Săn lùng Eichmann, truy nã tên quốc xã khét tiếng nhất thế giới (Bài 12)

Neal Bascomb

Trần Quang Nghĩa dịch

12

VÀO NGÀY 1 THÁNG 3 NĂM 1960, Zvi Aharoni trình diện cơ quan kiểm soát nhập cư tại Sân bay Ezeiza, cách Buenos Aires một giờ. Các giấy tờ ngoại giao của Israel xác định anh là ông Rodan, một nhân viên của Bộ Ngoại giao. Anh giải thích bằng vốn Tây Ban Nha còm cõi của mình rằng anh tới Argentina để điều tra các báo cáo về đợt bùng phát chủ nghĩa bài Do Thái ở Nam Mỹ. Nhân viên hải quan nhìn hộ chiếu rồi nhìn người mang hộ chiếu. Aharoni có dạng khuôn mặt dài, tỉnh táo khiến  người ta khó đoán được suy nghĩ, một lợi thế trong công việc thẩm vấn của anh.

Những người quen biết anh nói rằng anh ấy nhìn thế giới chằng chịt  bi kịch. Trong suốt ba mươi tám năm của mình, anh đã nhiều lần đánh lừa thần chết và lần nào anh cũng tự hỏi tại sao mình sống sót trong khi những người khác thì không.

Hai tuần trước vụ Kristallnacht (Đêm Kính Vỡ), đêm trong tháng 11 năm 1938 khi bọn côn đồ Hitler cướp phá cửa hàng và nhà ở của người Do Thái trên khắp  nước Đức, Aharoni rời Berlin với mẹ và em trai di cư đến Palestine. Mọi thành viên khác trong gia đình anh đều bị giết trong Holocaust.

Sống trong một kibbutz trên những ngọn đồi ở vùng hạ Galilee, chàng trai trẻ học nói tiếng Do Thái, cưỡi ngựa và bắn súng trường, và anh dần hiểu rõ cảm giác ngồi trong bóng tối đen như mực và chờ đợi một cuộc tấn công. Trong gần mười năm tiếp theo, anh mang theo súng, đầu tiên làm lính canh ở kibbutz và sau đó là thành viên của Cảnh sát Định cư Do Thái. Năm 1943, anh gia nhập quân đội Anh. Đơn vị của anh đóng quân ở Cairo, sau đó ở Ý, nơi anh thẩm vấn các tù nhân Đức cấp cao. Khi chiến tranh kết thúc, nỗ lực của anh trở về cuộc sống dân sự đã bị cản trở bởi Chiến tranh giành độc lập năm 1948, trong đó anh tham gia những trận đánh ​ ác liệt. Đã nhiều lần tưởng chừng anh phải đối mặt với cái chết tưởng như chắc chắn: bị phục kích giữa thanh thiên bạch nhật bên ngoài kibbutz; bị tàu U-boat tấn công trên biển; bị bao vây bởi quân Ả Rập, đơn độc trên đỉnh đồi ở Palestine, được bảo vệ bởi một tảng đá duy nhất đang dần bị đạn thù bắn sứt mẻ; thu hồi một khẩu súng cối hai inch trên bãi đất trống dưới làn đạn liên hồi; tìm thấy một quả pháo chưa nổ cách chân anh vài phân. Lần nào anh cũng sống sót, trong khi những đồng đội bên cạnh đều không.

Vào mùa hè năm 1949, lúc này là đại úy và đại đội trưởng phụ trách hai trăm người, Aharoni nhận thấy mình phải đối mặt với một kẻ thù mới: bệnh thương hàn. Trong bệnh viện, sự sống dần dần rút đi khỏi người anh. Anh ốm đến nỗi vợ anh, người mà anh đã gặp ở kibbutz, thậm chí không thể hỏi anh nên đặt tên gì cho đứa con trai mới sinh của họ. Nhưng một lần nữa anh vượt qua được, nhưng anh quá yếu để tái gia nhập quân đội. Tình cờ, anh gặp một người từng phục vụ cùng anh ở Ý, người này đề nghị anh gia nhập cơ quan an ninh Israel.

Một trong những chỉ huy cũ của họ là phó giám đốc Shin Bet. Chẳng bao lâu, Aharoni thấy mình đang ngồi đối diện với Isser Harel tại một quán cà phê Jaffa. Harel hỏi anh một vài câu hỏi về quá khứ của mình, sau đó hỏi Aharoni nghĩ gì về các nhóm bất đồng chính kiến ​​cánh hữu, ưa bạo lực, chẳng hạn như tổ chức Irgun. Từ giọng điệu của Harel, Aharoni đủ hiểu biết để trả lời: “Tôi hoàn toàn phản đối họ”. Hai ngày sau, anh được mời tham gia Shin Bet với tư cách là một trong hai người chịu trách nhiệm công việc thẩm vấn. Trong những năm tiếp theo, anh đã xây dựng chi nhánh điều tra Shin Bet, đào tạo nhiều nhân viên mới, đạt cấp bậc trưởng bộ phận, chỉ kém phó giám đốc toàn tổ chức.

Giờ đây, mới đến Argentina, Aharoni lần đầu tiên hoạt động với tư cách là đặc vụ của Mossad – khác xa với công việc thường ngày của anh. Harel, đã đợi anh hoàn thành một nhiệm vụ khác trước khi cử anh  đến Buenos Aires, hy vọng rằng tính quyết tâm kiên trì, vô cảm của người thẩm vấn sẽ dẫn anh đến gặp Eichmann. Khi kiểm tra hộ chiếu, Aharoni đã vượt qua bài kiểm tra đầu tiên khi người hải quan đóng dấu giấy tờ, cho phép anh vào mà không cần kiểm tra túi ngoại giao được niêm phong dưới cánh tay. Chiếc túi đó chứa tất cả những gì người Israel biết về Eichmann, bao gồm cả thông tin tình báo mới nhất từ ​​Bauer mà họ phải mất vài tuần mới có được một cách bí mật.

Đang đợi bên ngoài sân bay trong cái nóng oi ả là “Yossef”, nhân viên an ninh tại đại sứ quán Israel, người mà Aharoni đã làm việc cùng vài năm ở Tel Aviv. Trên đường vào thành phố, Aharoni lơ đãng nhìn những hàng cây rậm rạp dọc hai bên đường cao tốc, biết rõ rằng mình sớm phải chấp nhận rủi ro để chứng minh chắc chắn rằng Klement là Eichmann. Một chữ “có thể” khác trong hồ sơ sẽ vô ích. Harel cần một câu trả lời dứt khoát trước khi có thể thực hiện nhiệm vụ. Dựa vào sự kiện mục tiêu của họ đã sống tự do ở Argentina được nhiều năm, Aharoni hy vọng rằng Eichmann đã bớt nghi ngờ hơn và sẽ không bỏ chạy khi có cảm giác nhỏ nhất rằng ai đó đang theo dõi mình.

Yossef đưa Aharoni đến đại sứ quán Israel – anh ấy là người duy nhất ở đó biết mục đích thực sự của chuyến thăm của Aharoni. Aharoni khóa hồ sơ Eichmann trong két sắt; sau một thời gian dài nghiên cứu, anh đã thuộc lòng hầu hết các sự kiện. Sau đó, Yossef chở anh về khách sạn. Trên đường đi, Aharoni trình bày chi tiết về loại trợ giúp mà anh ấy sẽ cần, đặc biệt khi anh ấy ở một mình, xa lạ với thành phố và không hiểu tiếng Tây Ban Nha. Ở mọi quốc gia, Aharoni biết, đều có những tình nguyện viên Do Thái, được gọi là sayanim, sẵn sàng hỗ trợ các đặc vụ Mossad, cho dù đó là giám sát, vận chuyển, nhà an toàn hay hỗ trợ y tế, hay đơn giản chỉ đứng ở một góc và chờ đợi một người đưa tin. Họ không yêu cầu trả công, và họ không hỏi han hay thốt ra lời nào về những gì họ được giao làm. Nếu không có họ, cơ quan mật vụ nhỏ bé của Israel sẽ không có được tầm ảnh hưởng như thực tế. Aharoni sẽ cần sự giúp đỡ của họ.

Hai ngày sau, Aharoni lái xe chậm rãi xuống phố Chacabuco trên chiếc Fiat thuê. “Roberto,” một sinh viên người Argentina hai mươi tuổi với bộ ria mép như vẽ bằng bút chì màu đen, ngồi cạnh anh, tay cầm một tấm bản đồ đường phố. Đã từng tình nguyện tham gia các hoạt động khác trong quá khứ, Roberto giữ những câu hỏi của mình ở mức tối thiểu.

Khi họ lái xe qua 4261 Chacabuco, Aharoni liếc nhìn ngôi nhà nhỏ với khu vườn nhếch nhác. Anh dừng lại cách đó vài dãy nhà trên một con phố nhỏ, cân nhắc làm cách nào để có thể nhìn rõ người sống trong nhà. Anh lấy từ trong túi ra một tấm bưu thiếp có hình một hòn đảo nhiệt đới nhặt được ở sân bay và bảo Roberto viết ở mặt sau, “Vừa trở về. Trân trọng, George,” cùng với một cái tên và địa chỉ hư cấu. Aharoni bảo anh ta viết cái tên Dagosto (một biến thể của Dagoto, tên mà Lothar Hermann đã tìm thấy của người đăng kí tại một trong những đồng hồ đo điện tại 4261 Chacabuco) và 4263 Chacabuco trong hộp thư người gửi. Địa chỉ không tồn tại, nhưng tấm thẻ sẽ cho Roberto cái cớ để hỏi hàng xóm xem họ có biết người gửi không. Vì tấm bưu thiếp thiếu tem và dấu bưu điện nên Aharoni cảnh báo anh thanh niên không được cho ai kiểm tra kỹ.

Roberto mạnh dạn bước đi trong khi Aharoni đợi trong xe. Đã hai năm trôi qua kể từ khi Sylvia Hermann bước xuống con phố này. Tên Đức Quốc xã trốn thoát có thể đã chuyển khu vực sinh sống, và nếu thế, sẽ rất khó tìm thấy y trong một thành phố hơn 5 triệu dân trải rộng trên 71 dặm vuông. Theo tất cả những gì Aharoni biết, Eichmann có thể đã chuyển đến một thành phố, quốc gia hoặc lục địa khác.

Hai mươi phút sau, Roberto xuất hiện trở lại, vội vã quay lại xe. Anh chàng vẫy tấm bưu thiếp và mỉm cười rồi leo lên ghế sau. Anh ta đã nói chuyện với một cô gái trẻ bên ngoài ngôi nhà về gia đình Dagosto và đã nhìn qua cửa sổ của 4261 Chacabuco mà không bị phát hiện. Không ai trong khu phố có tên là Dagosto, nhưng ngôi nhà trống rỗng và Roberto đã thoáng thấy một số họa sĩ đang làm việc bên trong. Klement không còn sống ở địa chỉ này nữa. Tệ hơn nữa, có lẽ y đã rời khỏi cơ ngơi này rất gần đây. Nếu Aharoni không bị trì hoãn công việc khác ở Israel, anh ấy đã có thể đến trước khi Klement chuyển đi. Bây giờ anh cần một kế hoạch mới.

____

Bên kia quả đất, đặc vụ Mossad Yakov Gat đang ở một ngôi làng Tây Đức để chờ đợi đối tác của mình, Michael Bloch, trở lại. Harel đã tuyển dụng cả hai người để điều tra gia đình Eichmann và Liebl. Bloch, người nói thông thạo tiếng Đức, dành cả buổi sáng ở quán cà phê địa phương, trò chuyện ngẫu nhiên với dân làng để xem họ có biết gì về gia đình Eichmann không. Mọi nỗ lực nói chuyện với Eva, em gái của Vera Eichmann, để xem liệu cô ấy có biết nơi Vera sống hay không, đều vấp phải bức tường im lặng giống như Gat đã gặp phải trong sáu tuần trước đó với các thành viên khác trong gia đình. Bản thân điều này đã bộc lộ cho thấy gia đình này có điều gì đó muốn che giấu.

Bốn mươi tuổi, cao và mảnh mai như cây sậy, Gat là đặc vụ Shin Bet có trụ sở tại đại sứ quán ở Paris. Ông chịu trách nhiệm tìm kiếm các điệp viên Đông Đức, Hungary và KGB đang chuyển thông tin tình báo đến Ai Cập. Ông cũng là đại diện hàng đầu của Mossad ở châu Âu. Biết rằng Harel điều hành cả hai tổ chức, ranh giới giữa hai bên thường bị xóa nhòa. Sinh ra ở Transylvania, Gat có lợi ích cá nhân trong hoạt động tìm kiếm Eichmann. Ông và gia đình trực hệ của mình đã sống sót khỏi chế độ Đức Quốc xã bằng cách rời khỏi khu vực, bị sáp nhập vào Hungary vào năm 1940, nhưng nhiều người trong gia đình đông người của ông, kể cả một nửa gia đình của cha ông, đã ở lại và bị Eichmann đưa đến các trại tử thần. Khi chiến tranh kết thúc, Gat đã rời nhà để đến Palestine nhưng bị bắt và giam giữ trong một trại của Anh dành cho những người di cư bất hợp pháp ở Síp cho đến khi nhà nước Israel được tuyên bố. Anh họ lính dù của Gat đã khuyên anh rằng với đầu óc nhanh nhẹn và sự điềm tĩnh khác thường anh sẽ phục vụ tốt cho lực lượng an ninh. Anh sẵn sàng làm việc với họ miễn là anh không bao giờ phải mặc quân phục, vì hồi ức về bọn lính phát xít Romania vẫn còn làm anh khó chịu.

Anh đã trải qua một chương trình huấn luyện kéo dài 5 tuần, học cách tự vệ và cách mở ổ khóa, mở phong bì, sử dụng máy ảnh, cắt đuôi và giám sát mục tiêu, cùng các kỹ năng khác. Sau đó anh được cử ra thực địa để học cách trở thành một đặc vụ.

Khi Bloch quay lại, anh kể cho Gat về cuộc trò chuyện ở quán cà phê. Theo người đưa thư, Vera và ba con trai đã ở lại thị trấn vào đầu những năm 1950 và rồi một ngày nọ biến mất. Không có lá thư nào được gửi về từ bà ấy, và không ai nhìn thấy hay nghe tin gì về bà ấy kể từ đó. Đó là điều mà một người đưa thư ở một thị trấn nhỏ nhận thấy, lại một mảnh thông tin khác gây nghi ngờ về câu chuyện Vera đã tái hôn và chuyển đi nơi khác, đó là câu chuyện duy nhất mà gia đình cô đưa ra trong nhiều năm qua.

Gat và Bloch bắt tàu đến Vienna và ngay khi đến nơi đã gửi báo cáo cho Harel. Như thường lệ, Gat chỉ kể những sự thật họ  biết được. Ông chủ của anh không muốn sự lý giải.

Cả hai cũng đã sắp xếp để gặp Simon Wiesenthal, người có thứ gì đó muốn cho họ xem. Người săn lùng Đức Quốc xã độc lập đang làm việc cho một tổ chức Do Thái nhằm đào tạo nghề cho người nhập cư để việc hội nhập được dễ dàng hơn. Gat đã có liên hệ với Wiesenthal từ khởi đầu  cuộc điều tra, biết việc anh quan tâm đến Eichmann. Gat đã thề giữ bí mật với Wiesenthal nhưng anh cũng giữ kín về hoạt động ở Argentina, chỉ giải thích rằng họ đang theo dõi các đầu mối về gia đình tên Đức Quốc xã. Wiesenthal đã đề nghị giúp đỡ, đề cập rằng Tháng Tư trước, anh đã thấy cáo phó cho mẹ kế Eichmann và trong cáo phó có cả tên một Vera Eichmann. Điều này có vẻ kỳ lạ, vì người phụ nữ tái hôn thường lấy họ của chồng mới. Wiesenthal đã giúp Gat và Bloch truy tìm một số thành viên trong gia đình Eichmann và cố gắng tìm hiểu thêm về hộ chiếu được cấp cho Vera và các con trai của bà vào năm 1952. Tuy nhiên, hồ sơ hộ chiếu đã biến mất khỏi lãnh sự quán Đức ở Graz, làm dấy lên nhiều nghi ngờ hơn. Giống như Tuviah Friedman, Wiesenthal đã kêu gọi chính phủ Israel treo giải thưởng lớn cho bất kỳ thông tin nào về nơi ở của Eichmann.

Tại căn hộ của mình, Wiesenthal trải năm bức ảnh lên bàn trước mặt và mời hai người Israel xem xét chúng. Một là bức ảnh của Eichmann được chụp vào cuối những năm 1930 mà Diamant đã tìm thấy trong album của Maria Mösenbacher. Bốn người còn lại là anh em của y. Vài tuần trước, Wiesenthal đã xoay sở để có được ảnh của họ chụp tại đám tang của cha họ ở Linz. “Chắc bây giờấy cũng trông như thế này,” Wiesenthal nói, biết rằng Gat muốn có được trong tay bức ảnh gần đây của Eichmann.

“Có lẽ y giống với anh trai Otto nhất . Tất cả các anh em đều có nét mặt giống nhau. Nhìn vào miệng, khóe miệng, cằm, hình dạng hộp sọ.”

“Tuyệt vời,” Bloch nói và gật đầu. Gat hỏi liệu họ có thể mượn ảnh theo không. Wiesenthal vui vẻ đưa cho họ các bản sao.

Gat và Bloch thấy rõ rằng Vera và các con trai của cô đã rời Áo mà không hề biết đích đến và rằng tám năm sau, họ vẫn muốn không ai biết họ ở đâu. Trừ khi cô ấy đã tái hôn với một tên tội phạm chiến tranh khác, Vera phải ở bên Eichmann.

Gat muốn cắt đứt liên lạc với Wiesenthal, mặc dù anh luôn mong muốn được giúp đỡ. Thông qua một nguồn tin, Gat biết được rằng Wiesenthal đã vô ý đề cập trong cuộc trò chuyện rằng người Israel rất muốn tìm kiếm Eichmann.

Hơn nữa, Gat cảm thấy mệt mỏi trước những câu hỏi của Wiesenthal về khoản tiền trả cho sự hỗ trợ của anh trong cuộc điều tra. Chắc chắn đây sẽ không phải là vấn đề nếu Wiesenthal biết rằng người Israel không chỉ tìm kiếm thông tin mà còn cử một Đặc vụ Israel tới Buenos Aires để tìm y..

Vào ngày 4 tháng 3, “Juan”, một thanh niên Argentina mười tám tuổi hiền lành với nụ cười thường trực, bước vào cổng số 4261 phố Chacabuco. Trên tay anh chàng mang theo một chiếc hộp được gói xinh xắn đựng một chiếc bật lửa đắt tiền. Nó được gửi đến Nikolas Klement, Vicente López, 4261 Chacabuco. Dưới dải ruy băng là một dòng chữ được thư ký đại sứ quán viết bằng kiểu chữ hoa mỹ: “Gửi cho người bạn Nicki của tôi, trong tình bạn, nhân ngày sinh nhật”.

Juan nhận hướng dẫn từ một ông tên Rodan mà anh ta  vừa gặp, đến địa chỉ Vicente López để tìm xem “Nick Klement” đã chuyển đi đâu. Vỏ bọc của anh chàng là câu chuyện anh có một món quà cần giao. Nếu được hỏi món quà đến từ đâu, Juan sẽ nói rằng bạn anh làm nhân viên phục vụ tại một khách sạn cao cấp ở Buenos Aires, và một cô gái trẻ ở đó  đã cho anh bạn của Juan một khoản tiền boa khá lớn để giao gói hàng này. Vì y đang bận nên Juan đã giúp đỡ bạn mình. Ông Rodan nhấn mạnh, trong mọi trường hợp, Juan không được phép đến địa chỉ mới. Nếu anh chàng gặp rắc rối gì, một “người bạn” sẽ chờ đợi cách đó bốn dãy nhà. Sau đó ông Rodan chúc anh may mắn.

Không tìm thấy chuông ở cổng, Juan hét gọi Nick Klement. Cửa ra vào và cửa sổ đều mở rộng. Khi không có ai trả lời, anh ta đánh liều đi vào sân và vòng ra phía sau ngôi nhà, nơi một người đàn ông và một phụ nữ đang dọn dẹp căn lều gạch.

“Xin thứ lỗi,” Juan nói. “Nhưng ông bà có biết ông Klement sống ở đây không?”

“Ý cậu là ông người Đức phải không?” người đàn ông hỏi.

“Tôi không biết.”

“Ý cậu là người có ba đứa con trai lớn và một đứa con trai nhỏ?”

“Tôi không biết,” Juan nói một cách ngây thơ. Thực sự là anh chàng không biết ​​gì cả.

“Những người đó từng sống ở đây, nhưng bây giờ họ đã chuyển đi. Có lẽ cách đây mười lăm đến hai mươi ngày.” Người đàn ông đề nghị Juan nói chuyện với thợ thầy đang làm việc trong nhà và dẫn anh ta vào trong.

Juan phát hiện ra một người thợ mộc khoảng ngoài 50 tuổi và đưa cho ông ta tấm thiệp và món quà. “Bác có thể cho tôi biết tôi có thể tìm anh ấy ở đâu không?” Juan hỏi. “Tôi phải đích thân giao nó.”

Người thợ mộc nói tiếng Tây Ban Nha với giọng đặc sệt châu Âu, kể rằng gia đình đã chuyển đến một khu phố tên là San Fernando, nhưng ông không biết chính xác ở đâu. Tận tình hơn, ông ta đề nghị đưa Juan đến chỗ một trong các con trai của Klement đang làm việc, chỉ cách đó một dãy nhà. Khi họ đến gần một gara ô tô ở góc đường tiếp theo, người thợ mộc chỉ vào một chiếc xe máy Motoneta mà ông ta nói là của con trai Klement. Juan quan sát kỹ chiếc xe. Sau đó người thợ mộc gọi: “Dito!” Một anh chàng khoảng mười chín tuổi, mặc quần áo lấm lem dầu, đi tới. “Cậu này muốn nói chuyện với cha cậu,” người thợ mộc nói với chàng trai trẻ.

Juan không biết mình đang tìm cha hay con, chỉ biết có Nick Klement. Anh giải thích mục đích chuyến thăm của mình và rằng anh vừa được cho biết Klement đã chuyển đi. Dito xác nhận điều này một cách cộc lốc.

“Cậu đã chuyển đi đâu?” Juan hỏi.

“Đến Don Torcuato.”

Juan ngập ngừng đề nghị đưa gói hàng cho Dito để chuyển cho cha anh, ông Klement, nói rằng anh đang giúp đỡ người bạn phục vụ của mình.

“Tôi muốn biết từ ai bạn nhận được hộp quà đó,” Dito nói.

Juan giải thích rằng anh không biết tên hay bất cứ điều gì khác về cô gái trẻ đã đưa gói hàng cho bạn anh để giao. Sau đó anh hỏi liệu mình có thể xin địa chỉ của ông Klement để mình đích thân giao gói hàng không. Dito từ chối, nói rằng khu vực này không có địa chỉ đường phố. Cuối cùng Dito đồng ý nhận gói hàng. Cảm thấy đã nài ép đủ, Juan rời khỏi gara.

Nghe báo cáo của Juan, Aharoni trở nên phấn khích và cảm ơn anh chàng  vì đã hoàn thành tốt công việc. Không chỉ là con đường không chết; họ thậm chí có thể đã tìm thấy một trong các con trai của tên Đức Quốc xã đang chạy trốn. Cá nhân anh cũng phấn khởi vì phương thức giao chiếc bật lửa anh nghĩ ra đã có tác dụng. Anh đã tính toán rằng mọi người sẽ sẵn sàng cung cấp thông tin hơn nếu họ nghĩ rằng mình đang giúp ích cho Nick. Aharoni đã biết được từ hồ sơ rằng sinh nhật của Nick là ngày 3 tháng 3. Bây giờ anh biết chắc chắn rằng một gia đình người Đức tên là Klement đã sống ở địa chỉ Chacabuco cho đến chỉ vài tuần trước. Họ có bốn người con trai, một trong số đó xấp xỉ bằng tuổi và có tên nghe khá giống với Dieter Eichmann, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1942.

Aharoni mở bản đồ của mình ra để xác định vị trí của hai khu phố mà Juan được cho biết gia đình đã chuyển đến. Don Torcuato và San Fernando cách nhau hơn ba dặm. Với sự khác biệt này, cũng như việc gia đình không để lại địa chỉ chuyển tiếp và Dito đã từ chối cung cấp địa chỉ của nơi đó, Aharoni kết luận rằng Klements có điều gì đó che giấu, một dấu hiệu khác cho thấy họ có thể là Eichmanns.

Hy vọng rằng mình đã đi đúng hướng, Aharoni quyết định thử lại những người thợ ở nhà 4261 Chacabuco xem họ có biết gia đình đã chuyển đi đâu không. Cuối ngày hôm đó, anh ta đưa “Lorenzo”, một sayan khác, đến nhà 4261, đóng vai một người bán hàng. Gã đàn ông ba mươi lăm tuổi có ngoại hình, bộ y phục và đáng dấp thoải mái để vào vai. Hai lần đến thăm trong cùng một ngày là thiếu thận trọng, và người thứ hai chẳng đạt được gì hơn ngoài việc xác nhận rằng Ricardo Klement đã sống ở đó. Tuy nhiên, Aharoni vẫn đủ tự tin vào những gì mình đã biết được để gửi điện cho Harel. Đêm đó, anh ta gửi một tin nhắn mã hóa từ đại sứ quán đến trụ sở Mossad: NGƯỜI TÀI XẾ MÀU ĐỎ (Klement có thể là Eichmann). Anh cũng kể chi tiết rằng mục tiêu của họ gần đây đã di chuyển và mình đang cố gắng xác định vị trí mới của y. Khi anh gửi mã NGƯỜI TÀI XẾ MÀU ĐEN, Harel sẽ biết chắc chắn rằng Eichmann đã được tìm thấy và chiến dịch bắt giữ y có thể phát động.

Aharoni và Juan ngồi trong chiếc Fiat trên phố Monteagudo, quan sát dòng xe cộ qua lại vào đầu giờ tối. Đó là ngày 8 tháng 3. Bất kỳ ai rời khỏi cửa hàng của Dito sẽ phải lái xe ngang qua họ để đến các khu lân cận San Fernando hoặc Don Torcuato về phía Bắc. Aharoni cảm thấy rằng họ không thu hút bất kỳ sự chú ý quá mức nào. Mặc dù ở hầu hết các quốc gia, việc rảnh rỗi ngồi trong ô tô là điều đáng nghi ngờ, nhưng ở Argentina, anh nhận thấy, việc ngồi trong ô tô trong thời gian dài, hút thuốc, đọc báo, ăn trưa hoặc tán gẫu với bạn bè là điều hoàn toàn bình thường. Vì thế họ chờ đợi với hy vọng có thể theo Dito về tận nhà.

Kể từ khi đến Buenos Aires, Aharoni cũng đã kiểm tra các thông tin tình báo khác do Bauer cung cấp. Không có cuộc điều tra nào trong số này đã phát hiện ra bất cứ thứ gì chứng minh Klement là Eichmann, cũng không có dấu hiệu nào cho thấy gia đình đã chuyển đi đâu. Sáng sớm hôm đó, Aharoni đã trú mưa xối xả dưới mái hiên của một ngôi nhà trên đại lộ Avenida Cordoba, trong ngày thứ hai, canh chừng lối vào Công ty Fuldner bên kia đường, tìm kiếm Eichmann trên đường đi làm. Đã gần ba giờ trôi qua mà không thấy bóng dáng y.

Thông qua một luật sư Do Thái do Yossef cung cấp, Aharoni đã thuê một thám tử tư để tìm bằng chứng về sự xuất hiện của Vera Liebl và các con trai của bà ở Argentina, cũng như bất kỳ thông tin nào về danh tính của những người thuê nhà trước đây tại số 4261 Phố Chacabuco. Một lần nữa, không có gì. Có một số khả năng phát hiện ra manh mối ở Tucumán, nhưng anh cảm thấy việc đó là có khả năng rất thấp.

Bây giờ Aharoni đang nhờ Dito dẫn mình đến Eichmann, và đây là buổi chiều thứ ba họ đậu xe trên Phố Monteagudo. Lúc 5 giờ 15 chiều, một chiếc xe máy màu đen lấm lem bùn đất chạy vụt qua chiếc Fiat từ hướng cửa tiệm sửa xe. Người lái xe khoảng năm mươi tuổi, đeo kính đen rộng, bám chặt  y là một thanh niên tóc vàng mặc quần yếm. Juan nhận ra họ, gần như chắc chắn đây là Dito. Chiếc xe máy trông giống như chiếc xe máy mà Juan đã từng thấy ở cửa hàng.

Thế là quá đủ đối với Aharoni, anh bật công tắc và sang số. Anh đi theo chiếc xe máy qua khu phố, cố gắng không để bị nhìn thấy nhưng cũng không để mất hút chiếc xe máy. Mười phút sau, sau nhiều vòng rẽ, chiếc xe máy rẽ vào một con hẻm nhỏ cạnh ga xe lửa ở San Isidro, khu vực ngay phía đông nam San Fernando. Chàng trai trẻ lao vào một tòa nhà rồi đi ra sau đó hai phút. Một lần nữa, Aharoni và Juan đi theo chiếc xe gắn máy. Khi họ đến trung tâm San Fernando, chiếc xe máy tạm thời biến mất giữa đám ô tô và xe tải ùn tắc quanh quảng trường chính. Bắt gặp nó một lần nữa, Aharoni rẽ khỏi quảng trường để đi theo và thấy mình đột ngột bị chặn lại bởi một đoàn xe tang. Anh không thể làm gì khác ngoài việc nắm chặt tay lái một cách bực tức khi chiếc xe máy biến mất khỏi tầm nhìn. Trên đường trở về khách sạn của Aharoni, hệ thống điện của chiếc Fiat bị chập và phải kéo nó trở lại thành phố.

Trong vài ngày tiếp theo, Aharoni cố gắng theo dõi Dito cùng với hai đội sayanim khác. Vào đêm đầu tiên, trong một trận mưa lớn, chiếc xe máy không xuất hiện, nhưng cặp đôi đang quan sát cửa tiệm sửa ô tô từ quán cà phê đã đi theo đuôi một người giống Dito đến bến xe buýt gần đó. Vào đêm thứ hai, trên một ô tô thuê, Aharoni bám theo chiếc xe máy, lại cùng hai người lái, quay trở lại San Fernando. Ở đó, anh đổi xe với hai thanh niên Argentina giúp đỡ anh. Anh suýt nữa lại mất dấu chiếc xe máy quanh quảng trường nhưng rồi vẫn giữ được nó trong tầm mắt. Khi chiếc xe máy đến Đường 202, Aharoni  lùi lại khá xa  vì chỉ có một vài chiếc ô tô trên đường đến Don Torcuato. Ngay trước một bờ kè đường sắt, chiếc xe máy dừng lại ở một ki-ốt bên đường. Chỉ có lác đác những ngôi nhà và túp lều gỗ trên vùng đất bằng phẳng cằn cỗi. Aharoni cho xe chạy chậm lại. Hai tay trên xe máy có vẻ như dừng lại ở đó một lúc, khiến Aharoni buộc lòng lái xe vượt qua và quay trở lại San Fernando. Juan chắc chắn rằng họ đang đi theo chiếc xe gắn máy từ cửa tiệm sửa xe, nhưng lần này cậu không chắc người hành khách đó có phải là Dito hay không.

Vào đêm thứ ba, Aharoni và Juan đuổi theo một thanh niên đơn độc rời cửa tiệm trên một chiếc xe máy. Khi anh chàng dừng lại và đi vào một ngôi nhà trên đường tới San Fernando, Aharoni bảo Juan ra ngoài để xem xét kỹ hơn. Vài phút sau, cậu quay lại và nói rằng đó có lẽ không phải là Dito.

Aharoni cảm thấy cơn tức giận dâng lên trong lòng.  Một tuần đã trôi qua kể từ lần đầu tiên anh đưa Juan đến nhà Chacabuco và họ không biết được gì thêm.  Bây giờ họ đã theo dõi cùng một cá nhân suốt nhiều đêm liên tiếp, có nguy cơ bị lộ, và họ vẫn không chắc liệu mình có theo dõi đúng người hay không. Điều này không thể tiếp tục. Họ phải lấy được địa chỉ mà gia đình Klement đã chuyển đến hoặc xác nhận rằng mình thực sự đang theo dõi Dito.

“Ngày mai hãy quay lại gara,” Aharoni nói với Juan, cố gắng xoa dịu nỗi thất vọng của mình. “Nói với họ là anh bạn của cậu đang tức giận. Anh ta khẳng định là cậu chưa hề gửi quà và anh ta muốn cậu bồi thường. Hoặc là cậu lấy được địa chỉ nơi họ sống để có thể nói chuyện trực tiếp với Klement, hoặc ít nhất hãy chắc chắn rằng cậu có cái nhìn rõ ràng về chàng trai. Đừng nói với tôi là cậu không chắc chắn… Tôi cần có hoặc không.”

Vào ngày 11 tháng 3, theo chỉ dẫn, Juan quay trở lại số 4261 Phố Chacabuco để xem liệu có công nhân nào có thể nói với mình nhiều hơn những gì họ đã nói trong lần đầu tiên cậu đến thăm trước khi thử lại gara không. Người thợ mộc trước đây đã giúp đỡ cậu đã nhận ra cậu. Sau khi Juan kể cho ông ấy nghe câu chuyện về việc món quà chưa bao giờ được chuyển đến, cậu đã hỏi địa chỉ mới của ông Klement. Lần này, người thợ mộc cảm thấy tội nghiệp cho chàng trai, giải thích rằng mình không biết tên đường, nhưng ông chỉ cho Juan đường đi chính xác đến nhà: đi đến trạm San Fernando; bắt xe buýt số 203 đến phố Avellaneda; hỏi ki-ốt ở góc đường nhà người Đức ở đâu. Nếu Juan muốn tự mình tìm ngôi nhà thì điều đó cũng dễ dàng thôi. Đó là một ngôi nhà gạch xây dở, mái bằng chỉ cách ki-ốt vài trăm mét.

“Bác có hoàn toàn chắc chắn không?” Juan hỏi, không muốn quay lại Aharoni với bất kỳ nghi ngờ nào.

Người thợ mộc gật đầu. Ông đã làm việc tại ngôi nhà đó và người Đức vẫn còn nợ ông một số tiền. Sau đó, Juan hỏi ông ta về Dito, giải thích rằng cậu đã nói mình là con trai của Klement nhưng cậu ta chưa bao giờ giao gói hàng. Người thợ mộc cho rằng Klement chỉ có một cậu con trai nhỏ, không quá 8 tuổi,  sống với mẹ của Dito, người mẹ thì có ba cậu con trai từ cuộc hôn nhân đầu tiên.

Juan cảm ơn người thợ mộc và bước tới tiệm sửa xe. Dito bước ra sân, nhận ra Juan. “Và lần này cậu muốn gì?” cậu ta hỏi.

Juan kể lại câu chuyện của mình, bạn của cậu có khả năng phải đối mặt với mức phạt 500 peso vì không giao được gói quà.

Dito bỗng nổi dóa. “Sao vậy? Nếu cô ấy muốn gửi quà cho anh trai tôi, tại sao cô ấy không viết đúng tên anh trai tôi? Không có Nick Klement. Là Nick Eichmann.”

____

Tại một quán cà phê gần đại sứ quán Israel vào tối hôm đó, Aharoni hồi hộp chờ Juan. Anh biết rằng việc gửi chàng trai Argentina trở lại ngôi nhà là một động thái tuyệt vọng, có thể gây ra thảm họa, nhưng anh không cảm thấy mình có lựa chọn nào khác. Khi Juan xuất hiện, gương mặt cậu  đã bị tước đi nụ cười thường ngày và trông có vẻ chán chường.

“Chuyện gì đã xảy ra thế?” Aharoni lo lắng hỏi.

Juan giải thích rằng bây giờ cậu đã có được chỉ dẫn cụ thể về ngôi nhà mới của gia đình Klement. Aharoni không thể hiểu tại sao điều này lại khiến anh chàng chán nản đến thế, vì đó là điều họ đã tìm kiếm suốt tuần qua nhưng không thành công. Juan sau đó thừa nhận: “Chúng ta đã theo nhầm người rồi. Tên không phải là Klement. Mà là Eichmann.”

Aharoni chỉ muốn nhảy phóc từ chỗ ngồi lên bàn nhưng anh đã kiềm chế được. “À. Đừng bận tâm. Đừng lo lắng về điều đó,” anh nói.

Juan cũng giải thích rằng khi hỏi ông Klement ở đâu, Dito đã nói rằng ông ấy đang đi công tác ở Tucumán. Aharoni cảm ơn Juan vì công việc tốt đẹp của cậu và khuyên cậu đừng bao giờ nói với người khác về cuộc điều tra của họ. Khi chia tay, Aharoni trấn an cậu: “Chúng ta sẽ tìm được người đàn ông chính xác.”

Bình luận về bài viết này