Ấn bản Trung Văn Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh

Lê Thời Tân, Hoàng Thị Minh Thảo 

  1. Nỗi buồn chiến tranh xuất bản ở Trung Quốc

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh xuất bản lần đầu tiên năm 1990.[1] Cho đến nay tiểu thuyết này đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng. Bản dịch tiếng Trung《战争哀歌》(Chiến tranh ai ca) của Hạ Lộ (夏露) do Nhà xuất bản Văn nghệ Hồ Nam (湖南文艺出版社 Hồ Nam văn nghệ xuất bản xã) và Công ty trách nhiệm hữu hạn Trung Nam Bác Tập Thiên Quyển (中南博集天卷文化传媒有限公司 CS Booky) liên doanh xuất bản phát hành ngày 1 tháng 4 năm 2019. Báo điện tử The Paper 澎湃新聞 Pengpai Xinwen, ngày 23.5.2019 đăng bài phỏng vấn Bảo Ninh có đoạn cho biết: “Dịch giả Hạ Lộ nói với Pengpai Xinwen (www.thepaper.cn) rằng trong gần 30, 40 năm trở lại đây hầu như không có bản dịch tiểu thuyết Việt Nam nào xuất bản tại Trung Quốc. Tác phẩm của Bảo Ninh đạt đến một trình độ cao của nghệ thuật tự sự ngôn từ, vượt ra khỏi lối mòn ca tụng chủ nghĩa anh hùng của văn học đương thời. “Rất nhiều nhà phê bình văn học tại Việt Nam đều cho rằng, đọc Bảo Ninh rồi thì không còn có thể viết về chiến tranh như trước được nữa”. Ý nghĩa văn học sử của cuốn tiểu thuyết này là ở chỗ đó.”[2] (彭珊珊. “专访|越南作家保宁:如果我不曾扛枪打仗,肯定不会从事写作”. 23 May. 2019 < https://www.thepaper.cn/news).

  1. Ngó nhìn trang bìa ấn phẩm Trung văn Nỗi buồn chiến tranh战争哀歌

Như ta thấy, trình bày trang bìa ấn bản Trung văn tiểu thuyết của Bảo Ninh đã chọn in dàn lồng thêm cả nhan đề bản dịch Anh ngữ The Sorrow of War. Bên dưới nhan đề Trung văn 战争哀歌 đề rõ thông tin: [越]保宁 – 著Nguyên tác Bảo Ninh (Việt Nam) 夏露 – 译 Bản dịch Hạ Lộ; Tiếp theo là một câu giới thiệu liên quan đến nhân vật trung tâm của tiểu thuyết – “Kiên cảm thấy mình không phải là đang sống đây mà là đang mắc kẹt giữa cuộc sống này” (阿坚觉得自己不是活着, 而是被困在这个人世间). Dưới đây là ảnh trang bìa ấn bản Trung văn bản dịch Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh:

Như ta có thể thấy – phần lời chân trang bìa[3] này gồm 3 đơn vị “diễn ngôn” chủ yếu như sau:

– Dòng chữ (màu trắng) lớn đầu tiên – 关于失去的青春, 关于美和伤痛! (Về tuổi trẻ đã mất, về vẻ đẹp và nỗi đau!)

– Dòng chữ kế tiếp – 現代世界十大小說,英文版再版七次!(Mười tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại, bản dịch tiếng Anh tái bản lần thứ 7)

– Dòng thứ ba (màu vàng) – 这两部小说, 无论是作家个人的技巧还是对战争灾难与命运的生命体验, 都不及《战争哀歌》来的丰富和直切。(Hai bộ tiểu thuyết Người đua diềuNgười đọc bất kể là về kĩ xảo cá nhân của nhà văn hay sự thể nghiệm số phận và thảm nạn trong chiến tranh đều không phong phú và trung thực chân thành cho bằng Nỗi buồn chiến tranh).

Bên phải chân trang trong vòng tròn (màu vàng) là câu 阎连科诚挚推荐! (Diêm Liên Khoa trân trọng giới thiệu). Do chỗ phần chữ trong vòng tròn và phần chữ bên trái sát vòng tròn cùng màu nên người nhìn góc trang bìa này có thể hiểu ngữ đoạn 这两部小说, 无论是作家个人的技巧还是对战争灾难与命运的生命体验, 都不及《战争哀歌》来的丰富和直切 (Hai bộ tiểu thuyết Người đua diều Người đọc bất kể là về kĩ xảo cá nhân của nhà văn hay sự thể nghiệm số phận và thảm nạn trong chiến tranh đều không phong phú và trung thực chân thành cho bằng Nỗi buồn chiến tranh) là lời của Diêm Liên Khoa – nhà văn đương đại nổi tiếng của Trung Quốc.[4]  Sau khi mô tả tổng thể trình bày trang bìa ấn bản Trung văn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh như thế, chúng tôi tập trung chú ý đọc hiểu vào  hai chi tiết: 1) Nỗi buồn chiến tranh – một trong mười tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại 2) So sánh Nỗi buồn chiến tranh với hai tiểu thuyết Người đua diều Người đọc.

2.1. Nỗi buồn chiến tranh – một trong mười tiểu thuyết của thế giới hiện đại (xếp hạng của nhà văn Nhật Bản)

Như mô tả trên – ở phần cuối trang bìa ấn bản ta thấy có đề 現代世界十大小說 (Mười tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại). Vì là lời đề bìa nên người trình bày bìa khó lòng có thêm chú dẫn nguồn. Mặc dù thế một độc giả có theo dõi thời sự văn học thế giới và khu vực đều có thể đoán định lời đó có căn cứ từ công trình của nhà văn và là học giả Nhật Bản đương đại Natsuki Ikezawa – “Mười tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại” (『現代世界の十大小説』NHK出版新書 NHK Publishing Shinsho, 2014). Trong “Mười tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại” (『現代世界の十大小説』出版新書 NHK Publishing Shinsho, 2014), Natsuki Ikezawa chọn giới thiệu “mười cuốn tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại”. Giới hạn thời gian “thế giới hiện đại” này chính là chỉ 60 năm kể từ sau ngày Somerset Maugham xuất bản “Mười tiểu thuyết lớn của thế giới” (Ten Novels and Their Authors). Tạm trình bày “danh sách mười tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại” của Natsuki Ikezawa như sau[5]:

Danh sách “Mười tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại” của Natsuki Ikezawa
TT Tác giả Tác phẩm Nguyên ngữ Bản dịch tiếng Nhật
1 G. Márquez(Colombia) Cien Años de Soledad Tây Ban Nha, 1967 『百年の孤独』
2 Kristóf Ágota(Thụy Sĩ) Le Grand Cahier Tiếng Pháp, 1986 『悪童日記』
3 Mircea Eliade(Romania) Maitreyi Romania, 1933 『マイトレイ』 (Maitorei)
4 Jean Rhys(Anh) Wide Sargasso Sea Tiếng Anh, 1966 『サルガッソーの広い海』
5 Michel Tournier(Pháp) Vendredi ou les Limbes du Pacifique Tiếng Pháp, 1967 『フライデーあるいは太平洋の冥界』
6 Carlos Fuentes(México) Gringo Viejo             Tây Ban Nha, 1985 『老いぼれグリンゴ』
John Updike(Mỹ) The Coup Tiếng Anh, 1978 『クーデタ』
Mary McCarthy(Mỹ) Birds of America Tiếng Anh, 1971 『アメリカの鳥』
石牟礼道子 Michiko Ishimure(Nhật) 苦海浄土 わが水俣病 Tiếng Nhật, 1960

Như trên đã nói công trình “Mười tiểu thuyết lớn của thế giới hiện đại” của Natsuki Ikezawa có thể được xem là một sự tiếp nối cho tác phẩm “Mười tiểu thuyết và tác giả của chúng” (Ten Novels and Their Authors) của Somerset Maugham.[6] Tạm trình bày “danh sách mười tiểu thuyết vĩ đại” của S. Maugham như sau:

Danh sách “Mười tiểu thuyết vĩ đại” của S. Maugham
TT Tác phẩm Nguyên ngữ Tác giả Quốc tịch Xuất bản Bản dịch tiếng Việt
1 The History of Tom Jones, a Foundling Anh Fielding Anh 1749 Tom Jones – Đứa trẻ vô thừa nhận, Trần Kiêm dịch
2 Pride and Prejudice Anh Austen Anh 1813 Kiêu hãnh và định kiến, Diệp Minh Tâm dịch
3 Le Rouge et le Noir Pháp Stendhal Pháp 1830 Đỏ Đen,Tuấn Đô dịch
4 Le Père Goriot Pháp Balzac Pháp 1835 Lão Goriot,Lê Huy dịch
5 David Copperfield Anh Dickens Anh 1849 David Copperfield, Mai Loan dịch
6 Madame Bovary Pháp Flaubert Pháp 1856 Bà Bovary, Trọng Đức,Bạch Năng Thi dịch
7 Moby-Dick Anh Melville Mỹ 1851 Moby Dick – Cá voi trắng, Công Ba, Sơn Mỹ
Bích Huệ, Vân Phi dịch
8 Wuthering Heights Anh Emily Brontë Anh 1847 Đồi gió hú, Dương Tường dịch
9 Бра́тья Карама́зовы(bản dịch tiếng Anh: The Brothers Karamazov) Nga Достоевский(Dostoevsky) Nga 1880 Anh em nhà Karamazov, Phạm Mạnh Hùng,
Trương Đình Cử dịch
10 Война и мир(bản dịch tiếng Anh: War and Peace) Nga Толстой(Tolstoy) Nga 1869 Chiến tranh và hòa bình, Hoàng Thiếu Sơn, Trường Xuyên, Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành dịch

Tất nhiên Natsuki Ikezawa không phải là người tự mình đọc lấy nguyên tác tiếng Việt tác phẩm của Bảo Ninh. Ông đọc Nỗi buồn chiến tranh bản dịch tiếng Anh và bản tiếng Nhật. Là một nhà nghiên cứu văn học khu vực và thế giới hiện đại ông biết sự có mặt của Nỗi buồn chiến tranh tại Nhật Bản (『戦争の悲しみ』Kazuhisa Igawa  井川 一久 dịch, Mekumaru Co., Ltd. めるくまーる xuất bản 1997) cũng như  sự kiện tác giả của nó  – Bảo Ninh nhà văn Việt Nam đầu tiên đã được Tuần báo Nihon Keizai Shimbun 日本經濟新聞 trao tặng giải thưởng Nikkei Châu Á (日経アジア赏Nikkei Asia Award) năm 2011 (越南作家荣获”日经亚洲奖”. 26 May. 2011.< https://zh.vietnamplus.vn).  Bản thân Natsuki Ikezawa đã biên tập một phiên bản Nhật ngữ Nỗi buồn chiến tranh để đưa vào bộ  sách 30 quyển mình ông chủ biên –  “Toàn tập văn học thế giới” xuất bản từ  2007 đến 2011 (池澤夏樹=個人編集 世界文学全集(全30巻)河出書房新社 2007-2011年). Ikezawa nhận xét “Nỗi buồn chiến tranh không đơn giản chỉ là một tác phẩm viết về chiến tranh, đúng hơn nó là một tác phẩm văn học về nỗi bi thương”[7] và ông đánh giá “Bảo Ninh là nhà văn viết về chiến tranh Việt Nam hay nhất”[8] (tham khảo mục từ バオ・ニンhttps://ja.wikipedia.org/wiki, trang cập nhật lần cuối vào ngày 7 tháng 3 năm 2021 05:13; truy cập 1/5/2024). Dĩ nhiên việc xếp danh sách đối Nỗi buồn chiến tranh cũng như đánh giá của Natsuki Ikezawa đối với tiểu thuyết này hoàn toàn là câu chuyện cá nhân nhà nghiên cứu phê bình. Mặc dù thế chúng ta cũng nên biết Natsuki Ikezawa hẳn nhiên là một chuyên gia trong lĩnh vực này. Là một nhà văn học sử thế giới, Natsuki Ikezawa bộc lộ tầm nhìn văn học so sánh trong các công trình 『池澤夏樹の世界文学リミックス』河出書房新社 2011年 (“Bản phối lại văn học thế giới của Natsuki Ikezawa”, Kawade Shobo Shinsha xuất bản 2011),『世界文学を読みほどく スタンダールからピンチョンまで』新潮選書 2005年 増補版2017年 (“Làm sáng tỏ văn học thế giới từ Stendhal đến Pynchon”, Shincho Sensho xuất bản 2005, ấn bản bổ sung 2017).

2.2.  Nỗi buồn chiến tranh xếp trên Người đua diềuNgười đọc (đánh giá của nhà văn Trung Quốc)

Sau cùng xin nói đến đoạn dẫn sau cùng trên trang bìa ấn bản Trung văn Nỗi buồn chiến tranh giới thiệu trên “这两部小说, 无论是作家个人的技巧还是对战争灾难与命运的生命体验, 都不及《战争哀歌》来的丰富和直切”. Như ta thấy bìa sách có chua rõ 阎连科诚挚推荐! (Diêm Liên Khoa chân thành giới thiệu). Trình bày bìa như thế gây ấn tượng nhà văn nhận việc quảng cáo sách. Kì thực lời đó của Diêm Liên Khoa vốn là câu kết cho một trường đoạn nhận xét văn học quốc nội viết về đề tài chiến tranh và cũng là câu chuyển ý sang trường đoạn phân tích nghệ thuật tự sự của tác phẩm văn học nước ngoài – tiểu thuyết của nhà văn Việt Nam Bảo Ninh. Trường đoạn này nằm trong bài viết lớn của Diêm Liên Khoa “Tầm cao của văn học phương Đông – mảng viết chiến tranh” (《东方战争文学的标高》) ca ngợi thành tựu đặc biệt của tiểu thuyết Việt Nam – Nỗi buồn chiến tranh.[9] Bài viết cũng cho thấy niềm xúc động của nhà văn Trung Quốc Diêm Liên Khoa trước việc tác phẩm của Bảo Ninh dù muộn nhưng đã có mặt tại Trung Quốc. Quan trọng hơn nữa, có thể nói tầm cao và độ sâu của bài viết của Diêm Liên Khoa chí ít cũng gián tiếp giúp ta khẳng định được thành công của bản dịch Trung văn tiểu thuyết Bảo Ninh. Dưới đây chúng tôi xin trích dịch toàn bộ trường đoạn này:

“Đối với các nhà văn Trung Quốc mà nói, trong mảng văn học viết về đề tài chiến tranh, điều mà chúng ta thiếu không phải là kĩ xảo, kĩ thuật, kinh ngiệm hay thậm chí ngôn ngữ và tình cảm mà là một suy tư về chiến tranh và số phận con người, là lòng bác ái đối mọi người gồm cả “kẻ địch” trong chiến tranh, là bản thân kích cỡ của tâm của trí – cái tâm trí nhìn từ góc độ lý luận văn học. Sở dĩ như thế là bởi vì chúng ta không thể thực sự cởi bỏ và rời xa được sợi xích trói truyền thống mà các tác phẩm kinh điển như Tam quốc diễn nghĩa để lại, chúng ta cũng không cách nào rời xa được vầng hào quang nhức mắt của ý thức về sự cao cả trong văn học chiến tranh của Liên Xô. Cũng vì thế, sự chậm trễ trong việc dịch Nỗi buồn chiến tranh đã khiến cho văn học viết về chiến tranh của Trung Quốc bỏ lỡ mất cơ hội học tập đẹp đẽ trong thời gian những năm 80-90 thế kỉ trước. Nhưng sự xuất hiện của nó giờ đây vẫn có thể khiến những nhà văn và độc giả Trung Quốc nhạy cảm và khiêm tốn ý thức được sự đa dạng và phong phú của văn học Việt Nam, ý thức được sự tồn tại của Nỗi buồn chiến tranh trong tư cách là tác phẩm văn học chiến tranh đánh dấu ý nghĩa phổ biến của văn chương cũng như tầm cao phương Đông trong văn học viết về chiến tranh. Tầm cao này khiến chúng ta nghĩ đến Người đua diềuNgười đọc – hai tiểu thuyết phương Tây liên quan đến đến đề tài chiến tranh rất được khen ngợi và là sách bán chạy dịch và xuất bản ở Trung Quốc những năm gần đây. Hai bộ tiểu thuyết này bất kể là về kĩ xảo cá nhân của nhà văn hay sự thể nghiệm số phận và thảm nạn trong chiến tranh đều không phong phú và trung thực chân thành cho bằng Nỗi buồn chiến tranh”. (阎连科.《东方战争文学的标高》. 8 Dec. 2015. <https://www.fx361.cc/page/2015/1208/12651600.shtml).

  1. Thay lời kết – Mấy lời nói thêm về dịch giả ấn bản Trung văn Nỗi buồn chiến tranh

Nỗi buồn chiến tranh đến với độc giả Trung Quốc muộn hơn rất nhiều so với các độc giả các thứ tiếng khác. Diêm Liên Khoa tác gia cự phách của văn học Trung Quốc đương đại cho đấy là một việc rất đáng tiếc. Tất nhiên muộn còn hơn không bao giờ. Nhờ cống hiến của dịch giả Hạ Lộ, sau cùng ấn bản Trung văn tiểu thuyết của Bảo Ninh đã xuất bản tại Trung Quốc. Những lời sau đây của Diêm Liên Khoa cho thấy vượt lên trên sự kiện dịch thuật xuất bản đơn thuần, hiện diện của Nỗi buồn chiến tranh trong văn học dịch Trung Quốc hàm chứa những ý nghĩa văn hóa lớn lao nhường nào: “Tôi nghĩ giả thử mà dịch giả Hạ Lộ đã không một lòng kiên trì, không quản gian nan dịch tác phẩm của Bảo Ninh thì đến nay đối với văn học Việt Nam chúng ta vẫn chỉ dừng lại ở cái kí ức về một nền văn học xơ cứng cũ kĩ của dĩ vãng mấy chục năm trước, cho rằng thế giới này ngoài bao nhiêu cây bút lớn của phương Tây và Trung Quốc ra, thiên hạ chẳng còn sách vở sáng tác gì nữa. Riêng tôi muốn nhân dịp này bày tỏ sự áy náy và mặc cảm của mình – rằng cũng vì để đơn giản hóa đi phần nào cho việc viết mà đã – một cách hẹp hòi đem Nỗi buồn chiến tranh đặt vào hàng các tiểu thuyết phương Đông nhằm thực hiện một thứ văn học so sánh hơn kém. Vì rằng, dù là xét từ góc độ nào thì Nỗi buồn chiến tranh đều vượt lên trên những điều đó, nó là tác phẩm quý báu hiếm thấy của các sáng tác châu Á trong nền văn học thế giới của chúng ta.” (阎连科.《东方战争文学的标高》. 8 Dec. 2015. <https://www.fx361.cc/page/2015/1208/12651600.shtml).

[1] Nếu không tính lần xuất bản năm 1987 với tựa “Thân phận tình yêu” (Nxb Hội Nhà văn).

[2] Phóng viên tờ The Paper 澎湃新聞 Pengpai Xinwen (www.thepaper.cn) Bành San San phỏng vấn, Hạ Lộ phiên dịch. Nhan đề bài phỏng vấn tạm dịch sang tiếng Việt là “Tác gia Việt Nam Bảo Ninh: Nếu tôi không từng cầm súng ra trận chắc chắn tôi sẽ không theo đuổi việc cầm bút”.

[3] Thực ra phần lời này in trên giải giấy kèm ngoài bìa (áo bìa) kiểu một dạng pamphlet quảng cáo.

[4] Bản dịch tiếng Trung nguyên tác tiếng Anh The Kite Runner《追风筝的人》, bản dịch tiếng Việt Người đua diều (Nguyên Bản dịch, Nxb Hội nhà văn). Nguyên tác tiếng Anh The Kite Runner tiểu thuyết đầu tay của nhà văn người Mỹ gốc Afganistan Khaled Hosseini, xuất bản lần đầu 2023; Người đọc Lê Quang dịch, Nxb Hội nhà văn, 2014, 2023,  tiểu thuyết  của Bernhard Schlink xuất bản lần đầu 1995  (nguyên tác tiếng Đức: Der Vorleser, bản dịch tiếng Anh The Reader, bản dịch Trung văn 《朗读者》 ).

[5] Tác phẩm của G. Márquez có bản dịch tiếng Việt Trăm năm cô đơn (Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch); Sống để kể lại (Lê Xuân Quỳnh dịch); Tác phẩm của Kristóf Ágota có bản dịch tiếng Việt Cuốn sổ lớn (Hoàng Ngọc Tuấn dịch). Tám tác phẩm còn lại chúng tôi không rõ đã có bản dịch xuất bản tại Việt Nam hay chưa.

[6] Bản dịch tiếng Nhật Ten Novels and Their Authors (西川正身 Masami Nishikawa dịch, 岩波新書 Iwanami Shinsho xuất bản1958, 岩波文庫 Iwanami Bunko tái bản 1997) lấy nhan đề lời nói đầu “Mười tiểu thuyết vĩ đại của thế giới” trong sách này làm tên sách dịch. Công trình của Maugham ra đời như sau: Tạp chí Red Book của Mỹ nêu danh sách “Mười tiểu thuyết vĩ đại nhất” và Maugham đã viết bài bình luận cho mỗi cuốn theo danh sách này. Tập hợp các bài viết sau đó đăng trên tạp chí Atlantic Monthly và được xuất bản vào năm 1948 bởi nhà xuất bản Philadelphia dưới tựa đề Tiểu thuyết gia vĩ đại và tác phẩm của họ (Greatest Novelists and Their Novels). Maugham đã bổ sung, chính sửa để xuất bản tại Luân Đôn năm 1954 với tên sách “Mười tiểu thuyết và tác giả của chúng” (Ten Novels and Their Authors).

[7] Mục từ Bảo Ninh trên https://ja.wikipedia.org/wiki/バオ・ニン chỉ rõ nguồn trích dẫn từ 池澤「社会の不条理と個人の魂」(Ikezawa, “Sự phi lý của xã hội và tâm hồn cá nhân”).

[8] Mục từ Bảo Ninh trên https://ja.wikipedia.org/wiki/バオ・ニン chỉ rõ nguồn trích dẫn từ 池澤「ぼくがこの作品を選んだ理由」(Ikezawa, “Tại sao tôi chọn tác phẩm này”).

[9] Diêm Liên Khoa (阎连科 Yán Liánkē 1958 –  ), nhà văn Trung Quốc đương đại. Bìa sau của ấn bản Trung văn Nỗi buồn chiến tranh có dẫn đoạn lời nữa của nhà văn này: “Đọc một mạch xong cuốn tiểu thuyết, suy nghĩ đầu tiên nảy sinh trong óc tôi là, nếu cuốn tiểu thuyết này không phải ra đời ở Việt Nam, ngôn ngữ của nó, ngôn ngữ mẹ đẻ đem lại sự sống cho nó không phải là tiếng Việt, mà là tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Đức thì nó sẽ ở trong bầu không khí tưng bừng ca tụng như thế nào?”. Trong bài bạt “Vài lời sau khi dịch” in cuối ấn phẩm Trung văn Nỗi buồn chiến tranh (《战争哀歌》译后记) , dịch giả Hạ Lộ cũng có cho biết bài viết《东方战争文学的标高》của Diêm Liên Khoa đăng trên tạp chí Thiên Nhai (Kì 6 năm 2015 《天涯》第 6期).

PHỤ LỤC : TỰA BẢO NINH VIẾT CHO ẤN BẢN BẢN DỊCH TRUNG VĂN TIỂU THUYẾT “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”

(保宁,《战争哀歌》(夏露译), 湖南文藝出版社-博集天卷, 2019, tr.3-4).)

Lời người dịch: Nhân dịp “Nỗi buồn chiến tranh” dịch và xuất bản tại Trung Quốc, nhà văn Bảo Ninh đã viết một lời tựa ngắn. Lời tựa nhắc đến các kỉ niệm của nhà văn với bố ông – nhà ngôn ngữ học lớn của Việt Nam – GS Hoàng Tuệ.

            Tôi đi nước ngoài lần đầu tiên là đi Trung Quốc, đó là mùa hè năm 1959. Khi đó bố tôi đang dạy tiếng Việt tại Đại học Bắc Kinh, tôi và em gái theo mẹ cùng đi sang thăm bố. Vì cách xa đã 60 năm, với lại khi đó mới 7 tuổi, nên tôi cũng không nhớ rõ được bao nhiêu chuyện, nhưng những trải nghiệm tuổi ấu thơ đó vẫn mãi in đậm trong tim. Trong suốt hành trình từ Bằng Tường (Quảng Tây) đến Bắc Kinh, trừ ban đêm thiếp đi trong những giấc mơ còn thì hầu như chẳng khi nào tôi rời mắt khỏi khung cửa sổ toa tàu. Muôn vàn cảnh sắc cùng dòng lịch sử hàng ngàn năm của Trung Hoa như những bức tranh, như bao bài thơ  từng bức từng bài lướt nhanh qua trước mắt tôi theo đoàn tàu đang băng băng.

Sau hành trình ba ngày ba đêm, chúng tôi đến Ga Bắc Kinh. Vì Hà Nội, nơi tôi biết rõ, khi đó vẫn còn nhỏ hẹp, cơ sở hạ tầng còn thô sơ, nên sự hùng vĩ và vẻ đẹp của Ga Bắc Kinh khiến tôi kinh ngạc vô cùng. Bố tôi nói rằng Ga Bắc Kinh vừa mới được xây dựng, đó là một trong mười công trình lớn được xây cất để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 10 năm quốc khánh Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong một tháng ở Bắc Kinh, bố tôi đã đưa chúng tôi đi tham quan mười đại công trình này: Đại lễ đường Nhân dân, Cung Văn hóa Quốc gia, Nhà Triển lãm Nông nghiệp,… Tất nhiên, chúng tôi cũng đã đến Quảng trường Thiên An Môn,  vào tham quan Cố Cung. Chúng tôi không cần hướng dẫn viên vì bố tôi đã quen thuộc với Bắc Kinh, vả lại tiếng Trung của ông nói cũng lưu loát như người bản xứ.

Bố tôi sinh năm 1920. Từ khi sinh ra cho đến khi ông vào đại học, Việt Nam còn trong thời kì Pháp thuộc (1884-1945). Lẽ tự nhiên ông vốn thông thạo tiếng Pháp chứ không phải tiếng Trung. Tuy nhiên, vì cố nội và ông nội tôi đều là Nho sĩ, cả hai đều thi đỗ khoa cử dưới triều Nguyễn, nên các cụ đã dạy bố tôi chữ  Hán. Tuy nhiên, cố và ông nội tôi chỉ đọc hiểu Hán văn và bút đàm được với người Trung Quốc, khác với bố tôi còn biết nói. Vì vậy, năm 1958, bố tôi được Đại học Bắc Kinh mời sang Trung Quốc dạy tiếng Việt. So với ngày nay, cuộc sống của người dân Trung Quốc bao gồm cả giảng viên và sinh viên đại học thời đó rất khó khăn. Dù vậy, Đại học Bắc Kinh đãi ngộ rất cao các giảng viên đến từ các nước xã hội chủ nghĩa, chu cấp cho họ mức sống cao nhất. Các giảng viên sống trong những ngôi nhà rộng rãi, đầy đủ tiện nghi trong một khu vườn xinh đẹp. Các giảng viên nước ngoài cũng được trả lương cao, nên nhiều người đã đưa cả gia đình đến sống cùng. Vào Chủ nhật, trường còn cho xe đến đưa đón họ cùng gia đình tham quan các địa điểm trong và ngoài Bắc Kinh. Hồi đó, tôi đã đến thăm Di Hòa Viên, Nhà khách Quốc gia Điếu Ngư Đài và Sơn Hải Quan – điểm khởi đầu của Vạn Lý Trường Thành.

Năm 1964, sau khi bố tôi về nước, ông muốn dạy tôi học tiếng Pháp và tiếng Trung, nhưng tôi học ngoại ngữ kém quá. Hơn nữa, từ sau năm 1964 đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh. Mười bảy tuổi học xong trung học, tôi nhập ngũ tham gia kháng chiến. Từ năm 1969 đến năm 1975, tôi đã trải qua những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ nơi tiền tuyến. Tuy nhiên, vì bố tôi có một tủ sách lớn và đa dạng, nên tôi đã có cơ hội đọc các tác phẩm văn học Trung Quốc được dịch sang tiếng Việt ngay sau khi biết đọc. Từ Sử ký Tư Mã Thiên đến Tứ đại danh tác của văn học cổ điển Trung Quốc, cũng như văn học Trung Quốc thế kỷ 20, đặc biệt là các tác phẩm của Lỗ Tấn, tôi đã đọc không ít. Bố tôi đặc biệt ngưỡng mộ những nhà văn vĩ đại này, nên ông đã mua tất cả các tác phẩm của họ, bao gồm cả một số tác phẩm được xuất bản trước năm 1949.

Do chiến tranh và những biến động kịch liệt của thời cuộc, cha tôi đã không có cơ hội thăm lại Trung Quốc. Tất nhiên, ông rất nhớ Trung Quốc, nhất là Bắc Kinh. Ông cũng nhớ các đồng nghiệp và học trò của mình ở đó. Nhiều học trò của ông đã sang Việt Nam làm chuyên gia kinh tế, chuyên gia quân sự trong thời gian chiến tranh chống Mỹ, cũng có không ít học sinh sang công tác ở Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam. Họ thường đến thăm bố tôi. Năm 1998, bố tôi nhận được thư mời tham dự một hội nghị tại Đại học Ngôn ngữ và Văn hóa Bắc Kinh, nhưng khi đó ông đã bị bệnh nặng và không thể đi được nữa. Ông qua đời vào năm sau đó.

Giờ đây, “Nỗi buồn chiến tranh” đã được Tiến sĩ Hạ Lộ dịch sang tiếng Trung và xuất bản tại Trung Quốc, tôi vô cùng vui mừng và lấy làm vinh dự. Dù không hiểu tiếng Trung, nhưng khi thấy tác phẩm của mình được dịch sang Trung văn, tôi cảm thấy như mình cũng đã kế thừa được truyền thống Hán học của gia đình, từ cố đến ông nội và rồi đến bố tôi.

Sinh thời bố tôi rất yêu thơ Đường. Kệ sách của ông chứa đầy các tập thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu và Trương Kế. Tôi còn nhớ khi “Nỗi buồn chiến tranh” xuất bản trong nước, thân phụ tôi chúc mừng tôi một ly vang, người nâng cốc và ngâm giai tác “Lương Châu từ” (涼州詞其一) của Vương Hàn cho tôi nghe: “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi. Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.”. Đầu tiên, ông ngâm bằng tiếng Trung, rồi sau đó đọc cho tôi nghe bằng tiếng Hán-Việt. Cho đến ngày nay, bài thơ tuyệt đẹp đó vẫn còn văng vẳng bên tai tôi.[1]

[1] “Lương Châu từ” (涼州詞其一) – giai tác của Vương Hàn (王翰 687-735):

葡萄美酒夜光杯,

欲飲琵琶馬上催。

醉臥沙場君莫笑,

古來征戰幾人回。

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Hải Đà dịch thơ:

Rượu ngon thơm ngát chén ngà
Ly chưa cạn, tiếng tỳ bà giục đi
Sa trường say, hỏi làm chi
Xưa nay chinh chiến mấy khi trở về.

PHỤ LỤC: ĐỌC SONG NGỮ VIỆT-TRUNG ĐOẠN MỞ ĐẦU NỖI BUỒN CHIẾN TRANH 战争哀歌》CỦA BẢO NINH

Lê Thời Tân, Hoàng Thị Minh Thảo

  1. Dịch giả Trung văn nói về việc dịch Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

Hạ Lộ (夏露) dịch giả tiểu thuyết của Bảo Ninh sang tiếng Trung viết trong bài bạt “Vài lời sau khi dịch” (《战争哀歌》译后记): “Nỗi buồn chiến tranh là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ cao siêu, thể hiện đầy đủ vẻ đẹp, sự phong phú cũng như sức biểu hiện của tiếng Việt. Đọc hiểu và dịch một tác phẩm như thế đối người nước ngoài thật sự hết sức gian nan, nhất là phần mở đầu. Đọc hiểu tác phẩm này thật chả khác gì khó khăn của người phải vượt qua những quãng đường rừng giữa mùa mưa – cảnh tượng đã được tiểu thuyết này mô tả ở ngay phần đầu cuốn sách vậy.” (保宁,《战争哀歌》(夏露译), 湖南文藝出版社-博集天卷, 2019, ISBN 9787540490881, tr.293). Những lời tâm huyết và nhã nhặn của nữ học giả và dịch giả Trung Hoa vừa dẫn đã khiến chúng tôi thêm quyết tâm mở đọc ấn bản Trung văn tác phẩm của Bảo Ninh. Bài viết nhỏ này ghi lại mấy ý tạm gọi là bút kí đọc hiểu đoạn mở đầu bản dịch tiếng Trung tiểu thuyết Nỗi buồn  chiến tranh. Hy vọng đây cũng chính là góp phần nhỏ vào công cuộc giao lưu văn hóa Việt Trung.  

  1. Đoạn mở đầu Nỗi buồn chiến tranh – Một cách đọc sâu song ngữ

2.1. Đối chiếu song ngữ Việt -Trung

            Dưới đây là đoạn đầu tiên của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Trước hết xin đồng dẫn đoạn nguyên tác cùng với bản dịch Trung văn (chúng tôi mạo muội “dịch lại” phần dịch tiếng Trung đó ra tiếng Việt):

Nguyên tác của Bảo Ninh
Mùa khô đầu tiên sau chiến tranh đến với với miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3 êm ả nhưng muộn màng. Tháng Chín và tháng Mười, rồi tháng Mười một nữa đã trôi qua, vậy mà trên dọc dòng Ya Crông Pô Cô làn nước mùa mưa xanh ngát vẫn tràn ắp đôi bờ. Thời tiết bấp bênh. Ngày nắng. Đêm mưa. Mưa nhỏ thôi, nhưng mưa. Mưa… Núi non nhạt nhòa, những nẻo xa mờ mịt. Cây rừng ướt át. Cảnh rừng lặng lẽ. Tối ngày đất rừng ngun ngút bốc hơi. Biển hơi màu lục, ngụt mùi lá mục.

Và, cho tới tận những ngày đầu tháng Chạp tất thảy những ngả đường trong rừng vẫn còn đang lầy lội khốn khổ, hư nát, bị hòa bình bỏ hoang, hầu như không thể qua lại được, dần dần lụt chìm xuống, mất dấu tích giữa cây rừng cỏ tốt um tùm. (Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh. Hà Nội: Nxb Trẻ, 2011, tr.5).

Bản dịch Trung văn
战后,第一个早季迟迟不肯光顾B-3前线的北翼后方根据地。10月过去了,接着11月也过去了,这里却仿佛还在雨季里。波谷河在雨季积蓄的河水还在不停地向两岸溢出,一点消退的迹象都没有。天气晴雨不定。白天阳光灿烂,夜晚却总下雨。淅浙沥沥的小雨,下个不停。雨雾中,山冈朦胧起来。树木是潮湿的,丛林是寂静的,只有水汽不分昼夜地蒸腾。白雾茫茫犹如大海,却又透着树叶的绿光,飘荡着腐烂的气息。

现在已经进入12月了,丛林里的道路却还像雨季里一般泥泞不堪,寸步难行。和平之后,这里被抛荒了,草木愈加茂盛,渐渐覆盖了地表,令人辨不清道路。(保宁,《战争哀歌》(夏露译), 湖南文藝出版社-博集天卷, 2019, tr.3).

Tạm “dịch lại” sang tiếng Việt:

Sau chiến tranh, mùa khô thứ nhất chậm rãi không chịu đến với miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3. Tháng 10 qua đi, tiếp theo tháng 11 cũng đã qua đi, ở đây tựa hồ lại như đang trong mùa mưa. Nước sông Pô Cô tích lại trong mùa mưa vẫn đang tràn lên đôi bờ, chẳng có dấu hiệu gì rút giảm. Thời tiết mưa nắng không chừng. Ban ngày ánh nắng rực ngời, ban đêm thì lại mưa suốt. Mưa nhỏ rả rích không ngừng. Trong mưa mù, núi non mông lung dần lên. Cây cối ẩm ướt, rừng rất yên tĩnh, chỉ có hơi nước cuộn lên không kể ngày đêm. Sương mù mênh mang như biển, nhưng sắc xanh của lá vẫn ánh lên, mùi lá mục lan tỏa.

Bây giờ đã vào tháng 12 rồi, đường sá trong rừng thì lại cứ còn như đang trong mùa mưa, lầy lội không chịu được, đi lại rất khó. Sau hòa bình, ở đây bị bỏ hoang, cỏ cây càng thêm rậm rịt, dần dần phủ kín mặt đất, làm cho người ta không nhận ra đường đi nữa.

2.2. Đọc sâu song ngữ Việt-Trung

Nguyên tác câu mở đầu “Mùa khô đầu tiên sau chiến tranh đến với miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3 êm ả nhưng muộn màng.[1]. “Mùa khô đầu tiên” ở đây dĩ nhiên khác với “mùa khô thứ nhất” (第一个早季). Chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975 vừa lúc chiến trường xưa (như trần thuật của tiểu thuyết thì đó là mùa khô 1969 và mùa mưa 1974) bước vào mùa mưa (từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 11 năm 1976, tự sự của tiểu thuyết không biểu đạt cụ thể, người đọc tự quy chiếu thời gian lịch sử để đọc hiểu trần thuật trong tác phẩm). Tự sự của tiểu thuyết gián tiếp yêu cầu một độc giả tận tâm với dòng trần thuật sẽ phải tự thấy rằng Kiên dù biết mùa mưa không phải là thời gian thích hợp cho việc đi tìm hài cốt đồng đội nhưng vì nóng lòng nên anh đã lên đường và có mặt nơi chiến trường cũ vào cuối mùa mưa (cụ thể từ tháng Chín). Ta hoàn toàn có thể hình dung được cảnh tượng Kiên vất vả ra sao giữa rừng mưa dò tìm mộ đồng đội và cũng không cần phải nói đến việc anh trông đợi thời tiết mau chuyển sang mùa khô như thế nào. Không may đúng vào năm đó (năm đầu tiên của hòa bình) mùa khô đến muộn màng nhưng rồi vượt qua tất cả, đến đầu tháng Chạp, Kiên đã ra đến Truông Gọi Hồn – một nơi mà có lẽ anh chỉ đành thu gom hài cốt rải rác chứ nói gì đến được có mộ mà tìm. Dù sao, Kiên cũng đã quyết không để nhỡ hẹn với “mùa khô đầu tiên sau chiến tranh” (theo lịch là từ tháng 11 năm 1976 đến tháng 4 năm 1977) này. Chỉ tính từ “trận đánh ghê rợn, độc ác và bạo tàn” mùa khô 1969 xóa sổ phiên hiệu tiểu đoàn mà Kiên chỉ là “một trong mươi người may mắn còn được sống” ở Truông Gọi Hồn thì những đồng đội của anh cũng đã vùi thân chiến địa 7 năm trời. Có thể nói “tiêu điểm” trần thuật của chủ thể tự sự (một ngôi thứ ba với ánh nhìn có bao trùng tầm nhìn của nhân vật chính là Kiên) đặt trọn vào cái “mùa khô đầu tiên sau chiến tranh” đó. Cái tầm nhìn đó còn không nỡ nghĩ đến mùa khô thứ hai nào (tất nhiên việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ là việc kéo dài trong thời hậu chiến). Điều phân tích này không còn được thấy ra nơi câu văn dịch 战后,第一个早季迟迟不肯光顾B-3前线的北翼后方根据地 (Sau chiến tranh, mùa khô thứ nhất chậm rãi không chịu đến với miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3) – một câu đã chuyển cái định ngữ “sau chiến tranh” (của danh từ trung tâm “mùa khô” tạo thành ngữ danh từ làm chủ ngữ câu văn) thành trạng ngữ tách rời với chủ ngữ một dấu phẩy (战后,第一个早季…). Và dĩ nhiên do vậy nên ta cũng không còn thấy lại cái tình ý mong đợi mùa khô đầu tiên sau chiến tranh này nơi câu văn dịch vì dịch giả đã vô tình đánh rơi mất từ “muộn màng” trong câu văn nguyên tác. Chính cái tình ý mong đợi mùa khô (kéo theo sự phàn nàn mùa khô đến muộn màng) đó mới đưa đến ý bất mãn biểu lộ ở từ “vậy mà” trong câu tiếp theo – “Tháng Chín và tháng Mười, rồi tháng Mười một nữa đã trôi qua, vậy mà trên dọc dòng Ya Crông Pô Cô làn nước mùa mưa xanh ngát vẫn tràn ắp đôi bờ.”. Tây Nguyên có hai mùa rất rõ là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 11 đến tháng 4 năm sau và thời gian còn lại là mùa mưa. Trong nguyên tác, ý khẳng định sự hiện diện lan dài của mùa mưa (theo lịch thì mùa này đã bước qua nửa sau) nơi đây là rõ ràng (do vậy ý mong mỏi mùa khô theo đó cũng được bộc lộ). Vì vậy bản dịch có thêm câu “这里却仿佛在雨季里” (Ở đây tựa hồ lại như đang trong mùa mưa) là thừa.[2] Người kể chuyện cũng như đương sự (nhân vật Kiên) biết rõ thời tiết địa phương và họ không hề mơ hồ về điều đó. Nói chung cái sắc điệu tinh thần sốt ruột trước thời tiết (“rồinữa”) đó sau đó bộc lộ tập trung lại ở từ “vậy mà” – từ mà dịch giả Trung văn để sót. Nguyên do có lẽ do dịch giả đã dịch câu văn nguyên tác thành hai câu (波谷河在雨季积蓄的河水还在不停地向两岸溢出,一点消退的迹象都没有 Tháng 10 qua đi, tiếp theo tháng 11 cũng đã qua đi, ở đây tựa hồ lại như đang trong mùa mưa. Nước sông Pô Cô tích lại trong mùa mưa vẫn đang tràn lên đôi bờ, chẳng có dấu hiệu gì rút giảm.). Tất nhiên dường như ta cũng có thể nói dịch giả đã “bù đắp” lại việc để mất từ “vậy mà” trong nguyên tác nhờ ở phần “viết thêm” – “chẳng có dấu hiệu gì rút giảm” (xem câu văn dịch: Nước sông Pô Cô tích lại trong mùa mưa vẫn đang tràn lên đôi bờ, chẳng có dấu hiệu gì rút giảm). Thực ra đối chiếu kĩ nguyên tác với bản dịch kĩ ta còn  thấy dịch giả còn để thiếu mất từ “tháng Chín”. Nguyên tác là: “Tháng Chín và tháng Mười, rồi tháng Mười một nữa đã trôi qua,…”, ý sốt ruột đợi chờ thời tiết đúng mùa bộ lộ rất rõ trong câu văn.[3]

Đọc kĩ nguyên tác tiếng Việt ta thấy tình tiết câu chuyện (hành trình quay lại chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội) giúp người đọc tiểu thuyết tự nhận định Kiên chắc chắn đã có mặt ở đó (ở Truông Gọi Hồn – nơi mà mùa khô 1969 hầu hết đồng đội anh đã ngã xuống, và đến mùa mưa 1974 một lần nữa lại có thêm đồng đội của anh nằm lại[4]) vào đầu tháng Chạp – vốn theo lịch thì thời tiết ở đây đã phải là mùa khô. Tất nhiên những mô tả thời gian sớm hơn (từ tháng Chín và tháng Mười) có thể chỉ được coi là mô tả theo kinh nghiệm hay theo sự chứng kiến của hình tượng người kể chuyện ngôi thứ ba – một người tri giác toàn cõi Tây Nguyên. Nhưng đọc kĩ từng đoạn một trang mở đầu tiểu thuyết ta có thể thấy Kiên đã đến đó – miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3 ít ra từ tháng Chín, tháng Mười – tức là những tháng sau cùng của mùa mưa nơi này (mùa mưa đầu tiên của năm kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng) và phong cảnh nơi đây – “Mùa khô đầu tiên sau chiến tranh đến với với miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3 êm ả nhưng muộn màng” ngay từ đầu chính là cũng đang được tri cảm từ tầm nhìn của Kiên. Đọc hiểu này dĩ nhiên cho thấy nhân vật nóng lòng với việc quay lại tìm hài cốt đồng đội ở chiến trường xưa bất kể điều kiện thời tiết vốn có của nơi này như thế nào.

Dĩ nhiên ta phải biết người đọc không được (dòng tự sự của tiểu thuyết) “cho biết” như thế ngay từ đầu. Và thực ra cũng phải qua một trường đoạn trần thuật dài đến câu “Tấm bạt xe cũ nát lấm tấm dột. Nước mưa rỉ xuống thong thả giọt lên những bọc ni lông bao gói hài cốt tử sĩ xếp lát trên sàn xe” người đọc mới tự mình nhận ra “mục đích-nhiệm vụ” của kẻ đang trên chiếc xe tải giữa rừng thẳm kia (Bản tiếng Anh The Sorrow of War mà Frank Palmos biên tập thậm chí đã “thêm” hay nói đúng ra là “viết lại” đoạn đầu tác phẩm của Bảo Ninh với dụng ý giải thích cho rõ nguyên do câu chuyện[5] (On the banks of the Ya Crong Poco river, on the northern flank of the B3 battlefield in the Central Highlands, the Missing In Action Remains-Gathering Team awaits the dry season of 1975.). So sánh cụ thể văn bản như sau:

Nguyên tác của Bảo Ninh
Mùa khô đầu tiên sau chiến tranh đến với với miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3 êm ả nhưng muộn màng. Tháng Chín và tháng Mười, rồi tháng Mười một nữa đã trôi qua, vậy mà trên dọc dòng Ya Crông Pô Cô làn nước mùa mưa xanh ngát vẫn tràn ắp đôi bờ. (Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh. Hà Nội: Nxb Trẻ, 2011, tr.5).
Bản dịch tiếng Anh
On the banks of the Ya Crong Poco river, on the northern flank of the B3 battlefield in the Central Highlands, the Missing In Action Remains-Gathering Team awaits the dry season of 1975.

(Bao Ninh, The Sorrow of War: A Novel of North Vietnam, Phan Thanh Hao trans., Frank Palmos ed., https://www.yumpu.com/en/document/view/66636284/download-pdf-the-sorrow-of-war-a-novel-of-north-vietnam).

Tạm “dịch lại” sang tiếng Việt:

Bên bờ sông Ya Crong Poco, sườn phía Bắc chiến trường B3 Tây Nguyên, Đội tìm kiếm hài cốt liệt sĩ và quân nhân mất tích (MIA) đang chờ đợi mùa khô năm 1975.

Cái sắc điệu tâm tư buồn khổ vì mùa mưa kéo dài này sẽ còn vẫn tiếp tục le lói đằng sau những lời kể tả tiếp theo: “Và, cho tới tận những ngày đầu tháng Chạp tất thảy những ngả đường trong rừng vẫn còn đang lầy lội khốn khổ, hư nát, bị hòa bình bỏ hoang, hầu như không thể qua lại được, dần dần lụt chìm xuống, mất dấu tích giữa rừng cây rừng cỏ tốt um tùm.”. Câu văn nguyên tác đọc kĩ thấy thấm đẫm một sự tuyệt vọng trước hiện thực khó gượng lại – cái hiện thực của thiên nhiên vô tình cùng lẽ thường nhân sinh  – “tất thảy những ngả đường bị hòa bình bỏ hoangdần dần lụt chìm xuống, mất dấu tích giữa rừng cây rừng cỏ tốt um tùm”. Trời sao không thương cho, giờ đã tháng Chạp mà cứ mưa đến nát cả đường… Rừng núi cũng làm tội người, cỏ cây vô tình vùi lấp mất đường đi.

So ra đoạn văn dịch đọc thanh thản hơn nhiều: 现在已经进入12月了,丛林里的道路却还像雨季里一般泥泞不堪,寸步难行。和平之后,这里被抛荒了,草木愈加茂盛,渐渐覆盖了地表,令人辨不清道路。(Tạm dịch lại: Bây giờ đã vào tháng 12 rồi, đường sá trong rừng thì lại cứ như đang trong mùa mưa, lầy lội không chịu được, đi lại rất khó. Sau hòa bình, ở đây bị bỏ hoang, cỏ cây càng thêm rậm rịt, dần dần phủ kín mặt đất, làm cho người ta không nhận ra đường đi nữa.). Trong nguyên tác ý sốt ruột vì điều kiện thời tiết tiếp tục được biểu lộ ở cầu đầu đoạn văn tiếp theo –  “Và, cho tới tận những ngày những ngày đầu…”. Câu văn dịch 现在已经进入12月了,丛林里的道路却还像雨季里一般泥泞不堪 (Bây giờ đã vào tháng 12 rồi, đường sá trong rừng thì lại cứ còn như đang trong mùa mưa) chỉ thể hiện sự trần thuật tiếp nối tuần tự của thời gian, bỏ mất ý kết nối đồng đẳng hai đoạn trước và sau (nhờ ở từ “” nổi bật đầu đoạn, sự đồng đẳng hai đoạn như thế dĩ nhiên vẫn cho thấy sự đeo đẳng tâm lý quán xuyến việc kể tả sự việc) và nhất là bỏ mất vẫn cái sắc điệu nhấn mạnh sự bất mãn hay sốt ruột mong chờ do chỗ không dịch cụm “cho tới tận những ngày đầu…”. Và cũng giống như khi dịch câu đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, ở tiểu đoạn này dịch giả đã chuyển một từ vốn là chủ ngữ ở câu văn nguyên tác thành trạng ngữ biểu đạt thời gian đơn thuần: “Sau hòa bình, ở đây bị bỏ hoang” (和平之后,这里被抛荒了). Suy cho cùng nguyên tác “những ngả đườngbị hòa bình bỏ hoang” là một câu chứa chất tình ý còn “Sau hòa bình, ở đây bị bỏ hoang” chỉ là một lời kể thông thường. Có biết bao ngậm ngùi thấm thía nồng đượm trong từ “hòa bình” ở câu văn “bị hòa bình bỏ hoang” của Bảo Ninh. Ta sẽ còn bắt gặp trở lại từ này ở đoạn kết thúc cho trường đoạn mở đầu tiểu thuyết này: “Đêm nay hồn ai gọi hồn ai. Tiếng hú cất lên từ đâu đó trong rừng thẳm, âm u truyền dọc theo những gờ núi lạnh lẽo của truông Gọi Hồn. Cô đơn. Lạc lõng. Núi vẫn thế, rừng vẫn thế, suối sông cũng vẫn thế thôi, bởi có là bao một năm trời. Chỉ có điều hồi đó đang chiến tranh còn bây giờ trái lại, đã hòa bình rồi. Cùng là một trang cuộc đời nhưng mà là hai thế giới, hai thời đại…” (Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh. Hà Nội: Nxb Trẻ, 2011, tr.14).[6]

  1. Thay lời kết – chất thơ trong văn Bảo Ninh

Sự thấm đẫm chất trữ tình của văn Bảo Ninh hẳn là một nỗi khó khăn đối với các nhà dịch thuật tiểu thuyết của ông. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh thăm thẳm một ánh nhìn của thơ ca. Như đoạn thượng dẫn dường như cũng đã đủ thấy có chứa cái cảm thức “đối lập” giữa thiên nhiên vĩnh hằng vô tình, lịch sử nhân thế lạnh lùng và thân kiếp hiện sinh cõi đời là một cảm thức bàng bạc trong thơ ca cổ điển Trung Hoa. Thật vậy, mở đọc Nỗi buồn chiến tranh từ những trang đầu tiên là ta nhớ đến “Quốc phá sơn hà tại, Thành xuân thảo mộc thâm” (國破山河在,城春草木深 – bài Xuân Vọng viết năm 756 giữa loạn An Lộc Sơn của Đỗ Phủ), nhớ đến Lũng Tây hành của Trần Đào (Khả liên Vô Định hà biên cốt, Do thị thâm khuê mộng lý nhân.)[7]

Nhân thể cũng nói thêm – Bảo Ninh có viết riêng cho dịch phẩm Trung văn Nỗi buồn chiến tranh bài tựa ngắn (《战争哀歌》中文版自序). Cuối bài tựa có chi tiết kể (tạm dịch): “Tôi còn nhớ khi Nỗi buồn chiến tranh xuất bản trong nước, thân phụ tôi chúc mừng tôi một ly vang, người nâng cốc và ngâm giai tác Lương Châu từ (涼州詞其一) của Vương Hàn cho tôi nghe: Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi. Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.” (保宁,《战争哀歌》(夏露译), 湖南文藝出版社-博集天卷, 2019, tr.3-4). Đến đây chúng tôi xin dừng lại công việc gọi là đọc sâu song ngữ Việt-Trung đoạn mở đầu trang mở đầu Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Việc đọc hiểu này như đã nói, không phải là để tìm kiếm các lỗi dịch thuật. Trái lại nó là một cố gắng thưởng thức sâu hơn nguyên tác và cho thấy những khó khăn gian khổ tột cùng như thế nào trong việc dịch thuật tác phẩm văn chương kiệt tác.

[1] Tây Nguyên có hai mùa rất rõ là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 11 đến tháng 4 năm sau và thời gian còn lại là mùa mưa. Trong bài viết này các trích dẫn từ tiểu thuyết được in nghiêng.

[2] Chí ít thì trong nguyên tác không có từ-ý “tựa hồ” phỏng đoán về cái thời tiết không giống mọi năm ở nơi đây.

[3] Chúng tôi không rõ trong đoạn mở đầu tiểu thuyết ở đây các cách gọi tháng “Tháng Chín và tháng Mười, rồi tháng Mười một nữa đã trôi qua” là chỉ tháng âm hay tháng dương. Rất có thể là chỉ tháng âm, vì tiếp đó trần thuật rõ ràng dùng tên gọi tháng âm – “Và, cho tới tận những ngày đầu tháng Chạp”. Ấn bản Nỗi buồn chiến tranh Nxb Trẻ (2011) dùng cách viết bằng chữ và viết hoa chứ không phải là dùng con số: Tháng Chín, tháng Mười, tháng Mười một, tháng Chạp. Nói chung ta có thể nói một cách xác đáng rằng ở đây người kể chuyện đang tính theo lịch âm (nhân vật đi tìm hài cốt đồng đội trận vong chắc lên kế hoạch công việc theo năm âm lịch, hẳn là anh đã tính đến việc cố gắng trở về nhà kịp trong tháng Chạp ngày Tết). Ấn bản Trung văn dùng con số 10月, 11月, 12 月 thay vì 十月,十一月, 十二月 hay 腊月(thập nguyệt, thập nhất nguyệt, thập nhị nguyệt hay lạp nguyệt). Trong Hán ngữ nói chung dùng con số Ả rập khi chỉ tháng dương, dùng số từ chữ Hán khi chỉ tháng âm, và cũng như ở tiếng Việt, tháng Mười Hai – tháng Chạp cũng có tên riêng là “lạp nguyệt”. 

[4] Trần thuật sau đó của tiểu thuyết: “Vùng này là vùng Kiên thông thuộc, Chính là ở đây vào cuối mùa khô năm 69, mùa khô cực kì cùng khốn của toàn cõi B3, tiểu đoàn 27 độc lập, cái tiểu đoàn bất hạnh mà anh là một trong mươi người may mắn còn được sống, đã bị bao vây rồi bị tiêu diệt mất hoàn toàn phiên hiệu. Một trận đánh ghê rợn, độc ác bạo tàn…” (Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh. Hà Nội: Nxb Trẻ, 2011, tr.7).

[5] Dịch giả bản tiếng Anh The Sorrow of War Phan Thanh Hảo đã lưu ý về việc Frank Palmos đã biên tập sai như thế nào khi đưa thêm chi tiết “MIA” này vào bản dịch tiếng Anh của bà: “Bạn thấy đấy, sau chiến tranh, những người lính đi tìm hài cốt của đồng đội, bởi vì những người lính ấy đã từng hứa với nhau, nếu ai mất đi, người còn sống sót sẽ tìm, và đem hài cốt về quê hương. Và việc đi tìm là do các đơn vị khác nhau thực thi, hoàn toàn tự nguyện. Điều đó nói lên cả cái nhân văn của đất nước mình, làm xúc động độc giả. Chứ hồi đó chưa có những người tìm kiếm chuyên nghiệp của Nhà nước, như các đội tìm kiếm MIA của Mỹ. Thế mà Frank Palmos đã sửa thành các đội MIA của Việt Nam, như là một nhiệm vụ được giao.”  (Huỳnh Phan. “Chuyện bây giờ mới kể của người đã dịch “Nỗi buồn chiến tranh” sang tiếng Anh”. 24 Sep. 2020.< https://viettimes.vn).

[6] Tiểu đoạn dẫn trên là đoạn cuối của trường đoạn mở đầu tiểu thuyết của Bảo Ninh. Như ta đã thấy Nỗi buồn chiến tranh triển khai kết cấu văn bản tiểu thuyết “dòng ý thức”. Ấn bản tiểu thuyết này là một chuỗi liên tục những trường đoạn trần thuật nối tiếp, các trường đoạn này phân cách với nhau qua một khoảng trống trang in nhất định. Bản Trung văn điện tử 天津博集新媒科技有限公司授权京东电子版制作与发行 (战争哀歌 — (越)保宁 -京东阅读-在线阅读 jd.com) đã chia văn bản tiểu thuyết này thành các chương.

[7] Nguyên văn: 誓掃匈奴不顧身,五千貂錦喪胡塵。可憐無定河邊骨,猶是深閨夢裡人。(bài 隴西行其二, Thề quét sạch giặc Hung Nô chẳng tiếc thân, Năm nghìn chiến sĩ mặc áo gấm, đội mũ da điêu vùi xác nơi bụi Hồ.

Đáng thương cho những bộ xương bên bờ sông Vô Định, Vẫn còn là người trong mộng nơi khuê phòng.).

Bình luận về bài viết này