Nguyễn Hữu Đổng
“Không hiểu chủ nghĩa thì như mò trong đêm tối” – Nhận định này do Hồ Chí Minh nêu ra giữa thế kỷ hai mươi. Tức là chủ nghĩa cần phải được làm sáng tỏ. Bằng văn hoá ngôn ngữ, tác giả phân tích làm rõ thực chất thật, hạn chế hiểu biết khái niệm này; đồng thời khuyến nghị cách hiểu đúng chủ nghĩa, cộng đồng không chủ nghĩa, xây dựng cộng đồng dân tộc phát triển văn minh.
Sự thật nhận diện chủ nghĩa bằng văn hoá ngôn ngữ
Văn hoá “biểu hiện thực chất sự chân thật, sáng tạo ra giá trị vật chất, tinh thần, tâm linh” của các cá nhân, nhóm, cộng đồng trong quốc gia, xã hội loài người [1]. Theo đó, sự thật nhận diện chủ nghĩa bằng văn hoá ngôn ngữ bao hàm các mặt sau: tính chất chủ nghĩa là cá nhân không chân thật, người mắc bệnh ngôn ngữ thiếu văn hoá; bản chất chủ nghĩa là nhóm chưa chân thật, người mắc bệnh ngôn ngữ chưa văn hoá; thực chất không chủ nghĩa là cộng đồng chân thật, người không mắc bệnh ngôn ngữ có văn hoá. Điều đó có nghĩa, chủ nghĩa là loài người không chân thật, hay loài người không có văn hoá; loài người không văn hoá do mắc bệnh chủ nghĩa. Tức chủ nghĩa là căn bệnh của giới người; giới vật không có căn bệnh này, bởi chúng không có văn hoá về ngôn ngữ. Theo đó, chủ nghĩa là tính chất thật sự không văn hoá, bản chất sự thật chưa văn hoá, không chủ nghĩa là thực chất sự thật văn hoá (non-ism is the essence of cultural truth); loài người không thể theo các chủ nghĩa, bởi theo chủ nghĩa loài người dần dần tuyệt chủng (because according to the theory that humanity is gradually going extinct). Nói cách khác, chủ nghĩa là tà ác và sự ngu dốt; không chủ nghĩa là tốt đẹp và tri thức.
Chủ nghĩa quan hệ trái với cuộc sống con người. Chẳng hạn, như: quan hệ trái với cá nhân, nhóm, cộng đồng người, lịch sử dân tộc, quyền lực, chính sách phát triển hay hoà bình và phát triển.
Trước hết, chủ nghĩa quan hệ trái với cá nhân cho thấy rằng, cá nhân chủ nghĩa không gắn với giới người, cá nhân không văn hoá không phát triển; chủ nghĩa cá nhân cũng không gắn với giới người, cá nhân chưa văn hoá chưa phát triển; cá nhân không chủ nghĩa là gắn với giới người, cá nhân văn hoá và phát triển. Điều đó có nghĩa, chủ nghĩa là cá nhân không văn hoá phát triển; không chủ nghĩa là cá nhân văn hoá phát triển (non-ism is individualistic cultural development). Chủ nghĩa quan hệ trái với nhóm cho thấy rằng, nhóm chủ nghĩa không gắn với loài người, nhóm thiếu văn hoá thiếu phát triển; chủ nghĩa nhóm cũng không gắn với loài người, nhóm chưa văn hoá chưa phát triển; nhóm không chủ nghĩa là gắn với loài người, nhóm văn hoá phát triển. Điều đó có nghĩa, nhóm chủ nghĩa là nhóm thiếu văn hoá phát triển; nhóm không chủ nghĩa là nhóm văn hoá phát triển (non-ist groups are developed cultural groups). Chủ nghĩa quan hệ trái với cộng đồng người cho thấy rằng, cộng đồng chủ nghĩa không gắn với loài người, cộng đồng không văn hoá không phát triển; chủ nghĩa cộng đồng cũng không gắn với loài người, cộng đồng chưa văn hoá chưa phát triển; cộng đồng không chủ nghĩa gắn với loài người, cộng đồng “văn hoá phát triển hay phát triển văn hoá (phát triển có văn hoá) – khái niệm biểu hiện thực chất sự chân thật sáng tạo bảo đảm sự cân đối, cân bằng, hài hoà về môi trường sống trong thế giới tự nhiên, sự công bằng, bình đẳng, công lý về quyền lợi vật chất, giá trị tinh thần, đời sống tâm linh của các cá nhân, nhóm, cộng đồng trong quốc gia, xã hội loài người” [2]. Điều đó cho thấy rằng, chủ nghĩa là cộng đồng người không phát triển; không chủ nghĩa là cộng đồng người phát triển (non-ism is a developed human community). Tức là, loài người không chủ nghĩa thì loài người phát triển; còn mắc bệnh chủ nghĩa loài người không phát triển, hay loài người không được bảo đảm hài hoà về môi trường, công bằng bình đẳng công lý về giá trị sống. Nói cách khác, chủ nghĩa là loài người tiến hoá không phát triển, còn không chủ nghĩa thì loài người phát triển; chủ nghĩa là căn bệnh nguy hiểm của sự sống các loài trên trái đất, chữa bệnh chủ nghĩa là duy trì sự sống của muôn loài.
Gắn chủ nghĩa với cộng đồng nghiên cứu cho thấy thêm rằng, người không nghiên cứu chủ nghĩa người không hiểu biết, hành động không có văn hoá; người chưa nghiên cứu chủ nghĩa người thiếu hiểu biết, hành động thiếu văn hoá; người nghiên cứu chủ nghĩa là người hiểu biết, hành động có văn hoá. Điều đó có nghĩa là, nghiên cứu chủ nghĩa rất cần thiết trong xã hội loài người; bởi vì “không hiểu chủ nghĩa thì như mò trong đêm tối” [3], hay thiếu ánh sáng của văn hoá soi đường. Do vậy, những người nghiên cứu cần coi trọng Tiếng Việt nói chung, thuật ngữ khái niệm hay chủ nghĩa nói riêng. Vào giữa năm 1946, Hồ Chí Minh từng trả lời báo như sau: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu Các Mác. Cách đây 2.000 năm, Đức Chúa Giêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được” [4]; hay Hồ Chí Minh từng phân tích mâu thuẫn và hiểu biết khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin như sau: “bắt đầu nghiên cứu chủ nghĩa Mác, ta không biết hoặc biết ít chủ nghĩa Mác, rồi ta hiểu chủ nghĩa Mác – hai điều đó (không biết và biết) mâu thuẫn với nhau” [5], “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa” [6], “Chủ nghĩa Mác – Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh” [7]. Tức người theo chủ nghĩa là thiếu hiểu biết, người sống với nhau chưa có tình có nghĩa, hay người thiếu văn hoá, sa vào lòng tham cá nhân vị kỷ, mắc bệnh tiêu cực tham nhũng lãng phí; người không theo chủ nghĩa thì hiểu biết, người sống với nhau có tình có nghĩa, hay người có văn hoá, không sa vào lòng tham cá nhân vị kỷ, không mắc bệnh tiêu cực tham nhũng lãng phí.
Chủ nghĩa quan hệ trái với lịch sử dân tộc cho thấy rằng, tính chất chủ nghĩa không là lịch sử dân tộc; bản chất chủ nghĩa chưa là lịch sử dân tộc; thực chất không chủ nghĩa là lịch sử dân tộc. Điều đó có nghĩa, không chủ nghĩa gắn với lịch sử dân tộc; còn chủ nghĩa không gắn với lịch sử dân tộc, mà gắn với lịch sử nhóm đảng phái. Nói cách khác, chủ nghĩa dân tộc là không gắn với lịch sử; dân tộc không chủ nghĩa là gắn với lịch sử. Gắn chủ nghĩa với lịch sử văn hoá cho thấy thêm rằng, tính chất chủ nghĩa không là lịch sử văn hoá; bản chất chủ nghĩa thiếu lịch sử văn hoá; thực chất không chủ nghĩa là lịch sử văn hoá. Điều đó có nghĩa, không chủ nghĩa có lịch sử văn hoá; chủ nghĩa “không có lịch sử văn hoá” – tức không có “lịch sử chân thật của dân tộc quốc gia trong xã hội loài người” [8]. Nói cách khác, chủ nghĩa dân tộc không có lịch sử văn hoá; dân tộc không chủ nghĩa có lịch sử văn hoá (a non-nationalist nation has cultural history), hay có nghiên cứu lịch sử văn hoá (or research cultural history). Do vậy, không thể tôn vinh “chủ nghĩa dân tộc chân chính” [9]; cần coi trọng xây dựng các dân tộc không chủ nghĩa trong xã hội loài người.
Chủ nghĩa quan hệ trái với quyền lực cho thấy rằng, chủ nghĩa là quyền lực không hạnh phúc; chưa chủ nghĩa quyền lực chưa hạnh phúc; không chủ nghĩa là “quyền lực hạnh phúc” – quyền lực của cộng đồng hay “của nhân dân” [10]. Tức chủ nghĩa không bảo đảm con người hạnh phúc; không chủ nghĩa là bảo đảm con người hạnh phúc (non-ism ensures human happiness). Gắn chủ nghĩa với quyền lực chân thật cho thấy thêm rằng, chủ nghĩa là không có quyền lực chân thật, thiếu văn hoá quyền lực; chưa chủ nghĩa chưa có quyền lực chân thật, vẫn thiếu văn hoá quyền lực; không chủ nghĩa là có quyền lực chân thật, tức có ““văn hoá quyền lực” – khái niệm biểu hiện cuộc sống hạnh phúc chân thật, sáng tạo ra giá trị vật chất, tinh thần, tâm linh của các cá nhân, nhóm, cộng đồng trong quốc gia” [11]. Nói cách khác, không chủ nghĩa thì có văn hoá quyền lực, có “con người hạnh phúc”, “quốc gia hạnh phúc” và “quốc tế hạnh phúc” [12].
Chủ nghĩa quan hệ trái với chính sách phát triển cho thấy rằng, tính chất chủ nghĩa là chính sách không phát triển; bản chất chủ nghĩa là chính sách chưa phát triển; thực chất không chủ nghĩa là chính sách phát triển. Điều đó có nghĩa, chủ nghĩa không chính sách phát triển; không chủ nghĩa “chính sách phát triển” – chính sách bảo đảm hài hoà về môi trường sống, công bằng bình đẳng công lý về giá trị sống của con người. Gắn chủ nghĩa với chính sách phát triển bền vững ta thấy thêm rằng, tính chất chủ nghĩa là chính sách không phát triển bền vững; bản chất chủ nghĩa là chính sách thiếu phát triển bền vững; thực chất không chủ nghĩa là chính sách phát triển bền vững. Nói cách khác, chủ nghĩa không có chính sách phát triển bền vững; không chủ nghĩa có chính sách phát triển bền vững, hay “chính sách quốc gia kiến tạo phát triển bền vững” – tức quốc gia bảo đảm hài hoà lâu bền về môi trường, công bằng bình đẳng công lý vững chắc về giá trị sống của loài người [13].
Chủ nghĩa quan hệ trái với hoà bình và phát triển cho thấy rằng, tính chất chủ nghĩa là không có hoà bình, quốc gia loài người không phát triển; bản chất chủ nghĩa là chưa có hoà bình, quốc gia loài người thiếu phát triển; thực chất không chủ nghĩa là có hoà bình, quốc gia và loài người phát triển. Gắn chủ nghĩa với con đường hoà bình và phát triển ta thấy thêm rằng, chủ nghĩa là không có con đường hoà bình, không có con đường phát triển; chưa chủ nghĩa là chưa có con đường hoà bình, chưa có con đường phát triển; không chủ nghĩa là có con đường hoà bình, có con đường phát triển, hay có con đường hoà bình và phát triển. Điều đó có nghĩa, cần chữa bệnh chủ nghĩa để ngăn ngừa bạo lực và chiến tranh, xây dựng “con đường hoà bình phát triển” – tức “xây dựng được con đường độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự của nhân dân trong quốc gia, xã hội loài người” [14].
Hạn chế hiểu biết chủ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam
- Hạn chế trên thế giới.
Chủ nghĩa chưa được giới nghiên cứu hiểu rõ về học thuật. Chẳng hạn, khi lý giải chữ “chủ”, người nghiên cứu chỉ nhìn tính chất bản chất, chứ không nhìn thực chất chủ (rather than looking at the actual owner); khi lý giải chữ “nghĩa”, người nghiên cứu chỉ nhìn tính chất bản chất, chứ không nhìn rõ thực chất nghĩa (but not clearly seeing the true meaning).
Hạn chế hiểu biết chủ nghĩa làm cho giới nghiên cứu không phân biệt rõ đâu là chủ nghĩa nhóm hữu khuynh, chủ nghĩa cá nhân tả khuynh, còn cộng đồng không chủ nghĩa khuynh hữu tả (and the community is not left-rightist), tức nhiều người không hiểu khuynh hữu tả là bệnh chủ nghĩa; giới nghiên cứu thiếu hiểu biết rằng, chủ nghĩa tư bản là kẻ tham lợi nhuận, chủ nghĩa thực dân phát xít là kẻ xâm lược, chủ nghĩa bá quyền là kẻ đi cướp chủ quyền quốc gia, chủ nghĩa dân tuý chỉ hứa mà không làm thực, chủ nghĩa cơ hội dùng thời cơ để chiếm đoạt, chủ nghĩa xã hội là thiếu tình người, chủ nghĩa cộng sản vẫn thiếu tình người, v.v.. Đặc biệt, giới nghiên cứu còn chưa hiểu rõ rằng, cộng đồng chủ nghĩa là hình thức thiếu khoa học, chủ nghĩa cộng đồng là nội dung chưa khoa học, cộng đồng không chủ nghĩa là nguyên lý khoa học (non-ism is a scientific principle); giới nghiên cứu cũng chưa hiểu rõ rằng, cộng đồng chủ nghĩa là dẫn đến chiến tranh nóng, chủ nghĩa cộng đồng là dẫn đến chiến tranh lạnh, cộng đồng không chủ nghĩa là dẫn đến hoà bình nhân loại.
Hạn chế hiểu biết chủ nghĩa dẫn đến tư tưởng cá nhân, nhóm giả dối, độc quyền, bá quyền, cực đoan, sùng bái, như: “chủ nghĩa thực dụng” và “chủ nghĩa sùng bái” [15]; “sùng bái cá nhân” [16]; “sùng bái thần tượng” do ảnh hưởng từ “chủ nghĩa tiêu thụ” [17]; “chủ nghĩa cực đoan chống chính phủ” và “chủ nghĩa tối cao da trắng” [18]; dẫn đến “sùng bái tăng trưởng” [19] – tức “chú trọng tăng trưởng kinh tế (tăng GDP), trong khi GDP không gắn với bảo vệ môi trường sống, không bảo đảm công bằng, bình đẳng, công lý, thậm chí còn thích sự ô nhiễm, thích bão Katrina và không hề ghét các cuộc chiến tranh” [20]; dẫn đến “sùng bái quyền lực như sùng bái thần thánh” [21] khi không nhận thức rõ rằng, quyền lực là con người chân thật và hạnh phúc (power is people’s honesty and happiness); dẫn đến “những thách thức chưa từng có đối với chủ nghĩa đa phương” [22] khi không hiểu rõ quan hệ hợp tác bình đẳng giữa các nước như sau: chủ nghĩa đơn phương không trung thực (không bình đẳng, sai), chủ nghĩa đa phương thiếu trung thực (chưa bình đẳng, chưa đúng), không chủ nghĩa đa phương là trung thực (bình đẳng, đúng); hay dẫn đến “chủ nghĩa dân túy trên thế giới” [23], đối đầu giữa người với người, khủng bố, nội chiến và chiến tranh gây đau khổ cho loài người trên trái đất.
- Hạn chế ở Việt Nam.
Chủ nghĩa được giới nghiên cứu nêu ra lần đầu trong Hiến pháp năm 1959 khi nói về “Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh” [24]. Tuy nhiên, hiểu biết chủ nghĩa lại rất hạn chế. Hiện nay, khi nghiên cứu chủ nghĩa, người nghiên cứu chỉ nhìn tính chất bản chất, chứ không nhìn thực chất giữa nghĩa và chủ (rather than looking at the essence between meaning and subject). Chẳng hạn, trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2005), chủ nghĩa chỉ được hiểu khái quát là “quan niệm, quan điểm, ý thức, tư tưởng”, chứ không nhìn rõ thực chất tư tưởng thiên lệch hay quan điểm lệch lạc. Tức là, người nghiên cứu chủ nghĩa chỉ nhìn hình thức bên ngoài nghĩa không đúng (sai), bản chất bên trong chủ chưa đúng, chưa nhìn rõ nguyên lý không chủ nghĩa đúng (haven’t seen clearly the principle of mesterlessness).
Hạn chế hiểu biết chủ nghĩa làm cho giới nghiên cứu không phân biệt rõ tính chất bản chất chủ nghĩa cá nhân (cá thể) nhóm (tập thể) không đúng, thực chất cộng đồng xã hội không chủ nghĩa đúng; giới nghiên cứu thiếu hiểu biết rằng, chủ nghĩa cá nhân là tư tưởng cá nhân, chủ nghĩa tập thể là chủ nghĩa nhóm (lợi ích nhóm), chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa cộng đồng, xã hội không chủ nghĩa là lợi ích cộng đồng, cộng đồng không chủ nghĩa là lợi ích xã hội; giới nghiên cứu chưa hiểu biết rằng, cộng đồng chủ nghĩa không chống được tham nhũng, chủ nghĩa cộng đồng cũng không chống được tham nhũng, cộng đồng không chủ nghĩa là chống được tham nhũng, xã hội không chủ nghĩa cũng chống được tham nhũng; giới nghiên cứu cũng chưa hiểu rõ rằng, chủ nghĩa cộng đồng là sự sống chưa thật, cộng đồng chủ nghĩa là sức sống không thật, cộng đồng không chủ nghĩa là cuộc sống chân thật, dạng mô hình: sự sống chưa thật – cuộc sống chân thật – sức sống không thật. Tức là, giới nghiên cứu chưa nhận thức rằng, chủ nghĩa là hình thức và nội dung không thật, không chủ nghĩa là nguyên lý sự thật; đồng thời không nhận thức rõ rằng, cá nhân chủ nghĩa là không trọng sự thật, chủ nghĩa cá nhân là chưa trọng sự thật, cá nhân không chủ nghĩa là trọng sự thực (individualism without individualism means respect for truth), hay biết trọng sự thực trọng nhân dân, bởi “trọng sự thực tức là biết trọng nhân dân” như Hồ Chí Minh đã từng nêu ra [25].
Đặc biệt, hạn chế hiểu biết chủ nghĩa dẫn đến nhiều bất cập trong đời sống xã hội nói chung, tư duy nói riêng. Chẳng hạn, như: định nghĩa về khái niệm chủ nghĩa chưa thuyết phục, dẫn đến nội hàm của ““chủ nghĩa” đang là một trong những vấn đề rất lớn trong lý luận của khoa học pháp lý” [26]; dẫn đến “cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa” [27]; sai lầm khi đội ngũ lãnh đạo không hiểu rõ mô hình: “bản chất KTTT của chủ nghĩa xã hội chưa phát triển bền vững – thực chất KTTT xã hội phát triển bền vững – tính chất KTTT xã hội chủ nghĩa không phát triển bền vững”, hay thiếu “đổi mới sáng tạo về tư duy “từ “kinh tế xã hội chủ nghĩa không phát triển” (socialist economy does not develop) sang “kinh tế xã hội phát triển” (socio-economic development)” [28]; dẫn đến thực trạng “tăng trưởng sùng bái con số” [29] khi giới lãnh đạo không nhận thức rõ rằng, tăng trưởng là thiên về chủ nghĩa hình thức (growth is prone to formalism), chỉ tăng trưởng về số lượng, còn phát triển là gắn với chất lượng (development is associated with quality); dẫn đến tiêu cực tham nhũng lãng phí sinh ra từ chủ nghĩa cá nhân, hay ““lợi ích nhóm” không chỉ xảy ra ở một ngành mà xảy ra ở nhiều ngành, nhiều cấp. Nơi nào nghiêm túc, có người đứng đầu chỉ đạo đứng đắn, có tổ chức Đảng, chính quyền đoàn thể mạnh thì bớt đi. Còn nơi nào người đứng đầu không có trách nhiệm thì nó nhiều lên… chúng ta nói nhiều đến “lợi ích nhóm” nhưng về mặt khái niệm, định danh chưa rõ” [30]; v.v..
Khuyến nghị cách hiểu đúng chủ nghĩa, cộng đồng không chủ nghĩa, xây dựng cộng đồng dân tộc phát triển văn minh
Thứ nhất, cách hiểu đúng chủ nghĩa.
Chủ nghĩa chưa được nhận thức đúng về nguyên lý. Khái niệm này bao hàm các mặt như sau: nội dung chủ nghĩa là loài người chưa chân thực, loài người chưa văn hoá; hình thức chủ nghĩa là loài người không chân thực, loài người không văn hoá; nguyên lý không chủ nghĩa là loài người chân thực, loài người có văn hoá (the pricinple of non-ism is true humanity, humans have culture). Tức là, để có cách hiểu đúng chủ nghĩa giới nghiên cứu cần hiếu các mặt sau: bản chất chủ nghĩa loài người chưa văn hoá, chưa “nhận rõ PHẢI, TRÁI” [31]; tính chất chủ nghĩa loài người không văn hoá, không nhận rõ đúng sai; thực chất không chủ nghĩa loài người văn hoá, nhận rõ “ai là địch, ai là ta” [32], dạng mô hình: bản chất chủ nghĩa loài người chưa văn hoá – thực chất không chủ nghĩa loài người văn hoá – tính chất chủ nghĩa loài người không văn hoá. Từ mô hình này cho thấy rằng, loài người không văn hoá thì chủ nghĩa; loài người văn hoá thì không chủ nghĩa, nhận rõ đúng sai, phải trái, ta địch. Nói cách khác, người không theo chủ nghĩa là người văn hoá (a non-coformist is a cultural person), người theo chủ nghĩa là người không văn hoá; chẳng hạn, người theo chủ nghĩa phát xít là kẻ giết người; người theo chủ nghĩa thực dân là kẻ xâm lược; người theo chủ nghĩa xã hội thiếu tình người; người theo chủ nghĩa cộng sản cũng thiếu tình người (communists also lack humanity); v.v…
Thứ hai, cách hiểu đúng cộng đồng không chủ nghĩa.
Cộng đồng không chủ nghĩa chưa được giới nghiên cứu hiểu rõ. Khái niệm này bao hàm các mặt chủ yếu sau: cộng đồng chủ nghĩa là cộng đồng không văn hoá không phát triển; chủ nghĩa cộng đồng là cộng đồng chưa văn hoá chưa phát triển; cộng đồng không chủ nghĩa là cộng đồng văn hoá phát triển, dạng mô hình: chủ nghĩa cộng đồng chưa văn hoá – cộng đồng không chủ nghĩa là văn hoá – cộng đồng chủ nghĩa không văn hoá. Tức là, để có cách hiểu đúng cộng đồng không chủ nghĩa đòi hỏi giới nghiên cứu hiểu các mặt sau: chủ nghĩa cộng đồng chưa văn hoá, chưa thật; cộng đồng chủ nghĩa không văn hoá, không thật; cộng đồng không chủ nghĩa là văn hoá sự thật (the non-ism community is the culture of truth). Theo đó, giới nghiên cứu cần tôn trọng sự thật để hiểu đúng cộng đồng không chủ nghĩa.
Thứ ba, xây dựng cộng đồng dân tộc phát triển văn minh.
Cộng đồng dân tộc phát triển văn minh chưa được nhận thức rõ. Khái niệm này bao hàm các mặt chủ yếu sau: cộng đồng dân tộc chủ nghĩa không phát triển văn minh; chủ nghĩa cộng đồng dân tộc chưa phát triển văn minh; cộng đồng dân tộc không chủ nghĩa phát triển văn minh, dạng mô hình: chủ nghĩa dân tộc chưa phát triển văn minh – dân tộc không chủ nghĩa phát triển văn minh – dân tộc chủ nghĩa không phát triển văn minh. Tức để xây dựng cộng đồng dân tộc phát triển văn minh đòi hỏi giới nghiên cứu hiểu các mặt sau: dân tộc chủ nghĩa không văn minh, tri thức không liêm chính học thuật; chủ nghĩa dân tộc chưa văn minh, tri thức cũng không liêm chính học thuật; còn dân tộc không chủ nghĩa là văn minh, tri thức liêm chính học thuật. Nói cách khác, chủ nghĩa là khái niệm không liêm chính học thuật; còn không chủ nghĩa là liêm chính học thuật. Do vậy, giới nghiên cứu cần hiểu đúng khái niệm này trong cuộc sống; nhận rõ phải trái sự thật xây dựng cộng đồng dân tộc và loài người văn minh, tức xây dựng nhân loại phát triển văn minh (that is, building humanity for civilized development).
Kết luận
Chủ nghĩa là khái niệm thiếu liêm chính trong ngôn ngữ học, không là lý luận khoa học phát triển tự nhiên, con người, quốc gia. Hiện nay, khái niệm này chưa được giới nghiên cứu chỉ ra hình thức không văn hoá, bản chất thiếu văn hoá, thực chất văn hoá. Sự bất cập này làm cho nhiều người thiếu hiểu biết văn hoá nói chung, con đường hoà bình của nhân loại nói riêng. Do đó, để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước bền vững, bảo đảm quốc thái dân an nhân dân hạnh phúc, giới nghiên cứu và lãnh đạo “cần phải thay đổi tư duy từ hình thức không thật, nội dung chưa thật sang nguyên lý sự thật” [33], có cách hiểu đúng chủ nghĩa, cộng đồng không chủ nghĩa, xây dựng cộng đồng dân tộc phát triển văn minh.
……………………
[1], [2] Nguyễn Hữu Đổng, Chúa Phật và phát triển văn hoá, https://vanhoavaphattrien.vn/chua-phat-va-phat-trien-van-hoa-a16944.html, ngày 19/12/2022.
[3], [10] CD-ROM Hồ Chí Minh, Toàn tập, Xuất bản lần thứ ba, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2013, t. 8, tr. 13, 262.
[4] CD-ROM Hồ Chí Minh, Sđd, t. 4, tr. 315.
[5], [7], [25] CD-ROM Hồ Chí Minh, Sđd, t. 7, tr. 588, 120, 114.
[6] CD-ROM Hồ Chí Minh, Sđd, t. 15, tr. 668.
[8] Nguyễn Hữu Đổng, Nhận diện lịch sử văn hoá bằng sự thật, https://vanhoavaphattrien.vn/nhan-dien-lich-su-van-hoa-bang-su-that-a25146.html, ngày 31/05/2024.
[9] Lê Thị Chiên, Phản bác luận điệu “thực chất Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa”, https://tuyengiao.vn/phan-bac-luan-dieu-thuc-chat-ho-chi-minh-la-nguoi-dan-toc-chu-nghia-143437, ngày 12/05/2022.
[11] Nguyễn Hữu Đổng, Luận về “văn hoá quyền lực”, https://vanhoavaphattrien.vn/luan-ve-van-hoa-quyen-luc-a18469.html/, ngày 14/04/2023.
[12] Nguyễn Hữu Đổng, Không có con người hạnh phúc không thể có quốc gia hạnh phúc, https://vietnamnet.vn/khong-co-con-nguoi-hanh-phuc-khong-the-co-quoc-gia-hanh-phuc-436774.html, ngày 20/03/2018.
[13] Nguyễn Hữu Đổng. Xây dựng chính sách quốc gia kiến tạo phát triển bền vững ở Việt Nam. http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/206905/Xay-dung-chinh-sach-quoc-gia-kien-tao-phat-trien-ben-vung-o-Viet-Nam.html, ngày 01/02/2018.
[14] Nguyễn Hữu Đổng, Sự thật về “chiến tranh và hoà bình”, https://vanhoavaphattrien.vn/su-that-ve-chien-tranh-va-hoa-binh-a19949.html/, ngày 21/07/2023.
[15] Nguyễn Hào Hải, Hiểu thế nào về chủ nghĩa thực dụng, https://cand.com.vn/Khoa-hoc-Van-Minh/Hieu-the-nao-ve-chu-nghia-thuc-dung-i315696/, ngày 26/11/2012
[16] Gideon Rachman, Trần Hùng biên dịch, Tại sao sự sùng bái cá nhân Tập Cận Bình nguy hiểm cho Trung Quốc? https://nghiencuuquocte.org/2021/09/14/tai-sao-su-sung-bai-ca-nhan-tap-can-binh-nguy-hiem-cho-trung-quoc/, ngày 14/09/2021.
[17] Lê Minh Tiến, Sùng bái thần tượng, lệch lạc nhân cách, https://tuoitre.vn/sung-bai-than-tuong-lech-lac-nhan-cach-488371.htm, ngày 23/04/2012.
[18] Ngọc Khuê, Chủ nghĩa cực đoan và bạo lực len lỏi trong quân đội Mỹ, https://cand.com.vn/Ho-so-Interpol/Chu-nghia-cuc-doan-va-bao-luc-len-loi-trong-quan-doi-My-i602748/, ngày 21/04/2021.
[19] Nguyễn Trọng Nghĩa, Kỳ 1: Sự sùng bái tăng trưởng, https://qln.mof.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc/ky-1-su-sung-bai-tang-truong.htm, ngày 09/01/2020.
[20], [33] Nguyễn Hữu Đổng, Nguồn gốc loài người từ góc nhìn văn hoá, https://vanhoavaphattrien.vn/nguon-goc-loai-nguoi-tu-goc-nhin-van-hoa-a22217.html, ngày 13/12/2023.
[21] Trần Chính Cẩm, Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành, Người Trung Quốc sùng bái và thách thức quyền lực, https://nghiencuuquocte.org/2021/09/28/nguoi-trung-quoc-sung-bai-va-thach-thuc-quyen-luc/, ngày 28/09/2021.
[22] Ban Thời sự TTXVN, LHQ cảnh báo chủ nghĩa đa phương đang đứng trước những thách thức lớn, https://vtv.vn/the-gioi/lhq-canh-bao-chu-nghia-da-phuong-dang-dung-truoc-nhung-thach-thuc-lon-20220913185532949.htm, ngày 13/09/2022.
[23] Nguyễn Mạnh Hưởng-Bùi Thị Hoàn, Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân tuý ở Việt Nam hiện nay, http://m.tapchiqptd.vn/vi/phong-chong-dbhb-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/dau-tranh-ngan-ngua-nhung-bieu-hien-chu-nghia-dan-tuy-o-viet-nam-hien-nay-18829.html, ngày 16/06/2022.
[24] Hiến pháp Việt Nam (Năm 1946, 1959, 1980 và 1992) Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội 1995, tr. 37.
[26] Nguyễn Đăng Dung, Bàn về lập hiến, https://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=36.
[27] Lương Đình Hồng, Đấu tranh đẩy lùi những biểu hiện của bệnh cá nhân chủ nghĩa, https://www.qdnd.vn/phong-chong-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/dau-tranh-day-lui-nhung-bieu-hien-cua-benh-ca-nhan-chu-nghia-674109, ngày 14/10/2021.
[28] Nguyễn Hữu Đổng, Thể chế phát triển bền vững – thực chất, nhận thức trên thế giới và ở Việt Nam, https://vanhoavaphattrien.vn/the-che-phat-trien-ben-vung-thuc-chat-nhan-thuc-tren-the-gioi-va-o-viet-nam-a21040.html, ngày 02/10/2023.
[29] Nguyễn Tuấn, Không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng sùng bái con số, https://tienphong.vn/khong-the-tiep-tuc-tu-duy-tang-truong-sung-bai-con-so-post537059.tpo, ngày 07/05/2011.
[30] Võ Văn Thành thực hiện, Lợi ích nhóm có nguy cơ lan rộng, https://tuoitre.vn/loi-ich-nhom-co-nguy-co-lan-rong-755004.htm, ngày 01/06/2015.
[31] CD-ROM Hồ Chí Minh, Sđd, t. 9, tr. 356.
[32] CD-ROM Hồ Chí Minh, Sđd, t. 10, tr. 209.
……………….
Ngày 23/07/2024
Nguyễn Hữu Đổng
…………………..
…………………..
Xin mọi người cứ nói thẳng nhận thức của mình.
Đek có ai hiểu nổi tư duy lộn xộn trong các bài của tác giả này.
ThíchThích