Những cuộc phiêu lưu vào lịch sử khoa học pháp y

MICHAEL KURLAND
Trần Quang Nghĩa dịch
11: Máu sẽ nói lên tất cả
TẦM QUAN TRỌNG CỦA MÁU đã được nhận ra từ nhiều thế kỷ trước khi chức năng sinh học của nó được hiểu rõ. “Máu là sự sống”, như Bá tước Dracula đã nói với Jonathan Harker trong tiểu thuyết của Bram Stoker; nếu “máu của sự sống” cạn kiệt, bạn sẽ chết. Những người yêu nước được gọi là “người Mỹ máu đỏ”. Giới quý tộc là “máu xanh”. Một kẻ độc ác có “máu xấu” và một kẻ điên rồ có “máu ô uế”. Suy cho cùng, “một giọt máu đào vẫn hơn ao nước lã”.
Máu là thứ mà các nhà điều tra gần như chắc chắn sẽ tìm thấy rất nhiều tại hiện trường vụ án liên quan đến bạo lực thể xác. Cơ thể người trưởng thành trung bình chứa rất nhiều máu, khoảng năm lít. Hầu hết các vết thương đều giải phóng ít nhất một ít máu. Máu vẫn ở dạng lỏng trong một thời gian khá dài sau khi rời khỏi cơ thể, và bất cứ thứ gì nó rơi vào đều để lại vết thấm. Kẻ phạm tội rất có thể sẽ mang theo một ít máu. Như nhà tội phạm học Harry Söderman đã viết trong cuốn tự truyện Policeman’s Lot (Đời Cảnh Sát) của mình, “Máu là một chất lỏng, trong một vụ án bạo lực, dường như có khả năng kỳ lạ là ẩn mình, chỉ để xuất hiện trở lại vào thời điểm thích hợp và làm chứng chống lại kẻ giết người. Máu sẽ len lỏi dưới gạch lát sàn, vào các khe ván và vân gỗ, dưới móng tay; máu sẽ đọng lại trong bồn nước nơi kẻ giết người đã rửa tay. Nó sẽ bám dưới mặt bàn nơi ngón tay tưởng đã lau chùi sạch sẽ. Nó bắn lên quần áo và tóc.”
Hãy tưởng tượng cảnh sát đang giam giữ một nghi phạm và có những vết loang màu nâu đáng ngờ trên ống quần của nghi phạm.
“Đó là sơn”, anh ta khẳng định.
Có phải máu không?
“Được rồi, đó là máu. Tôi đang đi săn và bắn được một con chim trĩ.”
Có phải máu người không?
“Được rồi, đó là máu người. Tôi bị chảy máu mũi.”
Đó là máu của anh ta hay của nạn nhân?
Phải mất hơn một trăm năm nghiên cứu pháp y mới tìm ra được câu trả lời cho những câu hỏi này.
Vết máu không ổn định mà thay đổi theo thời gian. Chúng chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng mặt trời. Chúng không phải lúc nào cũng đỏ hoặc nâu mà có thể bị thay đổi bởi các yếu tố môi trường để xuất hiện thành màu xám, nâu vàng, vàng hoặc thậm chí xanh lá cây. Máu tươi có thể được xác định dưới kính hiển vi – hồng cầu và bạch cầu hiện rõ. Nhưng khi máu khô, hai loại tế bào này vón cục lại với nhau và không thể phân biệt được. Nếu vết máu không quá cũ hoặc quá nhỏ, các tế bào hồng cầu có thể được loại bỏ bằng cách rửa vết máu trong dung dịch kali xút và cồn. Đôi khi cách này thành công, đôi khi không.
Năm 1853, bác sĩ người Ba Lan Ludwig Teichmann đã phát triển một xét nghiệm máu phức tạp nhưng hiệu quả. Ông phát hiện ra rằng nếu hòa tan một ít máu nghi ngờ trong hỗn hợp nước muối và axit axetic băng, sau đó làm ấm, các tinh thể hematin sẽ hình thành như một phản ứng dương tính với sự hiện diện của máu. Các tinh thể này là một dấu hiệu chắc chắn cho thấy chất đó là máu. Đôi khi, nếu có gỉ sắt trong máu, các tinh thể có thể không hình thành. Nhưng nếu chúng hình thành, thì chất đó chính là máu.
Mười năm sau, một nhà hóa học người Đức, Christian Friedrich Schönbein, người phát hiện ra ôzôn và là nhà phát minh ra pin nhiên liệu, phát hiện ra rằng hydrogen peroxide sẽ sủi bọt khi có máu. Ngay cả một lượng máu rất nhỏ cũng có thể gây ra phản ứng này. Tuy nhiên, một lượng rất nhỏ tinh dịch, nước bọt, rỉ sét và một số loại xi đánh giày cũng có thể gây ra phản ứng này. Vì vậy, xét nghiệm Schönbein là một xét nghiệm nhanh và hiệu quả để loại trừ: nếu không sủi bọt thì đó không phải là máu. Nhưng nếu có bọt thì đó có thể không phải là máu và bạn phải xét nghiệm thêm.
Phản ứng này được kích hoạt bởi enzyme catalase trong máu, enzyme này biến hydro peroxide thành nước và oxy. Oxy được giải phóng dưới dạng khí và do đó gây ra hiện tượng sủi bọt. Catalase là thành phần máu có chức năng hút oxy từ không khí trong phổi và vận chuyển đến tất cả các tế bào trong cơ thể. Khả năng hấp thụ oxy của nó rất mạnh.
Một xét nghiệm nhanh, mặc dù không cho kết quả dương tính, để tìm máu trong vết bẩn khô là sử dụng cồn guaiac, nhựa của bất kỳ loại cây nào trong sáu loại cây hoặc cây bụi thuộc chi Guaiacum, một loại cây thường xanh cận nhiệt đới với nhiều giống khác nhau hiện được trồng làm cây cảnh ở Florida và California. Guaiac vẫn được sử dụng trong xét nghiệm y tế để sàng lọc dấu vết máu nhỏ trong phân.
Quy trình trong trường hợp này là cắt vết bẩn, đặt lên một tấm kính sạch, làm ẩm bằng nước cất và để yên trong một thời gian. Sau đó, một kỹ thuật viên phủ lên trên một tờ giấy lọc được cắt theo kích thước, ấn chặt tờ giấy xuống bằng một thanh thủy tinh và đợi thêm một lúc nữa. Sau đó, kỹ thuật viên lấy giấy lọc ra và thử nghiệm với một vài giọt hỗn hợp của cồn guaiac và dầu thông. Sự hiện diện của máu sẽ làm giấy lọc chuyển sang màu xanh lam, cũng như một số chất khác. Giống như thử nghiệm tìm tinh thể hematin, đây là một thử nghiệm hữu ích để loại bỏ vết bẩn nghi ngờ. Nhưng nếu giấy chuyển sang màu xanh lam, bạn sẽ cần thêm mẫu vết bẩn để sử dụng cho các thử nghiệm tiếp theo.
Đến cuối thế kỷ 19, một loạt các xét nghiệm máu đã được phát triển. Phương pháp đáng tin cậy và chắc chắn nhất trong số này là kiểm tra vết bẩn bằng phương pháp quang phổ. Nhưng rất ít các phòng thí nghiệm pháp y trang bị máy quang phổ, và vẫn chưa có xét nghiệm nào có thể phân biệt máu người với máu động vật.
Tầm quan trọng của một phương tiện phân biệt máu người với máu của các loài động vật có vú khác là rất rõ ràng, nhưng lại là một vấn đề dường như chưa được hiểu rõ. Vài năm trước, ông Barreul, một nhà hóa học ở Paris, đã trở nên rất thành thạo trong việc nhận biết máu động vật bằng tác nhân hóa học liên quan đến khứu giác nhạy bén khác thường của ông, đến nỗi lời khai của ông đã được tòa án Paris coi là bằng chứng xác thực. Chúng tôi tin rằng quá trình này bao gồm việc thêm axit sulfuric vào máu, và thử nghiệm bao gồm mùi phát ra trong quá trình gia nhiệt từ hỗn hợp. Chúng tôi không nhớ liệu khả năng phát hiện này có bao gồm máu khô hay không, nhưng hãy nhớ rằng nó phát hiện máu nguyên chất với độ chính xác cao, máu của mỗi loài động vật đều phát ra một mùi đặc trưng.
-Tạp chí Dược phẩm Hoa Kỳ, ngày 16 tháng 7 năm 1866
Theo M. Barreul, khi đun sôi trong axit sulfuric, máu bò có mùi như bên trong chuồng trại, máu cừu có mùi như cỏ, và máu người có mùi như mồ hôi. Vì ít ai có thể bắt chước được khứu giác tuyệt vời của ông, nên phương pháp điều tra này đã sớm bị loại bỏ.
Một phương pháp chính xác, tuy có thể sai sót đôi chút, để phân biệt máu người với máu của các loài động vật có vú khác có thể được các nhà hóa học khác ngoài M. Barrcul sử dụng. Nếu máu còn tươi và chưa đông, có thể phân biệt bằng kính hiển vi dựa trên kích thước của các tế bào hồng cầu. Chim, cá và bò sát đều có tế bào hồng cầu hình bầu dục, có nhân. Tất cả các loài động vật có vú đều có tế bào hồng cầu hình tròn không có nhân (trừ lạc đà và lạc đà không bướu, có tế bào hình bầu dục nhưng vẫn không có nhân). Kích thước của các tế bào này khác nhau tùy theo loài động vật có vú. Hồng cầu của người có
đường kính 0,0003 inch, tế bào bò trung bình 0,00025 inch, và tế bào dê trung bình 0,00015 inch. Cần một kính hiển vi tốt và một con mắt tinh tường để có thể đọc được sự khác biệt nhỏ hơn một phần mười nghìn inch. Hơn nữa, khi máu khô, các tế bào hồng cầu bị biến dạng, và việc phục hồi chúng theo cách cho phép xác định chính xác kích thước của chúng trở nên khó khăn. Cần có một xét nghiệm tốt hơn cho máu người.
Số ra ngày 7 tháng 2 năm 1901 của tờ Deutsche medizinische Wochenschrift (Tuần báo Y học Đức) có đăng thông báo của Paul Uhlenhuth thuộc Viện Vệ sinh tại Đại học Greifswald rằng ông đã phát minh ra một xét nghiệm có thể phân biệt máu người với bất kỳ loại máu nào khác, bất kể lượng máu nhỏ đến đâu. Tuyên bố của Uhlenhuth đã vấp phải sự hoài nghi sâu sắc. Một trợ lý giáo sư tại một trường đại học nhỏ, tầm thường đã thành công trong khi một số người sáng giá và được kính trọng nhất trong ngành y lại thất bại? Thật khó tin.
Nhưng Uhlenhuth, theo truyền thống khoa học tốt nhất, đã đứng trên vai những người đi trước và nhìn theo một hướng hơi khác. Năm 1890, Emil Adolf Behring và các cộng sự của ông tại Viện Vệ sinh ở Berlin đã phát triển một phương pháp tiêm chủng cho con người chống lại bệnh bạch hầu và uốn ván. Bằng cách tiêm cho chuột lang một chất lọc của môi trường nuôi cấy bạch hầu mà trực khuẩn thực sự đã được loại bỏ (một chất mà họ gọi là độc tố), họ có thể tạo ra phản ứng trong máu của chuột lang để trung hòa bạch hầu. Và huyết thanh máu của chuột lang (chất lỏng còn lại sau khi tất cả các tế bào và mảnh vụn đã được loại bỏ) có thể mang lại khả năng bảo vệ này cho những con chuột lang khác, thỏ và người. Họ gọi huyết thanh máu này là thuốc kháng độc tố.
Bước đột phá này đã thúc đẩy sự ra đời của huyết thanh học, một nhánh y học hoàn toàn mới. Cùng năm Uhlenhuth công bố khám phá của mình, Behring đã giành giải Nobel cho công trình đột phá của mình.
Thuật ngữ “huyết thanh học” ban đầu chỉ có nghĩa là nghiên cứu về huyết thanh, nhưng qua nhiều năm, người ta đã khám phá ra nhiều điều hơn về máu đến mức thuật ngữ này hiện bao gồm tất cả các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm khác nhau để xác định kháng thể, kháng nguyên và nhiều chất khác có trong máu.
Uhlenhuth phát hiện ra rằng nếu ông tiêm protein từ trứng gà vào thỏ và sau đó, sau một thời gian, lấy một ít máu thỏ và tạo ra huyết thanh, ông có thể trộn huyết thanh trong ống nghiệm với lòng trắng trứng gà và một kết tủa đục sẽ hình thành và trôi xuống đáy ống. Nhưng phương pháp này chỉ hiệu quả với lòng trắng trứng gà; khi lòng trắng trứng chim bồ câu, mòng biển hoặc gà tây được trộn với huyết thanh, thì không có gì xảy ra. Việc tiêm protein trứng gà vào huyết thanh bằng cách nào đó đã khiến nó phân biệt được protein gà với protein của bất kỳ loài chim nào khác. Ông nhanh chóng nhận ra rằng điều tương tự cũng xảy ra nếu ông sử dụng protein trứng chim bồ câu. Khi được tiêm protein trứng chim bồ câu, huyết thanh của thỏ sẽ không kết tủa protein của bất kỳ loài chim nào khác.
Khi Uhlenhuth thử tạo huyết thanh bằng máu gà thay vì lòng trắng trứng, một loại protein dạng vảy đã kết tủa và lắng xuống đáy. Uhlenhuth đã khám phá ra cách tạo ra một loại huyết thanh chỉ phản ứng với máu của một loài động vật và một mà thôi. (Có một số loài động vật có họ hàng gần mà máu của chúng quá giống nhau nên thử nghiệm này không thể thực hiện được – ví dụ như ngựa và lừa, và cả người, khỉ đột và tinh tinh.) Thử nghiệm của ông vẫn thành công ngay cả với một lượng nhỏ máu khô, rất cũ, miễn là máu được hòa tan trong nước muối trước.
Uhlenhuth nhanh chóng tạo ra huyết thanh cho cái gọi là xét nghiệm kết tủa của mình, loại huyết thanh đặc hiệu cho mọi loài động vật có thể tưởng tượng được. Và ông nhanh chóng phát triển các biện pháp bảo vệ cho xét nghiệm này. Sau khi thu được kết quả sai từ huyết thanh được sản xuất tại một phòng thí nghiệm khác, ông đã chuẩn hóa huyết thanh và khẳng định rằng viện của ông, cùng với Viện Robert Koch ở Berlin, là nguồn chính thức duy nhất. Ông cũng đề nghị mạnh mẽ rằng trước mỗi xét nghiệm với một mẫu chưa biết, cần tiến hành thử nghiệm đối chứng trên một mẫu đã biết. Khi một số kết quả gây nhiễu xảy ra do vật liệu nền của vết bẩn – ví dụ như vỏ cây – Uhlenhuth đã đề xuất nên thử nghiệm vật liệu nền trước để loại trừ khả năng dương tính giả. Với những biện pháp bảo vệ này, xét nghiệm precipitin của Uhlenhuth luôn cho kết quả chính xác tuyệt đối.
Ngày 11 tháng 6 năm 1904, gần như toàn bộ thi thể một bé gái được tìm thấy bị trói trong một bó giấy gói không được gọn gàng cho lắm. Thi thể trôi trên sông Spree, đoạn giữa cầu Alsen và cầu Weidendamm, gần đối diện Tòa nhà Quốc hội ở Berlin. Phần thân của đứa trẻ, không có đầu, tay và chân, được mặc quần chẽn và váy lót bằng len đỏ. Trong vòng một giờ, thi thể được xác định là Lucie Berlin, chín tuổi, con gái út của Friedrich Berlin, một người làm xì gà. Cô bé đã mất tích khỏi nhà ở số 130 Ackerstrasse trong hai ngày. Cảnh sát ngay lập tức treo giải thưởng một nghìn mark và đăng thông báo sau trên báo và trên các tờ rơi dán khắp thành phố:
Vào lúc 7:45 sáng nay, thi thể của Lucie Berlin, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1895 tại Berlin, đã được tìm thấy trước tòa nhà số 26 Schiffbauerdamm. Đầu, tay và chân của thi thể bị cắt đứt bằng một vật sắc nhọn. Bé gái được nhìn thấy lần cuối khi đang chơi trong sân nhà mình tại số 130 Ackerstrasse từ trưa đến khoảng 1 giờ chiều ngày 9 tháng này, và đã mất tích kể từ đó. Bé cao hơn so với tuổi, mặc một chiếc váy len màu nâu đỏ, tạp dề đen, tất trắng, quần chẽn màu nâu, giày cài cúc. Bé đeo một mặt dây chuyền vàng hình chữ nhật trên một dải ruy băng nhung đen quanh cổ. Rõ ràng bé gái đã bị tấn công tình dục. Những ai có thể cung cấp thông tin về nơi ở của bé từ ngày 9 tháng 6 đến ngày 11 tháng 6, hoặc những ai đã gặp cô bé được yêu cầu liên lạc với cảnh sát tại trụ sở ở Alexanderplatz hoặc bất kỳ đồn cảnh sát nào.
-Cảnh sát trưởng von Borries
Berlin vẫn chưa có giám định viên y khoa chính thức vào năm 1904, nên việc khám nghiệm tử thi đứa trẻ được thực hiện bởi Giáo sư Fritz Strassmann, Viện trưởng Viện Hàn lâm Giáo dục Y tế Công cộng, và cộng sự của ông, Tiến sĩ Schulz. Họ báo cáo rằng đứa trẻ có thể đã bị siết cổ. Âm đạo của em bị rách bởi những ngón tay thô bạo, nhưng có lẽ sau khi em đã chết hoặc gần chết do bị siết cổ. Em đã chết khoảng một giờ sau khi ăn bữa cuối cùng gồm “salad thịt lợn, khoai tây và dưa chuột”.
Giết người không phải là chuyện thường ngày ở thành phố bốn triệu dân đầu thế kỷ này – cả năm 1904 chỉ có ba mươi tám vụ. Vì vậy, cái chết và việc một bé gái bị chặt xác đã trở thành tin tức trang nhất. Tiêu đề trên tờ Berliner Tageblatt là “Entdeckung eines Lustmordes” (“Phát hiện một vụ giết người tình dục”). Tờ Berliner Morgenpost đã xuất bản thêm một ấn bản và dán áp phích khắp thành phố. Người dân Berlin cảnh giác với “những tên săn đuổi trẻ con”, cách gọi bọn người lớn yêu trẻ con lệch lạc đến mức mắc bệnh ấu dâm. Một số người đã phải nhờ cảnh sát giải cứu khỏi các đám đông tự phát.
Cảnh sát nhanh chóng nghi ngờ Theodor Berger, một người buôn đồ cũ 35 tuổi đang đến thăm cô bạn Johanna Liebetruth, một gái mại dâm sống ở cuối hành lang cách nhà cô bé bị sát hại. Trên thực tế, Berger không thực sự đến thăm cô bạn; hắn ta đang đợi trong căn hộ của cô để chào đón cô trở về sau ba ngày ở nhà tù nữ trên phố Barnimstrasse. Berger thực sự đã sống cùng cô trong căn hộ kể từ khi cô chuyển đến sáu tháng trước đó. Địa chỉ trên giấy tờ tùy thân của hắn ta là nơi ở của một người đàn ông khác. Và Berger thực sự không phải là một người buôn đồ cũ, nhưng hắn ta hy vọng sẽ trở thành một người buôn đồ cũ một ngày nào đó. Ngoài việc sống nhờ vào thu nhập của cô bạn Johanna, không rõ hắn ta kiếm sống bằng cách nào.
Nhiều chi tiết cho thấy Berger có liên quan. Hắn ta biết cô bé – cô bé gọi hắn là “Chú”. Anna Müller, một phụ nữ tám mươi tuổi, đã nhìn thấy Lucie trên cầu thang vào ngày cô mất tích và nhận thấy Berger đang nhìn chằm chằm vào cô bé khi cô đi ngang qua cửa căn hộ hắn. Bà Marowski, người sống ở căn hộ phía trên nhà Johanna Liebetruth, đã nghe thấy một đứa trẻ hét lên “Không!” ở đâu đó bên dưới vào khoảng một giờ chiều. Lúc 1:30, Herr Nölte và vợ ông, sống bên dưới Liebetruth, đã nghe thấy một loạt tiếng động lớn từ phía trên – “như thể có ai đó vừa ngã khỏi giường”, ông nói với các thám tử.
Và rồi còn một sự thật thú vị nữa là đúng vào ngày Johanna Liebetruth ra tù, Theodor Berger đột nhiên đồng ý cưới cô, điều mà cô đã mong đợi hắn suốt 18 năm. Phải chăng hôn nhân là cái giá phải trả cho việc cô giữ im lặng?
Hai ngày sau khi tìm thấy phần thân, một số cậu bé đã vớt được đầu và hai cánh tay của một đứa trẻ lên từ kênh đào Charlottenburg. Các bộ phận cơ thể được bọc trong một tờ báo Berliner Morgenpost ngày 9 tháng 6, ngày Lucie mất tích. Chân phải của Lucie nhanh chóng được tìm thấy ở một kênh đào khác và chân trái của cô bé ở Spree. Giờ đây, hầu hết các bộ phận cơ thể của Lucie đã được lắp ráp. Ai đó đã đi khắp nơi phân tán các bộ phận của Lucie ở các vùng nước khắp Berlin. Nhưng liệu đó có phải là Berger? Bằng chứng chống lại hắn – nghi phạm tốt nhất nếu không muốn nói là duy nhất – chỉ là gián tiếp và không hề thuyết phục. Cảnh sát đã lục soát căn hộ Liebetruth để tìm dấu vết máu; họ ấn những mảnh giấy thấm lớn tẩm hydrogen peroxide hoặc cồn guaiac khắp nơi. Họ nhận được một vài phản ứng có thể là máu, nhưng không có gì cho thấy lượng máu lớn chắc chắn đã chảy ra từ thi thể bị cắt rời của Lucie tội nghiệp. Và cũng không có dấu vết nào ở những nơi thường là dấu vết tố cáo nhất – cống bồn rửa, thảm, dao nhà bếp và quần áo.
Cảnh sát chợt tự hỏi thi thể bị cắt rời được mang bằng gì. Chắc chắn kẻ sát nhân không thể lang thang khắp Berlin với những bộ phận cơ thể được bọc trong giấy báo cắp dưới cánh tay. Hắn ta có thể đã dùng thứ gì? Johanna Liebetruth kể với một điều tra viên rằng khi cô trở về từ nhà tù, một chiếc vali mây lớn đã biến mất khỏi phòng cô. Ban đầu Berger phủ nhận không biết gì về chuyện đó, nhưng khi cô gặng hỏi, hắn ta đã ngượng ngùng thừa nhận rằng hắn đã đón một cô gái khi Johanna đi vắng và đã trả tiền cho cô ta bằng chiếc vali mây. Hắn ta không biết tên cô gái và cũng không gặp cô trước đó hay kể từ đó. Ngay cả Johanna cũng không chắc mình có tin lời Berger nói hay không.
Cảnh sát cho biết họ đang tìm kiếm một chiếc vali mây lớn, có lẽ đang nằm trong một vùng nước quanh thành phố. Vào Chủ nhật, ngày 26 tháng 6, hai mươi lăm ngày sau khi Luciel mất tích, một người lái xà lan tên là Wilhelm Klunter đã báo cáo tìm thấy nó. Thực ra, anh ta đã vớt nó lên khỏi mặt nước vài ngày trước đó, nhưng vì chưa bao giờ đọc báo nên anh ta không biết chiếc vali mây đang được tìm kiếm cho đến khi được dì mình kể lại.
Liebetruth kiểm tra chiếc vali và xác nhận± rằng đó là của cô, đồng thời chỉ ra một số đặc điểm nhận dạng. Có những đốm đỏ sẫm đã khô ở thành vali, rất có thể là máu. Nhưng liệu có cách nào để gán chiếc vali với thi thể Lucie Berlin không? Việc chứng minh những đốm đó là máu người sẽ là một bước tiến lớn theo hướng đó.
Tiến sĩ Schulz đã thực hành thử nghiệm kết tủa Uhlenhuth, và đây là cơ hội để ông áp dụng những kỹ năng mới. Ông cạo một vết bẩn trên chiếc vali mây và hòa tan nó trong nước cất. Làm theo đúng hướng dẫn của Uhlenhuth, ông cũng pha chế dung dịch từ phần vải vụn không dính máu của chiếc vali mây, cũng như một dung dịch máu người đã biết.
Khi ông thêm một lượng huyết thanh pha loãng có chứa kháng thể của máu người vào các dung dịch này, chỉ mất bảy mươi giây để tạo thành các đám mây kết tủa trong các ống nghiệm chứa vết bẩn trên vali mây và mẫu máu đã biết. Chỉ có mẫu.sạch trên vali mây là trong suốt.
Những vết bẩn trên vali là máu người.
Vào ngày 23 tháng 12 năm 1904, sau phiên tòa kéo dài mười hai ngày, Theodor Berger bị kết tội giết Lucie Berlin.
Vài năm trước phiên tòa xét xử Berger, một bước tiến quan trọng khác trong việc nhận dạng máu đã được thực hiện, một bước tiến lần đầu tiên cho phép truyền máu an toàn. Nó đã cứu sống vô số bệnh nhân phẫu thuật và nạn nhân chấn thương. Ngày 14 tháng 11 năm 1901, Tiến sĩ Karl Landsteiner, trợ lý Khoa Giải phẫu Bệnh lý tại Đại học Vienna, đã xuất bản một bài báo khiêm tốn trên tờ Wiener klinische Wochenschrift (Tuần báo Lâm sàng Vienna) với tựa đề “Về Hiện tượng Ngưng kết Máu ở Người Bình thường”.
Tiến sĩ Landsteiner đã phát hiện ra rằng một số máu người không hòa trộn tốt với máu người khác, rằng huyết thanh của máu người này có thể khiến máu người khác ngưng kết, tức là vón cục. Landsteiner không hiểu tại sao điều này lại xảy ra, nhưng ông quyết tâm tìm hiểu. Ông đi khắp khoa, lấy máu của tất cả những người hiến máu và so sánh từng mẫu với nhau.
Phải mất một thời gian, Landsteiner cuối cùng cũng xác định được có bốn nhóm máu, và ông đặt tên chúng là A, B, AB và O. Các chữ cái này chỉ ra các loại protein khác nhau, được gọi là kháng nguyên, nằm trên bề mặt hồng cầu. Tế bào máu nhóm A có kháng nguyên A, nhóm B có kháng nguyên B, nhóm AB có cả hai, và nhóm O không có kháng nguyên nào. Và vì huyết thanh chứa các kháng thể đặc hiệu phản ứng (hoặc không) với các loại kháng nguyên khác nhau trong tế bào máu, điều này có nghĩa là:
Kháng thể loại A sẽ kết dính máu loại B.
Kháng thể nhóm B sẽ kết dính máu nhóm A.
Cả hai loại huyết thanh đều có khả năng kết dính nhóm máu AB.
Cả hai loại huyết thanh đều không thể kết dính nhóm máu O.
Điều này thực tế có nghĩa là nếu bạn biết nhóm máu của một người, bạn sẽ biết loại máu nào có thể truyền cho họ một cách an toàn. Nhóm máu O có thể truyền cho bất kỳ ai; nhóm máu A có thể truyền cho người nhóm máu A hoặc AB; nhóm máu B có thể truyền cho người nhóm máu B hoặc AB; nhóm máu AB chỉ có thể truyền an toàn cho người nhóm máu AB.
Một biến chứng khác, được phát hiện bởi Tiến sĩ Landsteiner và Tiến sĩ Alexander Wiener bốn mươi năm sau, là yếu tố Rh trong máu, một protein khác được tìm thấy trên bề mặt hồng cầu. Nó được đặt theo tên của loài khỉ Rhesus được sử dụng trong các xét nghiệm ban đầu. Khoảng 85% dân số là Rh dương tính (Rh+), tức là họ có yếu tố Rh trong máu; và 15% là Rh âm tính (Rh-).
Điều này có những hậu quả thực tế trong thai kỳ. Khi một người mẹ Rh âm tính mang thai một đứa con Rh dương tính – điều này xảy ra nếu đứa trẻ thừa hưởng nhóm máu Rh dương tính của người cha – hệ thống miễn dịch của người mẹ có thể phát triển kháng thể chống lại máu của chính đứa con mình. Thông thường, điều này không ảnh hưởng đến lần mang thai đầu tiên. Nhưng nếu trong lần mang thai thứ hai, thai nhi lại tiếp tục mang Rh dương tính, các kháng thể được tạo ra trong lần mang thai đầu tiên có thể nhầm thai nhi với một chất lạ, xâm nhập vào thai nhi qua dây rốn và tấn công máu của em bé. Điều này có thể gây vàng da và thiếu máu nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Giờ đây, khi đã hiểu rõ về tình trạng này, một người mẹ Rh âm tính có thể thực hiện một số biện pháp phòng ngừa để bảo vệ con mình.
Đối với các nhà huyết thanh học pháp y, yếu tố Rh cung cấp thêm một phương pháp để xác định vết máu làm bằng chứng. Khi được thêm vào các yếu tố máu O, A, B và AB, nó rất hữu ích cho việc loại trừ – nghĩa là nếu không có yếu tố máu nào trùng khớp với nghi phạm, thì đó không phải là máu của nghi phạm. Tuy nhiên, nó giúp thu hẹp nhóm máu thành các nhóm đủ nhỏ để liên kết nghi phạm với một tội ác nhất định. Nếu mẫu máu là nhóm máu O, Rh dương tính, cứ 100 người ở Hoa Kỳ thì có khoảng 40 người trùng khớp. Nếu là nhóm máu AB âm tính, nhóm máu hiếm nhất, thì chỉ có 3 người trong 10.000 người trùng khớp. Tuy nhiên, điều này có nghĩa là chỉ riêng ở thành phố Los Angeles có thể có tới ba nghìn kết quả trùng khớp.
Theo Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ, sự phân chia tần suất các nhóm máu ở Hoa Kỳ như sau:
O+ 40 phần trăm
O- 7 phần trăm
A+ 32 phần trăm
A- 5 phần trăm
B+ 11 phần trăm
B- 1,5 phần trăm
AB+ 3 phần trăm
AB- 0.05 phần trăm
Trong vài năm qua, nhiều loại phân biệt máu thứ phát đã được phát hiện, thứ phát vì chúng không ảnh hưởng đến sự an toàn của việc truyền máu và chỉ được các nhà di truyền học và huyết thanh học pháp y quan tâm. Một số yếu tố thứ phát này là các yếu tố M, N, MN và P, trong một số tổ hợp nhất định đã được chứng minh có liên quan đến xu hướng tăng huyết áp.
Có những yếu tố khác được phân biệt bằng phương pháp điện di, một kỹ thuật trong đó một sợi bông được thấm đẫm máu mẫu và sau đó nhúng vào một lớp gel mỏng. Khi dòng điện một chiều chạy qua gel, các thành phần khác nhau trong máu di chuyển xuống một tấm kính với tốc độ hơi khác nhau. Khi dòng điện ngừng, tấm kính sẽ được nhuộm màu và các yếu tố máu sẽ xuất hiện dưới dạng các dải tối trải dài dọc theo tấm kính. Không giống như phương pháp phân loại nhóm máu ABO, vốn đã được sử dụng thành công trên xác ướp cổ đại, hay DNA, vốn có thể tồn tại hàng triệu năm, kỹ thuật này hoạt động tốt nhất với máu tương đối tươi, và sự khác biệt sẽ mờ dần chỉ sau vài tuần.
Các yếu tố máu thứ cấp khác là:
Adenosine Deaminase (ADA)
Adenylate kinase (AK)
Axit phosphatase hồng cầu (EAP)
Esterase D (EsD)
Glyoxalase I (GLOI)
Thành phần nhóm cụ thể (Gc)
Haptoglobin (Hp)
Huyết sắc tố (Hb)
Phosphoglucomutase (PGN)
Transferin (Tf)
Nếu có sẵn các xét nghiệm cho những yếu tố này, cơ quan thực thi pháp luật có thể thu hẹp phạm vi nghi phạm xuống dưới 1% dân số. Con số này không thể so sánh với khả năng một phần mười triệu hoặc cao hơn của xét nghiệm DNA, nhưng những xét nghiệm này có thể được thực hiện nhanh hơn so với sàng lọc DNA. Chúng rất hiệu quả trong việc loại trừ nghi phạm.
Ngoài việc suy luận về nguồn gốc và thành phần của máu để lại tại hiện trường vụ án, việc quan sát vị trí của máu tại hiện trường cũng có thể mang lại rất nhiều thông tin. Máu rơi xuống, nhỏ giọt, bắn tung tóe, phun hoặc bắn theo một hướng và ở một độ cao cụ thể sẽ tiết lộ câu chuyện về vụ án cho một nhà phân tích đã được đào tạo. Với những vết máu bắn tung tóe chính xác, có thể xác định vị trí nạn nhân và kẻ giết người, kẻ giết người dùng tay nào, nạn nhân có chống trả hay không, có ai khác ở gần đó không, và các chi tiết khác có thể cuối cùng được chứng minh là có liên quan.
Vào rạng sáng ngày 4 tháng 7 năm 1954, tại Bay Village, Ohio, cảnh sát được gọi đến nhà của bác sĩ Samuel Sheppard, một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình giàu có và nổi tiếng. Ở tầng dưới, họ tìm thấy bác sĩ Sheppard bị đánh đập và gần như mất khả năng tư duy, đang được thị trưởng Bay Village, hàng xóm của Sheppard, chăm sóc. Trên lầu, trong một phòng ngủ, họ tìm thấy thi thể của Marilyn Sheppard, vợ của bác sĩ Sheppard. Bà đã bị đánh đập dã man đến chết.
Bay Village, một vùng ngoại ô xa hoa của Cleveland, chưa từng chứng kiến một vụ án nào như thế này. Vụ án mạng nhanh chóng trở thành chủ đề gây chú ý mạnh mẽ và thậm chí là phẫn nộ.
Sheppard kể rằng mình đang ngủ trên ghế sofa phòng khách thì bị đánh thức bởi tiếng hét của Marilyn vọng ra từ phòng ngủ. Ông vội vã chạy lên lầu nhưng bị một “bóng trắng” trên cầu thang đánh ngã. Khi tỉnh lại, ông loạng choạng đi vào phòng ngủ và thấy Marilyn đã chết. Khi Sheppard xuống cầu thang, ông thấy bóng trắng rời khỏi nhà qua cửa sau. Ông đuổi theo, vật lộn với một “hình thù tóc xù” trước khi bất tỉnh. Điều tiếp theo ông nhớ là mình tỉnh dậy một lúc sau trên bờ hồ (nhà ông hướng ra Hồ Erie). Ông vội vã về nhà và chạy lên lầu thì thấy Marilyn đã chết trong phòng ngủ. Sau đó, ông quay lại cầu thang, gọi điện cho người hàng xóm bên cạnh, Thị trưởng John Spencer Houk, rồi ngã vật xuống ghế sofa phòng khách. Houk và vợ vội vã mặc quần áo – lúc đó khoảng 5 giờ sáng – và chạy đến. Houk cố gắng đánh thức Sheppard đang choáng váng và bối rối trong khi vợ ông ta đi lên lầu và thấy thi thể bị đánh đập của Marilyn Sheppard.
Trong căn phòng đẫm máu, điều tra viên quận Cuyahoga, Sam Gerber, tìm thấy Marilyn nằm ngửa trên giường. Có hơn 20 vết cắt sâu trên mặt và cơ thể bà. Dưới thi thể của Marilyn, ông tìm thấy một chiếc bao gối dính máu, vết máu trông giống hình một dụng cụ phẫu thuật. Dụng cụ cụ thể không thể xác định được, nhưng cụm từ “dụng cụ phẫu thuật” dường như đã thôi miên cảnh sát. Họ đã xác định “Bác sĩ Sam”, biệt danh dân địa phương gọi bác sĩ Samuel Sheppard, là kẻ giết vợ mình, Marilyn.
Khi Sheppard đến đồn cảnh sát trưởng để tự nguyện thẩm vấn, sáu ngày sau vụ giết người, cảnh sát đã giải quyết hoàn tất . “Ông đã bao giờ,” họ lao vào hỏi ông, “ngoại tình với một người tên Sue Hayes chưa?”
“Chúng tôi chỉ là bạn tốt thôi”, ông trả lời.
Vào ngày 16 tháng 7, Louis B. Seltzer, biên tập viên của Cleveland Press, đã đăng một bài xã luận có tiêu đề “Ngón tay của sự nghi ngờ”, trong đó phàn nàn “việc xử lý sai sót bi thảm trong cuộc điều tra vụ sát hại Sheppard” và cho rằng Sam Sheppard vẫn chưa bị bắt chỉ vì sự bất tài của cảnh sát Bay Village và ảnh hưởng của gia đình Sheppard. Ngày 20 tháng 7, Seltzer đăng một bài xã luận lên trang nhất, với tiêu đề năm cột “Thoát Tội Giết Người”, khiến Hội đồng Bay Village phải xấu hổ và yêu cầu cảnh sát Cleveland tiếp quản việc điều tra vụ án.
Tại cuộc điều tra của cảnh sát, một người bạn của gia đình, Nancy Ahern, đã bị ép phải thừa nhận rằng Marilyn Sheppard đã kể với cô về mối quan hệ của Sam với Susan Hayes và nói rằng cô ta sợ Sam sẽ đòi ly hôn.
Ngày 16 tháng 8, một bồi thẩm đoàn đã họp để xem xét bằng chứng chống lại Sheppard. Ngày hôm sau, ông ta bị bắt và bị buộc tội giết vợ.
Phiên tòa bắt đầu ngay sau khi bồi thẩm đoàn tham quan nhà Sheppard, nơi họ nhìn thấy toàn bộ máu trong phòng ngủ. Bác sĩ Lester Adelson đã làm chứng trong hai ngày rằng Marilyn Sheppard đã bị đánh đến chết. Cảnh sát tuần tra Fred Drenkan khai rằng anh đã nghe Sheppard kể về việc đánh nhau với một người đàn ông tóc xù nhưng không tin. Điều tra viên Sam Gerber nói với bồi thẩm đoàn về chiếc bao gối đẫm máu, tuyên bố: “Trong vết máu này, tôi có thể nhận ra dấu vết của một dụng cụ phẫu thuật.” Chiếc bao gối được giao cho bồi thẩm đoàn để kiểm tra.
Một chuyên gia dấu vân tay làm chứng rằng ông đã tìm thấy dấu vân tay của Sam Sheppard trên đầu giường của Marilyn. Ông cho rằng (trong quá trình thẩm vấn chéo) dấu vân tay có thể đã ở đó từ rất lâu trước vụ giết người. Sau một loạt nhân chứng chuyên môn, bên công tố đã đưa Susan Hayes ra làm chứng về mối quan hệ của cô với Sheppard, rồi dừng lại.
Bên bào chữa đã yêu cầu em trai của Sheppard, Bác sĩ Steven Sheppard, làm chứng về mức độ nghiêm trọng của vết thương của Sam – nhưng vì Steven là em trai của Sam, nên có thể ông ấy đã không thể thuyết phục được bồi thẩm đoàn. Sam Sheppard đã ra làm chứng và kể lại những sự kiện của đêm xảy ra vụ giết người, nhưng cách nói chuyện cứng nhắc của ông ta khiến ông ta trở thành một nhân chứng tồi. Trong phần thẩm vấn, công tố viên tập trung vào mối quan hệ ngoài luồng và những lần ngoại tình của Sheppard, rồi kết thúc bằng câu hỏi: “Chẳng phải ông đã đánh vợ đến chết là sự thật sao?”
“Không, thưa ngài,” Sheppard trả lời.
Bồi thẩm đoàn đã phải bỏ phiếu 18 lần mới kết luận Sheppard có tội. Sau khi bị kết án, bên bào chữa lần đầu tiên được phép khám nghiệm hiện trường vụ án. Bill Corrigan, luật sư bào chữa cho Sheppard, đã không yêu cầu lấy chìa khóa nhà trong suốt phiên tòa, vì không nhận ra tầm quan trọng của bằng chứng máu. Khi bên công tố từ chối giao chìa khóa, ông đã không phản đối. Nhưng giờ đây, khi phiên tòa đã kết thúc, ông quyết định tìm hiểu xem liệu một chuyên gia có thể xác định được điều gì đã xảy ra đêm đó bằng cách kiểm tra các vết máu hay không. Corrigan đã gọi điện thoại đường dài đến Đại học California tại Berkeley và nói chuyện với Tiến sĩ Paul Leland Kirk.
Bác sĩ Kirk đến Bay Village vào ngày 22 tháng 1 năm 1955, tám tháng sau vụ án. Ông đã xem xét các tang vật của bên công tố: bao gối dính vết máu in hình “dụng cụ phẫu thuật”; quần của bác sĩ Sheppard; và chiếc đồng hồ đeo tay Sheppard đã đeo, bên trong có hơi ẩm và một vết máu.
Thậm chí tám tháng sau vụ án, Tiến sĩ Kirk vẫn có thể đưa ra một kết luận chặt chẽ và cực kỳ chi tiết, một kết luận rất khác so với kết luận mà cảnh sát, công tố viên và bồi thẩm đoàn đưa ra.
Bác sĩ Kirk tái hiện lại vụ án từ những vết máu bắn tung tóe trong phòng ngủ. Những vết máu trên hai bức tường là do Marilyn đập trực tiếp vào đầu, còn những vết trên bức tường thứ ba là vết máu bắn tung tóe từ một vũ khí vung vẩy. Vũ khí được sử dụng có lẽ là một chiếc đèn pin hạng nặng, hoặc một vật gì đó tương tự. Không có dấu hiệu nào cho thấy bất kỳ “dụng cụ phẫu thuật” nào – vết máu trên bao gối là do nó bị gấp lại khi ướt đẫm máu.
Có một khoảng trống máu, tức là không có máu – ở một bên giường, nơi kẻ giết người hẳn đã đứng. Xét đến lượng máu ở khắp mọi nơi khác, kẻ giết người hẳn đã mang theo rất nhiều máu văng vào người hắn ta. Sheppard không hề có vết máu bắn tung tóe nào trên người hay quần áo. Bác sĩ Kirk cũng xác định rằng kẻ giết người đã cầm vũ khí bằng tay trái. Sheppard thuận tay phải.
Bất chấp điều này và những dấu hiệu khác cho thấy Sheppard có khả năng vô tội, yêu cầu của bên bào chữa về việc cho Sheppard được xét xử lại dựa trên bằng chứng mới đã bị bác bỏ. Tòa án quyết định rằng tất cả những bằng chứng này đáng lẽ phải được trình bày tại phiên tòa đầu tiên. Việc bên bào chữa bị cấm vào nhà xác cho đến sau phiên tòa đầu tiên tòa phúc thẩm Ohio cho rằng không liên quan.
Sheppard phải ngồi tù 9 năm trước khi cuối cùng được xét xử lại. Lúc này, luật sư của ông đã qua đời và luật sư F. Lee Bailey, sau này nổi tiếng, đã tiếp quản vị trí luật sư chính của ông. Tại phiên tòa thứ hai vào năm 1966, Bác sĩ Sam Sheppard được tuyên bố vô tội. Một nghi phạm mạnh mẽ cho vụ giết người đã được đưa ra ánh sáng, nhưng y đã chết trước khi bất kỳ hành động nào được thực hiện.
Như Tiến sĩ Kirk đã nói, “Không có loại xét nghiệm máu nào khác có thể mang lại nhiều thông tin hữu ích như phân tích các mô hình phân bố máu.” Tuy nhiên, cần phải được đào tạo và có kinh nghiệm để phân tích chính xác các vết máu bắn tung tóe. Cần phải kiên quyết chống lại xu hướng nhìn thấy trong các mô hình những gì người xét nghiệm kỳ vọng hoặc mong đợi thấy được.