PHÁO ĐÀI MÙA ĐÔNG- Sứ Mệnh Anh Hùng Ca Phá Hủy Bom Nguyên Tử của Hitler (Bài 2)

NEAL BASCOMB

Trần Quang Nghĩa dịch

3 Bonzo

TRƯỚC BÌNH MINH NGÀY 2 tháng 12 năm 1941, Knut Haukelid bị đánh thức bởi tiếng chó sủa bên ngoài phòng anh. Không khí lạnh buốt và sương giá che phủ các cửa sổ nhìn ra khu đất rộng lớn có nhiều cây cối rậm rạp ở Công viên Stodham, cách London 50 dặm về phía tây nam. Nhanh chóng, Haukelid mặc bộ đồng phục mới của Anh, cổ áo cứng cáp của nó  có độ cứng chỉ thua kém đôi ủng tiêu chuẩn của anh. Bên ngoài, anh đứng cùng khoảng hai chục người Na Uy khác,  đã tình nguyện tham gia khóa huấn luyện biệt kích đặc biệt để chiến đấu cho đất nước mình. Họ đến từ mọi tầng lớp xã hội, giàu, nghèo và trung lưu; từ thành phố, thị trấn và vùng quê hẻo lánh. Một số ít chưa bao giờ cầm súng trước đây; những người khác là thiện xạ. Một số là trai trẻ, chưa đầy mười tám. Hầu hết đều ở độ tuổi hai mươi, và một số ít đều đã ba mươi, như Haukelid. Trước chiến tranh, họ từng là sinh viên, ngư dân, cảnh sát, nhân viên ngân hàng, công nhân nhà máy và những người lỡ vận đang tìm kiếm lại vị trí của mình trên thế giới – giống như Haukelid.

Thoạt nhìn, anh ấy trông giống như nhiều người khác. Mặc dù em gái sinh đôi của anh, Sigrid, là một ngôi sao điện ảnh Hollywood, được mệnh danh là “Mỹ nhân ngư vùng vịnh”, nhưng anh không có gì đặc biệt đẹp trai. Anh có mái tóc vàng hoe, đôi mắt xanh, dáng người trung bình và đôi vai hơi gù. Cao 5 bộ 10, chiều cao của anh chỉ trên mức trung bình. Nhưng có điều gì đó trong nét mặt anh, trong cách khuôn mặt anh  chuyển từ nụ cười nhăn nhó ngay lập tức sang vẻ dữ dội cứng cỏi, khiến thật khó quên.

Đối với vị trung tá người Ireland tóc hoa râm của họ, với biệt danh là Tom Mix, theo tên một ngôi sao phim Viễn Tây người Mỹ, Haukelid và những người khác đều như nhau: những người được đào luyện cách giết, cách phá hoại và cách sống sót, bằng mọi phương tiện. Ông chỉ dạy họ một quy tắc duy nhất: “Đừng bao giờ cho kẻ thù của bạn một nửa cơ hội”. Điều này phù hợp với Haukelid. Từ khi còn là một cậu bé, các quy tắc đã luôn khiến anh cảm thấy khó chịu.

Vào lúc 6 giờ sáng, đội tân binh bắt đầu ngày mới với tiết mục mà Mix thích gọi là “làm cứng chân”: một cuộc đi bộ nhanh qua khu đất rộng lớn. Sau một giờ như vậy, chân các tân binh phồng rộp hơn là  cứng cáp lại. Một bữa sáng ăn nhanh theo sau là phần hướng dẫn vũ khí. “Cái này là bạn chúng ta,” Mix nói, xoay khẩu súng lục của mình quanh ngón tay. “Người bạn duy nhất mà chúng ta có thể trông cậy vào. Hãy đối xử với nó đúng cách, và nó sẽ chăm sóc lại bạn.” Sau đó ông dẫn họ ra một vạt rừng và dạy họ thế tác xạ, đứng đầu gối cong, hai bàn tay nắm chặt súng lục – và cách bắn nhanh hai phát iên tiếp để đảm bảo kẻ thù đã ngả xuống. Nếu hoàn cảnh cho phép, “Nhắm thấp. Một viên đạn trong dạ dày, và tên Đức của bạn sẽ lăn lộn mười hai giờ trước khi chết.” Haukelid đã lớn lên bằng nghề săn bắn, nhưng đây lại là một điều gì đó rất khác.

Sau hai giờ tập bắn, họ lại dành một giờ tiếp theo ở phòng tập gym. Họ lộn nhào tới lui. Họ nhảy ra khỏi gờ đá cao và lăn về phía trước trong tư thế đứng. Họ đấm thùm thụp vào bao cát. Họ vật lộn, học cách hạ gục và tước vũ khí của kẻ thù bằng tay không. Với một con dao dài đeo bên hông, Mix đan xen vào bài học của mình những câu chuyện về cuộc chiến của chính anh trong Thế chiến thứ nhất và thời gian làm cảnh sát ở Viễn Đông. Những người huấn luyện khác đều giống nhau, một người chia sẻ: “Chúng tôi đã giết rất nhiều tên Đức, đến nỗi chúng tôi phải nhón chân lên để nhìn qua đống xác bọn chúng chất cao.”

Nghỉ giải lao uống cà phê, sau đó biệt đội được huấn luyện đánh tín hiệu, học cách gửi và nhận bằng mã Morse. Tiếp theo là bữa trưa, sau đó là lớp học kéo dài hai giờ về việc phá hủy đơn giản. “Không bao giờ hút thuốc khi làm việc với chất nổ,” Mix nói, trong khi phì phèo điếu thuốc trên môi, một lần nữa thể hiện quan điểm rằng các quy tắc tồn tại là để bị phá vỡ. Họ cho nổ tung các xúc gỗ và bắn đá lên trời. Tai ù đi, họ chuyển sang bài học định hướng, di chuyển trong khu vực theo bản đồ và la bàn, sau đó là thực địa, theo dõi mục tiêu và trinh sát các tuyến đường xuyên rừng. Từ 5 giờ đến 8 giờ tối họ được tự do nghỉ ngơi và dùng bữa trước khi bắt đầu tập luyện buổi tối. Các tiết mục bao gồm nhiều vũ khí hơn, nhiều chất nổ hơn, những trận chiến không vũ trang được thực hiện nhiều hơn nữa, bây giờ trong bóng tối.

Ngày này qua ngày khác với lịch trình này, đôi ủng và cổ áo mềm đi sau mỗi buổi tập, Haukelid đã trở thành một chiến binh. Mặc dù lúc đầu đã khá tráng kiện, giờ đây anh trở nên tráng kiện hơn. Thỉnh thoảng, anh được mời vào phòng riêng với một sĩ quan hoặc bác sĩ tâm thần hỏi liệu việc đào tạo có quá sức, quá khó, liệu anh có muốn bỏ cuộc không. Loại huấn luyện này không dành cho tất cả mọi người, họ nói. Nó dành cho anh. Bắn hai phát súng liên tiếp đã trở thành một phản xạ, và tác xạ của anh là phát súng chết người đối với các mục tiêu giấy bìa ở trường bắn. Anh đã học cách tính thời gian ném lựu đạn (“Ta có thể đi từ đây tới London trước khi nó nổ tung,” Mix nói) và không cần tiết kiệm chúng. Anh cừ hơn với kỹ năng cận chiến và sử dụng dao. Anh thành thạo việc phá hủy, có thể bấm một kíp nổ 10 giây mà không run tay.

Ba tuần sau, Haukelid được thông báo rằng tất cả những điều này chỉ là khóa đào tạo sơ bộ. Báo cáo của người huấn luyện anh ta viết: “Anh là kiểu người lạnh lùng và tính toán, người sẽ cho một thành tích rất tốt về bản thân trong những tình huống nguy hiểm… Không biết sợ.” Haukelid nhận được điểm đánh giá “rất tốt” về kỹ năng thực địa, vũ khí, chất nổ và đọc bản đồ. Kỹ năng truyền tải tín  hiệu của anh ấy chỉ đơn giản là “tốt”.

Vào ngày 20 tháng 12, mười ba ngày sau khi Nhật Bản ném bom Trân Châu Cảng trong một cuộc tấn công bất ngờ, đưa Hoa Kỳ, đất nước nơi anh sinh ra, tham gia chiến tranh, Haukelid lên tàu tới Scotland để được huấn luyện thêm. Anh phải giữ lời hứa, lời hứa của mẹ anh với Gestapo trước khi con trai bà lên đường sang Anh.

Trước chiến tranh Knut Haukelid dường như là một linh hồn lạc lối

*

Năm 1905, sau khi tách khỏi liên minh với Thụy Điển, chính phủ mới của Na Uy đã tìm cách thành lập một chế độ quân chủ lập hiến. Quốc hội được bầu cử dân chủ sẽ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất, với nhà vua là nguyên thủ quốc gia theo nghi lễ. Họ quyết định chọn Hoàng tử Carl của Đan Mạch, thuộc dòng dõi các nhà vua Na Uy, là ứng cử viên sáng giá nhất, nhưng ông tuyên bố rằng ông sẽ chỉ đảm nhận vai trò này nếu được người dân bỏ phiếu cho mình. Ông đã được bầu chọn hợp pháp và do đó Vua Haakon VII đã lên ngôi.

Cùng năm đó, Bjørgulf Haukelid di cư sang Hoa Kỳ. Ông định cư ở Flatbush, Brooklyn, rời xa ngôi nhà nghỉ trên núi xa xôi dành cho những người đi bộ đường dài và khách trượt tuyết băng đồng ở Haukeliseter, cách Rjukan 50 dặm về phía tây, nơi bố ông muốn ông tiếp quản một ngày nào đó. Việc xây dựng tàu điện ngầm ở New York đã mang lại nhiều cơ hội cho kỹ sư xây dựng như ông. Bjørgulf kết hôn với một y tá, Sigrid Gurie, người cũng đã di cư từ Oslo, và vào ngày 17 tháng 5 năm 1911 – Ngày Hiến pháp Na Uy – họ có với nhau một cặp song sinh: Knut và Sigrid. Vật duy nhất gần gũi với Knut hơn em gái cậu là con gấu bông nhỏ mà cậu luôn ôm chặt trong tay. Tên của nó là Bonzo.

Tháng 4 năm sau, gia đình lên tàu hơi nước để quay lại Na Uy. Cha mẹ Knut nhớ quê hương và mong muốn con cái của họ được nuôi dưỡng thành người Na Uy. Với sự bùng nổ công nghiệp gần đây, không có thời gian nào tốt hơn.

Trên đường vượt Đại Tây Dương, tàu RMS Titanic đã phát tín hiệu cấp cứu. Chiếc tàu hơi nước chở gia đình Haukelid lập tức chuyển hướng khỏi lộ trình để giúp giải cứu những người sống sót, nhưng họ đã ở quá xa và đến quá muộn.

Tại Oslo, Bjørgulf thành lập một công ty kỹ thuật thành công và mua một căn nhà để nuôi dạy  con cái. Knut ngay từ nhỏ đã là một đứa trẻ lì lợm. Mắc chứng khó đọc và hiếu động, cậu ghét trường học. Suốt ngày ngồi yên trên những chiếc ghế cứng đó, nghe thầy giảng lẩm bẩm, đối với cậu như một cực hình. Bởi vì cậu mắc chứng nói lắp nhẹ nên việc được yêu cầu phát biểu trong lớp chỉ khiến cậu càng bị áp lực hơn. Vì vậy trong giờ học cậu luôn nghỉ cách chọc phá. Có lần cậu thả một con rắn vào giữa lớp, khiến cậu bị đuổi học hết lần này đến lần khác. Knut thích hoạt động ngoài trời hơn, nhưng ở thành phố không có nhiều cơ hội để ra ngoài. Hơn nữa, mẹ cậu vì không muốn cậu bị bẩn nên đã bắt cậu đeo một chiếc bao tải có khoét lỗ trên đầu khi cậu chơi ở sân sau. Nhà cậu có rất nhiều luật lệ và hạn chế. Người em song sinh của cậu, vốn muốn trở thành họa sĩ và sống ở Paris, cũng phải đấu tranh gay gắt với cha mẹ..

Nơi duy nhất Knut có thể chạy tự do là nhà nghỉ Haukeliseter. vào cuối tuần mùa hè, và khi đó cậu trượt tuyết, câu cá, cắm trại và đi săn cùng ông nội, Knut Sr., trong vùng núi và hồ ở Telemark. Cậu được nghe nội kể những câu chuyện cổ về lũ quỷ khổng lồ sinh sống và bảo vệ vùng đất Na Uy, và cậu tin các câu chuyện ấy. Niềm tin của cậu vào những sinh vật này thậm chí còn mang lại nhiều điều kỳ diệu hơn cho khu rừng mà cậu yêu quý.

Luôn có con mắt phiêu lưu, Haukelid đến Hoa Kỳ ngay trước sinh nhật thứ mười tám của mình. Cùng lúc đó, em gái cậu đến Paris. Cậu đăng ký học tại trường Cao đẳng Bang Massachusetts nhưng chưa bao giờ tốt nghiệp. Là một tín đồ của John Steinbeck và Ernest Hemingway, cậu đã lên đường đến miền Trung Tây, tìm được việc làm ở một trang trại. Cậu thích công việc và vùng đồng bằng rộng mở nhưng lại không thích một số lối sống thuần khiết của trang trại. Vào giờ ăn tối, cậu phải đợi người chủ trang trại đọc hết lời cầu nguyện dài dòng mới được ăn. Một đêm nọ, Haukelid ngỏ lời xin đọc lời cầu nguyện. Cậu hát một bài hát Na Uy ngắn chẳng liên quan gì đến Chúa và cắm đầu vào bữa ăn như thể đã không ăn gì trong nhiều tuần.

Vài năm sau, anh trở lại Na Uy. Cha anh đã tìm cho anh một công việc được trả lương cao tại ngân hàng lớn nhất Oslo, nhưng Knut từ chối. Người ta có thể kiếm được nhiều tiền hơn, anh nói với bố, bằng cách câu cá hồi. Và rồi anh ra đi. Sau vài tháng đánh cá, anh lại chuyển đi – lâu nay đến Berlin. Anh học ngành kỹ thuật, học tiếng Đức và dự tính về tương lai của mình. Năm 1936, anh chứng kiến ​​cuộc diễu hành tuyên truyền của Hitler tại Thế vận hội. Một đêm nọ, khi đối mặt với một thành viên Đảng Quốc xã say rượu đang tuôn ra hết câu nói hèn hạ này đến câu nói hèn hạ khác, Haukelid đã hạ gục hắn bằng một cú đấm.

Cuối cùng, anh lại quay trở về Oslo. Em gái của anh, được Samuel Goldwyn phát hiện ở Paris, hiện đang đóng phim với Gary Cooper. Haukelid cuối cùng đã khuất phục trước mong muốn của cha mình là anh phải nghiêm túc với sự nghiệp và cuộc sống của bản thân. Anh nhận công việc tại công ty của bố, nhập khẩu thiết bị kỹ thuật từ Hoa Kỳ và yêu một phụ nữ trẻ tên Bodil, một nhà trị liệu vật lý, người đã điều trị chứng đau lưng cho anh do những chuyến phiêu lưu ngoài trời của mình.

Đầu tháng 4 năm 1940, Haukelid vừa xây xong một cầu cảng ở Narvik và nghỉ vài ngày để đi câu cá tuyết trước khi dừng chân ở Trondheim. Lúc anh ở đó, Đức Quốc xã đã xâm lược Na Uy. Sau khi nghe Giáo sư Tronstad tại NTH nhận xét về sự cần thiết phải giữ vững lập trường, Haukelid và một số sinh viên chỉ huy một đoàn tàu chở hàng và lái nó gần nửa đường đến Oslo cho đến khi họ thấy đường ray bị đóng. Họ bỏ tàu và bắt xe buýt đến điểm huy động quân đội gần nhất bên ngoài Lillehammer, nhưng tại đó không có vũ khí để cung cấp. Tại địa điểm huy động, họ được biết Đức Quốc xã đã chiếm Oslo. Tin tức khiến nhiều người bạn đồng hành của Haukelid rơi nước mắt. Sau đó có tin người Đức đã yêu cầu nhà vua thoái vị và chính phủ từ chức. Khi Haakon VII từ chối, máy bay ném bom của Luftwaffe đã ra sức giết ông tại nơi ẩn náu trong rừng. Haukelid, tin rằng mình đã nhìn thấy những máy bay ném bom đang trên đường ám sát nhà vua, đã tìm ra vị thủ lĩnh cũng như mục đích của đời mình, và điều này cũng khiến anh rơi nước mắt.

Cuối cùng anh đã tìm ra một trung đoàn đang chiến đấu với quân Đức. Chỉ huy của nó, một đại tá, đã trao anh một khẩu súng trường Krag và ba mươi viên đạn, sau đó đưa anh  vào cuộc chiến. Trong ba tuần tiếp theo, dù không có kinh nghiệm quân sự nhưng Haukelid vẫn chiến đấu. Tiểu đoàn của anh đã phục kích một hàng xe tăng Đức tại một điểm vượt núi, quét sạch chúng bằng cocktail Molotov và một khẩu pháo duy nhất, nhưng ngoài thành công đó họ bị đẩy lùi hết lần này đến lần khác. Sau khi trung đoàn anh đầu hàng, Haukelid cố gắng đến với trận chiến trong hai thung lũng chạy giữa Oslo và Trondheim, nhưng các đồng bào của anh đang rút lui. Sau đó anh đi tới thủ đô và đến căn hộ rộng rãi của gia đình ở Kirkeveien 74. Bố anh đi vắng; chỉ có mẹ anh ở đó để đón anh. Knut đi ngay vào phòng ngủ nơi cất giữ một số đồ đạc và đóng cửa lại. “Con đang làm gì thế?” mẹ anh hỏi khi bước vào phòng.

“Lấy một số thứ,” Haukelid nói.

“Con cần phải ra ngoài và chiến đấu,” bà nói với anh.

Đó chính xác là kế hoạch của anh. Từ trong tủ quần áo, Haukelid lôi ra đôi ủng và ván trượt. Kế hoạch là cùng người bạn thân Sverre Midtskau tiến về phía bắc tới thị trấn cảng chiến lược Narvik. Trên đường đi, Haukelid bị ốm và bắt đầu khạc ra máu. Khi anh khỏi bệnh viêm dạ dày, trận chiến ở Narvik cũng đã kết thúc.

Sau khi đầu hàng, và trước khi bị đưa đến trại tù binh Đức, vị tướng hàng đầu của Na Uy đã đưa ra lời kêu gọi toàn thể người dân Na Uy: “Hãy luôn trung thành và chuẩn bị” cho cuộc chiến trong tương lai.

Những lời nói của vị tướng đọng lại trong tâm trí Haukelid khi anh đi vào vùng núi cùng Bodil, tránh quân Đức chiếm đóng xa nhất có thể. Anh đã dành cả mùa hè để kiếm đủ tiền từ việc đánh cá để duy trì cuộc sống phía trước. Sau đó anh được tin Midtskau đang ở Oslo và muốn gặp anh. Haukelid rời đến thủ đô. Hóa ra Midtskau đã đến Anh, nơi anh đã được đào tạo về máy truyền tin trước khi được gửi trở lại Na Uy trên một tàu ngầm của Anh. Những đồng đội khác đi cùng anh về phía bắc để bắt đầu Skylark B ở Trondheim, trong khi Midtskau được giao nhiệm vụ tiến hành Skylark A ở khu vực Oslo. Vì việc này mà anh ta cần có Haukelid.

Trong nhiều tháng, họ di chuyển từ túp lều này sang túp lều khác trong khu rừng ngoại ô Oslo, gửi tín hiệu vô tuyến tới Anh nhưng không nhận được phản hồi nào. Thông qua nhiều mối liên hệ trong thành phố, họ thu thập được thông tin tình báo về bộ chỉ huy quân Đức ở thủ đô, tất cả mọi người từ Josef Terboven, đại diện toàn quyền của Hitler tại Na Uy đến Tướng Nicholas von Falkenhorst, người giám sát lực lượng quân sự Đức, đến Trung tá SS Heinrich Fehlis, người điều hành công tác an ninh. Không có khả năng liên lạc với London, Midtskau tới Anh bằng thuyền đánh cá để chuyển giao tin tình báo và nhận thiết bị mới. Trong chuyến nhảy dù trở lại Na Uy, đài phát sóng bị hỏng không sao sửa được. Tuy vậy họ tiếp tục những nỗ lực và thậm chí ấp ủ âm mưu bắt cóc Quisling. Haukelid và bạn của anh rất táo bạo và dũng cảm; họ cũng nghiệp dư và cực kỳ kém hiệu quả.

Đầu năm 1941, Gestapo bắt giữ Midtskau và một người khác trong nhóm của họ, Max Manus. Cả hai đều trốn thoát được. Haukelid bị bắt giữ ngay sau đó nhưng cảnh sát Na Uy đã thả anh ra. Bất chấp những thất bại này, nhóm vẫn tiếp tục công việc gián điệp của mình.

Toàn quyền Terboven, cựu nhân viên ngân hàng gầy gò, đeo kính, người đã ủng hộ Hitler từ những ngày đầu, đã nhanh chóng củng cố ách cai trị của Đức Quốc xã. Ông loại bỏ bất kỳ người Na Uy nào không trung thành với “trật tự mới” khỏi các vị trí có ảnh hưởng: thẩm phán, giáo sĩ, quản trị viên, nhà báo, trưởng doanh nghiệp, cảnh sát, lãnh đạo thành phố địa phương và cả giáo viên. Quốc hội Na Uy bị đóng cửa, các thành viên bị giải tán. Tòa nhà quốc hội ở trung tâm Oslo giờ treo cờ Đức Quốc xã và là nơi đặt trụ sở chính quyền của Terboven. SS đã đóng quân ở Victoria Terrasse gần đó, một tòa nhà chính phủ uy nghi trải dài trên một dãy phố.

Sự hiện diện của Đức Quốc xã mở rộng ra ngoài Oslo. Việc đi lại sau giờ giới nghiêm hoặc vượt ra ngoài một địa điểm nhất định mà không có chứng minh nhân dân hoặc thẻ thông hành đều bị cấm. Đài phát thanh đã bị cấm. Bất kỳ ai vi phạm đều có thể bị bỏ tù hoặc lãnh bất kỳ hình phạt nào mà Đức Quốc xã lựa chọn, vì chính Đức Quốc xã chứ không phải cảnh sát mới là người thực thi luật pháp. Không có gì được xuất bản ở Na Uy mà không có sự chấp thuận của cơ quan kiểm duyệt. Sách giáo khoa mới được in để dạy học sinh rằng Hitler là vị cứu tinh của Na Uy. Việc phân bổ nghiêm ngặt than, gas, thực phẩm, sữa và quần áo khiến các gia đình phải vật lộn với cuộc mưu sinh Mọi người chuyển sang mang giày làm từ da cá và quần áo từ báo cũ. Trong khi đó, người Đức tịch thu bất cứ thứ gì họ muốn cho mình, từ những miếng thịt ngon nhất cho đến các sản phẩm của ngành công nghiệp Na Uy, thậm chí lấy đi những ngôi nhà tốt nhất.

Một số người Na Uy ủng hộ trật tự mới. Nhiều người khác chỉ làm những gì họ được bảo. Nhưng vẫn có người  chống lại Đức Quốc xã, dù bằng cách từ chối nhường chỗ cho một người lính Đức trên xe điện hay bằng cách tổ chức các đơn vị kháng chiến để đáp trả bằng vũ lực.

Haukelid sẵn sàng đón nhận sự phản kháng bạo lực như vậy, nhưng anh không biết phải hành động ở đâu và như thế nào.

Sau đó, vào tháng 9 năm 1941, công nhân khắp Oslo đã đình công phản đối việc phân phối sữa nghiêm ngặt. Với cuộc xâm lược nước Nga đang tiến chậm lại thành một cuộc bao vây tàn bạo, Hitler muốn các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của mình được quản lý bằng một bàn tay sắt; Terboven bị áp lực phải hành động. Hơn nữa, Tướng SS Reinhard Heydrich, người đứng đầu lực lượng cảnh sát và an ninh Đức, đang ở Oslo vào thời điểm đó, và vị toàn quyền không dám tỏ ra yếu đuối trước mặt ông ta.

Đe dọa bất kỳ ai cản trở việc nắm chặt Na Uy của mình phải “quỳ gối”, Terboven đã ra lệnh thiết quân luật. Hàng trăm người đã bị bắt, và giám đốc an ninh, Fehlis, đã ra lệnh xử tử hai kẻ cầm đầu cuộc đình công.

Trung tá SS Heydrich Fehlis (trái) và Toàn quyền Josef Terboven (giữa)

Đồng thời, cuộc truy lùng gắt gao của Gestapo đối với các ổ hoạt động ngầm đã dẫn đến sự tan rã của Skylark B ở Trondheim. Đức Quốc xã nhanh chóng truy tìm mọi mối liên hệ với Oslo. Midtskau và một số người khác đã bị vây bắt. Haukelid trốn sang Thụy Điển, nhưng kịp kết hôn với người yêu Bodil trong một buổi lễ thân mật.

Ngay sau đó, đội trưởng Gestapo Siegfried Fehmer, đang tìm kiếm những đầu mối mới, đã đến căn hộ Kirkeveien 74 thuộc sở hữu của cha mẹ Haukelid. Tên cựu luật sư này là người điều tra chính của Gestapo về cuộc kháng chiến ở Oslo. Không giống như nhiều sĩ quan đồng nghiệp của mình, gã hiếm khi mặc đồng phục màu xám đậm và đội mũ lưỡi trai màu đen, thay vào đó gã thích những bộ vest trơn và nở nụ cười duyên dáng để trấn áp các đối tượng thẩm vấn và tuyển dụng kẻ cung cấp thông tin. Được đưa đến Na Uy bởi Fehlis, người đã giúp huấn luyện gã thành chó săn, Fehmer cố gắng hòa nhập với người dân địa phương, ít nhất bằng cách đưa phụ nữ Na Uy lên giường và học ngôn ngữ để hoàn thành công việc của mình tốt hơn. Tóc vàng, cao mét tám, thông minh, trí nhớ nhạy bén, gã được nhiều người trong kháng chiến biết đến với chức vụ Chính ủy.

Fehmer chỉ tìm thấy mẹ của Haukelid, Sigrid, và người vợ mới, Bodil, trong căn hộ. Gã dẫn hai người phụ nữ xuống một chiếc ô tô đang đợi sẵn, gã cảnh cáo rằng chiếc xe này sẽ đưa họ đến Møllergata 19, nhà tù Gestapo. Trên đường đi, Fehmer hỏi Sigrid liệu cô có biết con trai mình ở đâu không. Sigrid tát mạnh vào mặt viên sĩ quan Đức. Fehmer hỏi lại một lần nữa. “Không, ở trên núi,” Sigrid cuối cùng cũng nói. Rất may là bà đã hủy được hộ chiếu Mỹ của con trai mình trước khi Gestapo đến.

“Không,” Fehmer nói. “Hắn ta đang ở Anh. Người liên lạc của chúng tôi ở Thụy Điển cho chúng tôi biết rằng hắn đã được đưa qua Biển Bắc. Bà nghĩ hắn ta đang làm gì ở đó?”

“Khi nó quay lại các người sẽ biết!” bà đã hứa.

Fehmer đưa bà và Bodil đến Møllergata để thẩm vấn thêm, nhưng gã không nhận được gì thêm từ họ và họ đã được thả.

Trên thực tế, Haukelid vẫn chưa đến Anh và anh ấy nhận được tin ở Stockholm về vụ bắt giữ mẹ và vợ mình. Anh quay trở lại Oslo, nhưng cuộc đàn áp an ninh khiến hoạt động kháng chiến không thể thực hiện được, vì vậy anh một lần nữa vượt biên và cuối cùng lên đường đến Anh bằng máy bay. Tại London, lần đầu tiên anh gặp Eric Welsh, người quản lý của minh, và ông muốn anh trở lại Na Uy ngay lập tức với tư cách là một điệp viên. Haukelid có những ý tưởng khác. Anh muốn được huấn luyện quân sự, và muốn chiến đấu. Theo quan điểm của anh, đó là cách duy nhất để đất nước anh được giải phóng. Welsh đã gửi anh đến Nhà Na Uy.

Ở đó, trên văn phòng ở tầng áp mái nhìn ra Quảng trường Trafalgar, Haukelid gặp Martin Linge. Mặc bộ quân phục màu xanh xám của đại úy quân đội Na Uy, Linge có nụ cười thuyết phục và cái bắt tay nắm chặc, và giống như mọi tân binh tiềm năng của Linge, Haukelid ngay lập tức bị hấp dẫn bởi viên sĩ quan này. Là một cựu diễn viên, Linge đã từng phục vụ trong một đơn vị của Anh khi đơn vị này đổ bộ gần Trondheim vào tháng 4 năm 1940.

Lúc đầu, Linge kể về mọi chuyện ở Na Uy, về những nơi mà cả hai đều biết. Không còn nghi ngờ gì nữa, anh ấy đang cố tìm hiểu Haukelid: anh ta muốn gì, tại sao và liệu anh ta có khả năng đạt được điều đó không. Linge giải thích rằng có rất nhiều việc phải làm nếu Haukelid sẵn sàng. Haukelid sẽ gia nhập một nhóm nhỏ, chỉ có vài trăm người. Nhóm được người Anh giám sát nhưng chỉ toàn người Na Uy. Kinh nghiệm quân sự rất hữu ích, nhưng không cần thiết, bởi vì anh sẽ  tiến hành một loại chiến tranh độc đáo, thường ở phía sau chiến tuyến. Đó là loại chiến tranh mà một người ở đúng vị trí có thể tạo ra sự khác biệt lớn. Việc huấn luyện sẽ rất khó khăn, thậm chí khắc nghiệt, và các hoạt động còn hơn thế nữa.

Các chi tiết cụ thể của những điều này không được nói rõ với Haukelid, nhưng dù sao thì anh cũng muốn tham gia.

“Anh kết hôn rồi phải không?” Linge hỏi.

Haukelid trả lời có. Hầu hết những người được tuyển dụng đều trả lời là không, và sau đó Linge thường tiếp bằng một câu nói đùa, “Vậy là tốt. Vì sau này chúng tôi sẽ không phải gửi hoa cho góa phụ của bạn.” Thích những gì anh thấy ở Haukelid, Linge chào đón anh đến Đai đội Độc lập Na Uy số 1. Trong vòng một tuần, anh được cấp ủng và đồng phục Anh.

*

Sau một chuyến tàu dài, rồi một chuyến phà qua hồ Loch Morar trên bờ biển lộng gió phía tây Scotland, Haukelid đã đến giai đoạn tiếp theo trong quá trình huấn luyện của mình. Một số người huấn luyện tại Meoble, một nhà nghỉ săn bắn cũ, là người Na Uy đã trải qua khóa học và hiện đang dẫn dắt, dịch ra tiếng Na Uy các hướng dẫn từ các chỉ huy người Anh của họ khi cần thiết.

Các cuộc đi bộ qua Công viên Stodham được thay thế bằng những cuộc di chuyển qua bụi rậm, vượt qua những dòng sông lạnh như băng và lao xuống những khe núi dốc hoặc băng qua bằng dây thừng. Với cả vũ khí của Anh và nước ngoài, những chiến binh thực tập bắn súng theo bản năng (bắn mà không sử dụng ống ngắm) và học cách bắn cận chiến. Họ rình rập trong rừng thông râm mát, bắn vào các mục tiêu bất ngờ bật lên. Họ di chuyển qua các mô hình xây dựng, càn quét các phòng. Trong công việc phá dỡ, họ chuyển từ việc cho nổ tung xúc gỗ đến phá hủy các toa tàu và nhà máy. Họ chế tạo các loại thuốc nổ và thiết bị gây cháy ở mọi kích cỡ. Haukelid rất ngạc nhiên trước tác dụng của một lượng thuốc nổ nhỏ được đặt ở vị trí hoàn hảo vào thời điểm hoàn hảo: nó có thể ngăn chặn một đội quân, khiến một nhà máy vũ khí trở nên vô dụng.

Họ gửi và nhận tin nhắn bằng Morse nhanh hơn. Họ tập cách giết người âm thầm bằng dao, đảm bảo lưỡi dao đâm vào thịt, tránh xương. Họ được dạy cách đột nhập két sắt, cách sử dụng chất độc, cách vô hiệu hóa ai đó bằng chloroform. Họ học cách đi theo lộ trình đến mục tiêu chỉ bằng trí nhớ mà không cần bản đồ hay la bàn. Họ học cách ngụy trang trên chiến trường, cách lội qua đầm lầy và tiếp cận kẻ thù mà không bị phát hiện, cách hạ gục chúng mà không gây ra tiếng động – thậm chí không cần  vũ khí.

“Đây là chiến tranh, không phải thể thao,” người huấn luyện nhắc nhở họ. “Vì vậy, hãy quên các quy luật  Queensberry (các quy luật của trận đấu quyền anh); hãy quên thuật ngữ ‘các hình thức phạm lỗi’… quên chúng sẽ giúp bạn hạ thủ nhanh chóng.” Haukelid biết được rằng một cú đánh mạnh bằng cạnh bàn tay của mình có thể làm tê liệt, gãy xương hoặc gây tử vong. Điểm yếu trên cơ thể con người bao gồm sau gáy, ngay bên trái hoặc bên phải cột sống; giữa quả táo của Adam và sống mũi; thái dương; và thận. Anh ấy tập đi tập lại những cú đánh này trên ma-nơ-canh cho đến khi bàn tay anh như muốn vỡ nát.

Kể cả những đêm rảnh rỗi, như Giáng sinh hoặc đêm giao thừa, cũng đều mang tính huấn luyện. Các giáo viên sẽ đưa Haukelid và đồng đội đến một quán rượu, nơi họ uống bia và whisky mạnh. Lúc đầu, đó có vẻ là một thời điểm thoải mái, nhưng sau đó họ biết rằng suốt buổi tối, họ bị quan sát để xem ai uống quá nhiều, ai gây chú ý thái quá, hoặc tệ nhất là ai nói chen ngang. Người ta phải luôn luôn đề phòng.

Tất cả các bài học sau đó được đan kết lại với nhau thành các cuộc đột kích được dàn dựng, cả dưới ánh sáng ban ngày và trong bóng tối. Tại Meoble, các giảng viên gọi đây là “mưu mô.” Các học viên được giao một mục tiêu – đường ray, doanh trại quân đội, sân bay, hoặc nhà máy. Họ phải nghĩ ra một kế hoạch tấn công: lộ trình, ai chịu trách nhiệm trinh sát, theo dõi, cung cấp vỏ bọc, và tấn công mục tiêu. Sau đó họ tiến hành kế hoạch, trang bị vũ khí thực và bất cứ thứ gì khác cần đến. Khi có thể, họ đặt chất nổ thực. Một số cuộc đột kích này mất hàng giờ. Một số khác đưa họ đi khỏi Meoble trong vài ngày. Các giảng viên và một học viên khác đóng vai Gestapo, háo hức ngăn chặn cuộc đột kích, sẵn sàng dỡ trò  thô bạo nhất có thể.

Đó là một chế độ tập luyện tàn nhẫn và giống như trước đây, Haukelid thường xuyên được hỏi liệu anh có muốn ra đi hay không. Anh ấy từ chối. Họ có thể chưa học về đường lối chiến tranh truyền thống, với các tuyến cố định và điều động bên sườn, nhưng David đang chiến đấu với Goliath, và Haukelid biết rằng “trường dạy bọn găng-tơ” (biệt danh bọn Đức gọi những nơi như Meoble) chính xác là nơi anh cần đến. Người đứng đầu Meoble cũng nghĩ như vậy khi thông báo với các ông chủ của mình ở London rằng Haukelid là “một thành viên thực sự uy tín và mưu trí. Đã làm rất  tốt. Không biết sợ hãi. Một sinh viên xuất sắc có thể làm tốt hầu hết mọi công việc đặc biệt.”

Trước khi rời Meoble, Haukelid phát hiện ra rằng đại đội Na Uy không phải là duy nhất. Đúng hơn, nó là một phần của một tổ chức mở rộng được gọi là Cơ quan điều hành hoạt động đặc biệt (SOE), các khu vực xuyên Châu Âu và xa hơn nữa.

Được thành lập ngay sau khi Winston Churchill được bầu làm thủ tướng, chỉ thị cho cơ quan  là “phóng hỏa châu Âu” bằng các nhiệm vụ đặc công chống lại Đức Quốc xã. Hugh Dalton, người đứng đầu Bộ Chiến tranh Kinh tế và là người lãnh đạo đầu tiên của SOE, đã xây dựng nền tảng cho mục đích của nó. “Chúng ta phải tổ chức các phong trào trong lãnh thổ bị kẻ thù chiếm đóng có thể so sánh với phong trào Sinn Féin ở Ireland, với quân du kích Trung Quốc hiện đang hoạt động chống lại Nhật Bản, với quân không chính quy Tây Ban Nha đã đóng một vai trò đáng chú ý trong chiến dịch của Wellington… Chúng ta phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phá hoại công nghiệp và quân sự, kích động và đình công lao động, tuyên truyền liên tục, hành động khủng bố chống lại những kẻ phản bội và các nhà lãnh đạo Đức, tẩy chay và bạo loạn.”

*

Vào ngày 14 tháng 1 năm 1942, Haukelid đến Trường Huấn luyện Đặc biệt (STS) 26, ở Cao nguyên Scotland gần Aviemore, trụ sở của Đại đội Độc lập Na Uy số 1. Anh rất háo hức được đưa vào hoạt động. Khoảng 150 người Na Uy sống trong ba khu săn bắn (Glenmore, Forest Lodge và Drumintoul) giữa những đỉnh núi đá granit hiểm trở, thung lũng rừng thông dốc và những cánh đồng hoang trải dài vô tận. Nơi này, có biệt danh đơn giản là Hai mươi Sáu, khiến Haukelid gần như nhớ đến quê hương của anh, nhưng điều đó có nghĩa đây là địa hình lý tưởng để chuẩn bị cho các sứ mạng. Anh ấy sớm nhận ra rằng không có sứ mạng nào đang diễn ra.

Trong khi Haukelid đang huấn luyện tại Meoble, người Anh đã tiến hành hai chiến dịch kết hợp lớn trên không, trên bộ và trên biển: một chống lại quần đảo Lofoten ở miền bắc Na Uy, một chiến dịch khác trên hai thị trấn ven biển Måløy và Vågsøy, ở miền tây Na Uy. Tiến hành đồng loạt, các cuộc tấn công nhằm làm suy yếu sự kiểm soát của quân Đức trên bờ biển và làm tê liệt việc sản xuất dầu cá, sử dụng để tạo ra TNT. Vào ngày 27 tháng 12 năm 1941, tàu khu trục Anh bắn phá Måløy, dập tắt các dàn pháo ven biển của nó và san bằng các doanh trại quân Đức. Hàng không Hoàng gia thả bom khói để quân phòng thủ Đức không thấy được cuộc tấn công lập đầu cầu của lực lượng 600 binh sĩ Anh. Họ đươc tiếp tay bởi Đại úy Linge và nhóm 20 người của mình.

Quân đồn trú Måløy đầu hàng ngay sau khi cuộc tấn công bắt đầu, và Vågsøy cũng bị chiếm một cách dễ dàng tương tự. Bi kịch thay, Linge đã thiệt mạng trong cuộc tấn công, bị bắn trúng khi anh xông vào trụ sở quân Đức.

Đại úy Martin Linge, người thành lập Đại đội Độc lập Na Uy số 1

Tại Lofotens, 77 người của Đại đội Độc lập Na Uy đã đi cùng lực lượng đổ bộ Anh. Họ tiến công nhanh chóng. Khi màn đêm buông xuống, một số đơn vị đồn trú của Đức và các quan chức Đức Quốc xã đã bị bắt. Người dân của chuỗi đảo, khi được cho biết quân Anh đến đó để ở lại, đã xông ra hỗ trợ cuộc tấn công. Ngày hôm sau, mối đe dọa về một cuộc phản công dữ dội của quân Đức bằng đường không và đường biển khiến người chỉ huy chiến dịch hoảng sợ. Ông kêu gọi rút lui ngay lập tức. Khi lực lượng Đồng minh, bao gồm cả lực lượng biệt kích Na Uy rút khỏi quần đảo, người dân địa phương đã nhổ vào mặt họ vì biết mình  sẽ phải đối mặt với cuộc trả thù tàn khốc dưới bàn tay của Đức Quốc xã.

Khi Haukelid lần đầu tiên đến STS 26, anh ấy đã tìm thấy một đại đội trong tuyệt vọng. Sự sụp đổ của Lofoten và việc nhận ra sau đó rằng người Anh thậm chí còn chưa thông báo cho chính phủ Na Uy về hoạt động này đã gây ra sự phẫn nộ. Cái chết của Đại úy Linge khiến trái tim họ tan nát. Nhiều người đe dọa sẽ gia nhập quân đội chính quy trừ khi nhiệm vụ của họ phù hợp với mục tiêu của lãnh đạo đất nước họ. Những người đàn ông thì thầm rằng họ bị chính phủ Na Uy lưu vong coi chẳng khác gì “những bộ râu giả” và một “băng cướp được huấn luyện nửa vời”, những kẻ gây ra nhiều rắc rối hơn là làm tốt. Hàng chục thành viên đã công khai nổi loạn; họ đã bị kỷ luật và đuổi đi.

Không có gì cho Haukelid làm nhưng hãy chờ xem tình hình diễn ra như thế nào. Anh ấy rất vui khi ít nhất được bao quanh bởi những người Na Uy như mình, những người đã mạo hiểm mọi thứ để đến Anh và được huấn luyện chiến đấu. Mặc dù Haukelid đến bằng máy bay nhưng hầu hết những người khác đều đến bằng phương tiện được gọi là đoàn xe buýt Shetland, một đoàn tàu đánh cá Na Uy băng qua Biển Bắc đầy giông bão và khó lường để đến Quần đảo Shetland. Một người trong nhóm của anh  thậm chí đã thực hiện cuộc hành trình một mình trên một chiếc thuyền chèo. Những người khác, như Jens-Anton Poulsson, một người lính gầy gò 23 tuổi đến từ Rjukan, người có tẩu thuốc lá chưa bao giờ rời xa miệng mình, anh đã đi hơn sáu tháng vòng quanh thế giới từ Na Uy, đến Thụy Điển, Phần Lan, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Ấn Độ, Nam Phi và Canada để cuối cùng đến được bờ biển nước Anh.

Trong hai tuần, Haukelid được huấn luyện với Đại đội mới của mình và đi lang thang ở vùng nông thôn phủ đầy tuyết. Không bao giờ có đủ thức ăn tại STS 26, và mặc dù về mặt kỹ thuật thì việc săn bắn là vi phạm các quy tắc, nhưng việc mang theo một con hươu đực để bổ sung dinh dưỡng không hẳn là không được khuyến khích. Haukelid, người đã lấy biệt danh Bonzo, theo tên chú gấu bông thời thơ ấu, yêu thích môn thể thao tại STS 26.

Nhưng tấm màn che phủ Đại đội  anh vẫn còn. Sau đó, vào ngày 31 tháng 1, một số vị khách đã đến từ London bằng chuyến tàu đêm. Đại đội đã biểu diễn kỹ thuật bắn súng và đột kích của mình, sau đó chiêu đãi các vị khách một bữa ăn tối tại một nhà nghỉ. Oscar Torp, bộ trưởng quốc phòng Na Uy lưu vong, và Thiếu tướng Colin Gubbins, tư lệnh thứ hai của SOE, là khách mời danh dự. Torp có bài phát biểu sôi nổi, hứa hẹn một kỷ nguyên hợp tác mới giữa chính phủ Na Uy lưu vong và người Anh. Mục tiêu của họ ở Na Uy gồm có hai phần: mục tiêu dài hạn là xây dựng Milorg [lực lượng kháng chiến Na Uy], hiện đang nằm dưới quyền chỉ huy của Quân đội để hợp đồng tác chiến với quân Đồng minh đổ bộ vào Na Uy trong tương lai; và mục tiêu ngắn hạn là thực hiện các hoạt động phá hoại và hỗ trợ các cuộc đột kích nhằm làm suy yếu sức mạnh quân sự và kinh tế của Đức. Đại đội Độc lập sẽ là mũi nhọn của ngọn giáo đó và sẽ không có hoạt động nào diễn ra nếu không có sự đồng ý của Na Uy. Khi ông ta nói xong, tất cả reo hò và đập bàn.

Sau đó Torp và Gubbins giới thiệu hai sĩ quan sẽ chỉ huy họ. Người đầu tiên là Trung tá John Wilson, chỉ huy mới của bộ phận SOE Na Uy. Wilson nói với họ rằng mình có “dòng máu Viking” trong huyết quản nhưng qua nhiều thế hệ, nó đã loãng đi, giống như mái tóc muối tiêu của ông. Ông có dáng người thấp nhưng thẳng, giọng nói trầm lặng, nghiêm nghị và phong thái kiên quyết. Wilson, người lãnh đạo Phong trào Hướng đạo Quốc tế trước chiến tranh, đã giúp thiết kế và điều hành các trường đào tạo của SOE. Đứng cạnh ông ta, mặc đồng phục và đội mũ lưỡi trai, là Leif Tronstad, người mà Haukelid đã gặp trong buổi sáng định mệnh ngày quân Đức xâm lược Na Uy. Phối hợp chặt chẽ với Wilson, đại úy Tronstad sẽ giám sát việc đào tạo, lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động của Đại đội.

Trung tá John Wilson, chỉ huy SOE nhánh Na Uy

Ngày hôm sau, các vị khách đi tham quan trại và gặp gỡ những thành viên. Tối hôm đó, Torp chủ trì lễ tưởng niệm Đại úy Linge. Họ hát và đọc Kinh thánh, và một tuyên úy người Na Uy đã đọc một bài thơ viết năm 1895, trước khi đất nước của họ được độc lập khi tách khỏi Thụy Điển:

Chúng tôi mong muốn một đất nước được giải cứu và được tự do, và không phải trả lời cho sự tự do của mình.

Chúng tôi mong muốn một đất nước, là của tôi và của bạn… Nếu chúng ta chưa có đất nước này,

Chúng ta sẽ giành được nó, bạn và tôi.

Theo thời gian, đại đội Na Uy, được tập hợp và lãnh đạo bởi người đàn ông mà họ ca ngợi, sẽ được đổi tên không chính thức để vinh danh anh: Đại đội Linge. Đại úy Leif Tronstad giờ đây sẽ dẫn dắt các binh sĩ Na Uy trong cuộc chiến đấu giành tự do.

Những thành viên của tập thể gọi là Đại đội Linge

4

Con Trai Người Giữ Đập

VÀO THỨ NĂM, ngày 12 tháng 3 năm 1942, Einar Skinnarland thấy mình đang ngồi trên bàn mổ tại một bệnh viện ở Kristiansand, một thị trấn cảng ở miền nam Na Uy. Bác sĩ nhất quyết yêu cầu anh phải gây mê để phẫu thuật chân trái. Cách đây một tuần, anh bị ngã và trật khớp xương bánh chè. Ông ấy đã buộc nó trở lại vị trí cũ, nhưng máu đọng lại sau đầu gối khiến sưng tấy một cách nguy hiểm. Không dùng thuốc gây mê, Skinnarland nói. Anh ấy sẽ sớm rời Kristiansand và anh ấy sợ thuốc gây mê sẽ cản trở quá trình hồi phục của mình. Bác sĩ cảnh báo một lần nữa rằng cuộc phẫu thuật sẽ vô cùng đau đớn. “Không sao,” câu trả lời vang lên. Bác sĩ lắc đầu, chắc chắn nghĩ bệnh nhân của mình bị thần kinh rồi.

Skinnarland nằm ngữa trên bàn trong khi các y tá giữ chặt chân anh. Sau đó, bác sĩ cắt nó bằng dao mổ. Skinnarland – tóc đỏ, bờ vai rộng và cơ bắp săn chắc – cố gắng hết sức để kiềm chế bản thân. Khuôn mặt của anh,  thường nở một nụ cười rạng rỡ, giờ đây căng cứng. Anh nghiến răng và đôi mắt hơi híp của anh dường như híp lại hơn nữa. Khi bác sĩ thăm dò phần thịt lộ ra của anh, Skinnarland chịu đựng thủ thuật giải phẫu mà không phát ra hơn một tiếng lẩm bẩm. Sau khi hút hết máu và dịch từ phía sau xương bánh chè, bác sĩ đảm bảo xương đã được cố định đúng cách rồi khâu vết thương cho bệnh nhân. Anh sẽ cần vài đêm để hồi phục trong bệnh viện. Một lần nữa, Skinnarland từ chối. Một băng buộc chặt là đủ. Vài giờ sau, với cây gậy trong tay, anh tập tễnh bước xuống cầu thang và gập người vào một chiếc taxi.

Ở bến cảng, đối diện với nhà nghỉ của thủy thủ, anh bước vào cửa hàng hóa đi tàu. Người chủ, một người độc thân vui tính, luôn có chuyện hay để kể, dẫn Skinnarland vào phòng sau. Ở đó anh cố gắng nghỉ ngơi, nhưng cơn đau tỏa ra từ chân anh quá dữ dội. Để quên đau, anh tập trung vào việc tra dầu cho các khẩu súng lục ổ quay của mình. Anh lên kế hoạch thuyết phục thủy thủ đoàn của Galtesund, một tàu hơi nước ven biển nặng 620 tấn sắp cập cảng, thay đổi lộ trình và đưa anh ta cùng những người bạn băng qua Biển Bắc đến Aberdeen. Cho đến lúc đó, anh sẽ chịu đựng, như các thành viên gia đình anh đã luôn làm.

*

Trong nhiều thế kỷ, dòng họ Skinnarland đã sống dọc theo bờ Hồ Møs ngoằn ngoèo. Đó là một vùng quê hẻo lánh hiềm thù, và không thể xâm nhập suốt sáu tháng trong năm bằng bất cứ thứ gì ngoại trừ ván trượt. Chạy về phía đông từ Hồ Møs, Sông Måna chảy xiết qua Thung lũng Vestjord, mực nước của nó giảm gần 700 mét dọc theo đường đi qua nhiều  thác nước dựng đứng.

Vào thế kỷ XVI, một ngôi làng nhỏ với những ngôi nhà gỗ mọc lên trên bờ sông Måna. Vài trăm cư dân ít ỏi sống trong bóng tối, gần như suốt năm mặt trời giấu mình đằng sau những bức tường thung lũng cao. Khách không được chào đón; thực ra, dân địa phương được đồn đại là “những con người không biết xấu hổ của Ác quỷ có niềm vui chính là giết các giám mục, giáo sĩ, thừa phát lại và chức sắc – và sở hữu một phần lớn mọi tội lỗi nguyên thủy.” Mặc dù cường điệu là một nơi cấm kỵ, nhưng vẻ đẹp của khu vực và các thác nước, đặc biệt là thác Rjukanfossen sấm sét,  rơi xuống 340 bộ, thu hút người tham quan từ rất xa đến. Các họa sĩ sẽ đứng ngoài tầm nước phun và cố gắng ghi lại vẻ đẹp lộng lẫy của nó, tranh phong cảnh của họ thường bao gồm cả đỉnh núi Gausta cao chót vót 600 bộ  ở hậu cảnh.

Vào đầu thế kỷ XX, các họa sĩ và khách du lịch phải nhường chỗ cho các nhà công nghiệp nhộn nhịp đến. Năm 1905, kỹ sư người Na Uy Sam Eyde và nhà vật lý Kristian Birkeland đã phát minh ra cách lấy nitơ xuất hiện tự nhiên trong không khí và sử dụng nó để sản xuất phân bón. Quá trình của họ đòi hỏi một lượng điện lớn. Thác Rjukanfossen hùng vĩ thật là lý tưởng. Norsk Hydro được thành lập và chẳng bao lâu Thung lũng Vestfjord đã thu hút các kỹ sư và công nhân xây dựng. Họ xây đập trên hồ Møs, cho nổ các đường hầm dẫn vào sườn đồi để làm đường ống và xây dựng một loạt các trạm năng lượng và nhà xưởng. Gần địa điểm của ngôi làng cũ, họ cũng xây dựng một thị trấn mới: Rjukan. Có hàng trăm ngôi nhà và ký túc xá công nhân, mạng lưới đường phố có đèn chiếu sáng, đường sắt và nhà ga, nhà thờ, trạm cứu hỏa, lực lượng cảnh sát, trường học, bệnh viện và thậm chí cả khu vườn cộng đồng và phòng khiêu vũ.

Nền văn minh có thể đã đến Thung lũng Vestjord, nhưng vào năm 1918, khi Einar Skinnarland ra đời, đứa con thứ tám của người gác đập Hans Skinnarland và vợ ông, Elen, cuộc sống ở hồ Møs vẫn giống như xưa. Nhà Skinnarland sống cách Rjukan mười ba dặm về phía tây, trong một căn nhà gỗ lớn cạnh con đập. Bất chấp những diễn biến bên dưới, từ tháng 11 đến những tháng đầu hè, khu vực này vẫn chỉ có thể đến được bằng ván trượt. Gia đình lên kế hoạch cho mùa đông dài, dự trữ bất cứ thực phẩm, quần áo và đồ gia dụng mà họ có thể cần. Nếu có thứ gì đó bị hỏng, việc sửa chữa là tùy thuộc vào họ.

Khi lớn lên, Einar dành nhiều thời gian cho ván trượt cũng như cho đôi chân của mình. Anh trượt tuyết để chở gỗ và làm những công việc khác xung quanh con đập. Anh trượt tuyết đến các trang trại lân cận để chơi với bạn bè. Anh trượt tuyết qua mặt hồ đóng băng để đến trường nội trú trên đảo Hovden, cách nhà anh mười dặm, nơi anh học tiểu học, rồi trượt tuyết đến trường cấp hai ở Rjukan. Hơn thế nữa, anh trượt tuyết cho vui. Các anh trai của anh là những tay đua trượt tuyết và nhảy ski vô địch, bằng chứng là hàng cúp bạc nhỏ nhưng được trân quý trên kệ trong căn phòng mà anh ở chung với họ. Đối với họ, việc trượt một quãng đường marathon đến Núi Gausta là niềm vui thuần túy, leo núi trong ba giờ để lên tới đỉnh, rồi lao xuống với tốc độ chóng mặt trong năm phút và sau đó trở về nhà để ăn tối.

Mặc dù họ sống ở rìa của nền văn minh, nhưng nhà Skinnarland có chung tham vọng. Hans và Elen mua những lô đất xung quanh Hồ Møs và mở một cửa hàng tổng hợp bên con đập. Trong số con cái của họ, có một y tá, một chủ khách sạn, một trợ lý bảo vệ đập nước và hai kỹ sư. Được coi là người sáng giá nhất nhóm và là “cậu bé vàng” trong mắt mẹ, Einar đạt điểm cao ở trường và tiếp tục theo học ngành kỹ thuật tổng hợp tại một trường cao đẳng kỹ thuật địa phương. Từ đó, anh đến Oslo để thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Trường Sĩ quan Tập đoàn Kỹ thuật danh giá. Anh muốn xây dựng những thứ lớn lao, những con đập và những thứ tương tự. Nhưng rồi chiến tranh nổ ra.

Ngày 9 tháng 4 năm 1940, Elen Skinnarland đặt điện thoại xuống và bật khóc. Bọn Đức đã xâm lược và bà biết rằng các con trai mình sẽ sớm ra trận. Ở Oslo, Einar đang ở ngay cuộc chiến, chứng kiến ​​​​máy bay ném bom của Không quân Đức gào thét trên đầu, hướng về phía sân bay. Anh được huy động, nhưng giống như nhiều binh sĩ trong Quân đội Na Uy chỉ trải qua một tháng rút lui và thảm bại, đánh dấu bằng các cuộc giao tranh lẻ tẻ. Các anh em của anh là Torstein và Olav trải nghiệm ​​nhiều hành động hơn, tham gia vào cuộc kháng chiến ác liệt xung quanh Rjukan khiến nơi đây trở thành một trong những thị trấn cuối cùng ở miền nam Na Uy đầu hàng. Họ trở về nhà trong tình trạng mệt mỏi và tổn thương.

Khi Einar quay lại Hồ Møs vào giữa tháng 5, quân Đức đã tràn vào khách sạn bên đập nước của anh trai anh, biến anh trai anh thành người hầu của họ và chiếm đoạt các kho thực phẩm và bia. Bọn lính Đức làm lộn xộn cả lên; Dựa vào những vết trầy xước trên tường, chắc hẳn họ đã vẫn mang ủng khi đi ngủ.

Ở một khía cạnh nào đó, cuộc sống đã trở lại bình thường. Einar nhận công việc tại Norsk Hydro với tư cách là giám sát viên xây dựng đập và anh sống lại tại ngôi nhà thời thơ ấu của mình. Anh hẹn hò với một phụ nữ trẻ tên là Gudveig đến từ Bergen. Họ gặp nhau thông qua người bạn thời thơ ấu và đồng nghiệp tại Norsk Hydro, Olav Skogen, cũng đến từ Rjukan. Skogen đang cặp kè với em gái của Gudveig. Cả bốn cùng nhau trượt tuyết và đạp xe qua vùng nông thôn.

Nhưng Skinnarland và Skogen còn có một mặt khác. Kể từ cuộc xâm lược, họ đã đặt mục tiêu tiêu diệt quân Đức bằng mọi cách có thể với tư cách là một phần của chi bộ kháng chiến của  Milorg non trẻ trong khu vực. Skogen là một trong những thủ lĩnh của chi bộ, Skinnarland tích trữ vũ khí và tổ chức một nhóm gồm mười người đáng tin cậy xung quanh Hồ Møs. Anh đã đi đi lại lại từ Oslo và nhận được một máy in stencil để sử dụng cho một tờ báo bất hợp pháp. Anh liên lạc với chi nhánh kháng chiến Oslo về việc thiết lập một đài phát thanh không dây gần nhà và thậm chí còn đào một căn phòng bên dưới sàn của một căn nhà gỗ trên núi để bảo trì nó. Nhưng chưa tìm được bộ máy nào cho anh.

Vào mùa thu năm 1941, một cậu bé người Rjukan ở địa phương bị Gestapo bắt giữ đã trở thành người cung cấp thông tin cho địch với hy vọng được đối xử tốt hơn. Cậu ta nói với các đặc vụ rằng Skinnarland đang giấu vũ khí trong một căn nhà gỗ ở rìa Hồ Møs. Họ bắt giữ Skinnarland nhưng chỉ tìm được một chiếc radio thông thường, dù là bất hợp pháp ở cabin. Tuy nhiên, anh đã bị giam mười ngày trong nhà tù Rjukan. Sau khi được trả tự do, anh quyết tâm hơn bao giờ hết cho chính nghĩa.

Vào đầu năm 1942, Skinnarland một lần nữa đến Oslo, lần này để hỏi người đứng đầu bộ phận truyền tin của Milorg rằng liệu mình có thể được cử đến Anh để đào tạo thành nhân viên điều hành đài và mang về một bộ máy phát hay không. Anh liền được cung cấp giấy tờ giả dưới tên Einar Hansen. Đầu tháng 3, anh nói với gia đình rằng mình sẽ vào núi trong một chuyến đi săn kéo dài. Thay vào đó anh rời đi đến Flekkefeld, một thị trấn cảng phía tây Kristiansand, tại đó một chiếc thuyền của Anh đã đợi sẵn để đón anh. Trong khi đi đến Kristiansand, anh đã bị thương ở chân.

Tại Flekkejord, anh gặp hai thành viên khác của quân kháng chiến: Odd Starheim tóc xoăn và người bạn đồng hành, Andreas Fasting. Là con trai của một đại úy và cũng là một đại úy, Starheim trẻ tuổi đã là một huyền thoại trong giới kháng chiến. Ngay sau cuộc xâm lược của Đức, anh đã trưng dụng một chiếc thuyền nhỏ mà anh đặt tên là The Viking, và đã đến Scotland, nơi anh trở thành một trong những tân binh đầu tiên của Martin Linge. Anh ấy trở lại Na Uy và, trong một năm rưỡi qua, đã phát triển một cách sâu rộng mạng lưới tình báo ở phần phía nam của đất nước, thông tin về các cuộc điều động của hải quân Đức và vị trí các căn cứ.  Bây giờ trên đường chạy trốn Gestapo, Starheim cần phải  ra khỏi đất nước, và anh đã được lực lượng ngầm giao nhiệm vụ mang Skinnarland theo. Khi gặp nhau ở Flekkefjord, Starheim báo cho Skinnarland biết chuyến vận chuyển họ đã bị hủy bỏ vì trên Biển Bắc có bão. Họ cần phải tìm cách khác. Vì Starheim đang bị săn lùng, việc vượt biên vào Thụy Điển là không thể bàn tới. Chính Starheim đã nảy ra ý tưởng cướp một chiếc tàu hơi nước. Vừa chơi cờ, cả ba ấp ủ kế hoạch cướp tàu Galtesund.

Nhưng nếu Skinnarland muốn tỏ ra hữu ích trong việc cướp tàu thì trước tiên anh cần phải được bác sĩ chăm sóc ở chân.

*

Hai ngày sau cuộc phẫu thuật, vào ngày 14 tháng 3, Skinnarland lên tàu Galtesund ở Kristiansand để thực hiện chuyến đi đến Flekkejord. Trong cuộc hành trình qua đêm, với cây gậy trong tay, anh đã trinh sát hành khách trên con tàu hơi nước, thuyền viên, hàng hóa và trữ lượng than. Chỉ có một hành khách duy nhất, một người đàn ông đi đến Stavanger, xa hơn về phía bờ biển, để tham dự lễ rửa tội. Không có người Đức. Thuyền viên gồm 22 người. Knudsen, thuyền trưởng, là một con chó biển già vạm vỡ, khó có thể tử tế với ai đó đang cố chiếm lấy con tàu của mình. Galtesund chở một loại hàng hóa điển hình cho các vùng nước ven biển này, bao gồm một vài thùng thuốc lá Na Uy. Các hầm than chứa 60 tấn, quá đủ để đến Scotland. Khi tàu đến Flekkefeld vào sáng hôm sau, Skinnarland xuống tàu để gặp đồng bọn của mình.

Vài giờ sau, anh chậm rãi đi bộ trở về phía bến cảng. Trên ve áo vest, như trước đây, anh đeo huy hiệu Nasjonal Samling – chỉ là một người Na Uy khác về phe với trật tự mới, giống như các cô gái địa phương trong vòng tay của bọn lính Đức, đi dạo phố trong buổi chiều tà. Nhưng khẩu súng lục ổ quay nhét trong vali của anh lại kể một câu chuyện khác.

Anh băng qua một quảng trường nhỏ lát đá cuội với những ngôi nhà gỗ màu xanh lá cây và màu vàng sáng và sau đó di chuyển đến cầu cảng, nơi các công nhân bốc xếp đang chất hàng hóa cuối cùng lên tàu Galtesund. Thân tàu sơn trắng chìm sâu hơn trong nước.

Lên tàu hơi nước, Skinnarland đi đến cabin mà anh đã nghỉ lại đêm hôm trước. Nửa giờ sau, Starheim và Fasting đến bến cảng rồi tiến lên boong tàu. Vào lúc 5 giờ chiều, sau hồi chuông thứ ba và cũng là cuối cùng, tàu Galtesund rung chuyển dưới chân họ, chân vịt của nó cắt xuyên qua làn nước đen. Tỏa ra cuộn khói đen từ ống khói, con tàu lao ra khỏi bến cảng.

Khi bến cảng đã khuất tầm mắt, Skinnarland rời khỏi cabin của mình, hai khẩu súng lục ổ quay đã nạp đạn nhét vào thắt lưng và vài sợi dây dài quấn quanh eo. Anh ấy hồi hộp. Rất hồi hộp. Starheim đã được luyện tập về kiểu hành động này, nhưng Skinnarland không được đào tạo và sợ rằng mình sẽ làm mọi chuyện rối tung lên.

Vào lúc 6:20 chiều. anh ấy gặp Starheim bên ngoài quán rượu. Họ đang định mở cửa xông vào bắt thuyền trưởng thì người phó tàu thứ hai từ phía sau tiến tới. Gã hỏi Starheim xuất trình vé tàu. Skinnarland bỏ tay ra khỏi tay nắm cửa quán rượu, không biết phải làm gì. “Tôi e rằng mình đã đến quá muộn,” Starheim ngây thơ nói. “Vì vậy tôi nghĩ tôi sẽ lên boong tàu trả tiền.”

Người phó tàu dẫn anh đi trả tiền vé. Vài phút sau, Skinnarland và Starheim quay lại quán rượu. Họ nhẹ nhàng mở cửa, Starheim đầu tiên, Skinnarland thứ hai, mỗi người cầm hai khẩu súng lục ổ quay. “Giơ tay lên,” Starheim ra lệnh. Chỉ có cơ trưởng và hành khách đi Stavanger ở bên trong. Cả hai đều không trả lời cho đến khi Starheim lặp lại chính mình. Sau đó anh ta nói, “Chúng tôi là sĩ quan của Hải quân Na Uy, và chúng tôi không đơn độc; ngay lúc này người của tôi đang chiếm phòng máy. Bây giờ tôi đang nắm quyền chỉ huy con tàu này.”

Thuyền trưởng phản đối nhưng Starheim đã cắt ngang. Ngay sau đó Skinnarland đã trói thuyền trưởng và hành khách bằng dây thừng. Hai “hải tặc” sau đó tiến đến buồng lái. Viên phó tàu thứ hai hai cố thoát ra bằng cửa hông, nhưng Skinnarland, giờ đã tự tin hơn, đã ngăn cản cuộc trốn thoát. Tài công  buông tay lái, nhưng Starheim ra lệnh cho tàu tiếp tục hướng đi cũ.

Bên dưới boong tàu, Fasting bảo vệ phòng máy cùng với hai thợ đốt lò mà anh đã tuyển dụng được cho chính nghĩa, và chẳng bao lâu sau Galtesund là của họ mà không cần phải bắn một phát súng nào.

 

Einar Skinnarland

Odd Starheim

Con tàu bì đánh cướp, Galtesund

Bây giờ họ phải sống sót trong  chuyến hành trình tới Aberdeen. Starheim muốn đi thẳng về phía tây, nhưng họ đang đến gần một pháo đài ven biển do quân Đức kiểm soát, và viên tài công cảnh báo là họ nên tiếp tục lộ trình đã định ít nhất cho đến khi mặt trời lặn. Nếu người Đức không thấy họ đang hướng tới điểm dừng theo lịch trình tiếp theo, chúng có thể nghi ngờ có điều gì đó.Sau khi trời tối, phải tận rạng sáng ngày hôm sự vắng mặt của họ mới được ghi nhân.

Starheim làm theo lời khuyên của y, và khi bóng tối buông xuống, người tài công cuối cùng cũng bỏ xa bờ biển. Ngay sau đó, theo sự sắp xếp của Starheim khi họ vẫn còn ở Flekkejord, một đồng đội đã gửi một tin nhắn không dây tới London. “Chúng tôi đã chiếm được một con tàu duyên hải 600 tấn… Chúng tôi đang tiến đến Aberdeen. Vui lòng cho máy bay hộ tống vì chúng tôi dự đoán sẽ có cuộc tấn công từ máy bay Đức vào sáng mai.” Suốt đêm, anh và Skinnarland vẫn ở trong phòng lái, uống cà phê cho tỉnh táo. Lúc bình minh, khi sương mù giăng khắp biển, họ nghe thấy tiếng máy bay ầm ầm từ xa. Lo sợ đó có thể là máy bay tìm kiếm của Đức, họ đã chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất. Mọi người đều mặc áo bảo hộ và thuyền cứu sinh đã được chuẩn bị sẵn sàng. Starheim dùng ống nhòm quan sát bầu trời đồng thời cố gắng căng tai cố phân biệt âm thanh của động cơ máy bay Anh hay Đức. Trong phut chốc sương mù lướt qua, anh phát hiện ra chữ vạn màu bạc và đen của Đức Quốc xã  ở đuôi. Liền đó sương mù lại bao phủ họ – cứu sống họ.

Vào lúc 2 giờ chiều. bầu trời cuối cùng đã quang đãng, và những gã cướp tàu biết rằng con tàu lại là mục tiêu mở. Sau đó Fasting phát hiện một chiếc máy bay khác ở đường chân trời. Màu đỏ, trắng và xanh của RAF [Không lực Hoàng gia] mang lại tiếng reo hò và tiếng thở phào nhẹ nhõm.

Chiếc thủy phi cơ bay vòng trên tàu hơi nước, và Starheim bảo phó tàu thứ hai đánh tín hiệu: “Galtesund đang đến Aberdeen và muốn được dẫn đường.” Một lát trôi qua, máy bay truyền tín hiệu đáp lại: “Chúc mừng.” Họ có người hộ tống. Sáng hôm sau, một tàu đánh cá có vũ trang từ Aberdeen dẫn họ qua bãi mìn để đến cảng.

Trước sự ngạc nhiên của Skinnarland, anh được đưa ngay đến London bằng chuyến tàu hỏa xuyên đêm.

*

Khi ra khỏi ga tàu điện ngầm Phố Baker, Leif Tronstad đi vào Khu Chiltern, một khu căn hộ nằm vươn lên đường ray tàu điện ngầm London bên dưới. Tấm bảng đồng bên cạnh cánh cửa hình vòm có dòng chữ  VĂN PHÒNG NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ VỤ. Đó là một cái tên đáng ngại có thể được đánh giá cao bởi H. G. Wells, một trong những cư dân đầu tiên của tòa nhà và là tác giả cuốn The World Set Free, một cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1914, dự đoán bom nguyên tử sẽ “giết chết và thiêu rụi tất cả những gì chúng chụp xuống.” “Văn phòng” thực ra là tên vỏ bọc của SOE, và Khu Chiltern là một trong số những tòa nhà dọc theo Phố Baker là nơi ở của nhân viên.

Tronstad đi dọc hành lang dài rồi bước vào văn phòng của khu Na Uy. Đại tá Wilson đã yêu cầu ông đến gặp một trong những kẻ cướp tàu Galtesund.

Kể từ những tuần đầu tiên đầy bấp bênh ở London, Tronstad đã tự biến mình thành một nhân tố không thể thiếu trong cuộc đấu tranh của Na Uy chống lại Đức. Tại một khóa đào tạo sĩ quan ở Scotland, ông đã đạt được cấp bậc đại úy, một số cơ bắp bị đau và có mối liên hệ chặt chẽ với những người sẽ chiến đấu trên trận địa. Ông là tác giả của một báo cáo đầy đủ cho Bộ Chiến tranh Kinh tế, cơ quan giám sát SOE, về các ngành công nghiệp Na Uy cung cấp cỗ máy chiến tranh cho Đức Quốc xã, và điều này đã giúp xác định các mục tiêu chính. Ông có mặt trong hai ủy ban chính phủ cấp cao để vạch ra tương lai của cuộc kháng chiến ở Na Uy và mối quan hệ đối tác của họ với Anh. Ông nhận ra tầm quan trọng của Milorg và điều này đảm bảo cho ông tình bạn của Oscar Torp và Wilhelm Hansteen, tổng tư lệnh quân đội Na Uy. Đến mùa xuân năm 1942, với tư cách là lãnh đạo Phân khu IV của Bộ chỉ huy tối cao Na Uy, được giao nhiệm vụ tình báo, gián điệp và phá hoại, Tronstad là trung tâm của cuộc chiến bí mật chống lại Đức Quốc xã ngay trên quê hương.

Mặc dù đang ở xa cuộc chiến trên thực địa, Tronstad vẫn duy trì được thông tin tình báo tốt về mức độ khủng khiếp của Đức Quốc xã. Sau cuộc đột kích Lofoten thất bại, quân Đức đã được tăng viện ồ ạt, nâng tổng số tới 250.000 và gây ra sự thiếu thốn chưa từng thấy đối với những người bị buộc phải nuôi sống và cung cấp chỗ ở cho họ. Những tên tra tấn Gestapo được biết là đã dẫm lên thân của các tù nhân, nhốt họ trong phòng giam tối tăm trong nhiều tuần và một số tù nhân đó đã tự kết liễu đời mình thay vì mở miệng khai ra những gì họ biết. Những chiến hữu trong cuộc kháng chiến ở Trondheim đã bị sát hại một cách máu lạnh. Tronstad cố gắng giữ vững tinh thần, vững tin rằng Na Uy sẽ sớm giành được tự do. Đầu năm mới, ông viết trong nhật ký: “Không có sự hy sinh nào là quá lớn để đạt được mục tiêu này.”

Gia đình của anh cũng không tránh khỏi tai biến Trong nhiều tháng Tronstad không nhận được tin tức gì. Sau đó, ông biết được ngay sau khi Bassa và bọn trẻ quay trở lại Trondheim, quân Đức đã tịch thu nhà và tài sản của họ. Bị buộc phải ra đường, gia đình tới Oslo và với sự giúp đỡ của một người bạn gia đình, họ đã dựng nhà ở Høvik, cách trung tâm thành phố bảy dặm về phía tây. Điều tra viên Gestapo, Fehmer, đưa Bassa đến để thẩm vấn, giữ cô qua đêm tại Victoria Terrasse. Gã tra hỏi cô về việc chồng cô mất tích, và cô trả lời bằng bức thư Tronstad viết cho cô giải thích lý do ông ra đi. Đến sáng, Fehmer cho cô về nhà nhưng yêu cầu cô phải báo cáo thường xuyên với gã, và tiếp tục hăm dọa. Tronstad cầu nguyện mỗi ngày sẽ sớm gặp lại vợ và các con và họ sẽ hiểu tại sao ông cần phải xa họ vào thời điểm khó khăn này.

*

Tronstad chào đón người mới đến từ Na Uy đang đợi anh trong văn phòng của Wilson. Nếu như những gì Wilson và Starheim báo cáo về Einar Skinnarland là sự thật, thì nhân vật giám sát xây dựng từ Hồ Møs này là người của họ, và anh ta sẽ trở về Na Uy ngay lập tức.

“Có hai câu hỏi chúng tôi muốn hỏi anh,” Tronstad nói với Skinnarland. “Đầu tiên, anh có nghĩ rằng đến bây giờ người ta đã nhận ra anh đã đi mất không?”

“Tôi không nghĩ  thế,” Skinnarland trả lời. “Tôi đã báo cho mọi người biết rằng tôi đi săn vào vùng đồi.”

Tronstad quay nhìn Wilson, và ông đặt câu hỏi tiếp theo. Trong ba tháng làm việc cùng nhau, cặp đôi đã nhanh chóng tin cậy và hiểu nhau hơn. “Anh có sẵn sàng để chúng tôi huấn luyện cho anh nhảy dù trở lại Hardangervidda trước khi bị phát giác? Chúng tôi muốn được thông báo về tình hình ở Vemork.” Skinnarland gật đầu. “Tôi e rằng,” Wilson tiếp tục, “anh sắp phải giải quyết một nhiệm vụ rất khó khăn. Không có một giờ nào để lãng phí. Và tôi không thể hứa sẽ giúp anh ngay lập tức. Những người khác mà anh có thể biết sẽ đến sau. Thành thật mà nói, chúng tôi rất lo lắng về những gì đang diễn ra ở Norsk Hydro.”

Wilson và Tronstad trình bày chi tiết về việc tăng sản lượng tại nhà máy. Họ cần biết mọi thứ Skinnarland có thể tìm hiểu về các hoạt động của Đức tại Vemork, bất kỳ mục đích sử dụng nước nặng nào cũng như thông tin chi tiết về an ninh và nhân viên của nhà máy. Skinnarland một lần nữa cam kết với việc phân công.

Giờ đây khi anh đã sẵn sàng để nghe về những hoạt động được lên kế hoạch cho Tronstad ở Na Uy, anh biết rằng một vụ ném bom vào Vemork đã bị Bộ Hàng không Anh bác bỏ vào tháng 12 trước đó. Chiến dịch Clairvoyant của SOE, nhằm mục đích làm tê liệt nguồn cung cấp điện cho các ngành công nghiệp quan trọng của Đức, đã tiến xa hơn trong giai đoạn lập kế hoạch, với Vemork là một trong sáu mục tiêu của chiến dịch. Một biệt đội đã được tập hợp, do Poulsson người địa phương Rjukan dẫn đầu, sẽ được thả xuống khu vực để thắp sáng Thung lũng Vestjord. Những ngọn đèn này sẽ dẫn máy bay ném bom đến nhà máy vào ban đêm. Poulsson cũng được chỉ thị đánh chìm những chiếc phà trên Hồ Tinnsjø, đóng vai trò là phương tiện vận tải giữa Rjukan và thế giới bên ngoài. Tronstad lập luận chống lại các cuộc tấn công quyết liệt, ôm đồm và nguy hiểm như vậy nhằm vào các yếu tố quan trọng của cơ sở hạ tầng Na Uy, và cuối cùng, vài tuần trước đó, chiến dịch đã được rút gọn thành tấn công một nhà máy thủy điện duy nhất ở bờ biển phía Tây, nơi sản xuất. nhôm.

Trước khi Skinnarland đến, Tronstad và Wilson đã quyết định cử Poulsson và nhóm của anh ta đến khu vực này vào tháng 4 để thành lập một tổ chức du kích nhằm phá hoại các mục tiêu, thiết lập liên lạc độc lập vô tuyến  trực tiếp với London. Skinnarland có thể chuẩn bị cho sự xuất hiện của họ và, với những mối liên hệ rộng rãi của anh ấy tại Norsk Hydro, cũng như thực tế là không ai biết anh ấy đã đến Anh, hãy quay lại làm việc và hoạt động như một điệp viên tình báo bên trong.

Sau cuộc họp Tronstad và tân binh của mình đi uống rượu tại một quán rượu địa phương. Ông rất ấn tượng trước nhiệt tình phục vụ của Skinnarland, bất kể điều gì người ta yêu cầu anh ta  – và yêu cầu rất nhiều-  mà không cần giải thích tại sao nước nặng của Vemork có thể có tầm quan trọng như vậy. Na Uy cần thêm những “anh hùng trẻ” như anh ấy, Tronstad viết trong nhật ký của mình sau đêm đó.

*

Vào một đêm trăng sáng thứ bảy, ngày 28 tháng 3, chỉ hai tuần sau khi Skinnarland rời vùng biển Na Uy, một máy bay ném bom Whitley của Anh, được mệnh danh là “cánh cửa kho bay” vì thân máy bay hình hộp chữ nhật và cánh rộng, tiến gần đến bờ biển Na Uy. Động cơ đôi Rolls-Royce của nó tạo ra tiếng ồn khủng khiếp, và chiếc máy bay rung lắc dữ dội khi bay qua bầu trời hướng tới điểm mục tiêu ở phía bắc Hồ Møs. Bên trong, một trung sĩ mới tuyển vào Đại đội Linge, Einar Skinnarland, đang chờ nhảy dù xuống. Bộ áo liền quần có đệm màu trắng, một chiếc túi ngủ và một bình trà giữ ấm cho anh trong không khí lạnh giá. Bên cạnh anh là một ống thép lớn được nhét chặt với hai khẩu súng Sten, mười bốn khẩu súng lục Luger, 640 viên đạn và hai mươi con dao chiến đấu. Một chiếc thùng nhỏ hơn đựng một số quần áo dự phòng, giấy tờ giả, 20.000 kroner Na Uy, một cặp súng lục, một chiếc máy ảnh có đủ phim cho 800 bức ảnh và một số vật dụng được liệt kê trong danh sách là “quà tặng cho các thành viên trong tổ chức.”

Họ tiến vào Na Uy mà không gặp sự cố nào: không có hỏa lực nào bắn ra từ các khẩu đội Đức, và hai xạ thủ Whitley ngồi yên tại vị trí của họ. Trong một giờ nữa, có thể ít hơn, Skinnarland sẽ phải lao qua bụng thân máy bay vào bóng tối bên dưới và hy vọng chiếc dù lụa của anh ta sẽ mở bung ra phía trên anh.

Anh khiếp đảm.

Trong suốt tuần trước đó, anh nhận được những chỉ dẫn sơ sài nhất. Hầu hết các đặc vụ SOE được gửi đến phía sau phòng tuyến địch đã trải qua ít nhất mười tuần huấn luyện chuyên sâu, từ các khóa học sơ bộ tại Stodham Park đến hoạt động bán quân sự tại Meoblecủa, đến khóa đào tạo  tại “trường hoàn tất”, nơi họ được dạy mọi thứ cần biết để trở thành một biệt kích mật. Skinnarland đã dành hai ngày tại STS 52, trường chuyên dành cho các chuyên viên vô tuyến, nơi anh tham gia một khóa học cấp tốc về cách sử dụng máy phát vô tuyến, gửi và nhận tin nhắn bằng mã. Từ đó anh đến STS 51, một sân bay bên ngoài Manchester được bao quanh bởi một công viên lớn, để huấn luyện nhảy dù. Quá trình này thường mất hơn bảy ngày; Skinnarland chỉ có ba. Ở lối vào STS 51 có hai tấm áp phích lớn treo trên tường. Áp phích đầu tiên cảnh báo quân nhân đến lãnh thổ của kẻ thù không được coi mình là anh hùng. Áp phích còn lại trấn ăn rằng dù người ta nhảy từ máy bay như thế nào đi nữa, Mẹ Thiên nhiên sẽ đảm bảo người đó đáp xuống mặt đất.  “Bạn được bà ấy đón nhận như thế nào là hoàn toàn tùy thuộc vào bạn.” Ngày đầu tiên, anh tập lộn nhào tới lui trên thảm, sau đó được treo lên dây đu để tập động tác tương tự khi rơi từ trên cao.

Anh được người thầy trung sĩ bảo rằng với một chiếc dù, người ta không thể bay nhẹ nhàng xuống đất như một chiếc lông vũ. Mọi người rơi xuống đất như một hòn đá. Lính dù không thể nhanh chóng chuyển chuyển động thẳng đứng sang chuyển động ngang, thường bị gãy xương một chân nhưng đôi khi cũng gãy một cánh tay hoặc một vài xương sườn. Nếu cần bằng chứng, hãy đến bệnh xá của trường.

Vào ngày thứ hai, Skinnarland đứng trên một bệ gỗ cao vài trăm bộ, được gắn vào một quả bóng bay cố định; một số ví nó như một “xuồng trên biển động”. Một chiếc dù buộc vào lưng anh, anh buông minhg rơi qua một cái lỗ ở giữa bệ gỗ. Cú rơi tự do cao 75 bộ lộn ruột, bị giật lại do chiếc dù đột ngột bung ra. Skinnarland tiếp đất một cách khó khăn, khiến cái chân trái vốn đã yếu ớt của anh.không được dễ chịu. Vào ngày cuối cùng của mình, anh nhảy thành công hai lần từ máy bay thực. “Anh ấy tỏ ra rất nhạy bén,” người huấn luyện của anh viết trong bản nhận xét của mình, mặc dù “quá trình đào tạo của anh diễn ra rất gấp gáp”.

Bây giờ, khi tàu Whitley tiến đến điểm thả dù, Skinnarland ôn lại lại những gì mình đã được dạy: “Chắp chân vào và phóng đi dịu dàng. Thư giãn mọi cơ bắp khi bạn nhảy ra và – “ Nhảy dù vào ban ngày xuống bãi đáp bằng phẳng và thoáng đãng trước mắt là một chuyện. Còn rơi vào bóng tối lúc nửa đêm xuống một lãnh thổ lỗ chỗ đá, vách đứng và những hồ nước đóng băng –  nhưng có thể chưa đóng băng đủ cứng – là một chuyện khác. Skinnarland rất dạn dày nhưng không phải không biết sợ.

Lúc 11:44 tối. người đẩy anh , Trung sĩ Fox, gọi anh ta đến vị trí hành động. Fox đã đẩy thùng đựng vật tư dạng ống lớn xuống trước. Sau đó Skinnarland nhích đến gần cái hố, miễn cưỡng đung đưa đôi chân qua vùng lãng quên. Fox giơ cánh tay lên rồi hạ xuống, ra hiệu cho Skinnarland phóng đi. Skinnarland do dự, rồi hét lên rằng họ không ở đúng khu vực, nhưng lời nói của anh chìm vào tiếng gầm gừ của động cơ máy bay ném bom. Fox lại ra hiệu cho anh ta. Skinnarland vẫn còn do dự. Trong hai mươi phút, máy bay bay vòng quanh địa điểm thả dù, Skinnarland không chắc liệu họ có đến đúng chỗ hay không, và bản thân anh cũng không chắc chắn. Cuối cùng, Fox tiến đến gần gánh nặng bất đắc dĩ của mình và hét lên rằng họ thiếu nhiên liệu để bay lâu hơn nữa.

“Chúng tôi sẽ quay về,” Fox nói.

“Không, tôi nhảy,” Skinnarland trả lời, mặc dù anh vẫn đứng yên.Trong chiếc hộp nhỏ dưới chân anh, trong số những món quà dành cho tổ chức của anh, có một chiếc thìa mạ bạc có hình Tòa nhà Quốc hội trên tay cầm. Nếu sống sót sau cú nhảy, anh ấy dự định sẽ tặng nó cho mẹ mình.

Cuối cùng, vài phút sau nửa đêm, Skinnarland hít một hơi thật sâu và buông mình vào khoảng trời tối đen.

Bình luận về bài viết này