Cần bàn thêm về việc cụ Đặng Huy Trứ du nhập ngành nhiếp ảnh vào Việt Nam

Chân dung cụ Đặng Huy Trứ (Ảnh: https://carnetdephilippe.canalblog.com/)

Tôn Thất Thọ

          Gần đây, qua nhiều tư liệu cá nhân hay của họ tộc, thông tin về nhân vật được cho là “ông tổ” của ngành nhiếp ảnh nước ta được phổ biến khá rộng. Nhât vật đó là Đặng Huy Trứ. Trong sách 36 làng nghề Hà Nội của tác giả Quốc Văn có đoạn:

Trong số cả ngàn ngôi làng Việt, có một làng nghề khá độc đáo – làng nhiếp ảnh Lai Xá. Có thể nói nghề chụp ảnh ở Việt Nam “phát tích” từ chính làng này (…).

          Lai Xá thuộc xã Kim Chung (Hoài Đức – Hà Nội). Những cư dân đầu tiên đến Lai Xá là nghĩa binh cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị thương tật, già yếu không muốn về quê hương bản quán nên đã ở lại sinh cơ lập nghiệp. Như vậy, ít ra làng Lai Xá đã có ngót 2000 năm tuổi.

         Năm Ất Sửu (1865), cụ Đỗ Huy Trứ được triều Nguyễn cử đi sứ Trung Quốc. Ông đến Hương Cảng với nhiệm vụ nghe ngóng thái độ của các nước phương Tây với nước ta. Thấy kỹ thuật nhiếp ảnh của người Anh được ưa chuộng, ông bèn chụp thử 2 bức chân dung. Hai năm sau, cụ lại được cử đi sứ Trung Quốc với nhiệm vụ mua sắm vũ khí. Nhân thể, cụ thuê một người Tầu tên là Dương Khải Trí mua các dụng cụ, máy móc về nhiếp ảnh và học cách chụp ảnh. Về nước, nhằm ngày 2 tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1869), cụ khai trương hiệu ảnh Lạc Sinh công điếm ở phố Thanh Hà (nay là phố Ngõ Gạch – Hà Nội) gần kề Ô Quan Chưởng. Hiệu ảnh có tên Cảm Hiếu Đường. Có thể coi đây là sự kiện, niên đại khai sinh nhiếp ảnh Việt Nam. Tuy nhiên Cảm Hiếu Đường chỉ tồn tại được 4 năm, bởi năm 1873 Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, cụ Đặng phải dời Hà Nội đi các vùng rừng núi cùng lãnh tụ nghĩa quân Hoàng Kế Viêm chống Pháp rồi qua đời”.(36 làng nghề Hà Nội, sđd, tr. 96-100).

Tìm hiểu thêm về tiểu sử của Đặng Huy Trứ, chúng ta thấy:

1- Trong sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, do Đinh Văn Lâm và Trương Hữu Quýnh biên soạn:

         “Đặng Huy Trứ (1825-1874) người thôn Thanh Lương, nay thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông xuất thân từ một gia đình có truyền thống học vấn và yêu nước. Năm 22 tuổi, ông thi Hội đỗ Tiến sĩ, nhưng bài thi phạm húy nên bị cách cả Tiến sĩ lẫn Cử nhân. Ngay năm ấy (1847), ông lại đi thi Hương và đậu Giải nguyễn, mãi đến năm 1856 mới được ra làm quan, giữ chức ở nhiều địa phương trong Trung, ngoài Bắc. Sau đó, những năm 1865 và 1867, ông được cử sang Hương Cảng cà Áo Môn (Trung Quốc) để thăm dò tình hình và mua sắm khí giới đánh Pháp…

          Ông có công đóng góp nhiều lĩnh vực: giáo dục, văn hóa, chính trị, kinh tế, ngoại giao       quân sự. Ông thuộc về phái chủ chiến trong triều đình Huế …

         Sau khi Hà Nội thất thủ lần thứ nhất (1873), ông rút lên Đồn Vàng, Hưng Hóa, nay thuộc Phú Thọ chống Pháp và mất tại đây…” (TĐNVLS…, sđd, tr 457).

Qua đó ta thấy, cả hai tác giả ĐinhVăn Lâm và Trương Hữu Quýnh đều không đề cập gì đến hoạt động nhiếp ảnh của ông.

2  – Tra cứu trong sách sử do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn, ta thấy Đặng Huy Trứ người làng Thanh Lương, nay thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tiểu sử của ông đã được ghi trong Đại Nam Liệt Truyện (Quyển XX và in trong tập 3 của  NXB Thuận Hóa -1994). Tên ghi trong mục lục là Đặng Huy Trứ (em là Huy Sán, anh họ là Huy Tá), nhưng trong lý lịch ghi là Đặng Huy Chước. Xin được tóm lược hành trạng của ông như sau:

Đặng Huy Chước tên tự là Hoàng Trụy và cháu gọi Văn Thiêm bằng chú. Người sinh ra Chước là Văn Giản.

        Chước thuở nhỏ thông minh. Năm Thiệu Trị thứ 3, Chước đỗ Hương tiến. Thi Hội liên tiếp được trúng cách. Vì thi Điện dùng chữ không cẩn thận nên bị đánh hỏng. Năm thứ 7, lại thi đỗ. Đầu năm Tự Đức đã tứng làm Tri huyện, Tri phủ, có tiếng là chính sự hay, được bổ làm Giám sát Ngự sử, thăng lên Chưởng ấn.

Sau được cất nhắc lên Hồng lô tự khanh, lĩnh bổ Chính sứ Quảng Nam.

         Chước tại chức 3 năm, dâng sớ xin lập hộ có nghề nghiệp sản xuất và thu thuế sản vật. Lại xin cho các xã dân ở kinh và ngoài dựng đặt nghĩa địa, đều được chuẩn theo lời nghị thi hành…

       Năm thứ 19, đổi về Biện lý bộ Hộ, xin đặt sứ Ty bình chẩn. Và lại nói rằng: buôn bán là nghề ngọn, mà ích nước lợi dân, thực là chính sách lớn của riều đình. Trong đó tiết mục phức tạp tất phải hiểu kỹ tình hình địa phương và hết thảy các đường lối đi lại quan yếu, thì mới có thể kiêm nghị mà thi hành đến nơi đực. Vua theo lời, sai Chước lãnh chức ấy đi đến các nơi hải ngoại để trù tính thi hành..

       Năm thứ 27, Chước chết ở nơi ngụ sở Hà Nội.

        Chước lúc bình sinh có trước thuật các tập: Hoàn Truy văn sao; Tứ thập bát hiếu kỉ sự tân biên, Khang hi canh chức đỗ, Việt sử thánh huân diễn âm…” (ĐN Liệt Truyện Tập 3, sđd, tr. 371).

Tên của ông ghi trong Đại Nam Thực Lục là Đặng Huy Trước : “Bố chính Quảng Nam là Đặng Huy Trước xin phái cho Bá hộ Hoàn ngầm đi thuê mượn tàu thủy để đuổi bắt giặc…” (ĐNTL, sđd, tr.848).

Qua những nội dung trích dẫn ở trên, ta có thể nhận định:

1- Trước hết cần phải xác định có phải cả 3 nhân vật được ghi tên bằng quốc ngữ là: Đặng Huy Trứ, Đặng Huy Trước hay Đặng Huy Chước chỉ là một người hay không? Theo nhận định của người viết, căn cứ vào hành trạng nhân vật được ghi chép, đó chỉ là 1 người.

2- Việc cho rằng cụ Đặng Huy Trứ quê ở Hương Trà, Thừa Thiên Huế là vị “Tổ” khai sinh ngành nhiếp ảnh ở VN là điều rất đáng được nghiên cứu thêm. Bằng chứng là tiểu sử do Quốc Sử Quán biên soạn không ghi chép gì điều đó. Sách 36 làng nghề…ghi ông được cử đi sứ 2 lần là không chuẩn xác vì Quốc Sử Quán chỉ ghi ông “lãnh chức ấy để đi đến các nơi hải ngoại để trù tinh thi hành…” Ông mất tại “ngụ sở ở Hà Nội”, chứ không tham gia kháng chiến rồi hy sinh như tác giả Quốc Văn và Từ điển Nhân vật Lịch sử VN đã ghi..

3- Tra cứu trong Đại Nam Thực Lục, ta thấy trong hai năm 1865-1867 không có phái đoàn cảu triều Nguyễn nào đi sứ cả:

Năm Tự Đức thứ 21 (1868), tháng 6, sai sứ sang nước Thanh. Lấy Lê Tuấn sung làm chánh sứ, Nguyễn Tư Giản sung làm Giáp phó sứ, Hoàng Tịnh sung làm Ât phó sứ.

          Trước đấy 2 quận Nam, Thái nước Thanh, việc quân chưa yên, phải hoãn sứ bộ 3 lần là năm Đinh Tỵ (1857), Tân Dậu (1861) và Ất Sửu (1865), đến nay sai sứ đi (sang năm Kỷ Tỵ (1869) là đến kỳ” (ĐNTL T7, sđd, tr.1115).

Như thế, do hoàn cảnh khách quan, triều đình nhà Nguyễn cử quan chức đi sứ sang nhà Thanh chỉ xảy ra trong hai năm 1868 và 1869.

4-  Ngoài ra, trên Tạp chí điện tử Chim Việt Cành Nam số 66 (2/4/2017), tác giả Nguyễn Dư có bài viết “Làng nghề nhiếp ảnh” đã thu thập nhiều thông tin để chứng minh rằng việc cụ Trứ (Lai Xá) mở hiệu ảnh đầu tiên ở Hà Nội năm 1869 là việc rất khó xảy ra. Để tìm hiểu, chúng tôi xin phép tác giả ghi lược nội dung đoạn phân tích đó và cũng để các nhà nghiên cứu phân tích thêm:

–  Tháng 6 1886, Hà Nội mới khai trương hiệu thuốc Reynaud Blanc, phố Hàng Khảm, dành cho người Pháp và cả người bản xứ ở Đông Dương. Hiệu có bán hóa chất phục vụ nghệ thuật, kĩ nghệ và nhiếp ảnh, sirop pha nước, nước có gaz… Tài liệu của Nguyễn Dữ cũng cho biết thời điểm tháng giêng năm 1889, không kể binh lính, Hà Nội có 439 người Âu (401 người Pháp và 38 người các nước khác). Trong số 401 người Pháp dân sự chỉ cmột nhiếp ảnh gia. Do đó, nếu thời điểm  năm 1869 đã có một người Việt là cụ Đặng Huy Trứ mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường thì điều đó chứng tỏ người Việt đã đi trước người Pháp cả 20 năm ? Và  giả sử đúng như thế thì việc sửa soạn giấy ảnh và rửa ảnh bằng chất liệu gì , vì 17 năm sau, hiệu thuốc Reynaud Blanc của Hà Nội mới bán mặt hàng này ?

Bức“Thiếu nữ Bắc Kỳ” do người Pháp chụp năm 1884. (Ảnh: báo cand)

Hơn nữa, đến cuối thế kỉ XIX, nhiếp ảnh còn được thế giới xem là một nghệ thuật mới, đòi hỏi nhiều kĩ thuật “chất lượng cao”. Khó tưởng tượng được rằng ngay từ năm 1869, trước khi Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất, cụ Đặng Huy Trứ đã mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường ở phố Thanh Hà. Và quan trọng hơn cả là trong các sách biên khảo của người Pháp không lưu lại bất kỳ một tấm ảnh nào từ Cảm Hiếu Đường.?

Trở lại việc mở nhà nhiếp ảnh đầu tiên tại Việt Nam thì Quốc Sử Quán triều Nguyễn ghi chép là tại HUẾ, chứ không phải tại Hà Nội, và người mở là Trương Văn Sán được Bộ Hình cấp phép vào năm 1878:

(Tháng 5 năm Mậu Dần 1878 Tự Đức năm thứ 31):

Bắt đầu làm nhà riêng để chụp ảnh.

Bấy giờ, Trương Văn Sán sang Tây học tập về, do Bộ Hình trình tiểu phép chụp ảnh. (Phép chụp ảnh phải có nhà riêng, dùng kính che cả 4 mặt cho sáng, mới phân biệt được râu mày, hình dung, có giá để đồ chụp ảnh, bắt đầu cắm ống kính vào hòm máy, để trên cái giá, mở máy, bỏ cái nắp đậy ra, cho người ngồi trên cái ghế dựa trước ống kính, láy cái trụ sắt đỡ đằng sau khăn ở đầu cho khỏi lay động, mới đem giá để máy chụp đưa đi đưa lại, khiến cho bóng người ở trong hòm kính rõ ràng. Xong rồi liền bỏ khuôn kính vuông ở mặt hòm đi, lấy khuôn kính bôi thuốc đổi đặt vào hòm máy, sẽ bỏ miếng ván che đi , khiến cho bóng người chiếu vào trong kính, liền để ván che vào, rồi nhẹ tay rút ra, đem vào chỗ kín, lấy nước thuốc rửa 3 lần, khiến cho bóng người  dần hiện ra, đem phơi khô, để vào trong cái khuôn có hình chụp ảnh. Lại đem ngay tấm giấy in một mặt ngâm vào chậu nước thuốc, rồi phơi ở chỗ râm, lại đặt lên trên kính ảnh trước để trong khuôn, đem khuôn che áp vào, khiến cho bóng người thấu vào giấy, lại phơi khô rồi lấy ra, lại dùng nước thuốc rửa qua 3 lần, đợi khô, mới xem được và các thứ máy móc (1 cái chuống ở trong ống kính chụp ảnh, 1 cái hòm chụp ảnh, 2 cái trụ sắt, 1 cái khuôn để chặn giấy, 1 cái giá chụp hình).

 Nhân sai làm nhà riêng (ở bên hữu ở Thương Bạc) cho Trương Văn Sán làm ciệc chụp ảnh, quan dân có thuê chụp cũng cho “(ĐNTL Tập 8, sđd, tr. 287).

Từ đó ta có thể đặt câu hỏi: Việc mở nhà (mở hiệu) để chụp ảnh phải được bộ Hình trình lên để xin cấp phép, và việc xây nhà là của triều đình xây cho, vậy tại sao năm 1869, sử sách triều Nguyễn không thấy có một ghi chép nhỏ nào về hiệu ảnh mà cụ Đặng Huy Trứ đã mở tại Hà Nội ?

*****

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

– Đại Nam Liệt Truyện Tập 3, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 1994.

– Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Đinh Văn Lâm & Trương Hữu Quýnh, Nxb Giáo Dục, 2005.

– 36 làng nghề Hà Nội, Quốc Văn, Nxb Thanh Niên, 2010.

– Tạp chí điện tử Chim Việt Cành Nam số 66, ngày 2/4/2017.

– Đại Nam Thực Lục T7, Tập 8, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn,  Nxb Giáo Dục, 2007.

Bình luận về bài viết này