Chiến dịch Kẹp Giấy: Kế hoạch Tình báo Đưa các Khoa học gia Quốc xã đến Mỹ (Bài 11)

Annie Jaconsen

Trần Quang Nghĩa dịch

 PHẦN V 

“Chiến tranh là cha đẻ của mọi thứ.”

CHƯƠNG HAI MƯƠI 

Trong bóng tối

Chiến tranh Lạnh đã trở thành một chiến trường được đánh dấu bằng ngôn ngữ nước đôi. Sự ngụy trang, xuyên tạc và lừa dối được chấp nhận là hiện thực. Sự thật được bảo đảm trong huyết thanh. Và Chiến dịch Kẹp giấy, sinh ra từ đống tro tàn của Thế chiến II, là sự cố kích động trong phòng gương này.

Nhưng vào năm 1952, động lực bất kể hậu quả của Chiến dịch Kẹp giấy bắt đầu chậm lại khi xung đột nổi lên giữa JIOA và CIA về các chính sách với chính phủ Tây Đức mới. Các quan chức Đức đã cảnh báo Cao ủy John J. McCloy rằng Chiến dịch Kẹp giấy đã vi phạm các quy định của NATO và thậm chí cả các chính sách của chính phủ Hoa Kỳ về tiếp quản tại Đức. Vào ngày 21 tháng 2 năm 1952, McCloy đã gửi một bản ghi nhớ cho Ngoại trưởng Hoa Kỳ bày tỏ mối quan ngại của mình rằng nếu Kẹp giấy không bị cắt giảm, nó có thể dẫn đến “phản ứng dữ dội” từ các quan chức ở Tây Đức. McCloy không còn thể hiện nhiệt tình lăn xả đối với Chiến dịch Kẹp giấy như trước nữa, JIOA bắt đầu mất đi sự kiểm soát bất khuất trước đây của mình đối với chương trình này. Nhưng CIA không bị ràng buộc bởi các chính sách của NATO giống như Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, vì vậy CIA tiếp tục làm những gì họ từng làm, cụ thể là tuyển dụng các nhà khoa học và sĩ quan tình báo Đức Quốc xã để làm cố vấn tại Trại King. Mối quan hệ đối tác kéo dài năm năm giữa hai cơ quan bắt đầu tan vỡ.

Các viên chức JIOA trở nên giận dữ khi họ chứng kiến ​​CIA lôi kéo các nhà khoa học và kỹ thuật viên Đức từ danh sách Kẹp Giấy Tăng tốc. Để đáp lại, và bất chấp những yêu cầu khác của McCloy, vào mùa đông năm 1952, JIOA đã chuẩn bị cử một nhóm gồm 20 người đến Frankfurt trong một chuyến đi tuyển dụng. Những đại biểu bao gồm phó giám đốc mới của JIOA, Đại tá Gerold Crabbe; Tướng Walter Dornberger; và 5 nhà khoa học Kẹp giấy giấu tên đang làm việc tại Hoa Kỳ. Khi McCloy biết về chuyến đi, ông đã yêu cầu Bộ Ngoại giao can thiệp và hủy bỏ chuyến đi, vì lo ngại rằng chuyến đi sẽ khiến các viên chức Đức tức giận, và đúng là như vậy. Dù sao thì chuyến đi vẫn diễn ra.

Một thỏa hiệp đã đạt được giữa các quan chức Hoa Kỳ và Văn phòng Thủ tướng Konrad Adenauer theo đó JIOA và CIA đồng ý ngừng tuyển dụng các nhà khoa học mới nhưng có thể tiếp tục làm việc với các nhà khoa học vẫn nằm trong danh sách 1.000 người ban đầu do Tổng thống Truman phê duyệt. Các con số chính thức thay đổi đáng kể trong các nhóm hồ sơ giải mật khác nhau, nhưng có khoảng 600 nhà khoa học Kẹp giấy ở Hoa Kỳ vào thời điểm này, nghĩa là vẫn còn khoảng 400 nhà khoa học Đức trong danh sách mục tiêu. JIOA đổi tên Chiến dịch Kẹp giấy thành Chương trình Nhập cư các Khoa học gia Quốc phòng, gọi tắt là DEFSIP, và CIA đổi tên nhánh hoạt động này  của mình thành chương trình Lợi ích Quốc gia, nhưng hầu hết các bên vẫn gọi tất cả là Chiến dịch Kẹp giấy.

Đó là một đế chế đang suy yếu. Năm 1956, CIA đã nhượng quyền kiểm soát Tổ chức Gehlen cho chính phủ Tây Đức, đổi tên thành BND (Bundesnachrichtendienst). Cựu tướng lĩnh Đức Quốc xã và những tay chân của họ hiện là đặc vụ cho chính phủ của Thủ tướng Adenauer. Sau đó, vào năm 1957, JIOA có một sĩ quan mới là Trung tá Henry Whalen, một người mà hoạt động của ông sẽ có tác động sâu sắc đến di sản của chương trình Kẹp giấy. Đến năm 1959, Whalen được thăng chức phó giám đốc JIOA, điều đó có nghĩa là ông ta có quyền truy cập vào các báo cáo tình báo được phân loại cao về các nhà khoa học làm việc về nguyên tử, sinh học và hóa học. Whalen có một văn phòng tại “Vành đai E” của Lầu Năm Góc, dành riêng cho cấp cao và được phép tiếp cận trực tiếp với Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Trong suốt nhiệm kỳ kéo dài một năm của mình với tư cách là phó giám đốc JIOA, không ai biết rằng Whalen đang làm gián điệp cho Liên Xô. Phải đến năm 1963, FBI mới biết rằng y đã chuyển giao bí mật quân sự cho Đại tá Sergei Edemski, một điệp viên tình báo GRU đóng giả làm tùy viên quân sự tại đại sứ quán Liên Xô ở Washington. Vào thời điểm đó, Henry Whalen đã rời khỏi JIOA.

Tin Henry Whalen bị bắt được đưa lên mặt báo San Francisco Chronicle

Khi Bộ Tư pháp bắt đầu điều tra Whalen, họ đã tịch thu tất cả các hồ sơ JIOA mà ông đã khai thác. FBI biết được rằng Whalen đã phá hủy hoặc cho đi hàng nghìn tập tin Kẹp giấy. Năm 1966, một bồi thẩm đoàn đã được xem bằng chứng trưng ra chống lại Whalen sau cánh cửa đóng kín. Y đã bị truy tố và phiên tòa được tiến hành theo lệnh cấm báo chí đưa tin, cấm báo chí tiếp cận những gì FBI đã biết và lời thú tội của Whalen. Các nhà báo bị cấm đưa tin về phiên tòa và không ai liên kết giữa Whalen, JIOA và Chiến dịch Kẹp giấy. Chương trình nhà khoa học Đức Quốc xã đã từ lâu không còn được nhắc đến trong các cuộc thảo luận công khai. Whalen đã bị kết án 15 năm tù tại một nhà tù liên bang nhưng được ân xá sau sáu năm. Hầu hết cuộc điều tra của FBI về Whalen vẫn được phân loại, điều này có thể giải thích tại sao rất ít hồ sơ Kẹp giấy từ thời điểm đó được lưu giữ tại Cục Lưu trữ Quốc gia.

Năm 1962, JIOA chính thức bị giải tán. Những gì còn lại của chương trình Kẹp giấy đã được Bộ phận Nghiên cứu và Kỹ thuật tại Lầu Năm Góc tiếp quản. Theo Đạo luật Tổ chức lại Bộ Quốc phòng năm 1958, văn phòng mới này đã được thành lập để xử lý các nhu cầu khoa học và kỹ thuật của quân đội dưới quyền một giám đốc khoa học báo cáo với Bộ trưởng Quốc phòng. Đạo luật này cũng đã trao một cơ ngơi cho một cơ quan khoa học tiên tiến mới và tự quản của Lầu Năm Góc, Cục Dự án Nghiên cứu Tiên tiến, hay ARPA, sau này đổi tên thành DARPA với chữ D viết tắt của Defense (Quốc phòng). Giám đốc đầu tiên của Bộ phận Nghiên cứu và Kỹ thuật là nhà vật lý hạt nhân Herbert York. York cũng từng là giám đốc khoa học đầu tiên của ARPA. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu của quốc gia về vũ khí hạt nhân và Tên lửa đạn đạo liên lục địa, hay ICBM.

ICBM là “những đứa con quân sự thực sự mang tính cách mạng” của tên lửa V-2 của Hitler, theo Michael J. Neufeld, người phụ trách Khoa Lịch sử Không gian tại Bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Smithsonian và là tác giả của một số cuốn sách và chuyên khảo về các nhà khoa học tên lửa Đức. ICBM có khả năng mang theo, trong đầu tên lửa, một vũ khí hủy diệt hàng loạt và phóng nó đến mục tiêu ở hầu hết mọi nơi trên thế giới. ICBM đã trở thành cốt lõi của Chiến tranh Lạnh – thanh kiếm tối thượng. Nó cũng trở thành lá chắn tối thượng. “Chiến tranh toàn diện” với Liên Xô chưa bao giờ xảy ra. Chiến tranh Lạnh chưa bao giờ trở thành một cuộc chiến máu lửa. Sự răn đe đã thắng thế.

Ngày nay, Bộ phận Nghiên cứu và Kỹ thuật tại Lầu Năm Góc, đổi tên thành Bộ phận Nghiên cứu và Kỹ thuật Quốc phòng, phát triển tất cả các loại vũ khí thế hệ tiếp theo và vũ khí phản công hủy diệt hàng loạt, những thanh kiếm và lá chắn của thế kỷ 21. Ngày nay cũng như khi Thế chiến II kết thúc, nước Mỹ vẫn dựa vào sự tiến bộ của khoa học, công nghệ và công nghiệp – để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh tiếp theo. Mối quan hệ này được hiểu là tổ hợp công nghiệp-quân sự của nước Mỹ. Chính Tổng thống Eisenhower, trong Diễn văn từ biệt của mình với quốc gia vào năm 1961, đã đặt ra cụm từ này. Eisenhower đã cảnh báo người Mỹ phải cảnh giác với “việc giành lấy ảnh hưởng không xác đáng, dù tìm kiếm hay không, của tổ hợp công nghiệp-quân sự”. Lời cảnh báo của Eisenhower rất nổi tiếng và thường được diễn giải lại. Nhưng ông cũng đưa ra lời cảnh báo thứ hai trong bài phát biểu từ biệt của mình, gần như không được biết đến rộng rãi. Eisenhower đã nói với người dân Mỹ rằng, thực sự, khoa học và nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong an ninh quốc gia, “tuy vậy, trong việc tôn trọng nghiên cứu và khám phá khoa học, như chúng ta nên làm, chúng ta cũng phải cảnh giác với mối nguy hiểm ngang bằng và đối đầu rằng chính sách công có thể trở thành tù nhân của một nhóm tinh hoa khoa học-công nghệ.”

Herbert York, với tư cách là giám đốc ARPA và giám đốc Bộ phận Nghiên cứu và Kỹ thuật tại Lầu Năm Góc, đã làm việc chặt chẽ với Tổng thống Eisenhower về các vấn đề khoa học quân sự trong ba năm cuối nhiệm kỳ tổng thống của Eisenhower. Ông vô cùng lo lắng về những lời của Eisenhower trong Diễn văn từ biệt của mình. “Các nhà khoa học và chuyên gia công nghệ đã có được danh tiếng là những nhà ảo thuật có thể tiếp cận một nguồn thông tin và trí tuệ đặc biệt mà phần còn lại của nhân loại không thể với tới”, York nói. Vào giữa những năm 1960, York đã đến thăm Eisenhower tại ngôi nhà mùa đông của cựu tổng thống, ở sa mạc California. “Tôi đã yêu cầu ông ấy giải thích đầy đủ hơn về những gì ông ấy muốn nói khi đưa ra những cảnh báo, nhưng ông ấy đã từ chối”, York nói. “Tôi đã thúc đẩy dòng câu hỏi này hơn nữa bằng cách hỏi ông ấy liệu ông ấy có nghĩ đến bất kỳ nhân vật cụ thể nào khi ông ấy cảnh báo chúng ta về ‘mối nguy hiểm mà chính sách công có thể trở thành tù nhân của một nhóm tinh hoa khoa học-công nghệ'”. York đã rất ngạc nhiên khi Eisenhower “trả lời không chút do dự: ‘(Wernher) von Braun và (Edward) Teller [cha đẻ của bom khinh khí].”

York đã dành nhiều thập kỷ để cân nhắc những gì Tổng thống đã nói với mình. “Những lời cảnh báo của Eisenhower phần lớn dựa trên trực giác cá nhân, chỉ ra những vấn đề rất thực tế và cực kỳ nghiêm trọng. Nếu chúng ta quên hoặc hạ thấp những lời cảnh báo của ông, thì chúng ta sẽ gặp nguy hiểm”, York viết trong hồi ký của mình, Arms and the Physicist (Vũ khí và các nhà Vật lý), vào năm 1995.

Di sản của một số nhà khoa học của Chiến dịch Kẹp giấy với tư cách cá nhân song hành với di sản của nhiều chương trình vũ khí Chiến tranh Lạnh mà họ tham gia. Các chương trình vũ khí sinh học và hóa học hiện có thể được coi là những thất bại rõ ràng và là sản phẩm của thông tin tình báo mơ hồ và thường sai lầm. Cũng giống như mối quan hệ của Quân đoàn Hóa học với cựu Chuẩn tướng SS Tiến sĩ Walter Schieber. Các hồ sơ giải mật tiết lộ rằng Schieber đã phản bội người Mỹ ngay từ khi ông bắt đầu làm việc cho Quân đội Hoa Kỳ tại Đức, bao gồm toàn bộ thời gian ông làm việc cho Chuẩn tướng Charles Loucks trong dự án khí sarin tại nhà riêng của Loucks ở Heidelberg. Phải đến năm 1950, tình báo quân sự mới xác định rằng có điều gì đó về người hầu đáng tin cậy của Hitler là không ổn, và thậm chí còn lâu hơn nữa để nhận ra đầy đủ mức độ mà người đứng đầu Văn phòng Cung cấp Vũ khí của Speer đã lừa dối họ. Gần như ngay sau khi Schieber được thả khỏi Nuremberg, ông ta bắt đầu sử dụng các mối liên hệ cũ thời Đức Quốc xã để bán vũ khí hạng nặng cho ít nhất một quốc gia thù địch thông qua một trung gian Thụy Sĩ. Năm 1950, tình báo quân sự đã chặn được một lá thư dài bốn trang gửi cho Schieber, được gửi từ Thụy Sĩ. Không có địa chỉ người gửi trên phong bì và chỉ có một chữ ký không thể đọc được bên trong. Người viết thư đã thảo luận với Schieber về việc bán vũ khí cho bên thứ ba, mô tả người mua là “Một Hoàng tử của Hoàng gia”, mà tình báo quân sự suy đoán là một mật danh. “Họ đang tìm kiếm mọi thứ, xe tăng, máy bay, v.v., vũ khí, đạn dược nói tóm lại là mọi thứ liên quan đến vũ khí. Tôi không thể viết tất cả những điều đó trong một bức điện tín”, tác giả đã viết; người này đã yêu cầu “súng chống tăng PAK, sẵn sàng trả 5.000 đô la một khẩu; vũ khí 75 mm với giá 3.000-4.000 đô la một khẩu, và 50 mm (khoảng 2.000 đô la).” Đây là “một thỏa thuận kinh doanh hạng nhất nếu chúng tôi có thể sắp xếp được”, người trung gian hứa hẹn.

Đặc vụ Carlton F. Maxwell, chỉ huy của Đội CIC tại Heidelberg, được giao nhiệm vụ phân tích lá thư và tình hình. Maxwell nhanh chóng xác định rằng lá thư là xác thực  và những hàm ý của nó rất nguy hiểm. “Tiến sĩ Schieber, được mô tả là một nhà khoa học cực kỳ có giá trị làm việc cho Bộ phận Hóa học, EUCOM, nơi ông có thể tiếp cận thông tin của Quân đoàn Hóa học có tính chất được phân loại cao, dường như là một người mà Hoa Kỳ khó có thể cho phép tham gia vào bất kỳ loại kế hoạch quốc tế nào có bản chất mà lá thư dường như ám chỉ”, Maxwell viết. “Những mối liên hệ của Đối tượng trong thời kỳ chế độ Đức Quốc xã với ngành công nghiệp vũ khí, với tư cách là Trưởng phòng Cung ứng Vũ khí dưới quyền Tiến sĩ Albert Speer, sẽ khiến ông trở nên có giá trị như một cố vấn và trung gian trong bất kỳ loại kế hoạch nào liên quan đến việc bán và vận chuyển vũ khí bất hợp pháp”. Điều đáng chú ý là mặc dù có nhiều dấu hiệu cảnh báo, Quân đội Hoa Kỳ vẫn đặt nhiều niềm tin vào Schieber ngay từ đầu và Tướng Loucks được phép thực hiện các thỏa thuận bí mật với ông.

Đặc vụ Maxwell lo ngại rằng “dựa trên dấu hiệu gần đây về sự hồi sinh của hoạt động cánh hữu, không phải là không thể hình dung ra rằng những vũ khí này có thể được sử dụng trong một cuộc đảo chính quân chủ Đức có thể xảy ra”. Maxwell khuyên cần phải theo dõi chặt chẽ Schieber. Quân đoàn phản gián đã theo dõi ông ta và bám theo ông ta vào khu vực Liên Xô. Trong vòng bốn tháng, CIC xác nhận, “Schieber có các mối liên lạc tình báo. Đối tượng này có liên quan theo một cách nào đó đến MGB [Ministerstvo Gosudarstvennoi Bezopasnosti, hay Bộ An ninh Nhà nước, tiền thân của Komitet Gosudarstvennoi Bezopasnosti, hay KGB] ở Weimar”, Maxwell biết được.

Maxwell khuyên cấp trên của mình rằng có vẻ như Schieber là gián điệp Liên Xô và tóm tắt những nguy hiểm liên quan. Schieber đã được phép tiếp cận với tài liệu được phân loại cao cho Quân đoàn Hóa học Hoa Kỳ, bao gồm nhưng không giới hạn ở khí độc thần kinh tabun và sarin. Ông đã làm việc trong các dự án thiết kế được phân loại liên quan đến hệ thống boongke ngầm cho Không quân Hoa Kỳ, những dự án được cho là sẽ bảo vệ các tài sản quân sự lớn nhất của chính phủ Hoa Kỳ trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công hạt nhân. Và bây giờ ông đang gặp gỡ các đặc vụ Liên Xô có liên hệ với cơ quan tình báo. Maxwell được yêu cầu thông báo cho CIA. Phản ứng từ Cục thật đáng ngạc nhiên. “Quên chuyện đó đi”, CIA nói với Maxwell, và ông được chỉ thị chia sẻ thông điệp này với các đồng nghiệp của mình trong Quân đoàn Phản gián. Theo các bản ghi nhớ được giải mật trong hồ sơ của Schieber, ngoài việc làm việc cho Quân đoàn Hóa học, Schieber còn làm việc cho CIA. Cơ quan này nói với Đặc vụ Maxwell rằng họ đã kiểm soát được Schieber. Liệu điều đó có nghĩa là Schieber đang do thám Liên Xô như một phần trong kế hoạch của Cục hay ông đang phản bội cả hai quốc gia vẫn còn là một bí ẩn. Dù thế nào đi nữa, ông cũng đang làm việc cho một vụ buôn bán vũ khí bất hợp pháp. Theo một bản ghi nhớ đã giải mật trong hồ sơ vụ án nước ngoài của Schieber, ông vẫn nằm trong danh sách trả lương của Chiến dịch Kẹp giấy cho đến năm 1956.

Tại Hoa Kỳ, Tiến sĩ Walter Schieber đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong tương lai của Quân đoàn Hóa học Hoa Kỳ. Sau khi ông và nhóm các nhà hóa học Farben cung cấp cho Tướng Loucks bí mật về khí sarin, Hoa Kỳ bắt đầu tích trữ chất độc thần kinh chết người này để sử dụng trong trường hợp xảy ra chiến tranh toàn diện. Chương trình này được đẩy nhanh khi Chiến tranh Triều Tiên bắt đầu. Vào ngày 31 tháng 10 năm 1950, Bộ trưởng Quốc phòng George C. Marshall đã phê duyệt 50 triệu đô la (khoảng 500 triệu đô la vào năm 2013) để thiết kế, chế tạo và xây dựng hai cơ sở sản xuất sarin riêng biệt, một ở Muscle Shoals, Alabama và một cơ sở khác bên trong Kho vũ khí Rocky Mountain. Hầu hết thông tin về vũ khí sinh học và hóa học đều được phân loại và không ai ngoài một nhóm nòng cốt gồm các nghị sĩ cấp cao đã phân bổ tiền cho các chương trình này có nhu cầu biết về chúng. “Chỉ có năm thành viên của Ủy ban Tài chính Hạ viện, và không quá 5 phần trăm toàn bộ Hạ viện, được phép tiếp cận thông tin về vũ khí hóa học và sinh học”, chuyên gia về vũ khí hóa học Jonathan Tucker viết. “Kết quả là, chỉ một nhóm nhỏ các nghị sĩ cấp cao có quyền phân bổ tiền cho các chương trình này trong phiên họp kín và sau đó chôn vùi các mục trong các dự luật tài chính khổng lồ được đưa ra để bỏ phiếu mà không có nhiều thông báo trước, do đó, ít thành viên có thời gian để đọc chúng”.

Sản xuất sarin tăng vọt với tốc độ chóng mặt. 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, 365 ngày một năm, hai nhà máy này sản xuất hàng nghìn tấn chất độc thần kinh sarin mỗi năm. Cơ sở tại Rocky Mountain Arsenal, có mật danh là Tòa nhà 1501, là một lô cốt năm tầng không có cửa sổ được thiết kế để chịu được động đất 6,0 độ richter và sức gió 100 dặm/giờ. Đây là công trình bê tông đổ lớn nhất tại Hoa Kỳ và trong nhiều năm, không ai ở Mỹ không có nhu cầu muốn biết lại biết được chuyện gì đang xảy ra bên trong. Quân đoàn Hóa học cũng đẩy nhanh chương trình đạn dược cho trận chiến  hóa học của mình, phát triển các loại vũ khí hiện đại để đưa chất độc thần kinh chết người vào chiến trường. Tại nhà máy nạp đạn Rocky Flats, sarin được lắp vào đạn pháo, bom trên không, tên lửa và đầu đạn cho tên lửa, với xi lanh chứa 75 quả bom mini chứa đầy sarin được lắp chặt bên trong, với phương thức phát tán được ưa chuộng là bom chùm M34, một quả bom nặng 1.000 cân.

Ngay sau khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc với lệnh ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, Quân đoàn Hóa học bắt đầu phát hành các thông báo dịch vụ công cộng để giáo dục người Mỹ về chiến tranh hóa học. Vào tháng 11 năm 1953, khi tạp chí Collier đăng bài “G-Gas: Một vũ khí mới gây kinh hoàng. Chúng ta sở hữu nó, Nga cũng vậy”, công chúng lần đầu tiên biết rằng Thế chiến thứ III với Liên Xô rất có thể sẽ liên quan đến chất độc thần kinh. Nhà báo Cornelius Ryan đã trình bày thông tin về sarin theo cách khắc nghiệt nhất. “Ngay bây giờ, bạn và gia đình bạn – tất cả chúng ta đều không được bảo vệ trước mối đe dọa của một vũ khí khủng bố có thể gây tử vong nhiều hơn cả bom nguyên tử”. Quân đội mô tả sarin là “một loại khí thần kinh không mùi, không màu, không vị được thiết kế để tiêu diệt con người một cách đột ngột đến tê liệt” và cảnh báo người Mỹ về một “cuộc tấn công kiểu Trân Châu Cảng” có thể xảy ra. Ryan đã mô tả cho độc giả một kịch bản trong đó một máy bay ném bom chiến lược của Nga, Tu-4, mang theo 7 tấn bom sarin, sẽ thả bom xuống một thành phố của Mỹ, giết chết mọi người không được bảo vệ trong khu vực 100 dặm vuông trong vòng bốn phút tấn công. Chỉ huy Quân đoàn Hóa học, Thiếu tướng E. F. Bullene, đã hứa với quốc gia rằng cách phòng thủ duy nhất là tấn công. “Vào thời điểm này, cách an toàn duy nhất là chuẩn bị để tự vệ và sẵn sàng sử dụng khí độc với số lượng lấn át.” Chiến thuật “Bên miệng hố chiến tranh” là hành động đẩy các sự kiện nguy hiểm đến bờ vực thảm họa, là tâm lý mới của Chiến tranh Lạnh.

Năm 1957, sau nhiều năm sản xuất sarin và nạp đạn dược liên tục, Quân đoàn Hóa học cuối cùng đã đáp ứng được yêu cầu về kho dự trữ của Bộ Quốc phòng. Cùng năm đó, các nhà hóa học Edgewood đã tìm ra một loại thuốc diệt côn trùng thậm chí còn nguy hiểm hơn, “một loại thuốc trừ sâu độc hại thấm qua da như nọc rắn”, Jonathan Tucker giải thích. Chất độc thần kinh này có mật danh là VX (chữ V là viết tắt của venomous – độc), một loại thuốc diệt côn trùng trên chiến trường độc gấp ba lần sarin khi hít vào và độc gấp một nghìn lần khi tiếp xúc với da. Mười miligam VX có thể giết chết một người trong mười lăm phút. VX sẽ hiệu quả hơn nhiều trên chiến trường so với sarin; sarin tan biến trong vòng 15 phút hoặc lâu hơn, nhưng khi phun VX, nó sẽ tồn tại trên mặt đất tới 21 ngày. Bây giờ, vào năm 1957, Quân đoàn Hóa học bắt đầu sản xuất VX với số lượng hàng nghìn tấn. Nhà khoa học Fritz Hoffimann của Chiến dịch Kẹp giấy đã chuyển từ tổng hợp tabun tại Edgewood sang làm việc trên đạn độc dược VX. Nhưng di sản ám ảnh hơn của Fritz Hoffmann nằm ở công việc ông thực hiện cho Bộ phận Hoạt động Đặc biệt của CIA và bộ phận chống thực vật của Quân đoàn Hóa học. Các tác nhân chống thực vật bao gồm các tác nhân gây bệnh hóa học hoặc sinh học, cũng như côn trùng, sau đó được sử dụng như một phần của chương trình để gây hại cho cây trồng, lá cây hoặc các loại thực vật khác.

Sau cái chết của Frank Olson, Quân đoàn Hoạt động Đặc biệt tiếp tục các chương trình kiểm soát tâm trí bằng LSD. Nhưng Sidney Gottlieb, người đã đề xuất đầu độc Frank Olson tại ngôi nhà an toàn của CIA ở Deep Creek Lake, Maryland, được giao nhiệm vụ trong chương trình ám sát bằng chất độc của CIA. Fritz Hoffmann là một trong những nhà hóa học cốt lõi của chương trình này. “Ông ấy là người tìm kiếm của chúng tôi”, giám đốc phòng thí nghiệm Edgewood, Tiến sĩ Seymour Silver nói với nhà báo Linda Hunt. “Ông ấy là người đã thu hút sự chú ý của chúng tôi về bất kỳ khám phá nào xảy ra trên khắp thế giới và sau đó nói, ‘Đây là một loại hóa chất mới, các anh nên thử nghiệm nó.”

Con gái của Hoffmann, Gabriella, nhớ về người cha cao lớn và nói năng nhỏ nhẹ khác thường của mình, thường xuyên đi khắp thế giới vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, luôn có quân đội hộ tống, thu thập các loại chất độc bí ẩn từ những con cóc, cá và thực vật kỳ lạ. “Ông ấy sẽ gửi cho tôi những tấm bưu thiếp từ những nơi như Nhật Bản, Úc và Hawaii”, cô nhớ lại. “Ông ấy luôn di chuyển bằng máy bay quân sự và luôn được nhân viên quân sự hộ tống. Họ sẽ đón ông ấy tại nhà chúng tôi và đưa ông ấy về nhà vào tối Chủ Nhật.” Khi đó là một thiếu niên, Gabriella Hoffmann nhớ lại những món đồ khác thường  mà cha cô hay mang về nhà. “Ông ấy sẽ dỡ hành lý trước khi quay lại Edgewood vào thứ Hai và trong vali của ông ấy sẽ có tất cả những chiếc lọ nhỏ này. Chúng chứa đầy nhím biển và nhiều thứ khác. Tất cả đều có vẻ rất kỳ lạ đối với tôi.”

Các loại thuốc độc mà Fritz Hoffmann tìm kiếm cho CIA bao gồm các chất như curare, một loại thuốc độc từ ống thổi của thổ dân Nam Mỹ có thể làm tê liệt và giết chết người. Curare là loại thuốc độc mà các phi công U-2 của CIA mang theo trong quân phục bay, giấu bên trong một vỏ bọc nhỏ được nhét vào một đồng xu Mỹ. Bộ phận Hoạt động Đặc biệt có một Chi nhánh Thiết bị, do Herb Tanner, đồng thiết kế của Quả bóng Tám, điều hành. Chi nhánh Thiết bị chịu trách nhiệm về phần cứng đằng sau các hệ thống phân phối, bao gồm bút máy chứa đầy đạn độc, cặp đựng phát tán khí dung vi khuẩn, kẹo tẩm độc, bột vô hình và “thiết bị tiêm chủng vi sinh không thể phát hiện”, một khẩu súng phi tiêu công nghệ cao tiêm một mũi phi tiêu nhỏ có đầu tẩm độc vào mạch máu mà không để lại dấu vết trên cơ thể.

Trong những tình huống khác, CIA phải có nhiệm vụ định vị và vũ khí khóa một loại thuốc độc khiến tử vong xảy ra sau một thời gian trì hoãn, đôi khi thời gian ủ bệnh khoảng tám hoặc mười hai giờ, đôi khi lâu hơn nhiều. Chi nhánh điệp viên của Bộ phận Hoạt động Đặc biệt làm việc để tìm ra các loại thuốc độc có thể khiến mục tiêu bị bệnh nhẹ trong một thời gian ngắn hoặc dài sau đó là tử vong, bị bệnh rất nặng trong một thời gian ngắn hoặc dài sau đó là tử vong, hoặc bất kỳ số lượng kết hợp nào, bao gồm cả bệnh nhẹ đến nặng sau đó là tử vong. Lý do đằng sau việc ám sát ai đó với thời gian trì hoãn tích hợp là để cho kẻ ám sát trốn thoát và đánh lạc hướng sự nghi ngờ. Các mục tiêu của Bộ phận Hoạt động Đặc biệt  bao gồm Fidel Castro, mà thức uống yêu thích của ông, một ly sữa lắc, CIA đã cố gắng đầu độc nhiều lần.

Một mục tiêu khác của CIA là Patrice Lumumba, thủ tướng đầu tiên được bầu hợp pháp của Congo, người mà CIA tin là một con rối của Liên Xô. Sidney Gottlieb, người đã đầu độc Frank Olson, được giao nhiệm vụ ám sát. Gottlieb sau đó đã nói với các nhà điều tra quốc hội rằng đối với nhiệm vụ này, ông cần phải tìm ra một loại thuốc độc “có nguồn gốc từ khu vực đó [Congo] và có thể gây tử vong”. Gottlieb đã quyết định dùng độc tố botulinum. Được trang bị loại độc tố này giấu bên trong một lọ thủy tinh trong một túi đựng ngoại giao, Sidney Gottlieb đã đến Congo với ý định giết bản thân Thủ tướng Lumumba. Ngày 26 tháng 9 năm 1960, Gottlieb đến thủ đô Léopoldville và đi đến đại sứ quán Hoa Kỳ. Ở đó, Đại sứ Lawrence Devlin đang đợi ông.

Hai ngày trước, Đại sứ Devlin đã nhận được một bức điện tuyệt mật từ giám đốc CIA Allen Dulles. “Chúng tôi muốn cung cấp mọi sự hỗ trợ có thể để loại bỏ Lumumba khỏi mọi khả năng [sic] tiếp tục giữ chức vụ trong chính phủ”, Dulles viết. Đại sứ Devlin biết rằng mình phải để mắt đến một vị khách tự giới thiệu là “Joe từ Paris”. Đó chính là Sidney Gottlieb. Kế hoạch của Gottlieb là tiêm độc tố botulinum vào tuýp kem đánh răng của Lumumba bằng một ống tiêm dưới da. Lý tưởng nhất là Lumumba sẽ đánh răng và tám giờ sau, ông ta sẽ chết. Nhưng khi ở Léopoldville, Gottlieb không thể đến gần Thủ tướng Lumumba, người đang sống trong một ngôi nhà trên một vách đá cao trên Sông Congo. Lumumba liên tục được vệ sĩ bao quanh. Sau vài ngày, độc tố botulinum mất tác dụng. Gottlieb trộn nó với clo, rồi ném xuống Sông Congo và rời khỏi Châu Phi. Patrice Lumumba qua đời vào tháng 1 năm sau, bị đánh chết – được cho là do lính đánh thuê Bỉ gây ra.

“Cha tôi hiểu những rủi ro khi trở thành một nhà hóa học tại Edgewood”, Gabriella Hoffmann nói. “Vì ông ấy không bao giờ nói về bất cứ điều gì mình đã làm nên có rất nhiều điều tôi chưa biết”. Đối với Gabriella Hoffmann, ký ức về một tuổi thơ khác thường bao gồm những chuyến đi đến các căn cứ quân sự. “Bất cứ khi nào chúng tôi đi du lịch, tôi và bố mẹ tôi, thì luôn là đến một cơ sở quân sự. Chúng tôi đã đến White Sands ở New Mexico. Chúng tôi đã đến các căn cứ quân sự ở California, Arizona, Bắc Dakota và Dugway, Utah. Tôi nhớ bố đã có một bài giảng tại Bãi Thử Dugwaym”. Hoffmann là một nhân vật chủ chốt trong một số chương trình chính phủ bí ẩn và gây tranh cãi nhất của những năm 1950 và 1960, nhưng hồ sơ về hầu hết các công trình của ông đã bị phá hủy hoặc, tính đến năm 2013, vẫn được phân loại. Gabriella Hoffmann không biết gì về di sản của cha mình, cũng như hầu hết những người còn lại trên thế giới.

Những gì còn lại là ký ức của Gabriella Hoffmann về nhóm bầu bạn làm việc chung của cha cô. Tiến sĩ L. Wilson Greene, người đã đặt ra thuật ngữ “chiến tranh tâm lý hóa học”, sống ở cuối phố và là đồng nghiệp và bạn của gia đình. Vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, Greene tiếp tục nghiên cứu LSD cho quân đội và các chương trình chiến tranh tâm lý hóa học của CIA. LSD và các tác nhân gây mất khả năng khác đã được thử nghiệm trên hàng nghìn binh lính và thủy thủ Hoa Kỳ với mức độ đồng ý có thông báo đáng ngờ. Đối với Gabriella Hoffmann, Greene chỉ đơn giản là một người hàng xóm lập dị. “Tôi nhớ đã đến nhà Greenes để xem khu vườn tàu hỏa tuyệt đẹp, sở thích của ông, mà ông đã xây dựng ở tầng hầm. Nó có những ngọn đồi, thị trấn và những hình người nhỏ bé. Những ao hồ, ánh đèn và những đoàn tàu huýt còi và chạy ầm ầm cùng những làn khói. Sự chú ý và hứng thú của tôi chỉ dành cho những đoàn tàu.” Một người hàng xóm khác thường khác trên cùng một con phố là Maurice Weeks, từ Ban Nghiên cứu Y khoa tại Edgewood. Weeks là trưởng Phòng Hơi Độc, có chuyên môn về “độc tính khi hít phải của các sản phẩm đốt cháy”, và dành thời gian nghiên cứu cách các tác nhân sinh học và hóa học trở nên nguy hiểm hơn khi có khói và khí. Điều này tiếp tục từ chỗ nghiên cứu của Tiến sĩ Kurt Blome dừng lại; Blome đã thảo luận về nó trong các cuộc tham vấn Chiến dịch Kẹp giấy ở Heidelberg. “Maurice Weeks là hàng xóm của chúng tôi”, Gabriella Hoffmann nhớ lại. “Con trai ông ấy, Christopher, và tôi là những người bạn thân thiết nhất. Có rất nhiều con khỉ trong lồng ở sân sau nhà Christopher. Christopher và tôi thường tự giải trí bằng cách ngắm nhìn những con khỉ này hàng giờ liền. Rõ ràng là lúc đó tôi không bao giờ hiểu được mục đích của chúng.” Gabriella chỉ biết được bản chất thực sự của công việc của cha cô thông qua các cuộc phỏng vấn cho cuốn sách này.

Điều kỳ lạ, bi thảm về Fritz Hoffmann và di sản của ông trong Chiến dịch Kẹp giấy là trong chiến tranh, ông chống Đức Quốc xã – ít nhất là theo bản tuyên thệ do nhà ngoại giao Mỹ thời chiến Sam Woods viết. Vậy mà ở tại Hoa Kỳ, làm việc cho Quân đoàn Hóa học Lục quân và CIA, các dự án khoa học của Fritz Hoffmann đã có một cuộc sống quái dị của riêng chúng. Điều này bao gồm cả những gì con gái ông tin là một vai trò trong việc phát triển Chất độc Da cam, vũ khí chống thực vật hoặc thuốc diệt cỏ, được quân đội Hoa Kỳ sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam.

“Trong Chiến tranh Việt Nam, tôi nhớ có một buổi tối chúng tôi ngồi vào bàn ăn và tin tức chiến sự được phát trên truyền hình”, Gabriella Hoffmann giải thích. Cả gia đình đang xem TV. “Bố thường là người ít nói, vì vậy mỗi khi ông lên tiếng, bạn sẽ nhớ lâu. Ông chỉ vào bản tin, bạn có thể thấy những cánh rừng rậm của Việt Nam, và ông nói, ‘Chẳng phải sẽ dễ hơn nếu nhổ  trụi lá cây để ta có thể nhìn thấy kẻ thù sao?’ Đó là những gì ông nói. Tôi nhớ rất rõ. Nhiều năm sau, tôi biết được một trong những dự án của bố là phát triển Chất độc Da cam”.

Chương trình chiến tranh diệt cỏ của quân đội trong Chiến tranh Việt Nam bắt đầu vào tháng 8 năm 1961 và kéo dài đến tháng 2 năm 1971. Hơn 11,4 triệu gallon

chất độc màu da cam đã được rải trên khoảng 24 phần trăm diện tích Nam Việt Nam, phá hủy 5 triệu mẫu Anh đất cao nguyên và rừng và 500.000 mẫu Anh cây lương thực – một diện tích tương đương với diện tích của tiểu bang Massachusetts. Thêm 8 triệu gallon chất độc chống mùa màng khác, có tên mã là Chất độc Trắng, Xanh lam, Tím, Hồng và Xanh lục, cũng đã được rải, chủ yếu từ máy bay chở hàng C-123. Fritz Hoffmann là một trong những nhà khoa học đầu tiên của Quân đoàn Hóa học Lục quân Hoa Kỳ nghiên cứu về tác động độc hại của dioxin – có thể là vào giữa những năm 1950 nhưng chắc chắn là vào năm 1959 – như đã chỉ ra trong cái được gọi là Báo cáo Chuyến đi của Hoffmann. Tài liệu này được sử dụng trong hầu hết mọi hồ sơ pháp lý liên quan đến việc kiện tụng của các cựu chiến binh quân đội Hoa Kỳ chống lại chính phủ Hoa Kỳ và các nhà sản xuất hóa chất vì đã sử dụng thuốc diệt cỏ và thuốc làm rụng lá trong Chiến tranh Việt Nam.

Gabriella Hoffmann tin rằng chính những tác động lâu dài của chương trình Chất độc Da cam hẳn đã hủy hoại cha cô, nếu ông biết. “Chất độc Da cam không chỉ làm rụng lá cây mà còn gây ra tác hại lớn cho trẻ em”, Gabriella Hoffmann nói. “Lúc đó, cha tôi đã chết và tôi nhớ mình đã nghĩ, Cảm ơn Chúa. Biết được điều đó, ông ấy sẽ chết mất. Ông ấy là một người đàn ông hiền lành. Ông ấy còn không làm hại một con ruồi”.

Cái chết không đúng lúc của Fritz Hoffmann giống như một điều gì đó trong sổ tay hướng dẫn của Chi nhánh Chất độc thuộc Bộ phận Hoạt động Đặc biệt. Ông mắc một căn bệnh nghiêm trọng, phát triển nhanh, kéo dài trong thời gian tương đối ngắn và sau đó là cái chết. Vào đêm Giáng sinh năm 1966, Fritz Hoffmann được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Đau đớn tột cùng, ông nằm trên giường xem chương trình truyền hình yêu thích của mình “Cowboy westerns và Rod Serling in The Twilight Zone“, Gabriella Hoffmann nhớ lại. Một trăm ngày sau, Fritz Hoffmann qua đời. Ông hưởng dương năm mươi sáu tuổi.

“Ông ấy đã cố gắng, thỉnh thoảng, đi làm,” Gabriella Hoffmann nhớ lại, “nhưng ông ấy quá đau đớn. Tôi nhớ có rất nhiều người khác nhau mặc vest tối màu luôn đến nhà để nói chuyện với ông ấy. Vào thời điểm đó, Demerol là một loại thuốc giảm đau vừa mới có trên thị trường. Ông ấy có đơn thuốc cho loại thuốc này, từ một bác sĩ ở Edgewood. Trong thời gian ông ấy hấp hối, có rất nhiều câu hỏi được đặt ra cho mẹ tôi và tôi khiến tôi nghĩ rằng FBI hoặc CIA, hoặc bất kỳ ai trong số những người đàn ông mặc vest tối màu, ắt hẳn lo lắng là cha tôi sẽ bắt đầu tiết lộ về bất cứ việc gì ông ấy đã làm. Ông ấy không hề thổ lộ bất cứ điều gì. Ông ấy im lặng cho đến phút cuối cùng.”

___

Công trình nghiên cứu thuốc diệt cây cỏ của Hoffmann là một yếu tố trong bộ phận vũ khí sinh học gồm ba yếu tố của Detrick, hai yếu tố còn lại là diệt con người và diệt động vật. Vũ khí diệt động vật nhằm mục đích giết chết toàn bộ quần thể động vật, với mục tiêu là gây nạn đói cho những người dựa vào những con vật đó để làm thức ăn. Tại trung tâm của chương trình diệt động vật của Hoa Kỳ là Tiến sĩ Erich Traub của Chiến dịch Kẹp giấy, phó của Tiến sĩ Kurt Blome. Traub được Charles McPherson, người quản lý của Tiến sĩ Blome, tuyển dụng vào chương trình Kẹp giấy Tăng tốc và đến Hoa Kỳ vào ngày 4 tháng 4 năm 1949.

Traub làm việc về nghiên cứu virus tại Viện Nghiên cứu Y khoa Hải quân, ở Bethesda, Maryland. Hầu như tất cả các công trình của Traub vẫn được phân loại tính đến năm 2013. Tại Viện Nghiên cứu Y khoa Hải quân, Traub đã trở nên thân thiện với nhà sinh lý học và chuyên gia giảm áp không kiểm soát của Không quân Đức trước đây, Tiến sĩ Theodor Benzinger, người có công trình đầu tiên cho hải quân cũng vẫn được phân loại. Ngoài việc làm việc cho hải quân, Traub còn làm việc tại Trại Detrick về nghiên cứu diệt động vật. Các tác nhân và bệnh tật mà các nhà nghiên cứu Detrick đang nghiên cứu vào thời điểm này, nhằm mục đích tiêu diệt một quần thể động vật cụ thể, bao gồm dịch tả trâu bò, bệnh lở mồm long móng, bệnh do virus III ở lợn (có khả năng là sốt lợn châu Phi), dịch hạch gia cầm, bệnh Newcastle và sốt rét ở gia cầm. Tất cả các công trình của Traub tại Trại Detrick vẫn được phân loại tính đến năm 2013.

Năm 1948, Quốc hội đã phê duyệt ngân sách 30 triệu đô la cho nghiên cứu vũ khí chống động vật (khoảng 300 triệu đô la vào năm 2013), nhưng vì công việc này quá nguy hiểm nên Quốc hội đã ra lệnh rằng nó cần phải diễn ra bên ngoài lục địa Hoa Kỳ, trên một hòn đảo và không được kết nối với đất liền gần nhất bằng một cây cầu. Các kế hoạch được tiến hành và quân đội đã chọn Đảo Plum, một lô đất rộng 1,3 dặm vuông nằm ngoài khơi bờ biển Connecticut ở Eo biển Long Island. Lựa chọn rõ ràng cho một giám đốc là chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu chống động vật, Tiến sĩ Erich Traub. Nhưng kế hoạch kích hoạt Đảo Plum để nghiên cứu vũ khí sinh học đã bị đình trệ trong nhiều năm.

Traub nhận được thị thực nhập cư vào ngày 7 tháng 9 năm 1951 và ông làm việc trong các chương trình được phân loại trong ba năm nữa. Sau đó, trong những hoàn cảnh bí ẩn, vào năm 1954, ông đã từ chức bác sĩ giám sát vi khuẩn học tại Viện Nghiên cứu Y khoa Hải quân và yêu cầu được hồi hương về Đức. Ông nói với hải quân rằng ông đã chấp nhận một vị trí trong chính phủ Tây Đức, với tư cách là giám đốc Viện Nghiên cứu Virus Liên bang. Động thái này đã khiến JIOA báo động. “Tiến sĩ Traub là một chuyên gia được công nhận trong một số lĩnh vực virus học, đặc biệt là về lở mồm long móng ở gia súc và bệnh Newcastle ở gia cầm”, một báo cáo đã giải mật viết. “Có thể dự đoán rằng cơ sở này ở Đức [nơi Traub sẽ đến] sẽ trở thành một trong những phòng thí nghiệm nghiên cứu hàng đầu thế giới về virus học”. Xét đến “tiềm năng quân sự có thể nhận thấy trong khả năng ứng dụng chuyên môn của ông, nên khuyến nghị rằng việc giám sát các hoạt động của ông trong tương lai ở mức độ thích hợp sẽ được duy trì sau khi chuyên gia này trở về Đức”. Traub cần phải được giám sát, có thể là trong suốt quãng đời còn lại của ông.

Ở Đức, trong suốt cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, tình báo quân sự Hoa Kỳ đã theo dõi Tiến sĩ Traub tại ngôi nhà mới của ông trên phố Paul-Ehrlich-Strasse, ở Tübingen. Các đặc vụ đã ghé qua nhà của đồng nghiệp và bạn của Traub là Tiến sĩ Theodor Benzinger, ở Maryland, để hỏi liệu Benzinger có biết “bất kỳ mối quan hệ nào mà Tiến sĩ Traub duy trì bên ngoài Hoa Kỳ” hay không. Benzinger nói rằng ông không biết. Bất cứ khi nào Traub đi ra khỏi nước Đức, tình báo quân sự đều để mắt đến ông.

Tiến sĩ Traub là một người  có kinh nghiệm trong việc buôn bán bất hợp pháp các tác nhân gây bệnh chết người. Trong Thế chiến II, ông là nhà khoa học đáng tin cậy được Heinrich Himmler chọn để đi đến Thổ Nhĩ Kỳ lấy mẫu bệnh dịch tả trâu bò để chế tạo vũ khí cho Riems. Và sau chiến tranh, khi Traub trốn khỏi khu vực của Nga với nguy cơ bị tổn hại cá nhân rất lớn, ông đã xoay sở để tuồn lậu các mẻ cấy vi khuẩn gây chết người ra khỏi khối Đông Âu, sau đó ông cất giấu chúng tại một phòng thí nghiệm trung gian ở Tây Đức cho đến khi tìm được người mua phù hợp. Vào giữa những năm 1960, theo hồ sơ FBI về Traub, Traub chuyển từ Đức sang Iran, với địa chỉ thường trú mới tại Viện Huyết thanh và Vắc-xin Razi, ở Hesarak, một vùng ngoại ô của thành phố Karaj. Khi Traub đi từ Iran đến Khách sạn Shoreham ở Washington, D.C., để gặp những người không rõ danh tính, các đặc vụ FBI đã theo dõi ông. Những gì họ biết được về Tiến sĩ Traub bí ẩn vẫn được phân loại cho đến năm 2013.

___

Qua lăng kính lịch sử, thật đáng chú ý khi nghĩ rằng các chương trình chiến tranh sinh học và chiến tranh hóa học của Hoa Kỳ đã phát triển nhanh đến mức như vậy. Nhưng Lầu Năm Góc đã có thể giữ bí mật về phạm vi và chi phí của các chương trình vũ khí này với Quốc hội theo cùng cách mà họ có thể giữ bí mật các chi tiết gây tổn hại của Chiến dịch Kẹp giấy với công chúng. Mọi thứ đều được phân loại.

Phải đến khi Tổng thống Richard Nixon nhận ra rằng việc thi gan với người Nga xem ai chịu nhường ai, trong cuộc chạy đua tích trữ kho vũ khí sinh học và hóa học khổng lồ, là hành động điên rồ thực sự. Vào ngày 25 tháng 11 năm 1969, Nixon tuyên bố chấm dứt mọi nghiên cứu về chiến tranh sinh học tấn công của Hoa Kỳ và ra lệnh phá hủy kho vũ khí của Hoa Kỳ. “Tôi đã quyết định rằng Hoa Kỳ sẽ từ bỏ việc sử dụng bất kỳ hình thức vũ khí sinh học chết người nào có thể giết chết hoặc làm mất khả năng hoạt động”, Nixon nói. Lý do của ông rất đơn giản và hiển nhiên. Việc sử dụng vũ khí sinh học có thể gây ra “hậu quả không thể kiểm soát” cho thế giới. “Nhân loại đã mang trong tay quá nhiều mầm mống hủy diệt của chính mình”, Nixon nói. Sau 26 năm nghiên cứu và phát triển, các chương trình vũ khí sinh học của Hoa Kỳ đã kết thúc. Lần đầu tiên trong Chiến tranh Lạnh, một tổng thống ra quyết định rằng toàn bộ một nhóm vũ khí sẽ bị phá hủy một cách đơn phương.

Chương trình vũ khí hóa học của Hoa Kỳ đã kết thúc không lâu sau đó. Nixon đã khôi phục chính sách “chỉ trả đũa”, nghĩa là không phát triển và sản xuất vũ khí hóa học mới nào. Trong vài năm tiếp theo, Quốc hội đã làm việc với quân đội để xác định cách tốt nhất nhằm tiêu hủy toàn bộ nhóm vũ khí này. Kế hoạch ban đầu là tiêu hủy khoảng 27.000 tấn. vũ khí chứa đầy hóa chất ở vùng biển sâu. Nhưng sau khi điều tra, hóa ra nhiều quả bom chứa đầy sarin và VX được lưu trữ tại Kho vũ khí Rocky Mountain đã rò rỉ chất độc thần kinh. Những loại đạn dược này cần được bọc trong “quan tài” bằng thép và bê tông trước khi có thể đổ xuống đại dương. Lầu Năm Góc cũng đã bí mật lưu trữ 13.000 tấn chất độc thần kinh và khí mù tạt tại căn cứ quân sự của mình ở Okinawa, Nhật Bản, hiện cần phải tiêu hủy. Năm 1971, những loại đạn dược này đã được đưa đến một đảo san hô do Hoa Kỳ sở hữu ở Nam Thái Bình Dương có tên là Đảo Johnston trong một chiến dịch có tên là Red Hat. Kế hoạch là cất giữ những quả bom chứa sarin và VX trong các hầm ngầm trên đảo san hô cho đến khi các nhà khoa học tìm ra cách tốt nhất để tiêu hủy chúng. Nhưng hóa ra, những quả bom sarin và VX không được chế tạo để có thể tháo dỡ. Vì vậy, quân đội đã có một nỗ lực khoa học mới to lớn trong tay, đó là tạo ra Hệ thống Xử lý Chất độc Hóa học trên Đảo Johnston, “cơ sở xử lý vũ khí hóa học quy mô lớn” đầu tiên trên thế giới.

Phải mất thêm 34 năm nữa thì kho vũ khí hóa học của Hoa Kỳ mới bị phá hủy. “Những con số nói lên rất nhiều điều”, quân đội cho biết. “Hơn 412.000 quả bom, mìn, tên lửa và đạn dược hóa học lỗi thời đã bị phá hủy”. Quá trình phá hủy phức tạp này bao gồm việc tách bằng robot các chất hóa học từ đạn dược, sau đó là đốt các bộ phận tách ra trong ba loại lò đặc biệt riêng biệt. Quân đội cho biết họ “tự hào về thành tựu của mình”, ước tính tốn 25,8 tỷ đô la vào năm 2006, hoặc khoảng 30 tỷ đô la vào năm 2013.


Bình luận về bài viết này