Các Cuộc Chiến Tranh Vĩ Đại Nhất trong Lịch Sử (Bài 2)

 JOSEPH CUMMINS

Trần Quang Nghĩa dịch

 2 CÁC CUỘC CHIẾN CỦA ALEXANDER ĐẠI ĐẾ  336-323 TCN

CHIẾN DỊCH CHINH PHỤC PHI THƯỜNG ĐÃ TRUYỀN BÁ VĂN HÓA HY LẠP KHẮP TRUNG ĐÔNG VÀ TRUNG Á

TỔNG QUAN: SỰ NGHIỆP CHINH PHỤC ĐI TRƯỚC SỰ TAN RÃ NHANH CHÓNG CỦA MỘT ĐẾ CHẾ

Các cuộc chiến tranh của Alexander Đại đế diễn ra một thế kỷ rưỡi sau khi các thành bang Hy Lạp đánh đuổi Đế chế Ba Tư và giành được độc lập. Athens và các thành bang đồng minh sau đó đã chiến đấu với Sparta và các đồng minh của họ để giành quyền thống trị Hy Lạp trong Chiến tranh Peloponnesia (431-404 TCN), một cuộc xung đột đẫm máu và tàn khốc mà cuối cùng Sparta đã giành chiến thắng. Những cuộc chiến này đã làm Hy Lạp kiệt quệ đến nỗi Macedonia, một quốc gia hoang dã và nhiều núi ở phía bắc do vị tướng tài năng và chiến binh man rợ Philip II lãnh đạo, đã có thể chinh phục hầu hết Hy Lạp, ngoại trừ Sparta, vào năm 338 TCN. Sau đó, Philip bắt đầu để mắt đến lãnh thổ Ba Tư ở Tiểu Á; nhưng vào năm 336, ông đã bị ám sát và người kế vị là con trai 20 tuổi của mình, Alexander.

Alexander III, xưng hiệu khi lên ngôi, bắt đầu sự nghiệp chinh phục hiếm có. Một phần, ông chỉ đơn giản là đi theo bước chân của cha mình và tận dụng tối đa lực lượng chiến đấu tuyệt vời của Macedonia. Nhưng mong muốn chinh phục không hề thỏa mãn của ông có lẽ cũng xuất phát từ cảm giác mạnh mẽ rằng mình là người thừa kế chiếc áo choàng của người Hy Lạp cổ đại, cũng như thực tế, theo nhà sử học Norman Cantor đã nói, rằng “ông là một người đàn ông tận tụy với chiến tranh”. Sau khi củng cố biên giới phía bắc và đàn áp dã man cuộc nổi loạn của người Thebes, Alexander đã vượt qua Dardanelles vào Tiểu Á (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ) vào năm 334. Ban đầu, ông mang theo một đội quân gồm 32.000 bộ binh và 5.000 kỵ binh, bao gồm người Macedonia và các đồng minh từ các thành bang Hy Lạp khác. Ông đã đánh bại Darius III, Hoàng đế Ba Tư, trong trận chiến Granicus cùng năm đó và tiếp tục tiến xuống bờ biển Ionian, chiếm được nhiều thành phố ven biển do Ba Tư chiếm giữ. Ông tiến vào nơi hiện là miền bắc Syria vào năm 333, và trong năm đó đã đánh bại Darius lần thứ hai, tại trận Issus. Mặc dù Darius đã trốn thoát khỏi trận chiến, ông buộc phải để lại mẹ, vợ và các con mình trong tay Alexander.

Năm 332, để bảo vệ sườn phía tây của mình, Alexander quay dọc theo bờ biển Địa Trung Hải và chinh phục các cảng Phoenicia, bao gồm cả Tyre, do đó loại bỏ mối đe dọa của hạm đội Ba Tư. Ông tiếp tục đi về phía nam để giải phóng Ai Cập khỏi sự cai trị của Ba Tư, được tấn phong là pharaoh và tuyên bố mình là con trai của Amon, vị vua các thần linh Ai Cập sau chuyến viếng thăm đền thờ của Amon tại Siwah. Ông cũng thành lập thành phố Alexandria, trên cửa sông Nile.

Alexander sau đó trở về Mesopotamia để đối phó với người Ba Tư. Ông đánh bại Darius trong trận Gaugamela, sau đó chiếm giữ các thành trì của Ba Tư là Babylon, Susa và Persepolis, đánh dấu sự thất bại của Đế chế Ba Tư. Vào giữa năm 330, Darius bị anh họ và cố vấn cũ của mình, Bessus, ám sát; Alexander tìm thấy thi thể của Darius và ra lệnh an táng ông theo nghi lễ hoàng gia.

Bắt đầu từ năm 330, cùng với khoảng 50.000 quân, Alexander tiến về phía đông rồi phía bắc, chinh phục phần lớn Trung Á. Ở Bactria (nay là một phần của Afghanistan), Bessus đã cố gắng gây ra một cuộc nổi loạn quần chúng. Alexander không chỉ vượt trội hơn và đánh bại ông ta, mà còn bắt được và hành quyết ông ta vào năm 329. Sau đó, ông tiến về phía bắc đến Maracanda (nay là Samarkand), nơi ông gây tai tiếng vì đã giết chết vị tướng Cleitus của mình trong một cuộc cãi vã ngập hơi men. Điều này khiến nhiều binh lính của ông tức giận, họ vốn đã phẫn nộ với tính khí độc đoán của ông và việc ông thích thú áp dụng các phong tục Ba Tư.

Quân Alexander sau đó lại quay về phía nam, dập tắt thêm nhiều cuộc nổi loạn trên đường đi. Sau khi đánh bại một tù trưởng tên là Oxyartes, Alexander đã kết hôn với con gái của ông ta, Roxana, trong nỗ lực giành được sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo địa phương. Tuy nhiên, điều đó không kìm hãm ông lâu, và chẳng mấy chốc ông đã dẫn một đội quân lớn trở về qua Hindu Kush hướng về Ấn Độ. Đối với người Hy Lạp cổ đại, Ấn Độ là tận cùng của thế giới – họ không có khái niệm về sự tồn tại của Trung Quốc hay bất kỳ vùng đất nào xa hơn về phía đông.

Alexander đã giành chiến thắng trong những trận chiến lớn chống lại lực lượng Ấn Độ tại Aornos vào năm 327 và năm sau tại Sông Hydaspes. Nhưng binh sĩ của ông đã mệt mỏi rã rời, và vào tháng 9 năm 326, tại Sông Hyphasis, họ nhất quyết không chịu tiến xa hơn nữa. Khi rẽ về phía tây nam dọc theo thung lũng Indus, Alexander đã bị thương trong một trận chiến gần Sông Hydraotes. Sau đó, ông chia quân đội của mình, dẫn một số bộ binh đường trường vượt qua sa mạc Makran đáng sợ để trở về thủ đô Susa của mình, trong khi một nhóm khác trở về bằng thuyền qua Biển Ả Rập và Vịnh Ba Tư.

Năm 324, Alexander đến Babylon để lập kế hoạch chinh phục những tàn tích cuối cùng của Đế chế Ba Tư, ở Ả Rập. Nhưng ở đó, ông bị sốt và qua đời ở tuổi 32, vào năm 323 TCN. Sau khi ông qua đời, đế chế của ông nhanh chóng tan rã.

TÀI HÀNH QUÂN THAO LƯỢC DẪN ĐẾN KẾT THÚC CỦA ĐẾ CHẾ BA TƯ

Trận chiến Gaugamela, 331 TCN

Trong nhiều tuần, kể từ đầu mùa hè năm 331 TCN, quân đội Macedonia đã hành quân qua Syria trong cái nóng lên tới 110 độ F (43°C), người và ngựa héo mòn dưới ánh nắng thiêu đốt của mặt trời. Họ đang trên đường đến Mesopotamia, trung tâm của kẻ thù Ba Tư và là quê hương của Darius III huyền thoại, “Vị Vua Vĩ đại”. Vượt qua sông Euphrates, họ di chuyển về phía đông bắc và đến sông Tigris vào ngày 18 tháng 9. Họ lội qua  dòng nước theo hàng ngũ trật tự. Có lúc, một trận lũ quét đã cuốn trôi người và ngựa. Nhưng khi nước rút bớt, cuộc hành quân không ngừng nghỉ lại tiếp tục. Dẫn đầu đoàn quân khổng lồ là vị chỉ huy trẻ tuổi và đầy sức lôi cuốn, Alexander III. Uy dũng và kiên quyết, ông chỉ huy quân lính của mình tiến lên, không bao giờ quên mục tiêu trước mắt: phá hủy đế chế Ba Tư hai trăm năm tuổi.

 

Khúc khải hoàn của Alexander, hay  Alexander tiến vào Babylon

 Tranh sơn dầu  của Charles Le Brun (1619-90)

Sáng sớm ngày 29 tháng 9, thủ lĩnh người Macedonia cưỡi ngựa đi trước đoàn quân của mình cùng với một nhóm trinh sát gồm những kỵ binh tinh nhuệ. Leo lên chậm rãi, cuối cùng họ đã đến đỉnh của những dãy núi thấp nhìn xuống đồng bằng Gaugamela bát ngát và quay trở lại trong cơn sốc. Ngay cả Alexander cũng có vẻ kinh ngạc khi nhìn vào khoảng không. Mặc dù ông đã nghe về quy mô của lực lượng Ba Tư, nhưng thật khác khi nhìn thấy nó ở đây trước mặt mình: 250.000 binh sĩ dàn trận xa tít tắp đến tận chân trời, trong làn khói bụi mù và hơi nóng. Không chỉ vậy, Darius còn có ít nhất 40.000 kỵ binh được trang bị vũ khí hạng nặng, và Alexander cũng có thể nhìn thấy xe ngựa và khoảng 15 con voi chiến.

Alexander có 40.000 bộ binh và khoảng 7.000 kỵ binh. Tất cả đều là những cựu chiến binh Macedonia đã tôi luyện qua bốn năm chiến đấu. Nhưng họ quá ít quân nên có vẻ như chắc chắn họ sẽ bị đánh bại.

Trong trận chiến Issus, hai năm trước đó, Alexander đã đánh bại Darius một phần vì Vua Ba Tư đã dại dột chọn chiến đấu trên một dải bờ biển hẹp – một mặt trận chỉ rộng 3 dặm (5 km) nơi ông không thể phát huy sức mạnh của lực lượng vượt trội hơn nhiều về quân số. Lần này, biết rằng quân đội của mình đông hơn quân Macedonia gấp năm lần, Darius đã cố tình điều động lực lượng của mình để đưa Alexander đến đồng bằng rộng lớn này. Ngoài ra, trong tuần kể từ khi ông đến, ông đã chuẩn bị chiến trường, đặt bẫy ẩn (hố đầy cọc nhọn) và cẩn thận nện bằng phẳng các khu vực rộng, trên đó ông dự định sử dụng vũ khí đáng gờm nhất: chiến mã xa có gắn lưỡi hái vào bánh xe, sẽ cắt bộ binh Macedonia như cắt lúa mì đẫm máu.

Tuy nhiên, mặc dù nắm thế thượng phong, Darius đã cố gắng đàm phán với Alexander. Lời đề nghị hòa bình của ông, lớn hơn bất kỳ lời đề nghị nào trước đó, là: ngoài việc trả 30.000 ta-lăng bạc để chuộc mẹ và các con, ông còn đề nghị dâng tặng Alexander toàn bộ lãnh thổ phía tây sông Euphrates. Tuy nhiên, khi các sứ giả của Đại vương mang đến cho Alexander lời đề nghị này, một cuộc trao đổi nổi tiếng đã diễn ra với vị tướng chỉ huy của ông, Parmenio: “Nếu tôi là Alexander,” Parmenio nói, “tôi sẽ chấp nhận lời đề nghị này.” “Tôi cũng sẽ chấp nhận,” Alexander trả lời, “nếu tôi là Parmenio.”

Alexander, đúng là Alexander, đã từ chối lời đề nghị của Darius.

Một thế trận chặt chẽ

Alexander đã dành cả ngày sau khi đến Gaugamela để đi vòng quanh rìa chiến trường, lập kế hoạch. Thông qua những lính đào ngũ Ba Tư, ông đã xác định được vị trí của các hố ẩn, và cũng phát hiện ra lý do tại sao Darius đã dọn bằng phẳng vùng đồng bằng rộng lớn. Người Macedonia thấy rõ rằng họ đang ở trong một vị trí cực kỳ khó khăn, chắc chắn sẽ bị đánh úp và có thể bị bao vây bất kể họ bố trí lực lượng ở đâu.

Parmenio đề nghị với Alexander rằng quân Macedonia nên thử một cuộc tấn công ban đêm, để gây bất ngờ và làm quân Ba Tư hoảng sợ, nhưng Alexander đã từ chối ý tưởng này. Ông không chỉ coi các cuộc tấn công ban đêm là đáng xấu hổ – “Alexander phải đánh bại kẻ thù của mình một cách công khai và không có sự ngụy tạo”, ông nói với Parmenio nhưng ông cũng biết rằng những hoạt động như vậy rất khó lường và hỗn loạn.

Tuy nhiên, tin đồn về một cuộc tấn công ban đêm sẽ không phải là tin xấu để lan truyền, Alexander nghĩ, và ông đã chỉ thị cho các điệp viên của mình tung tin là mình đang cân nhắc điều đó. Kết quả là, Darius đã giữ một phần lớn quân đội của mình thức suốt đêm để chờ đợi một cuộc tấn công không bao giờ xảy ra.

Trong khi đó, Alexander ngồi một mình trong lều và lập kế hoạch.

Lực lượng chiến mã xa

Sáng hôm sau, ngày 30 tháng 9, mặt trời mọc và quân đội Macedonia thức dậy, ăn sáng và nai nịt vũ khí. Cách đó khoảng hai dặm (3,2 km), quân đội Ba Tư, nhiều binh lính còn ngáp dài sau khi thức trắng đêm, cũng uể oải thức dậy. Thật kỳ lạ, Alexander vẫn còn ngủ, cho đến khi cuối cùng, Parmenio phải đánh thức ông dậy. Sửng sốt trước sự máu lạnh của thủ lĩnh mình vào buổi sáng của trận chiến sinh tử trong cuộc đời, đặc biệt là khi tỷ lệ cược chống lại ông rất cao, Parmenio bày tỏ sự ngạc nhiên của mình. Alexander chỉ trả lời rằng Darius đã làm chính xác những gì mình muốn ông ta làm: tự đặt mình vào vị trí phải chiến đấu một trận chiến ác liệt với người Macedonia.

Các lộ trình hành quân của  ALEXANDER Đại Đế được đánh dấu màu hồng trong bản đồ của đế chế Macedonia,  từ  năm 336 đến 323 TCN

 

Tập hợp và truyền lệnh cho các lực lượng, ông đã tiết lộ một kế hoạch vừa đơn giản vừa thông minh, đồng thời cho thấy sự hiểu biết vô song của ông về chiến thuật quân sự. Biết rằng mình sẽ bị đánh vào sườn (trong trường hợp đó, các hàng ngũ của Ba Tư sẽ chồng lên hàng ngũ của ông khoảng 1 dặm [1,6 km]), Alexander đã ra lệnh cho lực lượng của mình xếp hàng lệch khỏi trung tâm, cách xa sườn trái của Ba Tư. Sau đó, ông bố trí kỵ binh ở cả hai cánh, một lực lượng dự bị kỳ cựu ở phía sau và khối bộ binh Macedonia ở trung tâm. Sau đó, binh lính tiến lên hoặc đúng hơn là,  lê chân sang một bên theo một góc – về phía lực lượng Ba Tư, những ngọn giáo lớn, hay sarissas, phản chiếu sáng loáng.

Alexander giữ cho quân đội của mình di chuyển theo một góc xiên, về bên phải của mình, biến sườn trái của mình thành mục tiêu hấp dẫn cho lực lượng Ba Tư đông đảo, nhưng vẫn giữ trung tâm đội  hình của mình hơi lùi lại.

Khi quân đội của Alexander tiến về phía bên phải, quân đội Ba Tư giống như một bạn nhảy cũng tiến về phía bên phải, cố gắng đánh vào sườn Alexander. Alexander càng di chuyển xa về phía bên phải của mình, ông càng tránh ra xa khỏi làn đường đã được dọn sạch dành cho các chiến mã xa của Darius, đó là một trong những ý định của ông.

Nhận ra có điều gì đang xảy ra, Darius ra lệnh cho kỵ binh ở cánh phải của mình tấn công cánh trái của quân Macedonia. Trong một đợt tấn công dữ dội, những kỵ binh Ba Tư được huấn luyện bài bản chạy nhanh qua vùng đất trống, hét lên những tiếng hò reo  hiếu sát và vẫy cờ hiệu. Nhưng họ còn phải đi một chặng đường dài mới có thể đánh vào hàng ngũ quân Macedonia, và đội kỵ binh trấn bên sườn của Alexander, mặc dù bị áp đảo về số lượng, đã phản kích vào quân Ba Tư đang mệt mỏi vì thiếu ngủ, làm chậm lại cuộc tấn công của họ và khiến họ loạng choạng lùi lại trong tình trạng hỗn loạn.

Cùng lúc đó, với hy vọng phá vỡ trung tâm của Alexander, Darius ra lệnh cho những cỗ xe ngựa lưỡi hái của mình được tung ra chống lại đội hình bộ binh chính của Macedonia. Nhưng người Macedonia đã chuẩn bị cho họ. Alexander đã bố trí một đội hình bộ binh nhẹ ở phía trước, đội hình này tách ra để cho những cỗ xe ngựa đi qua, nhưng sau đó ném lao vào họ khi họ chạy qua, làm ngã cả ngựa và lính đánh xe. Khi những cỗ xe ngựa còn lại đến được đội hình chính của Macedonia, bộ binh cũng tạo thành các làn đường, và những cỗ xe ngựa chạy qua một cách vô hại, để rồi được xử lý ở phía sau.

Trận chiến ác liệt

Hai bên sườn và trung tâm của cả hai đội quân giờ đây đang tham gia vào một trận chém giết điên cuồng. Mặc dù Alexander phân bổ lực lượng một cách khéo léo, nhưng ưu thế về quân số của Darius bắt đầu bộc lộ, và trung tâm của Alexander sớm có vẻ như có nguy cơ bị áp đảo. Nhưng sau đó Alexander, trong lúc giao tranh dữ dội, được bao quanh bởi các vệ sĩ tinh nhuệ của mình, nhóm Chiến Hữu (nhóm bè bạn thân cận của Alexander, luôn theo sát ông trong mọi chiến dịch), phát hiện ra một khoảng trống ở trung tâm bên trái của đội hình Darius. Alexander liền hình thành lực lượng dự bị của mình thành một cái nêm khổng lồ, với chính mình ở mũi nhọn, và tấn công. Đập tan điểm yếu, quân Macedonia tiến thẳng đến đội cận vệ ngự lâm của Darius, đánh tan tác họ. Chỉ trong vài phút, vận mệnh của trận chiến đã thay đổi. Binh lính của Alexander đã quay lại và tấn công vào hậu phương của quân Ba Tư, giải tỏa áp lực cho lực lượng chính của họ.

Những gì xảy ra tiếp theo là chủ đề của nhiều truyền thuyết. Một số nguồn cổ xưa kể rằng Darius tấn công Alexander, nhưng Alexander đã phóng giáo giết được tên lái chiến mã xa của Darius, và một tin đồn sai lệch sau đó lan truyền rằng Darius đã chết, khiến quân Ba Tư bắt đầu rút lui trong tình trạng hỗn loạn. Những tin đồn khác nói rằng Darius, thấy mình đang gặp nguy cơ bị cắt đứt và bao vây, đã chạy trốn trước khi bị bắt. Bất kể điều gì xảy ra, kết quả đều giống nhau: Đại đế của người Ba Tư đã chạy trốn qua đồng bằng rộng lớn mà ông dàn trận mong giành chiến thắng để bảo toàn mạng sống của mình, và hầu hết quân đội của ông đã tách ra và chạy theo ông.

Thấy Darius bỏ chạy, quân Macedonia, đặc biệt là lực lượng của Parmenio, những người đã chiến đấu dữ dội cả ngày, bắt đầu truy đuổi. Quy mô cuộc tàn sát rất lớn, một số nhà sử học cho biết hàng chục nghìn người Ba Tư đã bị giết chỉ trong cuộc truy đuổi này, kéo dài ít nhất cho đến nửa đêm.

Đến cuối ngày, Alexander đã đánh bại một đội quân hùng mạnh hơn hẳn về số lượng, gây ra thương vong lên đến 50.000 người, trong khi bản thân ông chỉ mất từ 500 đến 1.500​​ người. Đế chế Ba Tư đã đi đến hồi kết, và Alexander giờ đây là Chúa tể không thể tranh cãi của Châu Á.

ALEXANDER, như được mô tả trong bức tranh khảm ở ngôi nhà của Faun ở Pompeii, Ý 

ALEXANDER ĐẠI ĐẾ: CON TRAI MỘT VỊ THẦN ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG THÀNH TỰU HIỂN HÁCH VÔ ĐỐI

Khi trưởng thành, Alexander thích khẳng định mình được thần Zeus sinh ra. Mẹ của ông, Olympias, ủng hộ ông, khẳng định rằng đêm trước lễ cưới của bà với Vua Philip II của Macedonia, bà đã bị một tia sét xâm nhập tình dục và một ngọn lửa đã bùng cháy từ tử cung của bà. Đây là đặc điểm điển hình của Olympias xinh đẹp nhưng chắc chắn là kỳ bí – một thành viên của giáo phái Dionysian thờ rắn, bà thích mang những loài bò sát lớn lên giường với mình và ảnh hưởng của bà đã bao trùm đến Alexander trẻ tuổi.

Tuy nhiên, chính Philip đã cung cấp vũ khí mạnh nhất cho Alexander, đội quân Macedonia tinh nhuệ, và nền giáo dục phi thường của ông. Đối với một gia sư, Alexander nhận người thầy không ai khác hơn là triết gia vĩ đại Aristotle. Ông đã nuôi dưỡng ước mơ của chàng trai trẻ, trao cho anh một bản sao của Iliad, mà Alexander mang theo bất cứ nơi nào anh đến, mơ về một thế giới rộng lớn và tuyệt vời bên kia những ngọn núi bao quanh Macedonia.

Vào thời điểm Alexander 20, năm 336, ông đã có học thức sâu rộng và đã chứng kiến lửa ​​chiến đấu trong các cuộc chiến tranh của cha mình chống lại Hy Lạp. Ông đẹp trai, mặc dù hơi thấp người, với mái tóc xoăn đỏ và nước da hồng hào; ông cũng giống như mẹ mình, nhiều trực giác, thất thường và mê tín. Cái chết của cha ông vào năm đó đã mang đến cho Alexander cơ hội mở rộng đáng kể tầm nhìn của mình. Trong các cuộc chinh phạt sau đó, ông đã lãnh đạo bằng tấm gương, chiến đấu tay đôi với kẻ thù. Cái tôi của ông quá lớn đến nỗi mọi thứ đều trở nên cá nhân – trong các trận chiến chống lại Darius III, ông đã tìm cách tiếp cận kẻ thù của mình trong trận chiến tay đôi và ông đã chấp nhận rủi ro rất lớn; điều này có thể là do ông vẫn tiếp tục nghĩ rằng mình là một vị thần. Hai nhà tiên tri – một ở Delphi, Hy Lạp, nhà tiên tri kia là nhà tiên tri của Amon ở Siwah  Ai Cập – đã nói với ông như vậy. Hơn nữa, ông tin tưởng mạnh mẽ rằng số phận của mình là chinh phục châu Á.

Tuy nhiên, sau khi đánh bại Darius và lập nên đế chế, Alexander đã suy yếu nhanh chóng, một phần vì giờ đây không còn thế giới nào để chinh phục và vì những chiến thắng của ông đã làm trầm trọng thêm xu hướng ngày càng gia tăng của chứng cuồng tự đại. Ông đã sa đà vào rượu chè và, điều khiến quân đội của ông trở nên thất vọng, là đã trở nên “bị phương Đông hóa”, thích mặc áo choàng Ba Tư và khăng khăng áp đặt  các tập tục của Ba Tư như hôn tay để tỏ lòng tôn kính. Sau đó, ông thậm chí còn ra lệnh các sĩ quan của mình kết hôn tập thể với các phụ nữ Ba Tư, hy vọng sẽ thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa người Macedonia và người Ba Tư. (Hầu hết các cuộc hôn nhân đều tan vỡ ngay sau khi Alexander qua đời.)

Sau cuộc nổi loạn của quân đội và cái chết của người bạn trung thành Hephaestion, Alexander uống rượu nhiều hơn và ngày càng trở nên hoang tưởng. Ông bị bệnh và qua đời vào ngày 13 tháng 6 năm 323. Luôn trực giác, những lời cuối cùng của ông là, “Tôi thấy trước một cuộc tranh cãi về tang lễ lớn dành cho tôi.”

Cho dù Alexander là một bạo chúa, đồ tể hay một kẻ tự đại kiêu ngạo trên hành trình chinh phục bản thân, thì những thành tựu của ông vẫn chưa ai sánh kịp.

BỨC THƯ CHẾ GIỄU CỦA ALEXANDER GỬI DARIUS CHIẾM LẠI THẾ THƯỢNG PHONG TRƯỚC VUA BA TƯ

Vào năm 332 TCN, sau khi Alexander bắt được mẹ, vợ và các con của Darius trong trận Issus, vua Ba Tư đã cố gắng thực hiện một thỏa thuận để đưa họ trở về. Ông đã cử một sứ giả đến gặp nhà lãnh đạo Macedonia, lúc đó đang trên đường đến Ai Cập, với một thông điệp nêu rõ rằng nếu Alexander trả lại gia đình mình, Đại vương sẽ trả một khoản tiền chuộc phù hợp. Không chỉ vậy, nếu Alexander ký một hiệp ước hòa bình với Darius, ông sẽ nhượng lại cho ông ta “các lãnh thổ và thành phố của Châu Á ở phía tây Sông Halys [ở Tiểu Á].”

Trong một lời lẽ có thể là một lời hợm hĩnh, và chắc chắn có mùi kiêu ngạo đặc trưng của mình, Alexander đã viết thư trả lời Darius, bắt đầu một cách xấc xược, “Vua Alexander gửi Darius.” Ông nói với Darius rằng ông sẽ sẵn lòng trả lại gia đình cho Darius nếu vị vua Ba Tư đến gặp ông với cung cách khiêm cung. Nhưng về một hiệp ước hòa bình:

Trong tương lai, bất kỳ giao tiếp nào ngươi muốn thực hiện với ta phải được gửi đến vị Vua của toàn châu Á. Đừng viết thư cho ta như một người ngang hàng. Mọi thứ ngươi sở hữu bây giờ là thuộc về ta; vì vậy, nếu ngươi muốn bất cứ điều gì, hãy cho ta biết theo các điều khoản thích hợp hoặc ta sẽ thực hiện các bước để đối phó với ngươi như một tội phạm. Mặt khác, nếu ngươi muốn tranh chấp ngai vàng, hãy đứng lên và chiến đấu vì nó và đừng chạy trốn. Bất cứ nơi nào ngươi có thể ẩn náu, hãy tin chắc rằng ta cũng sẽ tìm ra.

Sau khi đọc xong, Darius hiểu rằng sẽ không có cách nào để làm hòa với chàng trai trẻ Macedonia.

XÂY DỰNG MỘT CON ĐƯỜNG ĐỂ DẪN ĐẾN SỰ HỦY DIỆT: CUỘC VÂY HÃM THÀNH TRÌ TYRE

Một khu định cư cổ đại trên bờ biển của Lebanon ngày nay, thành phố Tyre được chia thành hai phần: một phần trên đất liền và một phần trên một hòn đảo cách khoảng nửa dặm (0,8 km) ngoài Địa Trung Hải. Khi Alexander bao vây thành phố này vào năm 332 TCN, pháo đài Tyre nằm trên đảo, được bảo vệ bởi những bức tường cao tới 150 feet (46 m), và Alexander không có hải quân để tấn công thành phố. Làm sao ông có thể chinh phục được thành trì này?

Đầu tiên, ông thử ngoại giao, cử hai sứ thần đến đề xuất liên minh. Người Tyre bèn giết các sứ giả và ném xác họ xuống biển. Tức giận, Alexander nghĩ ra một kế hoạch táo bạo. Ông quyết định xây một con đường đắp cao nối đất liền và hòn đảo, một công trình phi thường nếu bạn được biết rằng vùng nước ở giữa có chỗ sâu đến 20 feet (6 m) và thường bị gió thổi mạnh. Tuy nhiên, ông đã xây dựng nó, phá hủy phần đất liền của thành phố để lấy vật liệu và tạo ra một con đường rộng 200 bộ (61 m), để ông có thể điều binh theo đội hình phalanx qua đó theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu

Người Tyre đã phái những con thuyền chở đầy cung thủ và máy bắn đá nhẹ và trút cơn mưa hủy diệt xuống những người thợ xây của Alexander; nhưng con đường đắp cao vẫn càng ngày càng dài ra. Sau đó, quân phòng vệ đã phóng một con tàu không người lái chứa đầy hắc ín đang cháy vào con đường đắp cao, những mong đốt cháy nó. Nhưng công việc vẫn tiếp tục.

Sau bảy tháng, con đường đắp cao đã hoàn thành và Alexander đã phát động cuộc tấn công. Lực lượng thành Tyre đã phòng thủ dữ dội một cách tuyệt vọng, nhưng cuối cùng thành phố đã thất thủ và Alexander xuống lệnh cho quân lính của mình giết chết hết cư dân của nó. Bảy ngàn người Tyre đã mất mạng.

Ngày nay, mặc dù chỉ còn lại một phần của con đường được đắp cao rộng hơn sau này, bạn vẫn có thể nhận ra những viên đá trên con đường lịch sử của Alexander vươn ra đại dương.

 

3 CUỘC CHIẾN TRANH PUNIC 264-146 TCN

MỘT CUỘC XUNG ĐỘT DAI DẲNG VÀ DÃ MAN GIỮA LA MÃ VÀ CARTHAGE ĐỂ THỐNG TRỊ TOÀN BỘ VÙNG ĐỊA TRUNG HẢI

TỔNG QUAN: SAU KHI CARTHAGE VÀ LA MÃ ĐỐI ĐẦU, NGƯỜI CHIẾN THẮNG SẼ THỐNG TRỊ THẾ GIỚI PHƯƠNG TÂY

Thành phố Carthage được thành lập tại nơi hiện là Tunisia, có lẽ vào thế kỷ thứ tám trước Công nguyên, bởi người Phoenicia, những nhà thám hiểm đi thuyền vĩ đại của thế giới cổ đại (thực ra tên Punic bắt nguồn từ tiếng Latin Punicus, nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Phoinix, có nghĩa là “người Phoenicia”). Lúc đầu, Carthage là một tiền đồn thương mại của người Phoenicia, nhưng đến khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, người Carthage, những thương nhân đầy tham vọng và xuất sắc, đã thành lập các khu định cư thương mại ở Bắc Phi, Tây Ban Nha, Sardinia, Síp, Malta và bờ biển phía tây của Sicily (các khu định cư của người Hy Lạp thống trị phía đông). Do đó, Carthage đã trở thành cường quốc thống trị ở phía tây Địa Trung Hải.

Bản thân Carthage không chỉ là một trung tâm thương mại; nó còn có một cơ sở nông nghiệp với đất đai màu mỡ (rõ ràng là màu mỡ hơn nhiều so với ngày nay). Thành phố này là một kỳ quan về kỹ thuật, với một bến cảng hình tròn phi thường bên trong và nhiều đền thờ và nhà phố xinh đẹp. Nhưng Carthage có một mặt tối. Tham nhũng là đặc hữu, và bất kỳ chức vụ chính trị cao nào cũng có thể đạt được bằng cách hối lộ. Và trong số nhiều vị thần được người Carthage tôn thờ, có một số vị thần thèm khát thịt người: thực sự, mặc dù bằng chứng vẫn còn gây tranh cãi giữa các học giả, việc hiến tế trẻ sơ sinh có thể đã được thực hiện.

Về tính cách, Carthage gần như hoàn toàn trái ngược với nền cộng hòa trẻ tuổi La Mã, một nơi nghiêm túc hơn đáng kể, ít nhất là so với La Mã của những thế kỷ sau. Được thành lập vào khoảng năm 750 TCN, La Mã chiếm một vị trí nằm trên một số tuyến đường thương mại quan trọng, tại một vị trí có thể phòng thủ trên Sông Tiber. Lúc đầu, nơi này do các vị vua cai trị, nhưng cuối cùng đã trở thành một nước cộng hòa. Người La Mã mạnh mẽ, coi trọng gia đình, cực kỳ bảo thủ và quyết tâm mở rộng lãnh thổ của mình. Vào cuối thế kỷ thứ tư TCN, La Mã đã sáp nhập phần lớn nước Ý và trong thế kỷ thứ ba TCN, họ đã chinh phục các thành trì cuối cùng của Hy Lạp ở miền nam nước Ý cũng như các khu định cư khác của Hy Lạp ở Sicily. Điều này đã đưa họ vào cuộc đối đầu trực tiếp với Carthage.

Ngọn lửa châm ngòi cho Chiến tranh Punic lần thứ nhất (264-241 TCN) bùng nổ là nỗ lực của Carthage vào năm 264 TCN nhằm chiếm Messana (Mesina ngày nay) ở Sicily, vốn chiếm một vị trí sinh tử có tính chiến lược sát với đất liền Ý. Lo sợ rằng việc kiểm soát Messana sẽ tạo điều kiện cho Carthage siết chặt Sicilia và cho phép họ tiến hành một cuộc xâm lược Ý, La Mã đã gửi quân đội để chống lại đội quân tiên phong ​​của Carthage. Sau đó, theo kiểu chiến tranh leo thang mà chúng ta quen thuộc ngày nay, mỗi bên gửi ngày càng nhiều quân lính. Trong trận chiến Agrigentum năm 262, La Mã đã đánh bại quân Carthage một cách thuyết phục.

Sau đó, Carthage quyết định dựa vào ưu thế trên biển của mình, ban đầu là một chiến lược thành công, vì La Mã, vào thời điểm đó, hầu như không có hải quân. Nhưng sau khi La Mã vội vã xây dựng một hạm đội, họ đã giành chiến thắng trong một loạt các cuộc giao tranh trên biển, thực tế đã phá hủy hạm đội Carthage. Tuy nhiên, một nỗ lực xâm lược Bắc Phi của La Mã đã kết thúc bằng một thảm bại tại Tunis vào năm 255, và vào năm 241, một hiệp ước hòa bình đã được ký kết giữa các quốc gia đang giao tranh, trao cho La Mã quyền kiểm soát hoàn toàn Sicily.

Không còn có thể thách thức La Mã trên biển, Carthage tìm kiếm những địa điểm khác để bành trướng. Chỉ huy người Carthage là Hamilcar Barca đã chinh phục phần lớn bán đảo Iberia phía nam, tạo ra một căn cứ quyền lực mà La Mã coi là mối đe dọa. Khi con trai của Hamilcar, Hannibal, bao vây thành phố Saguntum của La Mã (nay là Sagunto) vào năm 218, Chiến tranh Punic lần thứ hai (218-201 TCN) bắt đầu. Tiếp tục tấn công, Hannibal chỉ huy một đội quân lính đánh thuê băng qua dãy Alps và xuống Bán đảo Ý, đánh bại người La Mã trong các trận chiến trên sông Ticino, sông Trebia và hồ Trasimene. Năm 216, tại Cannae ở miền nam nước Ý, Hannibal đã nổi tiếng khi bao vây và tiêu diệt một lực lượng La Mã, giết chết hơn 50.000 binh lính La Mã, số người thiệt mạng nhiều nhất chỉ trong một ngày chiến đấu cho đến trận Somme trong Thế chiến thứ nhất.

Ý định của Hannibal không phải là chinh phục La Mã, ông biết rằng lực lượng của mình bị áp đảo về số lượng không thể đạt được điều này mà là phá vỡ liên minh tương đối mới của các quốc gia La Mã bằng cách làm đổ máu và làm suy yếu nó trong nhiều trận chiến. Và thực sự, như một kết quả trực tiếp của chiến thắng vang dội của ông tại Cannae, hầu hết các tỉnh miền Nam nước Ý đã chuyển sang phe Carthage, cũng như các thành phố Hy Lạp ở Sicily, bao gồm cả thành phố lớn nhất, Syracuse. Nhưng các tỉnh lớn của Ý là Latium, Umbria và Etruria vẫn trung thành với La Mã, và dần dần, tình thế đã thay đổi khi người La Mã học được cách tốt nhất để chống lại Hannibal – về cơ bản là tránh các mũi tấn công ác liệt của ông ta và để ông ta cạn kiệt nguồn cung cấp. Trong khi đó, chỉ huy La Mã Scipio Africanus đã chinh phục Tây Ban Nha. Thiếu quân tiếp viện từ Carthage, Hannibal rút lui về Bắc Phi, nơi ông bị Scipio Africanus đánh bại trong trận Zama năm 202. Carthage đã cầu hòa; La Mã đồng ý, nhưng buộc kẻ thù phải trả một khoản bồi thường khổng lồ trong hơn 50 năm và tước bỏ mọi thuộc địa ở nước ngoài.

Nhưng vào năm 151, sau khi trả hết nợ, Carthage bắt đầu thịnh vượng trở lại. Sự ngờ vực của người La Mã đối với một Carthage độc ​​lập đã được thúc đẩy bởi những người cảnh giác, đáng chú ý là Thượng nghị sĩ Marcus Porcius Cato; ông ta sau chuyến thăm cảng Bắc Phi đã trở về La Mã với đầy những câu chuyện về sự hồi sinh của thành phố. Sau đó, Cato đã kết thúc mọi bài phát biểu của mình bất kể chủ đề là gì, với cụm từ “Carthago est delenda!” (Carthage phải bị phá hủy!) Cuối cùng, phe ủng hộ Cato đã tìm được một cái cớ để tuyên chiến khi Carthage, vi phạm về mặt kỹ thuật lệnh đình chiến với La Mã, đã tự vũ trang để chống lại sự xâm phạm lãnh thổ Carthage bởi vua Numidian Masinissa, một đồng minh của La Mã.

Chiến tranh Punic lần thứ ba (149-146 TCN) kéo dài ba năm, với tất cả các cuộc chiến diễn ra xung quanh Carthage. Không hề có bất kỳ nghi ngờ nào về kết quả. Tuy nhiên, người Carthage đã chống cự trong hai năm, cho đến khi Scipio Aemilianus, cháu nuôi của Scipio Africanus, tiếp quản quân đội vào năm 147 TCN và, tiến hành một cuộc tấn công cuối cùng, đã phá vỡ được các bức tường thành của Carthage và biến thành phố thành tro bụi.

MỘT CHỈ HUY TRẺ ĐÁNH BẠI HANNIBAL ĐÃ GIÀ VÀ THAY ĐỔI CỤC DIỆN CỦA CUỘC CHIẾN

 Trận chiến Zama, năm 202 TCN

Vào tháng 9 năm 202, hai người đàn ông cưỡi ngựa chậm rãi ra gặp nhau trên một đồng bằng bụi bặm ở Bắc Phi. Mặc dù cuộc gặp gỡ diễn ra riêng tư, nhưng nó diễn ra trước sự chứng kiến ​​của hàng nghìn chiến binh có vũ trang – người Carthage và người La Mã, tất cả đều nín thở khi vị thủ lĩnh Carthage huyền thoại Hannibal và viên lãnh sự kiêm tướng lĩnh La Mã 37 tuổi Publius Cornelius Scipio Trẻ dừng ngựa của họ ở giữa đồng bằng. Ngồi trên lưng ngựa, hai kẻ thù lâu năm và cay đắng đánh giá lẫn nhau. Lớn tuổi hơn và tóc hoa râm hơn, Hannibal đeo miếng che con mắt mà ông đã mất do viêm kết mạc trong chiến dịch ở Ý. Scipio còn trẻ, không cao, nhưng gọn ghẽ và nghiêm nghị.

Thật hấp dẫn, không có hồ sơ xác minh nào về cuộc trò chuyện của họ. Chúng ta biết từ những diễn biến sau này rằng hai người đàn ông này rất tôn trọng nhau, nhưng chúng ta không thể biết chắc chắn ngay cả cốt lõi của cuộc trao đổi của họ. Truyền thuyết kể rằng Hannibal đã nhắc nhở Scipio rằng số phận luôn can thiệp vào mọi cuộc chiến tranh – có lẽ người đàn ông lớn tuổi hơn muốn nhắc nhở người trẻ tuổi rằng chiến thắng không có nghĩa là chắc chắn trong bất kỳ nỗ lực nào. Nếu vậy, Scipio chắc chắn sẽ gật đầu đồng ý, vì những lời này áp dụng cho Hannibal cũng như cho chính anh ta.

Bất kể họ nói gì, sau một lúc, mỗi người lãnh đạo đều quay lại, hướng về đội quân đang chờ của họ. Không có gì có thể giải quyết bằng lời nói vào ngày hôm đó.

Sự hiến tế cho các vị thần

Cuộc gặp gỡ định mệnh của hai đối thủ lớn này bắt nguồn từ một ngày cuối xuân năm 204 TCN, khi một đội quân La Mã gồm 30.000 người, do Scipio chỉ huy, đứng trên bờ biển Sicily. Cưỡi trên những con sóng ngoài khơi là khoảng 400 thuyền ​​vận tải và 40 chiến thuyền quinquereme (thuyền buồm có năm hàng mái chèo), sẵn sàng chở lực lượng xâm lược hùng hậu này đến Carthage. Trước khi bất kỳ quân đoàn nào có thể di chuyển lên tàu, lễ hiến tế cho Mars, vị thần Chiến tranh của La Mã, và Victoria, nữ thần Chiến thắng, phải được thực hiện. Vì vậy, một con cừu được đưa ra phía trước, và cổ họng và bụng của nó bị cắt. Scipio thò tay vào bụng con cừu, kéo ra những nội tạng nóng hổi, và ném chúng vào những con sóng dữ dội của Địa Trung Hải. Khi đó, hàng ngàn người lính đang theo dõi đã reo hò và đập khiên và di chuyển lên tàu.

Vào thời điểm này, Chiến tranh Punic lần thứ hai đã diễn ra trong 14 năm. Mặc dù thực tế là Hannibal, kẻ thù không đội trời chung của La Mã, vẫn ở miền nam nước Ý, vẫn bất bại và vẫn nguy hiểm, và người La Mã vẫn nhớ về cuộc xâm lược thảm khốc trước đó vào năm 255 TCN, Scipio, vừa giành được chiến thắng lấy lại Bán đảo Iberia, đã quyết tâm đưa trận chiến đến với người Carthage và đảm bảo chiến thắng cho La Mã.

Sau khi vượt biển thành công đến Bắc Phi, lực lượng của Scipio đã tàn phá phần lớn thung lũng Bagradas trù phú và vào cuối mùa hè năm 204, đã bao vây Utica thành công. Scipio đã nhận được sự trợ giúp trong việc này, vì đồng minh quan trọng nhất của Carthage, người Numidia, có một nhà lãnh đạo mới tên là Masinissa, đã chuyển lòng trung thành của mình sang La Mã, mang theo lực lượng kỵ binh đáng kể. Cùng lúc đó, có một sự thay đổi quyền lực ở Carthage. Những chủ đất và thương gia giàu có đã lật đổ triều đại Barcid (gia đình Hannibal), vốn đã nắm quyền từ đầu chiến tranh, và cử một phái đoàn đến gặp Scipio để cầu xin hòa bình. Thật hèn hạ, họ đổ lỗi cho Hannibal và gia tộc Barcid về toàn bộ cuộc chiến.

Scipio đồng ý và đưa ra các điều khoản: tất cả tù binh chiến tranh La Mã phải được thả; tất cả quân đội Carthage phải rút khỏi Ý; tất cả các yêu sách đối với Tây Ban Nha, Sicily và các đảo Địa Trung Hải phải được từ bỏ; và một khoản bồi thường lớn phải được trả hàng năm cho La Mã. Ngoài ra, Carthage phải cung cấp vật tư cho quân đội La Mã ở Bắc Phi. Người Carthage đồng ý. Quân đội của Hannibal được triệu hồi khỏi Ý. Có vẻ như hòa bình đã đến.

Nhưng rồi Carthage đã phạm sai lầm. Vào mùa xuân năm 203 TCN, một hạm đội tiếp tế của La Mã đã mắc cạn ngoài khơi Carthage. Người Carthage, vốn có thể đã cạn kiệt nguồn tiếp tế, không thể cưỡng lại được sự cám dỗ cướp bóc các con tàu và lấy chúng làm chiến lợi phẩm. Khi Scipio nghe tin, ông vô cùng tức giận. Ông bắt đầu tiến hành chiến dịch một lần nữa, tàn nhẫn chiếm giữ từng thị trấn của người Carthage. Ngay cả khi các thị trấn đầu hàng, ông vẫn bán công dân của nó làm nô lệ. Trong khi đó, người Carthage cầu xin Hannibal đến giúp họ, và vào mùa hè năm 202, ông đã làm như vậy, với một đội quân có lẽ khoảng 40.000 người. Hành quân năm ngày, hay khoảng 100 dặm (160 km), về phía tây Carthage, ông chạm trán với lực lượng của Scipio trên một đồng bằng rộng lớn gần nơi sau này trở thành thị trấn Zama của La Mã (mặc dù vị trí chính xác của chiến trường vẫn chưa được phát hiện).

Người Carthage, dẫn đầu bởi các thớt voi chiến, đụng độ với quân đội La Mã trong trận chiến ZAMA, theo trí tưởng tượng của họa sĩ người Ý GIULIO ROMANO (1493-1546)

Các thớt voi tấn công

Khi hai nhà lãnh đạo trở về hàng ngũ quân đội của họ, mỗi người đều cẩn thận quan sát lực lượng của mình. Quân đội Carthage đông hơn lực lượng của Scipio khoảng 10.000 người và bao gồm trong hàng ngũ của mình nhiều cựu chiến binh dày dạn kinh nghiệm từ các chiến dịch Ý của Hannibal. Nhưng nó cũng bao gồm nhiều tân binh, chưa được thử thách mới được tuyển dụng ở Carthage – đây không phải là lực lượng tuyệt vời đã tiêu diệt người La Mã tại Cannae. Tuy nhiên, Hannibal có 80 thớt voi chiến (mặc dù một số nguồn cho rằng số lượng lớn như vậy có nghĩa là một số voi được huấn luyện kém) và đã mua cho mình một lực lượng nhỏ kỵ binh Numidia.

Ngược lại, người La Mã hầu như đều là cựu chiến binh, chủ yếu là từ chiến trường Tây Ban Nha. Scipio là chiến thuật gia cừ khôi nhất La Mã và luôn đảm bảo quân lính mình được huấn luyện tuyệt vời. Và kỵ binh Numidia của ông dưới quyền Masinissa phi ngựa vào trại của Scipio một cách ngoạn mục vào phút cuối, trong đám bụi mịt mù, mặt mày vẽ rằn ri, rừng lao sáng loáng, có số lượng có lẽ gấp ba lần so với lực lượng Numidia của Hannibal.

Hai bên đối mặt nhau, thổi kèn và đập khiên, tạo ra âm thanh ồn ào thường thấy trước khi giáp trận. Không có đủ quân số để có thể thực hiện chiến thuật gọng kìm mà ông đã sử dụng rất hiệu quả ở Cannae, Hannibal quyết định cho đàn voi trận của mình tiến thẳng đến phòng tuyến của quân La Mã. Bị giật mình bởi âm thanh chát chúa, một số voi lao tới trước có lẽ là dấu hiệu cho thấy chúng được huấn luyện kém và sau đó những con còn lại cũng rống lên và lao theo

Cách xung trận của chúng hẳn rất đáng sợ – voi chiến có thể giết chết năm lính địch trong chớp mắt bằng cách giẫm đạp hoặc hất họ lên cao bằng cặp ngà – nhưng Scipio đã chuẩn bị sẵn sàng. Khi các thớt voi đến gần, lính La Mã mở đội hình tạo thành những hành lang hẹp, và những thớt voi tự nhiên chạy xuống. Hầu hết chúng đều bị đâm chết bởi hậu quân La Mã; một số quay lại và lao trở về hàng ngũ quân Carthage.

Một cuộc hỗn chiến đẫm máu

Trong khi điều này đang diễn ra, quân Numidia của Masinissa đã tấn công lực lượng Numidia của Hannibal, đánh đuổi họ ra khỏi chiến trường. Cuộc chiến sau đó biến thành một cuộc chiến đấu đẫm máu, khó khăn giữa các lực lượng bộ binh đối địch. Hai hàng đầu tiên của bộ binh Carthage, chủ yếu gồm người Gaul và người Liguria, tiến qua đồng bằng – Hannibal giữ những đội quân giàu kinh nghiệm nhất của mình làm lực lượng dự bị cho thời điểm họ đụng độ với tuyến đầu của quân La Mã. Cuộc chiến diễn ra dữ dội, với những chiến binh va chạm, chiến đấu thành từng nhóm nhỏ, rút ​​lui một chút để nghỉ ngơi, rồi lại tiến lên, trong suốt thời gian đó họ luôn hét lên để giữ vững tinh thần và làm kẻ thù sợ hãi.

Sử dụng khiên và áo giáp nặng và được hỗ trợ bởi lực lượng dự bị dày dạn kinh nghiệm, bộ binh La Mã dần dần đẩy lùi được hàng đầu tiên của quân Carthage. Nhưng sức kháng cự của quân Carthage đã được củng cố khi các cựu chiến binh dự bị của Hannibal được lệnh xung trận, và quân La Mã buộc phải phát lệnh triệu hồi và tái lập hàng ngũ – một động thái khó khăn và mạo hiểm giữa trận chiến. Sau đó, quân Carthage tấn công ồ ạt, và các đội quân tham gia vào một cuộc hỗn chiến đẫm máu dữ dội, chém nhau bằng kiếm và giáo. Chẳng mấy chốc, mặt đất phủ đầy xác chết và trơn trượt vì máu.

Trong khi kết quả của cuộc chiến vẫn còn chưa chắc chắn, quân Numidia của Masinissa đã quay trở lại và tấn công vào phía sau lực lượng Carthage. Đó là một cuộc tấn công tàn khốc, và quân Carthage đã tan vỡ và chạy sang hai bên sườn. Quân La Mã chiến thắng đã nhanh chóng đuổi theo, chém gục họ ngay cả khi họ cầu xin lòng thương xót. Doanh trại Carthage đã bị cướp phá; tiếng reo hò chiến thắng của quân La Mã, cũng như tiếng la hét của những thương binh ở cả hai phe  vang vọng khắp vùng đồng bằng.

Có lẽ 20.000 người Carthage đã chết trong trận chiến; hàng ngàn người khác bị giết, bị thương hoặc bị bắt. Người La Mã chỉ mất 1.500 người.

Hannibal trốn thoát trở về Carthage cùng với đội quân của mình, nhưng chiến tranh giờ đã kết thúc, và ngay cả người Carthage cay đắng nhất cũng phải chấp nhận. Về phần Scipio,  có lẽ vì ông biết lực lượng tương đối nhỏ của mình không thể dễ dàng bao vây Carthage, ông đã đồng ý ký một hiệp ước hòa bình và trở về La Mã trong chiến thắng khải hoàn, được tôn vinh là Scipio Africanus –

Tuy nhiên, hiệp ước lần này khắc nghiệt hơn trước và bao gồm việc tịch thu toàn bộ thuyền chiến của Carthage ngoại trừ 10 thuyền ba tầng nhẹ và khoản bồi thường lớn là 10.000 ta-lăng bạc, phải trả hàng năm trong vòng 50 năm.

Trong cảnh sỉ nhục cuối cùng, 500 chiến thuyền quinquereme lớn của Carthage được chèo ra Vịnh Tunis và bị đốt cháy tại đó, đám cháy tạo ra một làn khói lớn bao phủ thành phố cổ – báo trước số phận cuối cùng của nó gần 50 năm sau.

HANNIBAL: NHÀ LÃNH ĐẠO CÓ SỨC THU HÚT LÀ KẺ THÙ VĨNH CỬU CỦA LA MÃ

Có thể nói rằng Hannibal Barca đã thừa hưởng Chiến tranh Punic, theo cách mà người ta có thể thừa hưởng tài sản hoặc một tập hợp các cá tính đặc biệt rắc rối. Cha của ông, Hamilcar, đặc biệt cay đắng sau thất bại của người Carthage trong Chiến tranh Punic lần thứ nhất. Chỉ mới sáu tuổi, Hannibal hẳn đã cảm nhận được cơn thịnh nộ của cha; người ta nói rằng khi ông chín tuổi, Hamilcar đã bắt ông phải thề trên một con vật hiến tế rằng ông sẽ “không bao giờ được kết bạn với người La Mã”.

Sau khi Hamilcar chết trong một cuộc phục kích năm 229, ông được kế vị bởi con rể Hasdrubal, người đã chinh phục phần lớn miền bắc Tây Ban Nha nhưng bị ám sát vào năm 220. Ở tuổi 25, Hannibal được chính binh lính bầu làm chỉ huy mới của quân đội Carthage, điều này cho thấy quân đội đã đặt niềm tin vào chàng trai trẻ này nhiều như thế nào. Hannibal tiếp tục con đường bành trướng của Carthage ở Tây Ban Nha, điều này đã gây ra Chiến tranh Punic lần thứ hai. Sau đó, ông đã nổi tiếng khi dẫn quân đội của mình vượt qua dãy Alps và tiến xuống Ý vào năm 218, bắt đầu một chiến dịch phi thường kéo dài 17 năm và thể hiện thiên tài chỉ huy của mình.

Nổi tiếng là ông đã tập hợp được một lực lượng đa ngôn ngữ và chỉ huy lực lượng này với cả kỷ luật nghiêm ngặt và sự hiểu biết về sức mạnh và hạn chế của nó. Ông cũng không giống như nhiều vị tướng La Mã khác – lãnh đạo từ tiền tuyến, và không có khó khăn nào mà ông không chia sẻ với quân lính của mình. Tuy nhiên, ông cũng biết cách phân công, dựa vào các vị tướng tài giỏi như anh em của ông là Hasdrubal và Hanno, và các nhà chỉ huy kỵ binh Numidia vĩ đại của ông là Carthalo và Maharbal, những người đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng tại Cannae.

Nhiều nguồn tài liệu La Mã mô tả Hannibal là một nhân vật tàn bạo, một kẻ dối trá và gian xảo. Nhưng những cáo buộc này có thể chỉ là tuyên truyền của La Mã, và người ta biết rất ít về tính cách của Hannibal.

Sau thất bại tại Zama năm 202, Hannibal tham gia vào nền chính trị nội bộ của Carthage, nhưng lại tạo ra kẻ thù, những kẻ cáo buộc ông âm mưu chống lại La Mã. Cho dù điều này có đúng hay không, Hannibal vẫn cho rằng nên chạy trốn khỏi Carthage vào năm 195 và hướng đến triều đình của người đứng đầu Đế chế Syria, Antiochus III, ở Tiểu Á. Ông chỉ huy một hạm đội cho Antiochus trong cuộc chiến của Antiochus chống lại La Mã; khi Antiochus ký kết hòa bình với La Mã, một trong những điều kiện của La Mã là phải giao nộp Hannibal. Nhưng khi đó Hannibal lại chạy trốn, lần này là đến vương quốc Bithynia, gần Biển Đen. Ở đó, như sử gia Hy Lạp Plutarch đã kể, ông bị mắc kẹt “như một con chim đã quá già để bay” và, khi quân La Mã đang tiến gần, ông đã tự tử bằng cách uống thuốc độc. Lúc đó là năm 183 TCN và ông đã 64 tuổi.

 

Người ta nói rằng khi vừa mới 9 tuổi Hannibal phải bắt thề sẽ mãi mãi căm thù La Mã, như được mô tả trong bức hoạ này của họa sĩ Jacopo Amigoni (1675-1752)

VŨ KHÍ ĐỘT PHÁ CỦA LA MÃ ĐÃ CHIẾM QUYỀN KIỂM SOÁT BIỂN CẢ

Vào thời Chiến tranh Punic lần thứ nhất, người La Mã có rất ít hoặc không có kinh nghiệm chiến đấu trên biển, trong khi người Carthage là những người đi biển và thủy binh dày dạn kinh nghiệm. Người La Mã có xu hướng coi thường sức mạnh hải quân như người Hy Lạp đã từng làm trước Chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư và coi những trận chiến trên bộ là cao quý hơn nhiều. Nhưng rõ ràng là phải giải quyết được ưu thế trên biển của người Carthage nếu không Carthage sẽ có khả năng phong tỏa các cảng của La Mã và đưa quân vào sâu sau phòng tuyến của La Mã.

Khi nhận thức được điều này người La Mã đã hành động với tính thực tế và hiệu quả đặc trưng La Mã. Sau khi chiếm được một chiếc thuyền quinquereme của người Carthage, một thiết giáp hạm chạy bằng năm hàng mái chèo, trái ngược với ba hàng mái chèo của thuyền trireme Hy Lạp trước đó, họ đã đóng được 100 chiếc tàu như vậy trong vòng hai tháng, một thành tựu đáng kinh ngạc mà theo ước tính của các nhà sử học, cần đến nỗ lực của 35.000 người.

Tuy nhiên, người Carthage vẫn thành thạo hơn trong việc điều khiển tàu trong các trận chiến gần. Nhưng sau đó, người La Mã đã nghĩ ra ý tưởng về corvus. Về cơ bản, đây là một cây cầu gỗ có thể di chuyển, rộng khoảng 4 bộ (1,2 m) và dài 36 bộ (11 m), có lan can ở mỗi bên, một đầu được gắn bằng ròng rọc vào một cột buồm dài ở phía trước mỗi tàu chiến. Ở đầu kia của nó là một chiếc đinh ba đầu khổng lồ, trông giống như một con corvus hay quạ, do đó có tên như vậy. Khi một thuyền chiến La Mã có thể đến đủ gần một thuyền chiến Carthage, nó sẽ thả corvus xuống tàu địch để chiếc đinh ba cắm vào boong tàu kẻ thù. Ngay lập tức, chiến binh La Mã sẽ lao qua cầu bắc, xông vào thuyền địch và giao chiến với kẻ thù, giống như họ đã từng làm trên bộ.

Mặc dù corvus khiến tàu thuyền không ổn định trong thời tiết khắc nghiệt và cuối cùng bị bỏ rơi khi chiến thuật và kinh nghiệm của hải quân La Mã được cải thiện, nhưng nó đã giúp đảo ngược tình thế trong Chiến tranh Punic lần thứ nhất và biến người La Mã thành bá chủ của biển cả. Như Nigel Bagnall, một nhà sử học nổi tiếng về Chiến tranh Punic, đã viết, corvus là “một ví dụ về một cải tiến kỹ thuật dẫn đến sự đảo ngược đột ngột của ưu thế trên chiến trường đã tồn tại trong nhiều thế kỷ”.

Đế chế LA MÃ và CARTHAGE được thể hiện trong thời gian bắt đầu cuộc chiến tranh PUNIC II . Sau chiến tranh PUNIC, La Mã sẽ xóa sổ trong sự kiện được gọi là “cuộc diệt chủng đầu tiên.”

VƯỢT QUA DÃY ALPS VỚI VOI VÀ LÀM NÊN LỊCH SỬ

Trong khi Hannibal được các sử gia quân sự tôn kính vì chiến thuật của ông, hầu hết mọi người nhớ đến ông vì đã đưa quân đội của mình, cùng với đàn voi trận, băng qua dãy Alps. Đây thực sự là một nhiệm vụ phi thường mà chưa từng có một nhóm đông người nào thực hiện hành trình nguy hiểm này trước đây và đó là dấu hiệu cho thấy sự táo bạo, tầm nhìn và sự tự tin của Hannibal khi ông sẵn sàng muốn thử sức.

Với một đội quân từ 40 đến 50 ngàn người, bao gồm 10 ngàn kỵ binh và có lẽ 40  thớt voi chiến, Hannibal khởi hành từ New Carthage (Cartagena ở Tây Ban Nha ngày nay), vượt qua dãy núi Pyrenees vào Gaul (miền nam nước Pháp ngày nay), vừa chiến đấu vừa tìm cách vượt qua các bộ lạc xứ Gaul thù địch để đến chân núi Alps. Tại đây, ông đã có một bài phát biểu hoành tráng với binh lính của mình, tìm cách trấn an họ trước chướng ngại vật đáng sợ này. “Các người nghĩ dãy Alps là gì?” ông hỏi họ. “Chúng chẳng là gì ngoài những ngọn núi cao, và không có độ cao nào là không thể vượt qua đối với những ai có quyết tâm.”

Được khích lệ, quân đội bắt đầu leo ​​lên, nhiều khả năng là qua đèo Col de la Traversette cao 9.000 bộ (2.750 m) đáng sợ. Họ bị phục kích bởi một bộ tộc thù địch, người Allobroges, gây ra nhiều thương vong. Tuyết lở, cái lạnh khắc nghiệt và những con đường nguy hiểm là những mối nguy hiểm khác. Người, ngựa và voi ngã lăn ra, la hét, từ những con đường hẹp, bị tuyết lở cuốn khỏi núi hoặc chết cóng trên những sườn dốc băng giá. Trong khi đó, Hannibal di chuyển giữa những người lính của mình, thúc giục họ tiến lên.

Cuối cùng, sau 15 ngày dài đằng đẵng, những thung lũng màu mỡ của Ý hiện ra bên dưới trước mắt họ như một ảo ảnh. Toàn bộ cuộc hành quân từ Carthage đã mất năm tháng; Hannibal đã mất 12.000 người và hầu hết những thớt voi chiến huyền thoại của mình. Nhưng giờ đây ông đã ở Ý, sẵn sàng mang chiến tranh đến La Mã.

NGƯỜI LA MÃ PHÁ HỦY CARTHAGE VÀ KẾT THÚC VĨNH VIỄN MỘT ĐẾ CHẾ

Cuộc chinh phục Carthage cuối cùng vào năm 146 là một cuộc chiến tàn khốc. Sau khi bao vây thành phố, người La Mã, do Scipio Aemilianus chỉ huy, đã phát động một cuộc tấn công lớn từ khu vực bến cảng, cuối cùng đã phá vỡ các bức tường thành và tràn vào các khu vực bến tàu rộng lớn. Người Carthage đã đốt cháy các tòa nhà ở đây và rút lui vào bên trong thành phố. Trong sáu ngày chiến đấu trên từng con phố, từng ngôi nhà, hầu hết là trên đồi, lực lượng phòng vệ đã khiến người La Mã phải trả giá đắt cho từng thước đất. Đến một lúc nào đó, mệt mỏi vì chiến đấu trên những con phố nhỏ hẹp, người La Mã đã san phẳng các dãy nhà để tạo ra một con đường rộng dẫn đến thành trì linh thiêng, nơi trú ẩn cuối cùng của người Carthage; các thi thể Carthage chỉ đơn giản đặt trên mặt đất làm vật liệu lát đường, theo Polybius, điều này dường như được xác nhận bởi những khai quật khảo cổ học gần đây, đã phát hiện ra nhiều xương người ở khu vực này.

Cuối cùng, vào ngày thứ bảy, người Carthage đã đề nghị đầu hàng nếu Scipio Aemilianus tha mạng cho họ. Ông đã đồng ý, và 50.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em gầy gò và đói khát đã bị bắt làm nô lệ. Nhưng cuộc chiến vẫn chưa kết thúc. Còn lại trong thành trì là 900 lính lê dương La Mã đã đào ngũ sang Carthage; họ biết rằng nếu bị bắt làm tù binh thì chắc chắn sẽ bị đóng đinh. Vì vậy, họ tiếp tục chiến đấu cho đến khi, bị bao vây ở mọi phía, họ quyết định đốt cháy thành trì, tự thiêu.

Sau khi cướp bóc thành phố, người La Mã bắt đầu với quyết tâm đảm bảo Carthage không chỉ bị đánh bại mà còn bị xóa sổ. Để chắc chắn rằng Scipio đã làm đúng, một ủy ban gồm các thượng nghị sĩ (không bao gồm Cato, người đã chết vài năm trước đó) đã được cử đến từ La Mã. Các khu vực rộng lớn của thành phố đã bị thiêu rụi trong cuộc chiến. Bây giờ nhiều nơi khác đã bị đốt cháy, và bất kỳ công trình kiến ​​trúc nào còn sót lại đều bị phá hủy sau đó. Có một câu chuyện nổi tiếng rằng mặt đất đã được cày lên và gieo rắc muối để không có thứ gì có thể mọc lại ở đó nữa, nhưng đây có lẽ là một bịa đặt sau này. Dù trường hợp nào đi nữa, thì sự phá hủy của Carthage đã hoàn tất.

Bình luận về bài viết này