NHỮNG XUNG ĐỘT HOÀNH TRÁNG TẠO NÊN DIỆN MẠO THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

Joseph Cummins
Trần Quang Nghĩa dịch
12 CHIẾN TRANH BA MƯƠI NĂM 1618-48
MỘT CUỘC XUNG ĐỘT KÉO DÀI BA THẬP KỶ, BẮT ĐẦU BỞI NHỮNG KHÁC BIỆT VỀ TÔN GIÁO ĐÃ KÉO HẦU HẾT CÁC CƯỜNG QUỐC LỚN CỦA LỤC ĐỊA VÀO MỘT CUỘC XUNG ĐỘT TÀN PHÁ VÌ LÃNH THỔ VÀ QUYỀN LỰC
TỔNG QUAN: CUỘC CHIẾN TRANH TÔN GIÁO VÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA ĐÃ BÁO TRƯỚC MỨC KINH HOÀNG CỦA CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI
Trong vòng mười năm sau khi Martin Luther đóng đinh 95 Luận đề lên cửa Nhà thờ All Saints ở Wittenberg, hành động khởi đầu cho cuộc Cải cách, giáo phái Tin lành đầu tiên đã được thành lập tại Đức. Trong vòng 20 năm, Vua Henry VIII của Anh đã tự tuyên bố mình là người đứng đầu Giáo hội Anh. Trong vòng nửa thế kỷ, giáo phái Luther và các giáo phái Tin lành khác như Calvin đã khẳng định vị thế vững chắc của mình trên khắp Bắc Âu. Đương nhiên, Đế chế La Mã Thần thánh Thiên chúa giáo trung thành không vui về điều này, và chiến tranh giáo phái lẻ tẻ nhưng tàn khốc đã nổ ra ở Đức, Ba Lan, Áo và Tiệp Khắc giữa đế chế và các lực lượng của Liên đoàn Schmalkaldic, một liên minh các ông hoàng theo giáo phái Luther.
Hòa ước Augsburg, được ký kết vào năm 1555, đã chấm dứt cuộc chiến này và cho phép các hoàng thân Đức quyết định liệu quốc gia của họ nên theo Thiên chúa giáo hay Luther. Nhưng, giống như nhiều hiệp ước khác, Augsburg đã gieo mầm cho nhiều bạo lực hơn. Những người theo giáo phái Calvin, Anabaptism và các giáo phái Tin lành đang phát triển khác đã không được công nhận; và Phong trào Phản Cải cách Thiên chúa giáo đang tập hợp sức mạnh. Cùng lúc đó, các quốc gia riêng lẻ đang thúc đẩy để khẳng định lợi ích của họ, và tôn giáo cung cấp một cái cớ để hành động.
Cuộc chiến có thể được chia thành bốn giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên, Cuộc nổi loạn Bohemia (1618-25), bắt đầu bằng sự kiện gọi là Vụ Ném Người qua Cửa sổ ở Prague, khi một nhóm quý tộc Tin lành ở thành phố đó bày tỏ sự phản đối của họ đối với triều đình Hapsburg áp đặt một vị vua Thiên chúa giáo bằng cách ném ba viên chức Thiên chúa giáo ra khỏi cửa sổ. Sau khi họ bầu ra quốc vương Tin lành của riêng mình, các lực lượng của Đế chế La Mã Thần thánh đã xâm lược Bohemia và đánh bại quân đội Tin lành trong trận White Mountain. Giới quý tộc Bohemia, như một nhà sử học đã nói, “thực sự bị chặt đầu” và đất đai của họ được trao cho các hoàng thân Đức theo Thiên chúa giáo. Vào thời điểm này, Tây Ban Nha, tìm cách tái lập vị thế của mình như một thế lực thống trị, thừa cơ hội tham gia vào cuộc xung đột cùng với nhà Hapsburg, thành lập nên Liên minh Thiên chúa giáo và giúp đưa Công tước Maximilian xứ Bavaria theo Thiên chúa giáo lên làm Vua mới của Bohemia.
Những thành công này của Thiên chúa giáo đã khiến Vua Đan Mạch, Christian IV, một người theo đạo Luther, lo ngại, ông coi họ là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của mình. Ông bắt đầu giai đoạn thứ hai của cuộc chiến, được gọi là Sự Can thiệp của Đan Mạch (1625-29), bằng cách xâm lược Đức. Nhưng chiến dịch của Christian đã kết thúc với những thất bại thảm hại tại trận Cầu Dessau năm 1626, dưới tay của Tướng Albrecht von Wallenstein đầy lôi cuốn, và tại trận Lutter năm 1626 trước Tướng Johann Tserclaes Graf von Tilly. Năm 1629, một Ferdinand II chiến thắng đã ban hành Sắc lệnh Hoàn trả gây nhiều tranh cãi, ra lệnh cho người Tin lành phải hoàn trả tất cả đất đai của người Thiên chúa giáo vốn nằm dưới sự kiểm soát của người Tin lành kể từ Hòa ước Augsburg. Wallenstein phản đối điều này – vì trong quân đội của ông có nhiều người Tin lành và bản thân ông cũng sở hữu một phần lớn đất đai trước đây của người Thiên chúa giáo – và thế là ông bị hoàng đế sa thải.
Sau đó, vua Thụy Điển theo đạo Tin lành, Gustav II Adolf, hay Gustavus Adolphus, với mục tiêu giành thêm đất đai ở Baltic, đã phát động một chiến dịch chống Thiên chúa giáo khác, được gọi là Sự Can thiệp của Thụy Điển (1630-35). Gustavus có lẽ có quân đội tốt nhất trong số các cường quốc tham chiến và bản thân ông cũng là một nhà lãnh đạo quân sự tài ba. Với sự hỗ trợ của Pháp và Hà Lan, ông đã tiêu diệt lực lượng của Tướng Tilly trong Trận chiến Breitenfeld quan trọng và tiến sâu vào Đức. Nhưng vào tháng 11 năm 1632, trong chiến thắng của Thụy Điển trước quân đội Đế quốc dưới quyền của Wallenstein được tái lập, Gustavus đã bị giết. Mặc dù Hòa ước Praha năm 1635 đã mang lại cho Thụy Điển những lợi ích, nhưng nó cũng để lại quyền lực của nhà Hapsburg nguyên vẹn khiến Pháp vô cùng thất vọng.
Dưới sự lãnh đạo của Hồng y de Richelieu, người đứng đầu nhà nước trên thực tế, Pháp đã tìm kiếm một lý do trong một thời gian để hợp tác với những người Tin lành. Thực tế là Pháp, một quốc gia Thiên chúa giáo bề ngoài muốn chiến đấu ở phe Tin lành chỉ ra sự phức tạp của cuộc xung đột và rằng về cơ bản, nó liên quan nhiều đến việc xây dựng quốc gia cũng như tôn giáo. Vì mục tiêu chính của Pháp là kiểm soát sức mạnh của người Áo. Richelieu đã nhìn thấy cơ hội của mình khi quân đội Tây Ban Nha đóng tại Luxembourg xâm lược một khu vực thuộc quyền tài phán của Pháp. Sau đó, Pháp tuyên chiến, bắt đầu giai đoạn cuối cùng của cuộc xung đột, Sự Can thiệp của Pháp (1636-48). Pháp tấn công quân đội Tây Ban Nha ở Luxembourg và tiến sâu vào miền nam nước Đức, trong khi các đồng minh Hà Lan của họ đưa cuộc chiến đến Tân Thế giới, đánh chìm các tàu chở kho báu của Tây Ban Nha đến từ vùng Caribe và Mexico. Nhưng các lực lượng Đế quốc đã liên tục đẩy lùi Pháp và xâm nhập gần đến tận Paris, trước khi bị đánh bại trong trận Compiègne năm 1636.
Cuộc chiến tiếp tục lan rộng cho đến khi Hồng y Richelieu qua đời vào năm 1642. Năm 1643, Louis XIII qua đời và con trai năm tuổi của ông, Louis XIV, lên ngôi. Hồng y Mazarin, bộ trưởng chính của Pháp, bắt đầu tiếp cận các nhà lãnh đạo Đế chế để đảm bảo hòa bình. Tuy nhiên, giao tranh vẫn tiếp diễn. Sau trận chiến đẫm máu ở Freiburg năm 1644, quân Pháp đã chiếm đóng Alsace. Điều này, cùng với chiến thắng của Thụy Điển tại trận Jankov năm 1645 và chiến thắng của Pháp trước lực lượng Đế chế tại trận Nordlingen lần thứ hai trong cùng năm đã báo hiệu hồi chuông báo tử cho lực lượng Đế chế. Vào thời điểm này, cuộc xung đột đã gây ra hậu quả khủng khiếp cho lục địa châu Âu, đặc biệt là Đức. Chiến tranh đã tàn phá nhiều vùng đất rộng lớn, phá hủy toàn bộ cộng đồng và khủng bố dân thường.
Năm 1648, Hòa ước Westphalia còn được gọi là Hòa ước Kiệt sức đã kết thúc chiến tranh. Thụy Điển nhận được lãnh thổ ở miền bắc nước Đức; Pháp nhận được vùng Alsace-Lorraine (dẫn đến xung đột với người Đức trong nhiều thế kỷ sau đó); Hà Lan giành được độc lập từ Tây Ban Nha; và Đế chế La Mã Thần thánh đã công nhận quyền bình đẳng giữa người Thiên chúa giáo, Luther và Calvin. Quyền lực của nhà Hapsburg và Đế chế La Mã Thần thánh suy yếu đáng kể khi các ông hoàng của các vùng lãnh thổ Đức được gần như hoàn toàn nắm giữ chủ quyền, ngoại trừ một hạn chế là không được tiến hành chiến tranh chống lại đế chế.
CHIẾN THUẬT MỚI VÀ ĐỘI HÌNH MỚI ĐÁNH BẠI MỘT ĐỘI QUÂN HÙNG MẠNH BẤT KHẢ CHIẾN BẠI
Trận chiến Breitenfeld, 1631
Vào thứ Tư, ngày 17 tháng 9 năm 1631, hai đội quân chuẩn bị giao chiến trên những cánh đồng dốc, được canh tác ngay bên ngoài ngôi làng Breitenfeld, cách ngoại ô Leipzig, Đức khoảng 4 dặm (6 km). Mặc dù mới chỉ chín giờ sáng, nhưng trời rất nóng, một trong chuỗi những ngày rất nóng khiến cho đất canh tác bị phủ một lớp đất tơi xốp. Những cơn gió giật thổi bụi xuống con dốc thoai thoải vào mặt của 23.000 binh lính Thụy Điển do Vua Thụy Điển, Gustavus Adolphus chỉ huy, và khoảng 17.000 quân Saxon do John George I, Tuyển hầu tước xứ Saxony, và Tướng Hans Georg von Arnim chỉ huy. Sau đó, Gustavus Adolphus nhận xét rằng kỵ binh Saxon, mặc áo khoác và khăn quàng cổ đầy màu sắc và ngồi trên những chú ngựa đẹp, tạo thành một “đội quân vui vẻ và xinh đẹp”.
Binh lính Thụy Điển ở trung tâm hàng ngũ, không được đẹp lắm trong những chiếc áo khoác nâu của họ, ho vì bụi, lấy giẻ lau che mặt và chờ đợi. Nhìn lên con dốc phía trước, lực lượng Tin Lành có thể thấy quân đội đông đảo thuộc về Tướng Đế chế Johann Tserclaes Graf von Tilly, tổng cộng 31.000 người, do Tilly và người chỉ huy thứ hai dũng cảm nhưng bốc đồng của ông, Bá tước Gottfried Heinrich Pappenheim chỉ huy.
Không phải toàn bộ quân Thụy Điển và Saxon đều vào vị trí khi pháo của Tilly khai hỏa, bắn những quả đạn sắt bảy cân theo hình vòng cung vào đội hình của quân Tin lành.
Thay đổi vận số
Những viên đạn đại bác này là những phát súng đầu tiên trong một trận chiến sẽ xoay chuyển vận mệnh tuyệt vọng của Liên minh Tin lành. Cuộc chiến đã diễn ra trong 13 năm, và người Tin lành đã phải chịu thất bại này đến thất bại khác dưới tay của lực lượng Liên minh Thiên chúa giáo và Habsburg. Nhưng vào mùa xuân năm 1630, vua Thụy Điển, Gustavus Adolphus, đã xâm lược miền bắc nước Đức, nhanh chóng tràn qua Pomerania và chiếm giữ cửa sông Oder cực kỳ quan trọng, trước khi tiến sâu vào lãnh thổ Đức. Bây giờ, Sư tử phương Bắc, biệt danh của Gustavus, đã sẵn sàng cứu vãn sự nghiệp Tin lành.
Hơn nữa, lực lượng Đế chế đang trong tình trạng hỗn loạn. Nhà lãnh đạo tài giỏi của họ, Albrecht von Wallenstein, đã bị Hoàng đế La Mã Thần thánh Frederick II sa thải và thay thế bằng Tilly, một chiến binh kỳ cựu nhưng không phải là chiến binh xuất chúng, và ở tuổi 72 có lẽ đã qua thời kỳ đỉnh cao (cấp dưới của ông, Bá tước Pappenheim nóng nảy, nghĩ rằng ông gần như lú lẫn). Không thể tiếp tế cho quân đội của mình – von Wallenstein đã từ chối cung cấp từ nguồn lương thực dồi dào trong lãnh thổ Friedland của mình – Tilly có lẽ đã không khôn ngoan khi nghe theo lời khuyên của Pappenheim bao vây thành phố Tin lành Magdeburg. Điều này dẫn đến một cuộc thảm sát kinh hoàng đã trở thành điểm tập kết cho những người Tin lành – sau sự kiện này các Tỉnh Thống nhất của Hà Lan đã cam kết hỗ trợ Gustavus, cũng như John George I của Saxony.

TRẬN CHIẾN LÜTZEN, NGƯỜI THỤY ĐIỂN CHIẾN THẮNG ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH THÊM MỘT LẦN NỮA – NHƯNG CŨNG MẤT ĐI NGƯỜI LÃNH ĐẠO CỦA HỌ
Sơn dầu của JACQUES COURTOIS (1621-76)
Tilly đã lợi dụng sự đào ngũ của John làm cái cớ để xâm lược Saxony, và đến ngày 14 tháng 9 năm 1631, ông đã tấn công và chiếm được thị trấn Leipzig. Biết rằng quân đội Thụy Điển và Saxon hiện đang tiến về phía mình, Tilly, ở xa căn cứ tiếp tế, đã thận trọng quyết định phòng thủ bên trong các bức tường thành kiên cố của Leipzig. Nhưng, ở đây, một lần nữa, cấp dưới của ông là Pappenheim đã phụ lòng ông. Vào ngày 17 tháng 9, y đã rời trại cùng một lực lượng trinh sát lớn và giao chiến với lực lượng Thụy Điển đang tiến về Leipzig. Sau đó, y đã gửi lại lời nhắn cho Tilly rằng mình đã bị bao vây, không thể quay lại và cần được tăng viện. Tilly cúi đầu và lớn tiếng kêu lên, “Tên đó sẽ cướp đi danh dự và tiếng tăm của ta”. Tuy nhiên, ông không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đưa lực lượng của mình vào hàng ngũ để đến cứu Pappenheim và đối mặt với người Thụy Điển và người Saxon,
Một trận đấu pháo
Ngay sau khi pháo binh Đế quốc mở màn, quân Thụy Điển đã bắn trả, và trong năm giờ tiếp theo, trận chiến là cuộc đấu pháo và súng hỏa mai. Quân Đế quốc chịu thiệt hại nặng nề hơn. Mặc dù lực lượng của Tilly đông hơn quân Thụy Điển và quân Saxon, nhưng họ được xếp thành đội hình bộ binh lớn theo kiểu khối truyền thống, sâu khoảng 50 hàng, được kỵ binh hỗ trợ, với pháo binh ở phía sau. Mặt khác, quân Thụy Điển áp dụng một cách tiếp cận sáng tạo do Gustavus phát triển, được xếp thành đội hình nông rộng chỉ sâu 5 hoặc 6 hàng. Pháo binh Thụy Điển có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho hàng ngũ dày đặc của quân Đế quốc, trong khi hỏa lực của quân Đế quốc gây ra ít thiệt hại hơn nhiều cho hàng ngũ mỏng hơn và dàn trải hơn của quân Thụy Điển. Hơn nữa, đội lính súng hỏa mai Thụy Điển, vốn được tập trận liên tục, đã đổ lượng đạn chì gấp ba lần vào hàng ngũ của quân Đế quốc so với lượng đạn mà kẻ thù có thể bắn trả.
Cuối cùng, vào khoảng hai giờ, thế bế tắc đã bị phá vỡ. Pappenheim, ở cánh trái của Đế chế, dẫn đầu một cuộc xung phong theo một vòng tròn rộng xung quanh khu vực hỏa lực của Thụy Điển, nhắm vào phía sau. Người Thụy Điển quay lại để đáp trả cuộc xung phong này, nhưng Tilly đã lợi dụng sự mất tập trung của người Thụy Điển để tấn công quân Saxon của Tuyển hầu tước John George trong một cuộc tấn công toàn diện, dữ dội. Quân Saxon chủ yếu là lính mới, chưa được thử thách đã chịu đựng nhiều giờ đấu súng, nhưng không thể chịu đựng được điều này: hàng kỵ binh và bộ binh mặc đồ đẹp của họ, do chính John George chỉ huy, đã tan rã và bỏ chạy một mạch không dừng ngựa cho đến khi cách xa 15 dặm (24 km).
Khi người Saxon đã đi, người Thụy Điển đứng một mình khi lực lượng Đế chế tiến gần đến cả hai bên. Ngày hôm đó bụi bặm, không khí dày đặc khói, đến nỗi những người sống sót sau trận chiến kể rằng họ không thể nhìn thấy xa hơn bốn bước chân trước mặt. Gustavus và các sĩ quan của ông ở khắp mọi nơi trên chiến trường, tập hợp lực lượng của họ. Sau này, người Thụy Điển nhớ lại cảnh vua của họ phi nước đại lên trong cơn điên cuồng, hét lớn ra lệnh, mồ hôi túa ra trên mặt, điên cuồng hét lên để xin nước làm dịu cổ họng khô khốc của mình và sau đó, trước khi nước được chuyển đến cho ông, ông đã phi ngựa đến một điểm yếu tiềm tàng khác trong hàng ngũ của quân Thụy Điển.
Mặc dù bị áp đảo về số lượng và bị đe dọa ở cả hai bên, quân Thụy Điển vẫn trụ vững. Một phần là do đội hình linh hoạt của Gustavus, có thể nhanh chóng xoay chuyển và đối mặt với bất cứ nơi nào họ cần trong cuộc chiến hỗn loạn và đầy biến động này, và một phần là do tốc độ bắn đáng kinh ngạc mà những người lính hỏa mai kỷ luật của ông có thể duy trì.
Dần dần, quân Đế chế bị đẩy lùi lên dốc. Và rồi, vào khoảng bốn giờ chiều, gió đổi hướng trở lại theo hướng của quân Đế chế, thổi bụi vào mặt họ. Nhận thấy điều này, Gustavus đã dẫn quân dự bị kỵ binh của mình – tổng cộng khoảng một nghìn người – và dẫn đầu họ trong một cuộc tấn công toàn diện. Hành động này đã tách bộ binh Đế chế ra khỏi kỵ binh và phá tan kẻ thù một lần và mãi mãi. Quân đội Đế chế đổ về Leipzig; họ bị truy đuổi và tàn sát bởi kỵ binh Thụy Điển.
Tilly, bị thương ở ba chỗ, đã chạy trốn khỏi chiến trường. Pappenheim đã tiến hành một hành động phòng thủ hậu phương dũng cảm chống lại người Thụy Điển tại một thời điểm, đích thân chiến đấu với 14 kỵ binh Thụy Điển quyết tâm bắt giữ y và xoay xở để đưa bốn trung đoàn còn nguyên vẹn trở về Leipzig. (Quân đội Đế chế sẽ buộc phải từ bỏ thành phố vào ngày hôm sau.)
Đến bảy giờ, trận chiến đã kết thúc. 7.000 lính của Tilly nằm chết trên những cánh đồng khô cằn bên ngoài Breitenfeld. 9.000 người bị bắt và một số lượng không xác định bị thương. Và một nỗi kinh hoàng nữa đã giáng xuống những người lính Đế chế lang thang khắp vùng nông thôn, lạc lối trong sự hỗn loạn của chiến tranh: Nông dân Saxon tấn công họ, tàn sát họ hàng trăm người để trả thù cho việc họ cướp bóc đất nước.
CHÂN DUNG CỦA GUSTAVUS ADOLPHUS II
Đêm đó, xung quanh đống lửa trại của người Thụy Điển, tiếng chuông reo lên – hàng chục chiếc chuông dâng hiến mà bộ binh của Gustavus đã lấy từ các linh mục của quân đội Đế chế. Điều này khiến Vua Thụy Điển bật cười: “Anh em chúng ta vui vẻ quá”, ông thốt lên.
Mặc dù vẫn còn nhiều trận chiến nữa sắp diễn ra, chiến thắng của Thụy Điển tại Breitenfeld, trận chiến lớn nhất trong cuộc chiến, đã khích lệ rất nhiều cho lực lượng Tin lành. Mặc dù không phải là chiến thắng quyết định, nhưng đó là thời điểm mà nhà Habsburg và lực lượng Đế chế mất đi hào quang bất khả chiến bại của họ.

TRẬN ĐẤNH BƯỚC NGOẶT Ở BREITENFELD NĂM 1631 TRONG CHIẾN TRANH BA MƯƠI NĂM ĐƯỢC HIỂN THỊ TRÊN BẢN ĐỒ.
GUSTAVUS ADOLPHUS : SƯ TỬ PHƯƠNG BẮC VÀ CHA ĐẾ CỦA CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI
Cao hơn 6 feet (1,8 m), với mái tóc và bộ râu màu hung, và cơ bắp cuồn cuộn, Gustavus Adolphus, Vua Thụy Điển, là một người đàn ông to lớn về mọi mặt. Ông có thể nói 10 thứ tiếng và ông có thể ngồi trên yên ngựa suốt 15 giờ, hét lớn ra lệnh khi ông chỉ huy đội quân Thụy Điển hùng mạnh của mình trong chiến dịch.
Con trai của Vua Charles IX, Gustavus sinh ra tại Stockholm vào năm 1594. Ông đã phát triển năng khiếu về quân sự từ sớm, khi mới 16 tuổi, ông đã chỉ huy một lực lượng Thụy Điển đánh lui quân xâm lược Đan Mạch tại East Gotland. Năm 17 tuổi, ông lên ngôi vua. Thụy Điển sau đó đã vướng vào các cuộc chiến tranh lãnh thổ với Ba Lan, Nga và Đan Mạch.
Gustavus, chiến đấu gần như không ngừng nghỉ từ năm 1613 đến năm 1629, đã đánh bại mọi đối thủ của mình, giành được những vùng đất rộng lớn cho Đế chế Thụy Điển đang phát triển và cắt đứt đường biên giới của Nga tới biển Baltic.
Gustavus cũng đã biến quân đội của mình thành lực lượng được huấn luyện tốt nhất ở châu Âu, về cơ bản là những đơn vị ô hợp và tổ chức chúng thành các đại đội được huấn luyện bài bản. Ông trả lương và cho họ ăn uống đầy đủ, điều này giúp hạn chế các loại hành vi tàn bạo của binh sĩ vốn phổ biến trong chiến tranh, và người ta nhận ra rằng binh sĩ Thụy Điển nói chung không tệ như những lính tráng của hầu hết mọi quốc gia khác. Việc ông tạo một trong những đạo quân thường trực đầu tiên ở châu Âu khiến ông nổi tiếng như cồn trong quân sử, thậm chí một số người còn gọi ông là “Cha đẻ của Chiến tranh Hiện đại”.
Vào thời điểm đó, các cuộc chinh phạt của Gustavus đã mang lại cho ông biệt danh “Sư tử phương Bắc”; danh tiếng của ông được nâng cao nhờ sự can thiệp của ông vào Chiến tranh 30 năm vào năm 1630 và một loạt các chiến thắng, bao gồm cả chiến thắng của ông tại trận chiến quan trọng Breitenfeld. Nhưng thảm họa đã xảy ra vào tháng 11 năm 1632, khi ông gặp quân đội Đế chế dưới sự chỉ huy của Wallenstein tại Lützen ở Saxony. Tại đó, trong một trận chiến ác liệt, Gustavus đã chỉ huy một cuộc tấn công của kỵ binh vào một dải sương mù và không còn được nhìn thấy nữa. Sau khi quân đội Thụy Điển chiến thắng, họ đi tìm vị vua vĩ đại của mình và phát hiện ra ông đã chết và bị lột trần, dưới một đống xác chết.
Sư tử phương Bắc đã được đưa về nhà và chôn cất với nhiều nghi lễ long trọng. Ông là một thế lực ổn định mạnh mẽ ở Thụy Điển đến nỗi ngay cả sau cái chết không đúng lúc của ông, đất nước vẫn tiến triển theo một cách có trật tự, với cô con gái nhỏ Christina của ông đảm nhiệm ngai vàng, được cố vấn bởi các bộ trưởng kỳ cựu của Gustavus. Tấm gương của Gustavus cũng truyền cảm hứng cho một loạt các vị vua chiến binh Thụy Điển tài giỏi, đặc biệt là Vua Charles XI và con trai ông, Vua Charles XII.
MỘT THỜI ĐẠI CỦA SỰ ĐỔI MỚI KHI BỘ MẶT CỦA CHIẾN THUẬT VÀ VŨ KHÍ BẮT ĐẦU THAY ĐỔI
Những trận chiến kéo dài trong Chiến tranh Ba mươi năm đã chứng kiến nhiều đột phá về chiến thuật quân sự, nhiều trong số đó được khởi xướng bởi Vua Gustavus Adolphus của Thụy Điển.
Một trong những đóng góp chính của Gustavus là cải thiện đội hình bộ binh do nhà lãnh đạo người Hà Lan Maurice xứ Nassau, con trai của William the Silent, phát triển đầu tiên.
Ý tưởng của Maurice là từ bỏ đội hình bộ binh được trang bị giáo mác xếp thành hàng 50 người đã có từ nhiều thế kỷ trước, mà ông nhận ra có thể bị pháo binh hiện đại phá hủy, và dàn trải chúng trên một mặt trận rộng hơn để giảm thiểu tác hại của các cuộc pháo kích có tác động ít hơ và hỏa lực súng hỏa mai của chúng được dàn trải trên một khu vực rộng hơn. Gustavus đã cải tiến chiến thuật này và huấn luyện bộ binh của mình bắn những loạt đạn nhanh và hủy diệt.
Gustavus cũng là người tiên phong trong việc sử dụng pháo hạng nhẹ (loại nặng 600 pound (272 kg hoặc ít hơn), có thể được kéo bởi một con ngựa hoặc sáu người, và có cỡ nòng tiêu chuẩn để đạn dược có thể dễ dàng phù hợp với súng hơn. Hơn nữa, ông yêu cầu “pháo binh dã chiến” này di chuyển như một phần của các đơn vị kỵ binh và bộ binh thay vì là một đơn vị pháo binh riêng biệt; do đó, ông có thể cung cấp hỏa lực hỗ trợ nhanh chóng khi cần thiết. Ngày nay, khái niệm này được gọi là “vũ khí kết hợp” và là một trong những trụ cột của chiến tranh hiện đại.
Sự ra đời của súng kíp cũng đã khai tử một chiến thuật khác của thời kỳ đó, chiến thuật caracole. Đây là chiến thuật trong đó kỵ binh xung phong, vung súng lục có khóa bánh xe và cưỡi ngựa xông thẳng đến kẻ thù đủ gần (gần như chạm vào họ, vì súng có khóa bánh xe chỉ chính xác khi bắn ở cự ly rất gần) rồi xả súng và phóng ngựa đi. Súng kíp, với tốc độ bắn nhanh hơn và tầm bắn xa hơn, có thể tiêu diệt một cuộc xung phong như vậy. Sau Chiến tranh Ba mươi năm, kỵ binh sẽ một lần nữa xung phong theo cách mà họ từng quen làm. Thay vì biến mình thành mục tiêu cố định trong khi cố gắng bắn súng lục ở cự ly gần, họ đã thử vận may trước loạt đạn hỏa lực, cưỡi ngựa với thanh kiếm thép lạnh trong tay, hy vọng đà tiến ào ạt của đàn ngựa và nỗi kinh hoàng tột độ trước rừng kiếm vung cao lấp lánh sẽ khiến bộ binh địch bỏ chạy.

MỘT KHẨU SÚNG CÓ KHÓA BÁNH XE (PHÍA TRÊN) VÀ MỘT SÚNG KÍP (PHÍA DƯỚI).
SỰ KINH HOÀNG CỦA CHIẾN TRANH TỔNG LỰC ĐƯỢC GIỚI THIỆU ĐẾN CHÂU ÂU
Vở kịch vĩ đại của Bertolt Brecht, Mother Courage and Her Children, mô tả cảnh tàn sát của Chiến tranh Ba mươi năm, nhưng cũng nhằm phản ánh những nỗi kinh hoàng đang diễn ra ở Ba Lan sau cuộc xâm lược của Đức năm 1939. Nói cách khác, vở kịch nắm bắt trong một phạm vi phổ quát nỗi thống khổ của thường dân dưới quyền sinh sát của quân đội hiếu chiến trong một chu kỳ bạo lực dường như vô tận.
Bạo lực gây ra cho cả dân cư thành thị và nông thôn từ năm 1618 đến năm 1648 cũng khủng khiếp như bất kỳ cuộc chiến tranh hiện đại nào gây ra. Một phần là do thành phần của quân đội. Cả hai bên đều sử dụng lính đánh thuê được cho ăn và trả lương kém, do đó, phải sống nhờ vào đất đai, thường xuyên bao vây các thị trấn, nhiều thị trấn trong số đó không quan trọng về mặt quân sự, để cướp lương thực và của cải. Trong cuộc cướp phá thành phố Magdeburg của người Luther năm 1631, trên sông Elbe ở miền Trung nước Đức, đạo quân Liên đoàn Thiên chúa giáo của Tướng Graf von Tilly đã tàn sát đàn ông, phụ nữ và trẻ em, hầu hết trong số họ đã đầu hàng và cầu xin tha mạng. Thị trấn đã bị thiêu rụi. Trong số 30.000 người dân, có lẽ chỉ có 5.000 người sống sót – sau cuộc điều tra dân số của thị trấn được thực hiện vào những năm 1640 cho thấy chỉ có 2.400 cư dân.
Cuộc tàn sát ở vùng nông thôn thường còn tệ hơn. Những nhóm lính đánh thuê du mục sẽ tiếp cận những trang trại nghèo nàn và biệt lập, lấy đi số tiền mặt ít ỏi và nguồn cung cấp thực phẩm sẵn có mà một người nông dân có thể có, rồi đốt nhà và mùa màng của họ. Kết quả là, một mối hận thù dữ dội đã phát triển giữa nông dân và binh lính.
Một ví dụ về điều này đã được một cảnh sát làng ghi lại vào tháng 1 năm 1634, tại làng Linden, ngày nay là Bavaria, Đức. Hai mươi người lính Thụy Điển cưỡi ngựa vào Linden và đòi thức ăn và rượu. Khi không thấy ai đến cung phụng, họ đã đột nhập vào một trong mười ba túp lều của làng, hãm hiếp vợ người nông dân và lấy cắp mọi thứ mà gia đình có. Ngày hôm sau, dân làng phục kích bọn lính, lột sạch quần áo và ngựa của họ. Sau đó, bọn lính quay trở lại cùng với cảnh sát làng, người đã bắt giữ dân làng và báo cáo với chỉ huy Thụy Điển. Không ai biết chuyện gì đã xảy ra tiếp theo, nhưng ngay sau đó, ngôi làng Linden được mô tả một cách đáng ngại trong các hồ sơ của Đức là “không có người ở”. Mãi đến năm 1690, ngôi làng mới có đủ dân số để đăng ký lại trong một cuộc điều tra dân số.
Kết hợp với nạn đói và bệnh tật (bao gồm cả đợt bùng phát dịch hạch năm 1634), Chiến tranh Ba mươi năm được cho là đã gây ra từ bốn đến bảy triệu ca tử vong cho đến năm 1648. Sự phẫn nộ của người dân đối với hành vi của các đội quân đánh thuê lớn đến mức cuộc chiến đã giúp tạo ra các đội quân thường trực, thường có kỷ luật tốt hơn nhiều.
13 CUỘC CHIẾN BẢY NĂM 1756-63
MỘT CUỘC XUNG ĐỘT TOÀN CẦU CHỨNG KIẾN CÁC QUỐC GIA MẠNH NHẤT CHÂU ÂU THAM GIA VÀO CUỘC ĐÁU TRANH QUYỀN LỰC TRÊN LỤC ĐỊA, TRONG KHI PHÁP VÀ ANH CHIẾN ĐẤU VÌ BẮC MỸ
TỔNG QUAN: CHIẾN TRANH LAN TRÀN CÁC LỤC ĐỊA VÀ BIẾN ANH THÀNH CƯỜNG QUỐC THẾ GIỚI
Chiến tranh Bảy Năm bắt nguồn từ một hiệp định hòa bình không làm hài lòng bất kỳ ai: Hiệp ước Aix-la-Chapelle, hiệp ước chấm dứt Chiến tranh Kế vị Áo 1740-48. Cuộc chiến này nổ ra vì Charles VI, Hoàng đế La Mã Thần thánh của Áo, không có người thừa kế nam, đã bổ nhiệm con gái mình, Maria Theresa, làm nữ hoàng, mặc dù có truyền thống chỉ định rằng chỉ có nam giới mới có thể cai trị đế chế. Khi Maria Theresa thừa kế ngai vàng vào năm 1740, Vua Frederick Đại đế của Phổ, cùng với các quốc gia khác có hoàng tộc cũng muốn có phần trong ngai vàng Áo, đã lợi dụng sự vi phạm truyền thống này làm cái cớ để xâm lược một vùng của Áo có tên là Silesia. Anh và Hà Lan, lo ngại về sức mạnh quân sự gia tăng của Frederick, đã tham chiến về phía Áo. Sau khi Hiệp ước Aix-la-Chapelle cho phép người Phổ giữ Silesia, Maria Theresa gần như ngay lập tức bắt đầu lập mưu giành lại khu vực này và vào năm 1756 đã thành lập một liên minh bí mật chống lại Phổ với những kẻ thù cũ của Áo là Pháp và Nga.
Khi Frederick Đại đế phát hiện ra điều này, ông quyết định cơ hội tồn vong duy nhất của mình là một cuộc tấn công phủ đầu và xâm lược Saxony, một tiểu bang nhỏ ở miền Đông nước Đức liên minh với Áo. Ông được Anh hỗ trợ, mặc dù trước đây là đồng minh của Áo, nhưng đã tìm cách bảo vệ tuyển hầu xứ Hanover ở Đức, trước đây nằm trong nghị viện Anh. Ở châu Âu, nơi xung đột sau đó chủ yếu là cuộc đấu tranh giữa Áo và Phổ, sự tham gia của Anh chỉ giới hạn ở việc hỗ trợ tài chính cho Frederick, hỗ trợ hải quân quan trọng và một lực lượng bộ binh nhỏ. Nhưng sự bùng nổ của Chiến tranh Bảy năm đã đưa đến đỉnh điểm các cuộc đấu tranh đang diễn ra giữa Anh và Pháp ở các thuộc địa hải ngoại, đặc biệt là ở Bắc Mỹ, nơi hai quốc gia chiến đấu quyết liệt để giành quyền kiểm soát lục địa đó, một cuộc đấu tranh sau này được gọi là Chiến tranh Pháp và Da Đỏ .
Cuộc xâm lược của Frederick đã mang lại chiến thắng đầu tiên trước người Saxon và người Áo tại trận Lobositz (nay là Lovosice ở Cộng hòa Séc) vào tháng 10 năm 1756. Ông tiến vào Bohemia nhưng bị người Áo chặn lại tại trận Kolín (nay cũng tại Cộng hòa Séc) vào tháng 6 năm 1757. Người Anh đã phải chịu một thất bại nghiêm trọng vào tháng 7 khi lực lượng liên minh Hanover-Hesse-Đức bị Pháp đánh bại và buộc phải ký Công ước Klosterzeven, cho phép người Pháp chiếm đóng Hanover. Tuy nhiên, Vua George II của Anh đã sớm bác bỏ hiệp định, tước quyền chỉ huy của công tước và thay thế ông bằng Hoàng tử Ferdinand xứ Brunswick, một quân nhân Phổ được kính trọng, người sẽ chỉ huy lực lượng Anh-Đức từ nay về sau.
Vào tháng 11, Frederick đã giành được chiến thắng lớn trước lực lượng Pháp-Áo tại Rossbach, Saxony, và vào tháng 12, ông đã đánh bại quân đội Áo tại trận Leuthen ở Silesia. Một chiến thắng lớn khác của Phổ trước lực lượng Áo và Pháp diễn ra vào tháng 7 năm 1758 tại Krefeld (nay thuộc miền tây nước Đức), và vào tháng 8, gần Brandenburg, Đức, Frederick đã đánh bại một lực lượng Nga lớn hơn tại trận chiến đẫm máu Zorndorf.
Trong khi đó, ở Bắc Mỹ, nơi xung đột tập trung ở sông St. Lawrence và Ohio, cuộc chiến đã bắt đầu với một loạt chiến thắng cho người Pháp, bao gồm việc chiếm được Pháo đài William Henry ở đầu phía nam của Hồ George vào năm 1757 (trận chiến lên đến đỉnh điểm trong một cuộc thảm sát đầy tai tiếng các tù binh thuộc lực lượng người da đỏ phe Pháp, sau đó trở thành điểm tập kết của những thực dân Anh) và Pháo đài Carillon (sau này gọi là Pháo đài Ticonderoga) vào tháng 7 năm 1758. Những thất bại này đã thúc đẩy Anh đổ tiền vào cuộc đấu tranh thuộc địa của mình. Điều này, kết hợp với một trận dịch đậu mùa tàn phá các đồng minh da đỏ của Pháp vào năm 1758, đã dẫn đến một loạt chiến thắng đáng kinh ngạc của người Anh tại Louisbourg, Nova Scotia, vào tháng 8 năm 1758, tại Crown Point (nay thuộc tiểu bang New York) vào tháng 10 và tại Pháo đài Ticonderoga vào tháng 6 năm 1759; người Anh và các đồng minh da đỏ Iroquois của họ cũng đã xoay sở để đẩy lùi quân Pháp khỏi thung lũng Sông Ohio. Những chiến thắng này lên đến đỉnh điểm khi người Anh chiếm được thành trì cuối cùng của Pháp ở Quebec vào tháng 9 năm 1759, đánh dấu sự kết thúc của quyền kiểm soát của Pháp đối với Bắc Mỹ, sau đó là việc mất Montreal vào năm 1760 và thất bại trên biển ở West Indies vào năm 1762.
Năm 1759, thực ra, sẽ trở thành “Năm Chiến thắng” đối với Anh, vì ngoài chiến thắng tại Quebec, quốc gia này còn giành được hai chiến thắng hải quân lớn trước Pháp tại Vịnh Lagos, Bồ Đào Nha và Vịnh Quiberon ngoài khơi bờ biển phía tây của Pháp. Tuy nhiên, năm 1759 cũng chứng kiến vận mệnh của đồng minh Phổ của Anh trở nên tồi tệ hơn. Frederick bị lực lượng Áo-Nga đánh bại tại trận Kunersdorf, gần Frankfurt, vào tháng 8, và bị Áo đánh bại tại trận Maxen, Saxony, vào tháng 11, và những thất bại tiếp tục kéo dài đến năm 1760. Phổ thậm chí có thể đã bị tiêu diệt hoàn toàn nếu Nga không rút lui khỏi cuộc chiến tranh vào đầu năm 1762 sau khi có sự thay đổi về lãnh đạo. Nhờ vậy, Frederick có thể phục hồi và giành được một chiến thắng quan trọng tại Freiberg, Saxony, vào tháng 10 năm 1762, đẩy quân Áo khỏi Silesia.
Việc Nga rút lui và tình trạng kiệt quệ hoàn toàn đã khuyến khích tất cả các bên tìm kiếm hòa bình. Theo Hiệp ước Paris ngày 10 tháng 2 năm 1763, Pháp buộc phải nhượng lại toàn bộ lãnh thổ Bắc Mỹ cho Anh, ngoại trừ New Orleans, St. Pierre và Miquelon, và các đảo Guadeloupe và Martinique ở Caribe. Hiệp ước Hubertusburg, được ký năm ngày sau đó, về cơ bản đã đưa châu Âu trở lại nguyên trạng trước chiến tranh, với Phổ vẫn kiểm soát Silesia và vị thế của nước này ở châu Âu được nâng cao đáng kể.
MỘT CUỘC ĐỘT KÍCH VÀO BAN ĐÊM MANG CHIẾN THẮNG GIÀNH THÀNH PHỐ KIỂM SOÁT VÙNG BẮC MỸ
Trận chiến Quebec, 1759
Khi mùa hè chuyển sang thu năm 1759, Quebec, pháo đài đáng sợ trên bán đảo đá nhô ra Sông St. Lawrence, là pháo đài đáng tự hào nhất của Pháp ở Canada và cùng với thị trấn Montreal ít quan trọng hơn về mặt chiến lược, xa hơn về thượng nguồn sông, là pháo đài lớn cuối cùng của quốc gia này ở Bắc Mỹ. Pháo đài lớn Louisbourg trên bờ biển Đại Tây Dương tại Cape Breton đã rơi vào tay súng quân Anh vào mùa hè năm 1758, mở đường cho cuộc tiến công thủy bộ của lực lượng Anh lên Sông St. Lawrence đến tận ngưỡng cửa Quebec. Đối với người Anh, Quebec sẽ là một phần thưởng vinh quang, vì nơi đây kiểm soát tuyến đường thủy dẫn thẳng đến trung tâm của lục địa và ngành buôn bán lông thú béo bở của nơi này. Bất kỳ ai kiểm soát được Quebec đều kiểm soát được Bắc Mỹ.
Hạm đội Anh đã đến con sông bên ngoài thành phố vào tháng 6 năm 1759. Hạm đội gồm 49 tàu và chở theo 8.500 binh lính Anh dày dạn kinh nghiệm (trong số các sĩ quan của hạm đội có một người tên là James Cook, nhà thám hiểm tương lai của Thái Bình Dương). Theo lệnh của Thiếu tướng James Wolfe, sĩ quan chỉ huy, binh sĩ đổ bộ lên đảo Ile d’Orléans, ngay hạ lưu thành phố. Sau đó, Wolfe bắt đầu thiết lập một đội quân, với đội quân này, ông bắt đầu bắn phá liên tục vào Quebec, nơi nằm ở độ cao 350 feet (106 m) so với mặt nước sông, sau những bức tường cao. Vào ngày 12 tháng 7, Wolfe cũng ra sức tấn công trực diện vào lực lượng Pháp cố thủ đào hầm cách Quebec 6 dặm (10 km) về phía nam, nhưng đã bị đẩy lùi với hơn 400 thương vong của quân Anh.
Cuộc pháo kích vẫn tiếp tục không ngừng, nhưng Quebec vẫn không hề hấn bởi các cuộc tấn công của Wolfe. Đạn pháo tầm xa có thể khiến cuộc sống của người Quebec trở nên khốn khổ, nhưng không thể phá hủy các bức tường của thành phố.
James Wolfe là một trong những nhân vật quân sự hấp dẫn nhất trong lịch sử Anh. Vào thời điểm diễn ra trận chiến giành Quebec, ông mới 32 tuổi và là một ngôi sao đang lên của quân đội Anh, được chính Bộ trưởng Ngoại giao William Pitt ưa chuộng. Wolfe đã mài giũa bản thân khi chiến đấu với quân nổi loạn Jacobite ở Scotland, và đã chứng tỏ mình trong cuộc bao vây Louisbourg bằng cách tìm ra cách vào pháo đài trước đây không thể tiếp cận.
Wolfe là một con người lập dị: cao, gầy gò, tóc đỏ, gần như chỉ còn da bọc xương, lạnh lùng và hống hách. Có điều gì đó ở ông, như nhà sử học John Keegan đã viết, khiến “phải ớn lạnh”. Ông cũng ốm yếu, hay bị lao, dễ bị sỏi thận gây đau đớn, và có lẽ bị suy yếu do bị bác sĩ nhiều lần trích máu trong quá trình điều trị. Khi đến Quebec, Wolfe dường như tin chắc rằng mình sẽ chết rất sớm, một sự thật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những sự kiện sắp xảy ra.

ĐÁNH CHIẾM QUEBEC, MÔ TẢ VIỆC ĐỔ BỘ TẠI L’ANSE AU FOULON VÀ TRẬN ĐÁNH TIẾP THEO TRÊN ĐỒNG BẰNG ABRAHAM. (Một bức tranh khắc màu của Anh)
Ban đầu không thể tìm được đường vào Quebec, Wolfe phải giải quyết bằng cái mà ông gọi là “Cuộc chiến tranh tồi tệ nhất… Giao tranh thảm khốc và tàn phá.” Trong suốt tháng 7 và tháng 8, binh lính ông đã tỏa khắp vùng nông thôn đồng quê xinh đẹp bên ngoài Quebec, nơi có nhiều trang trại, nhà thờ và cối xay gió, và biến nơi này thành một vùng đất hoang tàn đầy khói. Theo ước tính vào thời điểm đó, có 1.400 trang trại bị phá hủy. Không ai biết có bao nhiêu sinh mạng đã mất. Mục tiêu của Wolfe là dụ quân Pháp ra khỏi Quebec để giao chiến. Nhưng lời mời đã liên tục bị đối thủ của ông, Hầu tước Louis-Joseph de Montcalm, từ chối.
Lớn hơn Wolfe 15 tuổi, Montcalm là một quân nhân chuyên nghiệp, một nhà quý tộc đã ra trận khi mới 15 tuổi. Ông đã bị thương nhiều lần trong Chiến tranh Kế vị Áo và cho đến nay đã phục vụ xuất sắc trong Chiến tranh Bảy năm, ghi được một loạt thành công chống lại người Anh trong những năm đầu của cuộc xung đột. Quân đội của ông có khoảng 12.000 người, được gom lại từ khắp mọi nơi ở Canada, mặc dù nhiều người trong số họ là dân quân chưa được thử lửa (thậm chí có một đơn vị gồm 35 người từ một chủng viện Dòng Tên địa phương). Với lực lượng này, Montcalm đã cố gắng củng cố không chỉ Quebec mà còn cả các cao điểm thượng nguồn của thành phố, trong trường hợp hạm đội Anh xoay xở để vượt qua được hàng phòng thủ của thành phố. Hầu hết lực lượng trấn giữ các cao điểm đều là dân quân, vì vậy Montcalm cũng đã tăng cường cho họ 1.000 quân chính quy do một phụ tá hàng đầu, Louis-Antoine de Bougainville (nhà thám hiểm Thái Bình Dương tương lai thứ hai có mặt tại trận chiến) chỉ huy.
Dù đã cố gắng hết sức, Wolfe, đang chán nản và bị sốt cao, vẫn không tìm ra cách nào để vượt qua những hàng phòng thủ này. Ông triệu tập một cuộc họp với ba lữ đoàn trưởng của mình, tất cả đều khinh thường ông – một cảm giác mà ông đáp lại. Lời khuyên của họ chỉ đơn giản là cố gắng vượt qua thành phố và cắt đứt các tuyến tiếp tế; thành phố sẽ chết đói trong mùa đông sắp đến. Nhưng Wolfe hoàn toàn không chắc chắn rằng mình, hoặc binh sĩ mình, sẽ sống sót qua mùa đông sắp tới.
Con đường dẫn đến chiến thắng
Một lối thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan của Wolfe đã được một nhân vật đầy màu sắc tên là Robert Stobo cung cấp. Là một đại úy trong lực lượng thực dân Anh, Stobo đã bị người Pháp bắt giữ từ năm 1755 và bị giam giữ tại Quebec. Sau khi lực lượng của Wolfe đến, anh đã trốn thoát và đi đến trại lính Anh trên đảo Ile d’Orléans. Tại đó, anh đã kể cho Wolfe nghe về một con đường mòn hẹp dẫn lên vách đá đến Quebec từ một nơi gọi là L’Anse au Foulon (Fuller’s Cove), phía thượng nguồn của thành phố. Theo Stobo, người Pháp biết về con đường mòn này, nhưng tin rằng một đội quân sẽ không bao giờ vượt qua được con đường đó, nên chỉ bố trí một lực lượng nhỏ ở cuối con đường.
Ngày hôm sau, Wolfe đi theo sông St. Lawrence trên chiếc thuyền nhỏ, cải trang thành một người lính bình thường, và dành nhiều giờ nghiên cứu con đường qua kính viễn vọng. Khi trở về, ông đã lập một kế hoạch táo bạo: gửi một đoàn quân Anh lên đường, để họ áp đảo quân Pháp ở đó và thiết lập một bàn đạp. Phía sau họ sẽ là phần còn lại của quân đội, sẵn sàng chiến đấu.
Có một số bằng chứng cho thấy Wolfe, người có ý định chỉ huy cuộc tấn công, tin rằng cuộc tấn công sẽ thất bại và ông sẽ chết trên vách đá phía trên L’Anse au Foulon. Bởi vì, như ông suy đoán, dù sao thì ông cũng sắp chết, đây sẽ là cách thoát khỏi tình thế khó khăn của ông: ông có thể tự phủ lớp vinh quang cho mình, ngay cả khi ông không thể bao vây Quebec thành công. Vào ngày 12 tháng 9, đêm xảy ra cuộc tấn công, ông đã đưa di chúc, giấy tờ cá nhân và ảnh của vị hôn thê cho một người bạn, rồi mặc một bộ quân phục hoàn toàn mới.
Nhưng buổi tối diễn ra tốt hơn nhiều so với những gì Wolfe, người ám ảnh về cái chết của mình, mong đợi. Ông và lực lượng khoảng 5.000 người lướt trôi nhẹ nhàng trên sông St. Lawrence ngay trước mũi quân Pháp. Wolfe leo lên vách đá cùng với một đội gồm 200 Thủy quân Lục chiến Hoàng gia, đánh đuổi quân đồn trú của Pháp mà không gặp rắc rối gì, và vào lúc 4 giờ sáng ngày 13 tháng 9, ông thấy mình vẫn còn sống. Không chỉ vậy, hàng nghìn quân Anh khác cũng leo lên con đường vách đá và nhanh chóng tập trung quanh ông. Vì vậy, một lúc sau bình minh, Wolfe đã hành quân 5.000 người của mình 2 dặm (3,2 km) qua những cơn mưa rào nhẹ đến Đồng bằng Abraham, một khu vực rộng, bằng phẳng, thoáng đãng ở phía tây thành phố, và bố trí quân đội theo một đội hình rộng lớn băng qua Grand Allée, con đường chính vào thị trấn.
Montcalm, người đã thức gần hết đêm để giám sát việc phòng thủ ở một phần khác của tuyến phòng thủ Pháp, đã cưỡi ngựa đến vào khoảng 7 giờ sáng thì đã thấy quân Anh dàn trận trước mặt mình. Ông không thể tin vào mắt mình và nói với một phụ tá, “Tôi thấy họ ở nơi mà họ không thể hiện diện.” Một trong những người lính của ông sau này nhớ lại rằng Montcalm trông “như thể đã thấy số phận của mình đang đè nặng lên người.”
Montcalm giờ đây phải đưa ra quyết định. Người Anh muốn giao chiến và đã bất ngờ tấn công kẻ thù. Tuy nhiên, thời gian không đứng về phía họ: lực lượng của Bougainville, đóng quân ở thượng nguồn, chắc chắn đã nghe thấy tiếng súng và đang chạy nhanh trở lại để tấn công quân Anh ở phía sau. Tất cả những gì Montcalm phải làm là ngồi im bên trong các bức tường của Quebec.
Nhưng thay vào đó, ông gần như ngay lập tức ra lệnh cho quân lính của mình xông ra ngoài tấn công quân Anh. Lý do tại sao ông làm như vậy vẫn chưa rõ: Wolfe hiện đã ở vị trí có thể thiết lập súng công thành, và có thể Montcalm lo sợ rằng Quebec không thể chịu được một cuộc pháo kích như vậy. Bất kể lý do của ông là gì, thì đó chắc chắn là một sai lầm khủng khiếp.
“Cú vô lê hoàn hảo”
Khi bộ binh chính quy của Pháp xếp hàng bên ngoài Quebec, người da đỏ Pháp và dân quân ẩn núp trong rừng ở hai bên đồng bằng đã bắn tỉa không thương tiếc vào các tuyến của quân Anh. Để đáp trả, Wolfe ra lệnh cho quân lính của mình nằm xuống, một mệnh lệnh bất thường cho bộ binh đối với một vị chỉ huy thời đó, nhưng là một mệnh lệnh rất có ý nghĩa. Tuy nhiên, Wolfe không nằm xuống mà đi dọc theo các tuyến như một con người không có bất kỳ mối lo lắng nào trên trần thế, khi hàng loạt viên đạn bay vụt qua đầu ông.

CHIẾN TRANH BẢY NĂM LÀ MỘT CUỘC XUNG ĐỘT TOÀN CẦU, Ở BẮC MỸ, TẬP TRUNG VÀO SÔNG ST. LAWRENCE VÀ OHIO Ở CÁC KHU VỰC ĐÔNG BẮC CỦA CANADA VÀ HOA KỲ NGÀY NAY, ĐƯỢC THỂ HIỆN TRÊN BẢN ĐỒ, TRẬN CHIẾN QUEBEC NĂM 1759 CUỐI CÙNG SẼ DẪN ĐẾN VIỆC MẤT TOÀN BỘ BẮC MỸ VÀO TAY ANH,
Vào khoảng 10 giờ sáng, bộ binh Pháp bắt đầu tiến lên. Wolfe ra lệnh cho quân lính của mình di chuyển, và một bức tường quân phục màu đỏ trải dài trên đồng bằng, neo ở bên trái là những người vùng cao Scotland
mặc vải kẻ caro, lực lượng mà Wolfe coi là mạnh nhất của mình. Người Pháp, mặc áo gi-lê đỏ và áo choàng trắng, lao về phía quân Anh, reo hò và la hét, nhưng họ nhanh chóng mất đi sự gắn kết trong đơn vị. Khi họ đến một điểm cách phòng tuyến của quân Anh khoảng 130 yard (120 m), nhiều người trong số họ đã nổ súng; nhưng họ ở xa tầm bắn của súng hỏa mai, và những viên đạn của họ không gây ra nhiều thiệt hại cho quân Anh.
Tuy nhiên, quân Pháp vẫn tiếp tục tiến lên, và binh lính Anh quỳ xuống và chuẩn bị. Wolfe đã ra lệnh cho họ nạp đạn đôi vào súng của mình và, như một trung sĩ sau này nhớ lại, “không được bắn một phát nào cho đến khi kẻ thù cách mũi lưỡi lê của chúng tôi 40 yard.” Theo truyền thuyết, một loạt đạn duy nhất, một “phát đạn hoàn hảo”, như một sĩ quan Anh gọi, đã khai hỏa đồng loạt vào kẻ thù bởi tất cả binh lính trong đội hình Anh; chắc chắn, không quá ba viên mỗi người. Trong mọi trường hợp, tác động của hàng ngàn viên đạn súng hỏa mai bắn ra ở khoảng cách 40 yard (37 m) đã gây ra sự tàn phá. Nhiều binh lính Pháp đã bị thổi bay theo đúng nghĩa đen. Và những người vẫn còn chân quay đầu và bỏ chạy gần như ngay lập tức. Khi đó, quân vùng cao Scotland đã rút kiếm claymore – loại kiếm bản rộng truyền thống của Scotland mà cả binh lính và sĩ quan đều mang theo và đuổi theo tấn công. Tuy nhiên, điều này đã khiến quân Scotland phải hứng chịu hỏa lực từ người da đỏ và dân quân trong rừng, và họ đã phải gánh lấy thương vong nặng nề, nhờ đó quân bảo vệ Quebec có thể rút lui vào bên trong các bức tường thành phố.
Vào thời điểm này, ở phía bên phải của tuyến quân Anh, Wolfe đã tử thương do hỏa lực từ bên sườn. Ông đang bị thương mới đây, một vết cắt sâu ở cổ tay do một viên đạn sượt qua, nhưng ông vẫn thản nhiên băng bó bằng khăn tay. Nhưng khi quân Pháp quay lại tháo chạy, ông đã trúng một viên đạn trực tiếp vào ngực. Ông đã chết ngay sau đó, như ông đã dự đoán, nhưng không phải là không biết rằng quân mình đã khiến kẻ thù phải bỏ chạy. Cái chết anh hùng của ông sau đó đã được tưởng nhớ trong nghệ thuật và văn học, đặc biệt là trong một bức tranh sơn dầu nổi tiếng của Benjamin West, Cái chết của Tướng Wolfe (khoảng năm 1771), mô tả vị chỉ huy người Anh trong tư thế của Chúa Kitô bị hạ xuống khỏi cây thánh giá.

Cái chết của vị tướng Anh 32 tuổi JAMES WOLFE trong trận chiến chống lại quân đội Pháp ở QUEBEC được thể hiện trong bức tranh sơn dầu nổi tiếng của họa sĩ người Mỹ BENJAMIN WEST,
Trớ trêu thay, ngay sau khi Wolfe chết, Bougainville cuối cùng đã xuất hiện cùng với những người lính của mình trên Grand Allée, nhưng quân Anh đã tập hợp lại để thiết lập một tuyến phòng thủ và đánh đuổi ông ta. Nếu ông ta xuất hiện sớm hơn một giờ, số phận của Quebec và Bắc Mỹ có thể đã rất khác.
Khi quân Pháp rút lui, Montcalm cũng bị thương nặng, trúng mảnh đạn từ một khẩu pháo của Anh. Ông được một số binh lính hộ tống vào thành phố, giữ ông ngồi thẳng trên lưng ngựa mà ông nhất quyết cưỡi. Ông qua đời vào sáng hôm sau và được chôn trong một hố đạn pháo trong khu vườn của một tu viện Ursuline. Cái chết của ông cũng sớm được các nghệ sĩ và nhà văn thần thoại hóa.
Khi Montcalm qua đời, người Pháp vẫn kiểm soát Quebec, và vẫn còn một lực lượng lớn dân quân và người da đỏ bên ngoài thành phố, cũng như quân đội của Bougainville. Tuy nhiên, tinh thần của người Pháp đã bị phá vỡ, và với khẩu phần ăn đang cạn kiệt, thành phố đã đầu hàng vào ngày 18 tháng 9. Quân Pháp sẽ dồn sức chiếm lại thành phố vào năm sau, nhưng việc đó đã thất bại, và sự sụp đổ của Quebec sẽ dẫn đến việc mất toàn bộ Bắc Mỹ vào tay Anh.
NHÀ CHIẾN THUẬT SÁNG SUỐT CỦA PHỔ ĐÃ RÈN LUYỆN QUÂN ĐỘI CỦA MÌNH TRỞ NÊN VĨ ĐẠI
Đối với quân đội của mình, Vua Frederick II của Phổ là “Ông già Fritz”, một người đàn ông có khuôn mặt dữ tợn, ghét đời, người đã dạy binh sĩ phải biết sợ mình và các sĩ quan của họ hơn là sợ kẻ thù. Tuy nhiên, những người lính cũng tôn trọng ông. Bởi vì chính quan niệm của ông về sức mạnh quân sự Phổ đã đưa đất nước này trở thành một trong những cường quốc của châu Âu vào giữa thế kỷ XVIII.
Frederick sinh năm 1712. Khi còn trẻ, ông quan tâm đến nghệ thuật hơn là quân sự và thường xuyên bất hòa với cha mình, Vua Frederick William I. Tuy nhiên, khi lên ngôi vào năm 1740, ông nhanh chóng nhận ra rằng Phổ đang phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Một quốc gia nhỏ được tạo thành từ các công quốc tách biệt và được bao quanh bởi các quốc gia lớn hơn, thịnh vượng hơn – Frederick gọi đó là “một loài nhuyễn thể không có vỏ” – hoặc là phải chấp nhận bị các nước láng giềng nuốt chửng hoặc cố gắng mở rộng và do đó bảo tồn chính mình.
Frederick biết rằng, xét theo cơ sở dân số của đất nước mình, ông chỉ có thể xây dựng một đội quân không quá 150.000 người. Do đó, quân đội của ông phải có chất lượng chứ không thể có số lượng. Vì vậy, ông tập trung vào huấn luyện và kỷ luật nghiêm ngặt. Vì đội quân nhỏ của ông không thể tham gia vào các cuộc xung đột kéo dài và đẫm máu, Frederick đảm bảo rằng nó có khả năng cơ động cao. Ông liên tục huấn luyện quân đội theo nhịp quân hành – điều chưa từng thấy kể từ thời La Mã – theo đó binh sĩ hành quân theo nhịp điệu của những câu xướng họa; điều này giúp họ đều bước, nhờ đó họ dễ dàng chuyển từ đội hình hàng dọc sang hàng ngũ chiến đấu. Ông cũng huấn luyện binh lính bắn được nhiều phát súng hỏa mai mỗi phút hơn bất kỳ đội quân nào khác và huấn luyện kỵ binh của mình tấn công mạnh hơn và nhanh hơn bất kỳ quân kỵ binh nào mà họ phải đối mặt.
Việc Maria Theresa lên ngôi gây tranh cãi với tư cách là Nữ Hoàng La Mã Thần thánh đã mang đến cho Frederick cơ hội hoàn hảo để thử nghiệm cỗ máy quân sự của mình và đồng thời bắt đầu mở rộng nước Phổ mà ông cảm thấy cần thiết cho sự tồn tại của nó. Và trong cuộc xung đột sau đó, quân đội của ông đã chứng minh được bản thân hết lần này đến lần khác, liên tục đánh bại các lực lượng lớn hơn của Pháp và Áo. Nhưng cuối cùng, quân đội đã bị áp đảo và suy yếu gần một nửa tại Kunersdorf vào năm 1759, một thất bại thảm hại đến mức Frederick gần như thoái vị.
Mặc dù vậy, khi chiến tranh kết thúc, Phổ vẫn còn nguyên vẹn và đã phát triển rất nhiều về quy mô. Frederick trị vì cho đến cuối đời, trao đổi thư từ với triết gia Voltaire và cai trị Phổ như một nhà độc tài sáng suốt. Tuy nhiên, theo thời gian, ông trở nên lập dị và cô độc, lang thang trên đường phố Berlin một mình hoặc cùng với những chú chó săn xám yêu quý của ông. Ông qua đời ở tuổi 74 vào năm 1786.
SỰ RA ĐỜI CỦA HẢI QUÂN HÙNG MẠNH NHẤT THẾ GIỚI
Hải quân Hoàng gia Anh đã đánh bại mọi hạm đội khác trong Chiến tranh Bảy năm và là lý do chính cho chiến thắng của Anh. Là một quốc đảo, Anh có lực lượng hải quân được thành lập tốt hơn nhiều so với Pháp khi bắt đầu cuộc xung đột, và đây hóa ra là cách hiệu quả nhất để Anh bù đắp cho tỉ lệ dân số (Pháp có 25 triệu dân, trong khi chỉ có 7 triệu người Anh).
Người Anh mở đầu cuộc chiến với trọng tải 250.000 tấn và kết thúc với khoảng 340.000 tấn; còn người Pháp sẽ khoác lác, nhiều nhất, là 147.000 tấn. Người Anh cũng rất giỏi trong việc bắt giữ tàu Pháp và sau đó là tàu của Tây Ban Nha, mà họ bổ sung vào hạm đội của mình, cùng với các tàu liên tục được người Anh chế tạo – người Anh đã bổ sung 69 tàu mới hoặc được tân trang vào hạm đội của họ trong suốt quá trình chiến tranh, người Pháp chỉ bổ sung 6 tàu. Người Pháp còn bị cản trở thêm bởi sự bất đồng trong giới lãnh đạo cao cấp của chính phủ về cách phân chia nguồn lực hải quân giữa đất liền và biển.
Người Anh sử dụng ưu thế hải quân của họ theo ba cách: bắt giữ và phá hủy các tàu buôn của Pháp đi từ Ấn Độ và Bắc Mỹ đến châu Âu, phong tỏa hạm đội Pháp ngay tại vùng biển quê nhà của họ và tấn công hạm đội Pháp ở bất cứ nơi nào họ tìm thấy. Năm 1759, tại các trận chiến ở Vịnh Lagos, Bồ Đào Nha và Vịnh Quiberon, trên bờ biển phía tây nước Pháp, người Anh đã ghi nhận những chiến thắng hoàn toàn đến mức, như một nhà sử học đã viết, họ chỉ đơn giản là “quét sạch quân Pháp khỏi đại dương”.
Chiến thắng hoàn hảo của hải quân Anh trong Chiến tranh Bảy năm đã mở ra cánh cửa cho những chuyến hải trình vòng quanh thế giới của những người như Thuyền trưởng James Cook, mang lại cho quốc gia này khối tài sản khổng lồ từ hoạt động thương mại vào cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX.
VŨ KHÍ BIẾN CHIẾN TRƯỜNG THÀNH LÒ SÁT SINH
Súng hỏa mai là vũ khí chính của Chiến tranh Bảy năm đối với tất cả các đội quân tham gia. Được giới thiệu vào đầu thế kỷ thứ 18, súng hỏa mai không chính xác ở khoảng cách xa hơn 50 yard (46 m), nhưng lần đầu tiên nó cho phép hỏa lực tập trung và nhanh chóng (một xạ thủ súng hỏa mai được đào tạo có thể bắn ba viên đạn một phút).
Đổi lại, việc sử dụng rộng rãi súng hỏa mai đã thay đổi cách quân đội điều động và sắp xếp đội hình. Các tuyến đầu mở rộng chỉ sâu hai người, cho phép bắn hàng loạt, đã trở thành chuẩn mực trong trận Leuthen, các tuyến của quân Áo rộng 4,5 dặm (7,2 km). Mỗi tiểu đoàn dọc theo tuyến được hai hoặc ba khẩu pháo hỗ trợ, cung cấp thêm hỏa lực nhưng cũng đánh dấu ranh giới phân chia giữa các tiểu đoàn. Những người lính được chia thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm bắn một loạt đạn theo lượt, từ trung tâm của tuyến ra hai bên cánh. Sau ba loạt đạn, những người lính sẽ bắn theo ý muốn.
Ở cự ly gần, viên đạn súng hỏa mai nặng có thể gây ra thiệt hại khủng khiếp, khiến cho chiến trường của Chiến tranh Bảy năm, như nhà sử học Frank McLynn đã viết, “trở thành cảnh tượng tàn sát kinh hoàng với những thương binh chạy tứ tung không có mắt, mũi hoặc các chi.” Cái gọi là “bắn loạt đạn hoàn hảo” do quân Anh bắn vào Quebec, bắn khoảng 3.000 viên đạn súng hỏa mai vào quân Pháp ở cự ly gần, là giấc mơ của một sĩ quan chỉ huy, nhưng nó đã biến chiến trường thành lò sát sinh.