhiều so với các tiểu thủ, quý bà ở các thị trấn lớn.” Choe chết trong trận giặc Nhật vây hãm Xaiowangqing của vào mùa đông năm 1933-1934, Kim kể lại.
Người cộng sản Trung Quốc, bao gồm cả người cộng sản Triều Tiên, hoan nghênh phụ nữ tham gia đấu tranh, được cho là trên cơ sở bình đẳng. Nhiều phụ nữ đã tham gia, không chỉ với tư cách là chiến binh mà còn với tư cách khác. Bộ chỉ huy du kích của Kim bao gồm các phân đội nữ phụ trách may vá vá và nấu ăn. Choi Jin-sok nhớ lại số đầu bếp có khoảng 30 phụ nữ và trẻ em gái. Các cô thợ may may đồng phục và ba lô cho quân du kích, sử dụng vải bông ngâm trong thuốc nhuộm thu được từ việc đun sôi vỏ cây sồi. Chúng có màu kaki hơi vàng giống như quân phục của quân đội Nhật Bản, với những ngôi sao màu đỏ trên mũ thay vì những ngôi sao màu vàng như người Nhật.
Với sự pha trộn giới tính tại các đơn vị, người cộng sản bị tai tiếng là chủ trương tự do luyến ái. Kim kể về một vị chỉ huy Trung Quốc theo chủ nghĩa dân tộc cho rằng mình đã nghe nói “người cộng sản, đàn ông và phụ nữ như nhau, tất cả đều ngủ dưới một cái chăn.” Kim nói mình đã trả lời rằng đó là lời xuyên tạc do bọn Nhật pha chế. “Có rất nhiều phụ nữ trong đơn vị nữ chiến sĩ du kích của chúng tôi, nhưng điều như vậy không bao giờ xảy ra. Nếu họ yêu nhau thì họ sẽ kết hôn. Kỷ luật giữa nam và nữ của chúng tôi rất nghiêm khắc.”
Nếu điều đó khiến ông nghe có vẻ cổ hủ thì Kim lại bộc lộ tâm lý trái ngược khi tán thành một người phụ nữ “hiện đại” của thế hệ trước. Là bạn của bố Kim, Li Gwan-rin là một nhà cách mạng xinh đẹp, là “bông hoa” của lực lượng đấu tranh dân tộc chủ nghĩa. Trong quá khứ, Kim đã viết, “bất cứ khi nào kẻ thù nước ngoài xâm chiếm đất nước, sát hại và quấy rối nhân dân ta, phụ nữ thường ẩn náu sâu trong núi hoặc trong đền thờ để tránh bị xâm phạm.” Tuy nhiên, Li Gwan-rin thì khác. Vẫn chưa kết hôn ở tuổi đôi mươi, cô sống trong thế giới của đàn ông, nơi các ông liên tục theo đuổi cô trong khi những phụ nữ Triều Tiên khác chỉ bằng nửa tuổi cô đã kết hôn. Li Gwan-rin không phù hợp với quan niệm Nho giáo cho rằng trinh tiết là ưu tiên hàng đầu của phụ nữ, Kim nói. Cô ấy “quyến rũ, táo bạo, có tính cách mạnh mẽ. Những phụ nữ như cô ấy thật hiếm có ở Triều Tiên vào thời đó.” Ông không đưa ra chi tiết về bất kỳ mối quan hệ liên lạc cụ thể nào mà Li có thể có, nhưng trích lời cô than thở rằng cái chết của bố Kim đã khiến cô u sầu.”
Một phụ nữ trẻ tên Kim Jong-suk đứng đầu đội thợ may thuộc đơn vị du kích của Kim Il-sung. Kém ông năm tuổi, cô gặp ông vào năm 1935 khi cô 17 tuổi và đôi khi làm thành viên trong đội vệ sĩ của ông ngoài việc may vá và nấu ăn. Một số tài liệu nói rằng vào năm 1940, cô đã trở thành vợ ông không qua lễ cưới. Năm 1942, bà sinh đứa con đầu lòng được ông thừa nhận, Kim Jong-il.
Nhiều nguồn tin khác nhau cho biết Kim Nhật Thành đã kết hôn ít nhất một lần trước khi lấy Kim Jong-suk. Cuộc hôn nhân trước đó không được đề cập đến trong hồi ký của ông cũng như lịch sử chính thức của Triều Tiên, nhưng vào thời đó, thanh thiếu niên Triều Tiên được coi là ở độ tuổi kết hôn. “Một chàng trai ngoài hai mươi được coi là một anh chàng độc thân già,” chính Kim đã nói – mặc dù ông cũng nhớ lại mình từng dự định rằng bản thân có thể sẽ kết hôn muộn.
Cảnh sát Nhật Bản cho biết đã bắt giữ, vào ngày 6 tháng 4 năm 1940, một nữ đảng viên tự xưng là Kim Hye-suk và người này tự nhận là vợ của Kim Nhật Thành. Các nguồn tin cho rằng người phụ nữ này đã khai tên giả để gây nhầm lẫn cho cảnh sát nhưng cô ấy thực sự là vợ của Kim Il-sung (có lẽ là sống chung không cưới hỏi như trong trường hợp của Kim Jong-suk) và tên thật của cô ấy là Han Song-hui. Han từng là trưởng ban phụ nữ trong đảng bộ của Kim. Để được trả tự do, cô phải đồng ý cắt đứt mọi liên lạc với phong trào chống Nhật, đổi tên và tái hôn. Han Song-hui xuất hiện thoáng qua trong hồi ký của Kim, liên quan đến các sự kiện ở các khu du kích Mãn Châu mùa thu năm 1934, nhưng ông không cung cấp thông tin chi tiết về vai trò của bà trong đảng bộ hay mối quan hệ của bà với ông.
Bên cạnh việc thích phụ nữ, Kim Nhật Thành còn viết về “niềm vui lớn lao” của ông khi được ở bên trẻ em. Toàn bộ một chương trong hồi ký của ông được dành cho một cặp nữ vũ công nhảy thiết hài đến vùng du kích. Ở đó, họ làm việc trong một ban giải trí dành cho trẻ em, những hoạt động của họ dường như đã chiếm phần lớn thời gian của Kim khi ông không ra trận. Kim cho biết mình đã suýt rơi nước mắt khi nghe câu chuyện cuộc đời của cô gái lớn tuổi hơn, Kim Ok-sun. Cha cô đã hứa gả cô cho con trai một địa chủ khi cô mới chín tuổi. Gã thanh niên đó, đã hơn hai mươi tuổi và do đó đã quá tuổi là người bạn đời, “rõ ràng là một tên ngu đần hoặc què quặt, không có hy vọng kết hôn một cách công bằng và chính đáng”, Kim kể lại. Cha mẹ của chú rể tương lai đã mời người cha nông dân của cô gái đi uống rượu và đã trả cho ông một khoản tiền đáng kể để ông đồng ý gả Ok-sun cho con trai mình khi cô mười lăm tuổi. Cha cô gái đã coi đó là một một thỏa thuận tốt cho đến khi ông ta “giác ngộ được ý thức giai cấp” – sau đó ông đã gửi Ok-sun, lúc đó mười ba tuổi, đến khu du kích. Kim Ok-sun sau giải phóng đã vươn lên trở thành chủ tịch Hội Phụ nữ Dân chủ Triều Tiên. Chồng bà, đảng viên Choe Gwang, trở thành tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Triều Tiên.
Cô bé nhỏ hơn trong cặp vũ công, Kim Kum-sun, 9 tuổi, đã tựa đầu vào ngực Kim Il-sung và khóc khi nghe tin cha mẹ mình bị giết, ông viết. Sau đó cô bé đã kể lể đầy xúc động đến nỗi một du kích quân đã “đưa em ấy vào phòng, đặt em ngồi vào lòng và đeo bông tai và vòng tay cho em.” Kim cho biết cảnh sát Nhật đã bắt Kum-sun, tra tấn và sau đó treo cổ cô khi cô từ chối cung cấp thông tin về cộng sản. (Để chúng ta không cần phải suy đoán liệu câu chuyện Joan of Arc này có mối liên hệ nào với phiên bản Hollywood của Bình Nhưỡng hay không, ông viết rằng “một cuốn tiểu thuyết và bộ phim miêu tả Kum-sun đã được sản xuất gần đây.”) Sau khi một cậu bé liên lạc thường ngủ “với vòng tay quanh cổ tôi” bị giết, Kim khuyên các đồng đội ráng sức phá nền đất đóng băng để chôn cậu “vì tôi cảm thấy như thể em sẽ sống lại và rúc vào lòng tôi.”
Đến năm 1935, người Nhật đã nhắm mục tiêu riêng vào cá nhân ông, Kim nói. Viết về một lần một sĩ quan Nhật và quân Trung Quốc đang lần theo dấu vết của mình, ông kể lại rằng “chúng tôi phải đọ súng với kẻ thù đang truy đuổi bốn hoặc năm lần mỗi ngày. Khi chúng tôi hành quân, kẻ thù hành quân. Và khi chúng tôi cắm trại, địch cắm trại. Chúng bám vào chúng tôi như đỉa cho đến khi lưỡi chúng tôi thè ra sau cuộc rượt đuổi.” Đội bình định Nhật Bản đã bắt người thân của quân du kích để lấy thông tin về quân nổi dậy. Sau đó, họ dùng thông tin đó để bắt quân nổi dậy hoặc bắt người thân của họ làm con tin. thuyết phục quân nổi dậy đầu hàng. Khi du kích quân đầu hàng hoặc bị bắt, chính quyền buộc họ phải hợp tác truy lùng đồng đội cũ.
Cựu du kích Choi Jin-sok nhớ lại rằng, để đối phó với cuộc chiến tâm lý như vậy, nhiều đồng đội của ông đã rời bỏ đơn vị. “Ở đó thậm chí có một số người âm mưu giết Kim Il-sung. Một phần thưởng lớn đã được trao cho cái đầu của ông. Tờ rơi đã được phân phát dưới tên của một chỉ huy Nhật, công bố bất cứ ai bắt sống Kim Nhật Thành sẽ được trao một nửa lãnh thổ Triều Tiên.” Bản thân Choi cũng bị bắt vào năm 1940 và buộc phải tham gia nỗ lực chống Kim Nhật Thành. Hành động phản bội này đã mang đến cho ông bản án mười năm tù sau khi Kim và cộng sản lên nắm chính quyền vào năm 1945. Choi sau đó sống lưu vong ở Liên Xô. Tuy nhiên, vào năm 1993 ông đã nói về Kim Il-sung: “Tôi tôn trọng ông ấy trước năm 1940 và thậm chí bây giờ còn tự hào về ông ấy.”
Cuối cùng, hầu hết các chiến binh chống Nhật khác đều ngã xuống dưới làn đạn của kẻ thù hoặc bị bắt. Kim cho rằng mình sống sót được là nhờ ý thức về vận mệnh nhuốm màu chủ nghĩa dân tộc- và đạo hiếu Nho giáo mà chế độ của ông vào những năm 1990 đang cổ vũ như một phần trong kế hoạch sắp xếp cho con trai Kim lên kế vị ông. Ông nói: “Lịch sử chưa cho chúng ta quyền được chết. Nếu chúng ta trở thành một nắm đất mà không làm tròn bổn phận đối với lịch sử và thời đại thì chúng ta sẽ là những đứa con bất hiếu không chỉ với gia đình mà còn với đất nước đã sinh ra và nuôi dưỡng chúng ta.”
Ông cũng thừa nhận rằng mình và lực lượng mình đã nhận được nguồn hỗ trợ quan trọng từ những người khác trong suốt chặng đường chiến đấu. “Ông già Ma” ở Luozigou đã xuất hiện và đưa tay giúp đỡ khi cần kíp vào năm 1933 giữa lúc binh sĩ ông đang nghĩ đến việc từ bỏ cuộc đấu tranh của mình. Tương tự như vậy, một ông già khác, nhân viên nhà máy gỗ tên Kim, đã giúp nhóm ông đánh lừa và thoát khỏi bọn truy đuổi do người Nhật dẫn đầu vào năm 1935, ông nói. “Thật kỳ lạ là mỗi khi mạng sống của tôi gặp nguy hiểm lại có quới nhân như ông già Kim xuất hiện trước mặt tôi và cứu tôi vào thời điểm cấp bách.” Trong khi một số người có thể gọi đây là sự may mắn, “những người khác coi đó là số mệnh. Họ không coi đó là may mắn khi các nhà hảo tâm xuất hiện giúp đỡ những người yêu nước hy sinh hết mình cho đất nước, nhân dân.”
Trong hồi ký của mình, Kim đã khoe: “Chúng ta có thể đánh bại kẻ thù mạnh được trang bị tận răng, chiến đấu chống lại chúng trong cái lạnh thấu xương lên tới bốn mươi độ âm ở Mãn Châu trong hơn mười lăm năm.” Mười lăm năm có nghĩa là đến khi quân Nhật đầu hàng năm 1945, điều Kim tuyên bố rất đúng. Tuy nhiên, trên thực tế, ông không ở lại Mãn Châu cho đến năm 1945. Trọng lượng của các bằng chứng sẵn có cho thấy ông đã nỗ lực tiếp tục chiến đấu ở đó chỉ đến nửa cuối năm 1940 hoặc đầu năm 1941. Lúc đó, chiến dịch của quân Nhật đã thành công đến mức, đối với ông và lực lượng du kích còn lại của mình, gần như không thể tiếp tục chiến đấu trong các đơn vị có quy mô đại đội như trước đây. Du kích đã đồng ý phân tán và theo đuổi các hoạt động “đơn vị nhỏ” thay vào đó. Cuối cùng, đối với Kim, lúc này can trường không bằng chạy trốn, lánh nạn qua biên giới vào Liên Xô để chờ đợi những hoàn cảnh thuận lợi hơn cho cuộc kháng chiến.
Bất chấp sự thật như thế nào, có lẽ Kim tin rằng người Triều Tiên xứng đáng tự mình hoàn thành công cuộc giải phóng. Có lẽ cuối cùng ông hóa ra tin rằng họ xứng đáng tin tưởng mọi chuyện đã xảy ra theo cách đó, mặc dù thực ra cuối cùng chính quân Đồng minh đã làm được điều đó giúp cho họ. Có thể là khi các sự kiện những năm đó đã phải nhạt vào lịch sử – và dù ông có biết mình đã phóng đại vai trò của mình trong những sự kiện đó đến mức nào đi nữa – ông thực sự cảm thấy sâu sắc rằng lòng yêu nước của mình, lòng quyết tâm và hy sinh của mình xứng đáng mang lại cho ông vai trò người cha của đất nước. “Tinh thần yêu nước của tôi khiến tôi khi còn là một thiếu niên, đã kêu gọi chống Nhật trên đường phố Jilin và tiến hành một cuộc đấu tranh ngầm đầy rủi ro nhằm trốn tránh sự truy đuổi của kẻ thù. Dưới ngọn cờ đấu tranh chống Nhật, tôi đã phải chịu đựng gian khổ, chịu đói và ngủ ngoài trời trong những khu rừng sâu chốn núi non Paektu, vượt qua những cơn bão tuyết bất tận và tiến hành những trận chiến đẫm máu kéo dài vì lý tưởng giải phóng dân tộc, chiến đấu chống lại kẻ thù ghê gớm và hùng mạnh hơn lực lượng tuyệt vọng của chúng ta gấp nhiều lần.”
Ở một mức độ nào đó, Kim Il-sung với tư cách là một chiến sĩ trẻ độc lập xứng đáng được đánh giá theo cách riêng của mình. Dũng cảm và kiên cường, sống sót và phát triển như một nhân vật lưu vong, ông không bao giờ nhượng bộ. Trong khi đó, các chiến dịch bình định của Nhật Bản đã đạt được thành công đến mức hầu hết những người Triều Tiên khác ở hoàn cảnh của ông, nếu không bị giết, cuối cùng cũng phải chấp nhận một tương lai mà sự thống trị của Nhật Bản dường như bất khả xâm phạm. Nhưng Kim thì không. “Chính tinh thần kiên trì và ý chí kiên cường của ông, đặc điểm của nhiều nhà cách mạng thành công, đáng được ghi nhận,” người viết tiểu sử Suh. nhận xét
Kim xuất hiện trong vai một chàng trai trẻ trưởng thành nhanh chóng trở thành một nhà lãnh đạo hiệu quả và sắc sảo. Nếu ông không phải là một nhân vật nhân từ nhất mực, hoặc khôn ngoan mọi mặt như sau này ông tự thể hiện mình, thì ít ra ông cũng thể hiện trí thông minh đáng kể và lương tri thông thường. Trong nhiều hoặc thậm chí hầu hết các trường hợp, quan điểm về chính sách và ý thức hệ mà ông tuyên bố đã áp dụng trong những năm du kích của mình thể hiện những lựa chọn hợp lý, thậm chí truyền cảm hứng, xét theo chủ nghĩa cộng sản có khuynh hướng chống Nhật của mình.
Khi tệ sùng bái cá nhân ông mở rộng trong những thập kỷ sau đó, Kim khẳng định mình đã được công nhận là trái tim của phong trào kháng chiến Triều Tiên thậm chí ngay từ đầu 1935. (Đừng bận tâm rằng khi đó ông vẫn đang chỉ huy ở cấp tiểu đoàn, không chỉ có tướng Trung Hoa mà còn có tướng Triều Tiên ở trên ông.) “Kẻ thù tin tưởng,” ông viết, “rằng không có Kim Il Sung các quân đội cộng sản Triều Tiên và lực lượng kháng chiến của nó chống Mãn Châu quốc và Nhật Bản sẽ sụp đổ.”
Người của ông cũng có niềm tin tương tự, ông nói. Điển hình cho hồi ức của ông là khung cảnh năm 1935, ông kể rằng mình tỉnh dậy sau cơn sốt dữ dội và thấy một cấp dưới đang nức nở khóc: “Đồng chí chỉ huy, nếu đồng chí chết, Triều Tiên sẽ vô vọng”.
Khó khăn trong việc sàng lọc nhiều tuyên bố ngông cuồng mà ông và những người theo ông đưa ra trong nhiều thập kỷ để khám phá điều gì là đúng và điều gì là sai, là một trở ngại chính cho việc đọc ra tính cách thực sự của Kim Il-sung. Tuy nhiên, chính vấn đề đó đã giúp chúng ta tìm ra giải pháp cơ bản trong tính cách của Kim: lòng tự tôn to lớn của ông ấy. Cái tôi lớn là đặc trưng của những nhà cách mạng trẻ thời đó, theo lời kể của chính Kim: “Mọi người đều là chủ nhân của chính mình. Mọi người đều nghĩ mình là một thiên tài, một anh hùng và một vĩ nhân.” Mặc dù ông khoác một giọng điệu mỉa mai khi viết ra những lời lẽ này, con người mang tên Kim Il-sung đã sớm phát triển sở thích kết bạn với những người thừa nhận ông là một thiên tài, anh hùng và một con người vĩ đại.
Về một du kích cấp dưới, ông đã viết một cách đáng chú ý: “Cũng như Ko Po-bae đã đi theo và tôn trọng tôi vô điều kiện, nên tôi hoàn toàn tin tưởng và yêu mến anh ấy.” Ông kể lại những kỷ niệm đẹp đẽ về Jo Taek-ju, một trong những ông già có mặt khắp nơi nhiều lần cứu ông. Gia đình Jo đã nuôi giấu Kim khỏi tai mắt kẻ thù vào năm 1935 và chăm sóc ông qua cơn sốt. Kim viết rằng cuối cùng khi tỉnh lại, ông cảm ơn ông già vì đã cứu mạng mình. “Đừng đề cập đến chuyện đó,” ông dẫn câu trả lời của Jo. “Trời đã sinh ra ông, tướng quân Kim, và ông đã được Trời cứu trong căn nhà gỗ này.” Kim khẳng định sau đó mình phản đối là ông lão đã quá lời – nhưng ông già chỉ khiển trách ông là “quá khiêm tốn”.