Chứng cứ không thể bác bỏ (Bài 9)

Những cuộc phiêu lưu vào lịch sử khoa học pháp y

 

MICHAEL KURLAND
Trần Quang Nghĩa dịch

 

13: Xương và Côn trùng

 

NHÂN CHỦNG HỌC PHÁP Y là ngành nghiên cứu bộ xương người và những thông tin mà nó có thể tiết lộ về tuổi tác, giới tính, sức khỏe, tình trạng thể chất, nguyên nhân tử vong và thời gian tử vong của người từng mang bộ xương đó. Nếu may mắn, sẽ có đủ thông tin trong xương để nhận dạng người đó và, trong trường hợp giết người, có thể gợi ý về thủ phạm.

 

Nhân vật được coi là cha đẻ của ngành nhân chủng học pháp y Hoa Kỳ là Thomas Dwight (1843-1911), người mà tờ New York Times từng gọi là “nhà giải phẫu học hàng đầu nước Mỹ”. Dwight đạt tước hiệu Giáo sư Giải phẫu Parkman tại Đại học Harvard từ năm 1883 cho đến khi qua đời. Có lẽ nguồn gốc mối quan tâm của Dwight đối với khía cạnh pháp y trong nghề nghiệp của ông là vụ ám sát chính Parkman, người đã tài trợ cho chức giáo sư đại học giải phẫu mà ông đang đảm nhiệm, vào năm 1849. Vào thời điểm Parkman qua đời, chức giáo sư được ông tài trợ đang được Oliver Wendell Holmes, cha của luật gia Oliver Wendell Holmes, người sau này trở thành một trong những thẩm phán Tòa án Tối cao vĩ đại của thế kỷ XX, nắm giữ.

 

Năm 1850, John White Webster, Tiến sĩ Y khoa, và là giáo sư giải phẫu, được mọi người biết đến vì là  giáo sư Harvard đầu tiên bị treo cổ vì tội giết người. Nạn nhân, Tiến sĩ George Parkman, được mô tả theo nhiều cách khác nhau là một người giàu có, có địa vị xã hội và là một nhà từ thiện, hoặc là một kẻ giàu có, phù phiếm, nóng tính, tham lam, keo kiệt. Tôi cho là, điều đó phụ thuộc vào việc bạn có nợ ông ta hay không. Tiến sĩ Oliver Wendell Holmes đã mô tả ông ta là một người Mỹ hoàn hảo: “Ông ta kiêng khem trong khi những người khác buông thả, ông ta đi bộ trong khi những người khác cưỡi ngựa, ông ta làm việc trong khi những người khác ngủ.” Giáo sư Wester không đánh giá cao Parkman. Có lẽ điều này là do Giáo sư Webster nợ ông ta tiền. Webster đã tạo ra một bộ sưu tập đá quý rất giá trị để thế chấp cho một khoản vay từ Parkman. Sau đó, Parkman phát hiện ra rằng Webster cũng sử dụng chính bộ sưu tập đó để thế chấp cho một khoản vay từ người khác. Parkman đã rất bực mình.

 

Parkman đã đến gặp Webster tại phòng thí nghiệm của hắn ta ở tầng hầm tòa nhà y khoa tại Harvard vào chiều ngày 23 tháng 11 năm 1849 để đòi lại tiền. “Tôi không có tiền,” Webster nói.

 

Parkman dọa sẽ đuổi việc Webster. Và vì Parkman vừa mới hiến đất tặng cho Trường Y Harvard mới, nên khả năng cao là ông ta có thể sẽ làm theo lời đe dọa. Trong cơn xúc động quá mức kiềm chế, Webster nhặt một khúc gỗ to và đánh vào đầu Parkman, khiến ông ta tử vong. Hắn lôi xác ông đến một cái bồn rửa lớn và, trong một tâm trạng bình tĩnh hơn nhiều, bắt đầu mổ xẻ tử thi. Hắn bỏ những mảnh xương chọn lọc vào bình đựng và xếp chúng lên kệ. Những mảnh xương vụn và các mảnh tương tự được đốt cháy trong lò thử nghiệm của hắn; những phần cơ thể lớn hơn thì hắn ném vào phòng vệ sinh trong nhà ở một góc phòng thí nghiệm.

 

Sự mất tích của Parkman không hề bị bỏ qua. Người ta cho rằng ông ta đã bị bắt cóc, và các áp phích được dán khắp Boston. Trường đại học treo giải thưởng 3.000 đô la cho bất kỳ ai cung cấp thông tin về nơi ở hoặc danh tính của kẻ bắt cóc. Webster đến gặp anh trai của Parkman và tự nguyện nói rằng hắn có thể là người cuối cùng nhìn thấy Parkman còn sống.  Hắn ta đưa cho anh trai một biên lai trị giá 483 đô la được cho là do Parkman ký, xác nhận việc trả nợ của Webster.

 

Thứ năm tuần sau, ngày Lễ Tạ ơn, Webster đã phạm sai lầm khi tặng người gác cổng trường đại học một con gà tây. Người gác cổng

Ephraim Littlefield cho rằng hành vi này của Webster có vẻ kỳ lạ, bởi theo như Littlefield biết, hắn ta chưa bao giờ cho ai thứ gì. Anh ta đã nghe lỏm được cuộc cãi vã giữa Webster và Parkman nhưng đã rời khỏi tòa nhà trước khi trận cãi vã kết thúc một cách thảm khốc. Littlefield quyết định điều tra lý do cho sự hào phóng đột ngột của Webster và lẻn vào phòng thí nghiệm dưới tầng hầm vào ngày hôm sau. Bức tường của lò thử nghiệm ấm lên khi chạm vào, nhưng lò đã bị khóa. Littlefield, với vợ đứng canh gác, lấy búa và đục đập vỡ bức tường gạch. Trong lò, anh ta tìm thấy xương, xương chậu người và một vài mảnh chân. Anh ta gọi cho ban giám hiệu trường đại học, và họ đã triệu tập cảnh sát.

 

Webster bị bắt tại nhà riêng ở Cambridge. “Tên khốn nạn đó!” hắn ta kêu lên khi nghe tin việc Littlefield đục phá lò. “Tôi tiêu đời rồi!” Hắn ta tim cách tự tử trong phòng giam bằng cách uống strychnine, nhưng may mắn sống sót.

 

Đến phiên tòa, Webster đã lấy lại bình tĩnh và bịa ra một chứng cứ ngoại phạm. Hắn ta khai rằng những mảnh xương đó là hài cốt của một xác chết, một mẫu vật của trường y mà hắn ta đang vứt bỏ.

 

Sau đó, lần đầu tiên trong lịch sử tư pháp, nhân chủng học pháp y và nha khoa pháp y đã được huy động để làm bằng chứng cho bên truy tố. Oliver Wendell Holmes, Trưởng khoa Y, đã làm chứng rằng tất cả các bộ phận cơ thể khác nhau được tìm thấy trong tầng hầm của Webster đều “tương thích” với giải phẫu của Parkman. Tiến sĩ Nathan Keep, một bác sĩ phẫu thuật nha khoa, làm chứng rằng những chiếc răng được tìm thấy trong lò nung là phần hàm dưới bên trái hoặc một bộ răng mà ông đã làm cho Parkman ba năm trước đó. Thật tình cờ, ông đã giữ lại khuôn răng. Khi so sánh những chiếc răng với khuôn răng, chúng hoàn toàn trùng khớp.

 

Bồi thẩm đoàn mất ba giờ để kết luận John White Webster có tội giết George Parkman. Vài ngày trước khi bị hành quyết sáu tháng sau đó, Webster đã viết một bản thú tội, trong đó có đoạn:

 

. . . Tôi kích động đến mức độ điên cuồng nhất; khi ông ta lớn tiếng và vung vẩy những cử chỉ dữ dội nhất và với thái độ đe dọa, tôi liền chộp lấy thứ tiện tay nhất – đó là một thanh gỗ chắc nịch- và lập tức giáng cho ông ta một cú ngay bên đầu …. Ông ta ngã ngay xuống sàn. Không có cú đánh thứ hai nào cả…. Máu chảy ra từ miệng ông ta và tôi lấy một miếng bọt biển lau đi. Tôi lấy một ít amoniac và bôi lên mũi ông ta; nhưng không có tác dụng.

 

Việc đầu tiên tôi làm… là lôi xác nạn nhân vào phòng riêng bên cạnh. Tôi cởi quần áo nạn nhân ra và bắt đầu ném vào ngọn lửa đang cháy ở phòng thí nghiệm phía trên. Tất cả đều bị thiêu rụi vào buổi chiều hôm đó – cùng với giấy tờ, ví tiền, hay bất cứ thứ gì khác bên trong.

 

Bước tiếp theo của tôi là đưa thi thể vào bồn rửa trong căn phòng nhỏ riêng tư. Tại đó, thi thể bị chặt ra từng mảnh, như một hành động vô cùng cấp bách và khủng khiếp. Dụng cụ duy nhất được sử dụng là con dao mà các cảnh sát tìm thấy trong rương trà, và tôi đã giữ nó để cắt nút chai.

 

Vụ án này đáng chú ý vì hai lý do: đây là lần đầu tiên tòa án Hoa Kỳ xem xét lời khai mang tính khoa học; đây cũng là lần đầu tiên một giáo sư Harvard bị treo cổ.

 

Adolph Louis Luetgert (1845-1899) đến Mỹ từ Đức vào những năm 1860 và định cư tại Chicago. Sau một loạt công việc chân tay, năm 1879, ông thành lập công ty sản xuất xúc xích của riêng mình. Một năm trước đó, người vợ đầu tiên của ông qua đời, và sau đó ông kết hôn với Louisa Bricknese, một cô gái nhỏ nhắn, duyên dáng kém ông mười tuổi. Để làm lễ cưới thêm phần thiêng liêng, Luetgert đã tặng cô dâu mới một chiếc nhẫn cưới bằng vàng nặng khắc chữ cái đầu “LL”.

 

Theo Luetgert, vào ngày 1 tháng 5 năm 1897, Louisa đến thăm chị gái. Cô ấy không bao giờ trở về. Hóa ra, cô ấy chưa bao giờ đến nơi. Luetgert đã đến cảnh sát để báo cáo vợ mình mất tích.

 

Nhưng khi cô vắng nhà thêm vài ngày, anh trai cô bắt đầu nghi ngờ rằng cô không phải mất tích, và Luetgert có thể biết điều gì đó. Hai vợ chồng đã cãi nhau kịch liệt suốt mấy năm qua, đến nỗi Luetgert phải kê một chiếc giường trong văn phòng của mình ở nhà máy. Có tin đồn rằng Luetgert đã để mắt đến một góa phụ giàu có.

 

Cảnh sát nghĩ rằng một nhà máy xúc xích có thể là nơi lý tưởng để xử lý xác người. Quả thực, khi khám xét tòa nhà, họ tìm thấy một thùng lớn chứa đầy dung dịch ăn da. Họ mở thùng ra và chỉ tìm thấy bốn mảnh xương nhỏ và hai chiếc nhẫn. Một chiếc nhẫn bằng vàng dày có khắc chữ cái “LL”.

 

Vợ ông đã đến thăm nhà máy nhiều lần, Luetgert nói với họ. Có thể bà đã vô tình làm rơi nó vào thùng.

Còn xương?

Xương cừu, xương heo – xét cho cùng, đây là một nhà máy sản xuất xúc xích.

 

Luetgert bị xét xử về tội giết người vào tháng 8 năm 1897. Lời bào chữa của y, cùng với các báo cáo về việc nhìn thấy Louisa Luetgert từ khắp cả nước, đã đủ để tạo ra một bồi thẩm đoàn bất đồng quan điểm.

 

Nhưng vào tháng 1 năm 1898, Luetgert đã được xét xử lại. Lần này, bên công tố đã triệu tập George A. Dorsey, một trong số ít chuyên gia nhân chủng học pháp y thời bấy giờ. Dorsey đã kiểm tra bốn mảnh xương, mỗi mảnh nhỏ hơn đồng mười xu, và tuyên bố chúng là xương người. Một mảnh là đầu xương sườn, một mảnh là xương đốt ngón chân, một mảnh là xương vừng từ bàn chân, và một mảnh là đầu xương bàn tay (một trong những xương nối các ngón tay với cổ tay).

 

Lần này Adolph Luetgert bị kết tội giết vợ và bị tuyên án tù chung thân. Cuối năm đó, George Dorsey đã xuất bản một bài báo quan trọng, “Bộ xương trong Giải phẫu Y khoa Pháp “, dựa trên những gì ông đã học được trong quá trình nghiên cứu cho phiên tòa.

 

Không phải ai cũng đồng ý với kết luận của Dorsey. Trong một bài báo không có chữ ký trên tờ Medical News số tháng 3 năm 1899 (“Các Vấn đề Y học ở Chicago”), phóng viên đã công kích vào việc mô tả của Dorsey về từng chiếc xương, kết luận rằng “Cũng giống như người ta có thể thề quyết về danh tính của một chiếc áo khoác, khi mọi dấu vết bản chất của bộ quần áo đều biến mất ngoại trừ một lỗ khuy nút” Nhưng ngay cả khi phóng viên đúng, vẫn còn chiếc nhẫn chết tiệt đó.

 

Vào ngày 7 tháng 9 năm 1935, Tiến sĩ Buck Ruxton, một người Parsee sinh ra ở Ấn Độ năm 1899 và học tại Đại học Bombay, đã tố cáo “vợ” mình ngoại tình với một viên thư ký thị trấn. Cô ấy là Isabella Van Ess, người mà ông chưa bao giờ trải qua thủ tục kết hôn thực sự. Thị trấn đó là Lancaster. Ruxton đã chuyển đến Anh và lấy bằng y khoa thứ hai tại Đại học London.

 

Một tuần sau, Isabella biến mất cùng với người hầu gái, Man Rogerson. Ngày hôm sau, Chủ nhật, 15 tháng 9, Ruxton bảo người giúp việc Agnes Oxley đừng đến vào thứ Hai vì vợ ông đi vắng. Sáng thứ Hai, ông đưa các con đến nhà một người bạn. Trên đường về, ông ghé qua nhà bố mẹ Mary Rogerson và nói với họ rằng Mary đang mang thai. Ông nói vợ ông đã đưa cô ấy đến Scotland để “giải quyết rắc rối này”. Tất cả những ai đến cửa nhà ông ở số 2 quảng trường Dalton để tìm kiếm sự chăm sóc y tế hôm đó đều bị đuổi đi. Ông nói rằng mình đang trải thảm mới. Tối hôm đó, ông thuê một chiếc xe, và thứ ba ông đi vắng cả ngày.

 

Hai tuần sau, vào Chủ Nhật, ngày 29 tháng 9, thi thể bị cắt xẻo và phân hủy của hai người phụ nữ được tìm thấy dưới một cây cầu gần Moffat, Scotland, cách Lancaster 107 dặm. Thi thể nằm rải rác quanh một khe núi được người dân địa phương gọi là Devil’s Be Tub.

 

Cảnh sát đã tổng hợp các sự kiện, và vào ngày 13 tháng 10, họ đã buộc tội Ruxton về tội giết Mary Rogerson. Ba tuần sau, họ bổ sung tội giết Isabella vào cáo buộc. Ruxton gọi các cáo buộc này là “hoàn toàn vớ vẩn, với chữ V viết hoa”.

 

Hai người phụ nữ mất tích trong những tình huống đáng ngờ, và hai thi thể đã được tìm thấy. Người giúp việc kể về những vết bẩn mới trên sàn nhà và mùi hôi thối trong nhà khi cô đến dọn dẹp cho Ruxton vào thứ ba hôm đó. Một bà Hampshire, người được thuê để lau cầu thang, nói rằng nước chuyển sang màu đỏ khi bà chà thảm. Tất cả đều rất gợi ý, nhưng không chứng minh được điều gì.

 

Cảnh sát bằng cách nào đó phải kết nối vụ Ruxton với hai hộp sọ, hai thân mình và một loạt các chi và mô mềm. Nhiều răng đã được lấy ra từ hộp sọ để làm cho việc nhận dạng hồ sơ nha khoa trở nên vô dụng. Đầu ngón tay của Isabella đã bị cắt đứt, do đó không thể sử dụng dấu vân tay để nhận dạng cô. Mary Rogerson chưa bao giờ được lấy dấu vân tay và do đó bàn tay của cô vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng đôi mắt đã bị móc khỏi hộp sọ của cô, do đó, chứng lác mắt rõ rệt của cô sẽ không được chứng minh. Các mô đã được lấy ra khỏi một cặp chân – chân của Isabella vốn rất mũm mĩm. Isabella có một cục bướu ở ngón chân cái. Người ta nhận thấy từ một bàn chân bị cắt đứt, một mảnh thịt đã được cắt bỏ tại nơi có thể là vị trí của cục bướu. Một lần nữa, điều này ám chỉ Ruxton là nghi can nhưng không thể coi là bằng chứng cho bất cứ điều gì.

 

Hai chuyên gia pháp y, Tiến sĩ John Glaister ở Glasgow và Tiến sĩ James Couper Brash ở Edinburgh, đã được mời đến để xem liệu họ có thể bằng cách nào đó nhận dạng được các thi thể hay không. Họ đã tìm ra được một vài chi tiết nhỏ mà Ruxton đã bỏ sót. Mary Rogerson bị viêm amidan mãn tính, và các bác sĩ đã tìm thấy những dấu hiệu vi mô của căn bệnh này trong amidan của một thi thể. Cục bướu bị mất có liên quan đến một biến dạng ở xương bàn chân bị cắt đứt. Những chiếc răng đã được nhổ khi còn sống trùng khớp với hồ sơ nha khoa.

 

Để củng cố thêm luận điểm, các chuyên gia pháp y đã sử dụng ảnh của hai phụ nữ mất tích và chồng chúng lên ảnh hộp sọ tử thi được chụp ở cùng một góc độ. Các hộp sọ nằm gọn gàng trong ảnh. Đó là một minh chứng thuyết phục, và bồi thẩm đoàn phán quyết Tiến sĩ Buck Ruxton có tội.

Trong vụ án mạng ở Ruxton, các chuyên gia pháp y đã chồng ảnh của Isabella Van Ess lên hộp sọ của một thi thể đang phân hủy để chứng minh cô là một trong những nạn nhân.

 

Ngày 21 tháng 5 năm 1936, ông ta bị treo cổ tại Nhà tù Strangeways ở Manchester. Năm 1937, Tiến sĩ Glaister và Tiến sĩ Brash xuất bản cuốn sách về vụ án, “Những Khía cạnh Y khoa-Pháp lý của Vụ án Ruxton”, trong đó trình bày chi tiết cả công tác cảnh sát lẫn các cuộc điều tra khoa học. Các nhà phê bình rất ấn tượng trước sự tận tâm của các giám định viên khoa học, và cuốn sách đã góp phần đặt ra các tiêu chuẩn cho các cuộc điều tra trong tương lai.

 

Cơ sở Nghiên cứu Nhân chủng học tại Đại học Tennessee ở Knoxville được thành lập bởi Tiến sĩ William M. Bass vào năm 1972 khi ông nhận ra rằng chúng ta biết rất ít về cách cơ thể con người phân hủy sau khi chết. Vào thời điểm đó, Bass là nhà nhân chủng học pháp y chính thức của tiểu bang, và ông không thích bị cật vấn bởi những câu hỏi về hài cốt mà ông không thể trả lời. Cảnh sát thường xuyên gặp phải những câu hỏi như vậy. Bass được phép sử dụng một lô đất rộng hai mẫu Anh (khoảng 1,8 hecta) thuộc sở hữu của Đại học Tennessee; sau đó, ông thu thập các thi thể không xác định được danh tính và vô thừa nhận từ các văn phòng giám định y khoa địa phương và sắp xếp chúng khắp nơi trong khuôn viên. Một số bị bỏ ngoài trời, tiếp xúc với thời tiết và côn trùng, một số bị chôn trong các ngôi mộ nông, một số bị bỏ lại trong cốp xe, và một số bị ngập một phần hoặc hoàn toàn trong nước. Hồ sơ được lưu giữ nêu chi tiết quá trình phân hủy của từng thi thể trong từng tình huống.

 

Ngay sau khi thành lập, cơ sở này nhận được biệt danh “Trang trại Tử thi”, và từ đó cái tên này gắn liền với nó . Trang trại Tử thi vẫn đang hoạt động và tiếp nhận khoảng 120 thi thể hiến tặng mỗi năm. Ngoài việc thu thập dữ liệu khoa học, các sở cảnh sát còn sử dụng cơ sở này để huấn luyện nhân viên thực hành tại hiện trường vụ án.

 

Hiện nay, Đại học Western Carolina và Đại học Bang Texas đã có các trại tử thi, và một số cơ sở khác cũng đang cân nhắc việc mở các cơ sở tương tự. Việc nghiên cứu thi thể người chết, mặc dù có phần rùng rợn, nhưng vẫn cung cấp thông tin hữu ích và góp phần đưa nhân chủng học pháp y trở thành một ngành khoa học chính xác hơn.

 

Ai đã chứng kiến ​​anh ta chết?

“Tôi,” con ruồi nói.

“Với con mắt nhỏ của tôi,

Tôi đã nhìn thấy anh ấy chết.”

-“Cock Robin,” dân ca Anh

 

Trường hợp côn trùng giúp phá án được biết đến sớm nhất là câu chuyện do Tống Tử kể lại trong Chương Một, về những con ruồi xanh bu trên lưỡi hái của một nông dân và từ đó chỉ ra rằng y là kẻ giết người. Ngoại trừ vụ án vào thế kỷ thứ 13 này, ngành côn trùng học pháp y đã ngủ yên cho đến năm 1855 khi Tiến sĩ Louis François Etienne Bergeret (1814-1893) thực hiện khám nghiệm tử thi xác ướp của một đứa trẻ sơ sinh. Thi thể của đứa trẻ được tìm thấy phía sau bệ lò sưởi của một ngôi nhà gần Paris khi ngôi nhà đang được tu sửa. Bergeret đã sử dụng kiến ​​thức của mình về vòng đời của những con côn trùng mà ông tìm thấy xác trong thi thể để kết luận rằng cái chết đã xảy ra hơn năm năm trước đó. Ông xác định năm 1848 là năm đứa trẻ chết, và người phụ nữ trẻ sống trong ngôi nhà năm đó đã được tìm thấy, bắt giữ và xét xử.

 

Bà không bị kết án vì không thể chứng minh được đứa trẻ không chết một cách tự nhiên. Và có lẽ đúng là như vậy.

 

Trong một số trường hợp vào cuối thế kỷ 19, cha mẹ của những đứa con đã chết đã thoát khỏi cáo buộc hình sự khi những vết thương trên mặt và cơ thể của đứa trẻ được chứng minh là do đàn gián gây ra sau khi chết.

 

Kiến thức về côn trùng học chỉ mới được hệ thống hóa gần đây để có thể hữu ích trong việc phá án. Trong vòng đời của mình, một loài côn trùng trải qua nhiều giai đoạn, và mỗi giai đoạn có thể để lại dấu vết đặc trưng. Côn trùng có thể cực kỳ chính xác về nơi chúng đẻ trứng, nhiệt độ địa điểm chúng chọn, và thời điểm trong năm, thậm chí cả ngày chúng đẻ trứng. Mỗi loài côn trùng đều có những quy tắc ứng xử riêng về những vấn đề này.

 

Hai nhóm côn trùng chính là ruồi và bọ cánh cứng thường trú ngụ trên xác chết và có thể thu được thông tin có giá trị về mặt pháp y bằng cách xác định thứ tự chúng đến và rời khỏi vật chủ.

 

Mỗi giai đoạn phân hủy của xác chết đều hấp dẫn một loại côn trùng khác nhau. Ruồi xanh (Calliphoridae) và ruồi nhà (Muscidae) thường là những loài đầu tiên bay đến xác chết còn mới, mặc dù đôi khi ruồi thịt (Sarcophagidae) cũng xuất hiện. Một số loài này thường xuất hiện trong vòng vài phút sau khi chết. Ruồi xanh cái sẽ đẻ trứng trong vòng hai ngày, tốt nhất là trong vết thương hở, mặc dù bất kỳ lỗ hở nào trên cơ thể cũng được. Sau đó, nhiều loại côn trùng khác bị thu hút bởi mức độ phân hủy thay đổi của xác chết hoặc bởi những côn trùng đã có mặt ở đó – ví dụ như bọ cánh cứng (Staphylinidae) có thể xuất hiện để ăn giòi. Xác chết đang phân hủy có thể thu hút ruồi cánh tranh (Oititidae), ruồi lính (Stratiomyidae) hoặc nhiều loại khác. Những loài xuất hiện cuối cùng thường là bọ da (Dermestidae) và bọ cánh cứng hister (Histeridae). Thứ tự xuất hiện của côn trùng phụ thuộc vào vị trí địa lý của xác chết và thời điểm trong năm.

 

Trong vài tuần đầu sau khi chết, thông tin về thời gian tử thi đã chết và nằm tại vị trí được tìm thấy có thể được xác định dựa trên độ tuổi và giai đoạn phát triển của ấu trùng ruồi xanh trong cơ thể. Việc kiểm tra các vỏ nhộng – lớp vỏ cứng còn sót lại khi côn trùng chuyển từ giai đoạn ấu trùng cuối cùng sang dạng trưởng thành – có thể cung cấp cho nhà điều tra ước tính thời gian tử vong.

 

Dấu vết của côn trùng không phải loài bản địa tại khu vực tìm thấy thi thể là dấu hiệu cho thấy thi thể đã bị dịch chuyển. Quần thể côn trùng thay đổi ngay cả trong khoảng cách rất ngắn. Bên trong nhà hoặc chuồng trại sẽ có quần thể côn trùng khác với bên ngoài.

 

Một món quà khác mà côn trùng có thể mang đến cho nhà điều tra là thông tin về các loại chất độc hoặc thuốc được tìm thấy trong mô của xác chết. Bất kỳ hóa chất nào được tìm thấy trong côn trùng chắc chắn đến từ xác chết mà nó ăn.

 

Tiến sĩ côn trùng học pháp y Zakaria Erzinclioglu mô tả một vụ án mà ông được triệu tập đến West Yorkshire, Anh, vào những năm 1980. Anthony Samson Perera, giảng viên khoa sinh học miệng tại  nha khoa của Đại học Leeds, sống cùng vợ trong một ngôi nhà ở Wakefield với hai con trai nhỏ và một cô con gái nuôi mười ba tuổi tên là Nilanthi. Những người hàng xóm, vốn rất yêu quý cô gái, một ngày nọ nhận ra rằng họ đã không gặp cô bé trong một thời gian khá dài. Điều này thật kỳ lạ vì lúc đó đang là giữa mùa hè, không phải thời điểm để một đứa trẻ mười ba tuổi ở trong nhà cả ngày. Khi họ hỏi gia đình Perera về cô bé, ban đầu họ được cho biết rằng cô bé thực sự đang ở trong nhà. Nhưng Nilanthi vẫn vô hình, và những người hàng xóm đã báo với sở dịch vụ xã hội rằng họ lo lắng cho cô bé.

 

Nhân viên dịch vụ xã hội đã chuyển vụ việc cho cảnh sát, và Thanh tra Thám tử Tom Hodgson đã nhanh chóng đến thăm gia đình Perera. “Điều đầu tiên ông ấy nhận thấy”, theo Tiến sĩ Erzinclioglu, “là Tiến sĩ Perera là một con người vô cùng kiêu ngạo.

 

Thái độ của Perera đối với Hodgson và các đồng nghiệp là sự coi thường, gần như vô lễ. Perera nói với Hodgson rằng cô bé mất tích là một đứa trẻ mồ côi mà họ đã nhận nuôi ở Sri Lanka, quê hương của họ. Họ đã đưa Nilanth đến Anh để cô bé có thể đi học, nhưng cô bé không hạnh phúc ở đó và đã trở về Sri Lanka, nơi cô bé hiện đang sống với mẹ của Perera, Winifred. Perera không thể hiểu tại sao lại có sự ồn ào như vậy về “một cô bé rừng rú thấp kém”. Và Nilanthi đã được trả về Sri Lanka như thế nào? Perera nói rằng y đã bay cùng cô bé đến Sicily (Ý) và đã trao cô bé cho anh trai mình, người được cho là đã đưa cô bé về Sri Lanka, sau đó ông ta sẽ quay về nhà.

 

Thanh tra Hodgson đã kiểm tra với hãng hàng không; họ không có bất kỳ thông tin nào về việc Nilanthi từng rời khỏi Anh. Ông yêu cầu Interpol thẩm vấn cảnh sát Sri Lanka. Họ báo cáo rằng bà Winifred Perera nói với họ rằng bà đã không gặp Nilanthi kể từ khi cô bé rời đi Anh ba năm trước.

 

Perera nhún vai. “Hỏi anh trai tôi ấy,” y nói. Và anh trai anh ấy đâu rồi? Anh ấy đã quá hạn cư trú tại Ý và phải rời khỏi Ý. Giờ anh ấy đang ở đâu, Perera không biết.

 

Nhưng sự tự phụ thái quá của Perera và niềm tin mù quáng vào trí thông minh vượt trội của mình đã dẫn y vào một con đường nguy hiểm. Y mang một số xương vào phòng thí nghiệm, bỏ một vài cái vào lọ thủy tinh và để những cái còn lại nằm rải rác trong các đĩa tráng men. Một trong những đồng nghiệp của y, Frank Ayton, gọi Thanh tra Hodgson. Ayton cho Hodgson xem một bình cà phê đựng vài chiếc xương nhỏ, và một cốc thủy tinh năm lít chứa đầy xương nổi bên trong chất lỏng màu xanh lá cây. Hai người họ lục soát phòng thí nghiệm và tìm thấy một chiếc xe đẩy bằng thép không gỉ chứa nhiều xương người hơn nữa.

 

Dựa trên những phát hiện này, Thanh tra Hodgson đã xin lệnh khám xét nhà Perera. Đội tìm kiếm đã tìm thấy hài cốt người trong ba cây trồng trong nhà và nhiều xương người khác dưới sàn nhà trong phòng khách. Họ còn tìm thấy thêm nhiều xương người và một lượng tóc đen dài trong vườn.

 

Sự tự tin và kiêu ngạo không gì lay chuyển nổi của Perera vẫn không hề lay chuyển ngay cả khi đối mặt với những phát hiện này. Y nói rằng xương người chỉ là mẫu vật sinh học phục vụ cho nghiên cứu của y. Chúng được đặt dưới sàn nhà để tránh bất kỳ “sự hiểu lầm” nào khi y có khách. Còn xương và thịt thối rữa trong chậu cây là từ sườn heo dùng để bón phân cho cây. Ồ, bộ chúng chắc chắn là của người sao? Chà, vậy chúng chắc chắn là từ xác chết mà y đã đặt mua từ Đại học Peradeniya ở Sri Lanka.

 

Bất chấp lời khai trôi chảy, Perera và vợ vẫn bị bắt giữ. Nhưng tất cả những chuyện này xảy ra vào thời kỳ trước khi có công nghệ phân tích DNA, và cảnh sát cần một thứ gì đó để kết nối tất cả những chiếc xương đó lại với nhau. Họ gói ghém tất cả lại và mang đến phòng thí nghiệm của Tiến sĩ Erzinclioglu ở Cambridge. Họ muốn biết liệu những chiếc xương trong vườn có liên quan đến những chiếc xương trong chậu và dưới sàn nhà hay không.

 

Tiến sĩ Erzinclioglu giơ chiếc túi ni lông đựng xương dưới sàn lên. Bên trong đầy rẫy “hàng trăm con ve nhỏ thuộc các loài săn mồi các động vật không xương sống nhỏ khác trong đất”. Nhưng khu vực bên dưới sàn lại là bê tông; chẳng có gì cho ve ăn ở đó. Vậy nên xương chắc hẳn được mang từ vườn vào. Và còn nhiều hơn thế nữa. Xương từ phòng thí nghiệm của Perera chứa những loài côn trùng sống trong nhà, chứ không phải phòng thí nghiệm. Và một số ấu trùng thuộc về một loài bắt đầu sinh sản vào mùa xuân – khoảng thời gian Nilanthi biến mất.

 

Các chuyên gia khác đã kiểm tra những bộ xương và kết luận rằng chúng chắc chắn có thể là hài cốt của một bé gái mười ba tuổi gốc Á. Nhưng họ không thể chắc chắn hơn thế.

 

Để giải quyết khả năng cuối cùng là Perera có thể đã khai sự thật – rằng Nilanthi vẫn còn sống khỏe mạnh và đang sống với mẹ của mình – Hodgson đã đến Sri Lanka. Nilanthi, hóa ra, không phải trẻ mồ côi. Nhưng bố mẹ cô đã không gặp lại hay nghe tin tức gì về cô kể từ ngày cô cùng Perera sang Anh. Và Đại học Peradeniya chưa bao giờ gửi cho Perera một xác chết.

 

Khi ngồi trong phiên tòa, Perera vẫn không hề mất đi vẻ kiêu ngạo. Theo quan điểm của y, chẳng có gì có thể chứng minh chống lại y; tất cả chỉ là giả định và bằng chứng gián tiếp. Nhưng sức nặng của bằng chứng gián tiếp đã tỏ ra áp đảo. Nilanthi chắc chắn đã đến Anh cùng Perera. Cô ta chắc chắn không còn ở đó nữa. Cô ta không ở Ý hay Sri Lanka. Cô ta đang ở đâu? Những bộ xương trong nhà, vườn và phòng thí nghiệm của Perera là xương người. Chúng có thể là của một bé gái mười ba tuổi. Bằng chứng côn trùng cho thấy chúng đã được chôn xuống đất cùng lúc Nilanthi biến mất.

 

Perera bị kết tội và bị tuyên án tù chung thân. Vợ ông, người không có bằng chứng nào được đưa ra chống lại mình và dường như thực sự hoang mang trước hoàn cảnh, đã nhận án treo và được trả tự do.

 

 

14: Nhân chứng và những người khác

 

Không đúng lúc, không đúng chỗ.

Dù khuôn mặt anh có quyến rũ đến đâu,

thì đó cũng là một khuôn mặt khác.

Không phải khuôn mặt y,

nhưng khuôn mặt quyến rũ đến mê

 tôi thấy cũng ô kê.

 

-Cole Porter

 

Đã xảy ra một vụ tai nạn ô tô. Trước tòa, một nhân chứng, người đã thề “nói toàn bộ sự thật, và chỉ nói sự thật”, tuyên bố rằng toàn bộ con đường thì khô ráo và bụi bặm; người kia thề rằng trời đang mưa và đường lầy lội. Người này nói rằng chiếc xe chạy rất chậm; kẻ kia nói rằng anh ta chưa bao giờ thấy chiếc xe nào chạy nhanh hơn. Người đầu tiên thề rằng chỉ có hai hoặc ba người trên đường làng; người thứ hai nói rằng có rất nhiều đàn ông, phụ nữ và trẻ em đang đi qua. Cả hai nhân chứng đều là những quý ông rất đáng kính, không ai trong số họ có ý định thay đổi sự thật theo trí nhớ của mình.

– Hugo Münsterberg, Trên bục nhân chứng: Các luận đề về tâm lý học và tội phạm, 1906.

 

KHI NẠN NHÂN hoặc nhân chứng của một tội ác chỉ tay vào nghi phạm và hét lên, “Chính là hắn! Tôi chắc chắn mà!”, thì khả năng người tố cáo đúng là bao nhiêu?

 

Lời khai của nhân chứng vốn dĩ không đáng tin cậy. Công tố viên biết điều đó, và luật sư bào chữa cũng vậy. Thế tại sao lại có nhiều lời khai như vậy? Bởi vì bồi thẩm đoàn không biết, và cảnh tượng nạn nhân ngồi trên bục nhân chứng, chỉ ngón tay run rẩy về phía bị cáo là một cú hích tâm lý mạnh mẽ cho bên công tố. Ngay cả khi bạn biết rằng lời khai của nhân chứng thường không đáng tin cậy, thì cũng khó có thể tin rằng cô gái mảnh khảnh này, người đã bị xâm hại tình dục một cách khủng khiếp, hay ông già, yếu ớt chống nạng với đầu vẫn quấn băng, lại có thể nói dối.

 

Và, tất nhiên, họ không hề nói dối. Ít nhất là không nói dối một cách cố ý. Hãy xem xét trường hợp của “Ngài Willoughby” trong Chương 3. Những phụ nữ ra hầu tòa chống lại Adolf Beck thực sự tin rằng họ đã xác định đúng người.

 

Trong cuốn sách “Trên Bục Nhân chứng” xuất bản năm 1908, Tiến sĩ Hugo Münsterberg thảo luận về nhận thức và trí nhớ liên quan đến lời khai của nhân chứng. Trong chương “Ký ức của Nhân chứng“, ông kể lại trải nghiệm của chính mình khi làm chứng trong một vụ trộm. Ông ra tòa không phải với tư cách là một nhân chứng chuyên môn mà là một nạn nhân. Trong khi ông và gia đình đang đi biển, ngôi nhà của ông ở Boston đã bị trộm đột nhập.

 

Münsterberg khai rằng bọn trộm đã đột nhập vào cửa sổ tầng hầm và di chuyển từ phòng này sang phòng khác. Ông khai với tòa rằng ông đã tìm thấy những giọt sáp nến trên tầng hai, cho thấy chúng đã ở đó vào ban đêm. Bọn trộm đã để lại một chiếc đồng hồ lớn bọc giấy trên bàn ăn, cho thấy chúng có ý định quay lại. Chúng cũng lấy đi một số quần áo, và Münsterberg đã cung cấp cho cảnh sát danh sách những món đồ bị mất.

 

Chỉ vài ngày sau khi ra tòa, Münsterberg nhận ra lời khai của mình sai đến từng chi tiết. Bọn trộm không đột nhập qua cửa sổ, mà chúng đã phá khóa cửa hầm. Chiếc đồng hồ nằm trên bàn ăn, nhưng không được bọc giấy – nó được phủ bằng khăn trải bàn. Ngọn nến không bị nhỏ giọt trên tầng hai mà trên gác mái. Và danh sách quần áo bị mất còn thiếu bảy bộ.

 

Và đây là lời nhận xét từ một nhà tâm lý học, một nhà tội phạm học và một nhà quan sát được đào tạo bài bản với trí nhớ tuyệt vời.

 

Trong cuốn sách của mình, Münsterberg tiếp tục phân tích lý do tại sao ông mắc phải những sai lầm này: ông đang ở trong trạng thái phấn khích cao độ (ông đã vội vã về nhà khi cảnh sát báo rằng nhà ông đã bị đột nhập); ông đã tập trung quá nhiều vào một quan sát cụ thể (chiếc đồng hồ, sáp) mà không thực sự chú ý đến các chi tiết phụ (chiếc đồng hồ thực sự được bọc trong thứ gì và sáp thực sự bị đổ ở tầng nào). Khi đến lúc kể câu chuyện, tâm trí ông đã cung cấp các chi tiết hỗ trợ. Đối với cửa sổ tầng hầm, cảnh sát đã đề cập rằng kẻ trộm thường đột nhập qua cửa sổ tầng hầm; vì vậy Münsterberg cho rằng đây là những gì ông đã nhìn thấy. Mãi đến vài ngày sau, ông mới nhận thấy rằng ổ khóa trên cửa tầng hầm đã bị phá.

 

Các chương trình Sinh tồn, Lẫn tránh, Kháng cự và Trốn thoát của Quân đội Hoa Kỳ tiến hành các thí nghiệm nhằm tìm ra cách tốt nhất để chuẩn bị cho binh lính trong trường hợp họ trở thành tù binh chiến tranh. (Trong số các thí nghiệm này, do bác sĩ tâm thần C. And Morgan của Đại học Yale nghĩ ra, đã phát hiện ra một số liệu thống kê thú vị. Trong thí nghiệm, một đối tượng thử nghiệm trải qua một cuộc thẩm vấn khắc nghiệt và bị đưa vào phòng biệt giam. Sau đó, một người bắt giữ khác xông vào phòng giam. Anh ta giơ một bức ảnh và hỏi: “Người thẩm vấn anh có cho anh ăn gì không?”

 

Đúng thế. Đó chính là mức độ sai lệch.

 

Khi thí nghiệm kết thúc, đối tượng được yêu cầu chọn ra khuôn mặt của người thẩm vấn trong số chín bức ảnh được cho xem. Đáng kinh ngạc là 85% đối tượng đã chọn sai khuôn mặt. Thay vì khuôn mặt của người thẩm vấn thực sự, họ chọn khuôn mặt mà họ đã nhìn thấy thoáng qua trong bức ảnh được vẫy cho họ xem.

 

85 phần trăm.

 

Giáo sư Elizabeth Loftus hiện đang công tác tại Đại học California, Irvine, thuộc các khoa Tâm lý học, Hành vi Xã hội và Tội phạm học, Luật, Xã hội và Khoa học Nhận thức, cũng như tại Trung tâm Thần kinh học về Học tập và Trí nhớ. Loftus đã được mời tham vấn hoặc làm chứng về các vấn đề liên quan đến trí nhớ trong hàng trăm vụ án, bao gồm vụ xâm hại tình dục trẻ em tại Trường Mầm non McMartin, vụ án Kẻ siết cổ Hillside, và vụ đánh bom Thành phố Oklahoma. Bà là một chuyên gia – thực sự là chuyên gia lỗi lạc – về trí nhớ và những gì có thể làm sai lệch nó. Phát hiện chính của bà, sau ba thập kỷ nghiên cứu, là việc này không đòi hỏi gì nhiều. Trong một bài báo năm 2002 trên tờ Skeptical Inquirer (Điều tra viên Hoài nghi) , bà viết: “Tất nhiên, ký ức không phải là bằng chứng về sự kiện mà nó được cho là gợi nhớ. Tất cả chúng ta đều ‘nhớ’ những điều chưa từng thực sự xảy ra, như nhiều bằng chứng khoa học đã chứng minh.”

 

Loftus nhận thấy lời khai của nhân chứng không chỉ không đáng tin cậy mà còn có thể bị ảnh hưởng bởi cách đặt câu hỏi liên quan đến vụ việc. Trong một nghiên cứu, bà cho các đối tượng xem phim về tai nạn giao thông và sau đó đặt câu hỏi. Nếu bà hỏi tốc độ của những chiếc xe khi chúng đâm sầm vào nhau, tốc độ mà các đối tượng báo cáo cao hơn so với việc bà chỉ hỏi tốc độ của chúng khi chúng đụng nhau. Câu hỏi “đâm sầm (smash)  vào nhau” khiến các đối tượng nhớ lại những mảnh kính vỡ trong khi thực tế không hề có mảnh kính vỡ nào.

 

Có vô số cách để đưa thông tin sai lệch vào trí nhớ. Các đối tượng đã cho rằng biển báo dừng ở ngã tư là biển báo nhường đường, rằng một chiếc xe màu xanh là màu trắng, và thậm chí Chuột Mickey chính là Chuột Minnie.

 

Ngoài tính không đáng tin cậy vốn có, một trong những vấn đề hiếm khi được nêu ra với lời khai của nhân chứng là thói quen của cảnh sát và công tố viên trong việc lựa chọn nhân chứng của họ. Nếu có ba nhân chứng của một tội ác và một người nói rằng thủ phạm có tóc nâu, một người nói rằng tóc vàng, và người thứ ba nói rằng anh ta hói, và bị cáo đang bị xét xử có tóc nâu, bạn cho rằng ai trong ba nhân chứng sẽ làm chứng cho bên công tố? Về lý thuyết, bên công tố được cho là sẽ chuyển giao tất cả các bằng chứng, cả buộc tội và giải tội, cho bên bào chữa. Nhưng trên thực tế, rất nhiều thông tin mà bên bào chữa có thể thấy hữu ích lại bị loại bỏ trong quá trình này. Năm 1924, J. Collyer Adam, trong phần giới thiệu của mình cho cuốn sách Điều tra Hình sự của Hans Gross, đã đề cập đến khó khăn trong lời khai nhân chứng.

 

Phải thừa nhận rằng ngày nay, giá trị của lời khai, ngay cả của một nhân chứng chân thực, cũng được đánh giá quá cao. Vô số sai sót trong nhận thức bắt nguồn từ các giác quan, những khiếm khuyết của trí nhớ, những khác biệt sâu sắc giữa con người về tuổi tác, giới tính, bản chất, văn hóa, tâm trạng nhất thời, sức khỏe, sự phấn khích mãnh liệt, môi trường – tất cả những điều này có tác động lớn đến mức chúng ta hiếm khi nhận được hai lời kể hoàn toàn giống nhau về cùng một sự việc; và giữa những gì mọi người thực sự trải nghiệm và những gì họ tự tin khẳng định, chúng ta chỉ thấy sai lầm chồng chất.

 

Qua lời khai từ hai miệng nhân chứng, chúng ta có thể vội vàng đi đến sự thật đích thực, chúng ta có thể tự hình thành ý niệm về hoàn cảnh của một sự việc và tự mình thỏa mãn về nó, nhưng bằng chứng hiếm khi đúng sự thật và hữu hình; và bất cứ ai tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này cũng sẽ không thể nào yên ổn lương tâm, ngay cả sau khi đã lắng nghe mười nhân chứng. Những âm mưu xấu xa và sự lừa dối xảo quyệt, những sai sót và lỗi lầm, trên hết là việc nhắm mắt làm ngơ và tin rằng những gì được nêu trong bằng chứng đã thực sự được chứng kiến, đều là những đặc điểm của rất nhiều nhân chứng đến nỗi khó có thể hình dung ra lời khai hoàn toàn khách quan.

 

Vào cuối thế kỷ 19, Hans Gross đã viết rằng: “Phần lớn công việc của một nhà tội phạm học không gì khác hơn là cuộc chiến chống lại sự dối trá. Họ phải khám phá sự thật và phải đấu tranh với sự dối trá. Họ đối mặt với sự dối trá ở mọi bước đi. Việc hoàn toàn đánh bại sự dối trá, đặc biệt là trong công việc của chúng ta, tất nhiên là điều không thể, và việc mô tả bản chất của nó một cách đầy đủ cũng giống như việc viết nên lịch sử tự nhiên của nhân loại.”

 

Tất nhiên, bí quyết là phải biết cách nhận ra lời nói dối khi bạn nghe thấy nó.

 

Những thay đổi vô tình về huyết áp là một thước đo, cùng với những yếu tố khác, của căng thẳng tâm lý. Năm 1854, nhà sinh lý học người Đức Karl von Vierordt (1818-1884) đã phát triển một thiết bị mà ông gọi là máy đo huyết áp, có chức năng đo huyết áp tức thời. Năm 1863, Etienne-Jules Marey (1830-1904) đã phát minh ra một phiên bản máy đo huyết áp cầm tay, có thể theo dõi các chỉ số trên một tờ giấy.

 

Những thiết bị này đã được nhà tội phạm học người Ý Cesare Lombroso cải tiến hơn nữa và sau đó được sử dụng để phát hiện căng thẳng tâm lý. Thiết bị của ông bao gồm một chiếc găng tay có chức năng theo dõi mạch đập và những thay đổi về huyết áp của người đeo nó. Chiếc găng tay này lại được kết nối với một chiếc bút ghi âm để tạo dấu vết trên một trống quay. Vào những năm 1890, Lombroso đã tiến hành các thí nghiệm phát hiện nói dối. Ông bắt tay vào nhiệm vụ của mình với rất nhiều định kiến, tuy nhiên ông tin rằng tội phạm sở hữu những đặc điểm tội phạm được di truyền và có thể bị nhận ra qua ngoại hình. Ông đã ghi lại kết quả của mình, tuyên bố thành công trong việc sử dụng thiết bị phát hiện nói dối của mình đối với những nghi phạm thực sự trong các vụ án hình sự thực sự, trong ấn bản năm 1895 của cuốn sách Tội phạm (L’Homme Criminel).

 

Bước tiếp theo trong việc phát hiện nói dối được thực hiện vào năm 1914 bởi Vittorio Benussi, người đã công bố kết quả nghiên cứu về sự khác biệt trong nhịp thở giữa “trạng thái trung thực và không trung thực”. Ông chia thời gian hít vào cho thời gian thở ra. Ông phát hiện ra rằng tỷ lệ này lớn hơn trước khi nói sự thật và giảm sau đó, nhưng nhỏ hơn trước khi nói dối và tăng lên sau đó.

 

Năm 1915, nhà tâm lý học William Moulton Marston (1893-1947) bắt đầu nghiên cứu ảnh hưởng của việc nói dối lên huyết áp tâm thu (chỉ số cao hơn trên phân số huyết áp). Năm 1917, ông viết một báo cáo về các thí nghiệm của mình cho Tạp chí Tâm lý Thực nghiệm. Đầu những năm 1920, với sự hỗ trợ của vợ và cũng là nhà tâm lý học Elizabeth Holloway Marston, ông tin rằng mình đã phát minh ra một cơ chế hữu ích để phát hiện lời nói dối. Tốt nghiệp Harvard với bằng luật và bằng tiến sĩ tâm lý học, Marston là một người đàn ông có nhiều sở thích. Ông viết các luận đề về tâm lý học đại chúng, sống với hai người phụ nữ – vợ ông và người tình Olive Byrne – ủng hộ nhiệt thành cho nữ quyền, và tạo ra nhân vật truyện tranh hài Wonder Woman, được cho là sự kết hợp của hai người phụ nữ trong cuộc đời ông. “Dây thòng lọng sự thật” của Wonder Woman chắc chắn được lấy cảm hứng từ máy phát hiện nói dối Marston.

 

Năm 1938, Marston viết một cuốn sách có tựa đề “Kiểm tra bằng Máy phát hiện Nói dối” để củng cố vị trí của mình trong sự phát triển của thứ sau này trở thành máy phát hiện nói dối. Nhà xuất bản đã gửi một bản sách cho J. Edgar Hoover tại FBI, và cuốn sách đã được Quinn Tamm thuộc Phòng Thí nghiệm Kỹ thuật xem xét. Tuy nhiên, nó không được đánh giá cao. Nhà phê duyệt nhận thấy Marston tự đại và quá tự đề cao mình. Tamm đặc biệt không hài lòng với chương “Tình yêu và máy phát hiện nói dối“, trong đó Marston tuyên bố đã giải quyết được những khó khăn trong hôn nhân thông qua việc sử dụng thiết bị này. Tamm nhận xét:

 

Cần lưu ý rằng trong suốt cuốn sách, tác giả chỉ ra rằng xét nghiệm huyết áp để phát hiện sự lừa dối trong tay người vận hành được đào tạo là không thể sai và rằng một khi sự lừa dối đã bị máy phát hiện, theo kinh nghiệm của ông, nếu điều này được chỉ ra cho đối tượng, y sẽ thừa nhận tội lỗi của mình và điều đó sẽ có tác động tâm lý đến y khiến y luôn khai sự thật trong tương lai. Điều này… minh họa cho cùng một thái độ tự phụ lố bịch mà cuốn sách này được viết ra.

 

Máy ghi huyết áp tâm thu của Marston chỉ là bước đầu tiên hướng tới thiết bị mà ngày nay chúng ta gọi là máy phát hiện nói dối.

 

Năm 1921, Tiến sĩ John A. Larson, làm việc dưới sự chỉ đạo của cảnh sát trưởng Berkeley, California, đồng thời là nhà tội phạm học nổi tiếng August Vollmer, đã chế tạo một thiết bị mà ông gọi là “máy đo tâm lý tim phổi”. Thiết bị này có thể đo huyết áp, mạch và nhịp thở, nhưng lại to lớn, cồng kềnh và mất nửa giờ để lắp đặt. Bút trên thiết bị sẽ vạch các đường trên giấy đã được “hút” bằng than đen, sau đó được đưa qua các trống ghi âm lớn. Nếu cần lưu trữ vĩnh viễn phiên làm việc, giấy sẽ được phủ vecni để tránh bị nhòe, và sau đó được bảo quản trong các hộp.

 

Năm 1923, một sinh viên đại học trẻ tên là Leonard Keeler đã trình bày với Cảnh sát trưởng Vollmer kế hoạch của mình về một thiết bị phát hiện nói dối cải tiến. Nó nhỏ gọn hơn, dễ sử dụng hơn và bổ sung thêm phản ứng da điện hóa vào các phép đo. “Nếu anh chế tạo nó,” Vollmer nói, “chúng ta sẽ thử.” Keeler và một vài người bạn đã chế tạo nó và đặt tên là “emotograph”. Vollmer nói rằng nó trông “giống như một tập hợp điên rồ của dây điện, ống và hộp đựng cà chua cũ.”

 

Theo Ken Alder trong cuốn sách Những Máy Phát hiện Nói dối của mình, thành công đầu tiên của máy emotograph (máy ghi cảm xúc) trong một vụ án mạng dính líu một chút đến việc  nhập vai không chính thống.

 

Vào rạng sáng ngày 16 tháng 12 năm 1923, tại Los Olivos, California, một thị trấn nhỏ cách Santa Barbara khoảng bốn mươi dặm về phía bắc, túp lều của người thợ rèn lưu động John J. McGuire đã bị nổ tung thành từng mảnh. McGuire đang ngủ bên trong vào lúc đó. Nghi phạm hợp lý, thợ cắt tóc kiêm nhân viên bưu điện của thị trấn, William H. Downs, người đã có mối bất hòa với McGuire nhiều năm, có một bằng chứng ngoại phạm không thể chối cãi – ông ta đã qua đêm cùng gia đình tại một khách sạn ở Hollywood.

 

Williard Kemp, trợ lý luật sư quận Santa Barbara, đã nghe nói về máy emotograph của Keeler và quyết định thử. Vấn đề là làm thế nào để Downs đồng ý xét nghiệm.

 

Vào thời điểm đó, Ku Klux Klan [Tổ chức phân biệt chủng tộc của người miền Nam hoạt động sau Nội chiến Hoa Kỳ, thường sử dụng bạo lực với các nạn nhân da màu] vẫn còn rất hùng mạnh ở vùng nông thôn California, và Kemp là thủ lĩnh của chi hội địa phương. Ông ta gợi ý với Downs rằng cách tốt để tránh bị cảnh sát theo dõi là gia nhập Klan. Và quả thực, vào thời điểm đó và tại nơi đó, điều này có lẽ đúng. Vì vậy, một buổi lễ nhập môn giả đã được sắp xếp, trong đó Downs được trói vào máy ghi cảm xúc của Keeler và được yêu cầu phải nói sự thật: “Trong sự bí mật trang trọng của căn phòng này, anh có thể trả lời những câu hỏi được đặt ra mà không sợ hãi hay thiên vị.” Vì vậy, Downs đã làm bài kiểm tra nhưng không nói sự thật. Tuy nhiên, khi Keeler phân tích kết quả, ông nhận thấy một mô hình thú vị. Khi được hỏi liệu có ai trong danh sách 25 người đàn ông có liên quan đến vụ đánh bom hay không, Downs đã phản ứng mạnh mẽ với bảy cái tên.

 

Năm trong số bảy người đó bị bắt giữ để thẩm vấn. Cuộc thẩm vấn kéo dài nhiều ngày, và thỉnh thoảng những người đàn ông này lại bị gắn máy emotograph để tăng thêm áp lực. Cuối cùng, Harvey Stonebarger, chủ một xưởng cơ khí địa phương, đã chịu thua và thú nhận. Chính Downs và ông ta cùng với cha của Downs và một chủ trang trại địa phương tên là William Crawford. (Cái tên Crawford là một trong những cái tên mà Downs đã phản ứng.) Downs và cha của hắn đã mua chất nổ, Stonebarger đã giúp đặt nó, và sau khi Downs rời khỏi thị trấn, Crawford đã châm ngòi bằng điếu xì gà của mình.

 

Nhưng tại phiên tòa, Stonebarger đã rút lại lời thú tội, nói rằng mình bị cảnh sát cưỡng chế. Bồi thẩm đoàn tin lời khai của Stonebarger. Họ bác bỏ công nghệ máy emotograph mới mẻ này và tuyên bố những người đàn ông này vô tội.

 

Fred Inbau (1909-1998), một nhà tội phạm học và giáo sư luật tại Đại học Northwestern, là người tin tưởng mạnh mẽ vào việc sử dụng máy phát hiện nói dối, nhưng chỉ như một đạo cụ gây ấn tượng mạnh. Inbau gia nhập Phòng thí nghiệm Phát hiện Tội phạm Khoa học của Trường Luật Northwestern vào năm 1933. Khi phòng thí nghiệm được Sở Cảnh sát Chicago tiếp quản vào năm 1938, ông đã trở thành giám đốc của phòng thí nghiệm.

 

Inbau đã phát triển các kỹ thuật thẩm vấn lừa gạt, gian lận, thủ đoạn gian trá và nói dối trắng trợn để dụ nghi phạm thú tội. Ông coi đây là một phương pháp thay thế chấp nhận được cho các phương pháp cấp độ ba được áp dụng trong phòng sau của đồn cảnh sát. Những chiến thuật này của cảnh sát đã thành công trong việc moi được lời thú tội, nhưng, giống như các phương pháp tra tấn khác, chúng buộc cả người vô tội lẫn người có tội phải nói những gì người thẩm vấn muốn nghe. Cuốn sách “Thẩm vấn và Thú tội Hình sự” của Inbau, viết chung với John E. Reid, đã trở thành sách giáo khoa được tuyển chọn về chủ đề này kể từ khi xuất bản lần đầu năm 1962. Nói một cách nhẹ nhàng, Inbau giữ quan điểm bảo thủ. Ông tin rằng, ngoại trừ thuyết phục bằng vũ lực, bất kỳ phương pháp nào để lấy lời thú tội đều có thể chấp nhận được.

 

Khi vụ Miranda kiện Arizona được phán quyết có lợi cho Miranda và Tòa án Tối cao ra lệnh tất cả nghi phạm phải được nghe về các quyền của họ – nay được gọi là “quyền Miranda” – Inbau đã phản đối kịch liệt và viết nhiều bài báo khoa học phản đối điều này. Như Giáo sư Yale Kamisar đã nói, “Một trong những chủ đề xuyên suốt của Giáo sư Inbau là, bất kể cảnh sát có hành vi sai trái như thế nào, miễn là hành vi sai trái của họ không ảnh hưởng đến độ tin cậy của bằng chứng, thì bằng chứng đó phải được chấp nhận. Chỉ cần cảnh sát bị kỷ luật trong một phiên tòa riêng biệt là đủ.”

 

Inbau coi máy phát hiện nói dối là một công cụ tâm lý tuyệt vời để thuyết phục nghi phạm thú tội. Và nếu may mắn, các điều tra viên sẽ không phải dùng đến nó. Như ông nói:

 

Đã có vô số trường hợp lời thú tội được đưa ra chỉ vì một đề nghị cho nghi phạm trải qua bài kiểm tra bằng máy phát hiện nói dối. Nhiều trường hợp, nghi phạm đã thú nhận tội lỗi của mình trong khi chờ đợi tại phòng xét nghiệm.

 

Ngoài ra còn có nhiều trường hợp nghi phạm đã thú nhận ngay sau khi người vận hành máy đang điều chỉnh dụng cụ chuẩn bị cho việc thử nghiệm.

 

Sau đó, ông tiếp tục trấn an người đọc rằng không có lời thú tội nào trong số này là sai sự thật. Tuy nhiên, ông không nói rõ làm sao ông biết được điều này.

 

Máy quang phổ âm thanh được Phòng thí nghiệm Điện thoại Bell phát triển vào năm 1941 để phân tích tần số âm thanh của giọng nói con người khi lời nói được thốt ra. Dường như đặc điểm giọng nói của mỗi người là đủ riêng biệt để có thể nhận dạng ai đó qua biểu đồ giọng nói của họ. Điều này đã được chứng minh là đúng. Trong Thế chiến II, phân tích giọng nói đã được sử dụng để xác định người nói trên các mạng lưới vô tuyến quân sự của Đức. Việc biết được nhân viên vô tuyến nào đang sử dụng loại radio nào đã giúp theo dõi các hoạt động di chuyển của quân đội và phân loại mối quan hệ giữa các đơn vị khác nhau.

 

Vào những năm 1960, theo sự thúc giục của FBI, Phòng Thí nghiệm Bell đã tiếp tục nghiên cứu về phổ âm thanh giọng nói. Kỹ sư Laurence Kersta của Bell đã thực hiện phần lớn nghiên cứu và tin rằng “dấu hiệu nhận dạng giọng nói”, như ông gọi, có thể được sử dụng để nhận dạng với độ chính xác cao. Thuật ngữ “dấu hiệu nhận dạng giọng nói” đã bị loại bỏ, nhưng kỹ thuật này đã được chấp nhận trong lĩnh vực pháp y sau một nghiên cứu của Đại học Bang Michigan năm 1972 định lượng hiệu quả của nó. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhận dạng sai (trong đó nhà phân tích chọn nhầm người) chỉ là 2%, và tỷ lệ loại trừ sai (trong đó nhà phân tích nói rằng không có sự trùng khớp trong khi thực tế là có) chỉ là 5%.

 

Máy quang phổ âm thanh được sử dụng vào năm 1971 theo yêu cầu của một nhóm phóng viên muốn xác minh giọng nói họ nghe được qua điện thoại thực sự là của tỷ phú ẩn dật Howard Hughes. Ông đang cố gắng vạch trần một tiểu sử giả mạo về mình vừa được công bố, và các phóng viên muốn chắc chắn rằng Hughes thực sự là người vạch trần. (Đúng vậy.) Lần đầu tiên hầu hết công chúng biết đến kỹ thuật này được thực hiện vào năm 1972 khi các băng ghi âm tại Nhà Trắng của Richard Nixon được xác thực.

 

Từ năm 2002, các nhà phân tích tại Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) và Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) đã bận rộn xác minh giọng nói của Osama bin Laden và các thủ lĩnh al-Qaeda khác. Điều này đặc biệt đúng mỗi khi một đoạn băng ghi âm mới về những lời đe dọa của họ được công bố.

 

Máy quang phổ âm thanh không nên nhầm lẫn với Máy Đánh giá Căng thẳng Giọng nói, hay Máy Đánh giá Căng thẳng Tâm lý (PSE). Thiết bị này được cho là có thể xác định một người có đang nói dối hay không bằng cách phân tích các kiểu căng thẳng trong giọng nói của người đó. Hiệu quả của PSE hiện đang gây tranh cãi lớn.

 

Bình luận về bài viết này