Trao đổi với Andrea Hoa Pham (3)

Giọng Quảng Nam có tự bao giờ?

Bức tranh William Alexander vẽ một nhóm người ở cửa biển vịnh Đà Nẵng năm 1793

Hồ Trung Tú

Công trình khoa học “Nguồn gốc và sự hình thành giọng Quảng Nam” của GS Andrea Hòa Phạm, trường Đại học Florida, hoàn toàn không bàn về thời điểm giọng Quảng Nam hình thành cho nên mọi luận điểm và dẫn chứng về lịch sử của chị đểu bất định, không có bất cứ ý nghĩa nào cả. Nếu giọng Quảng Nam với âm a-oa “trứ danh” (chữ dùng của chị) có ở vùng đất Quảng Nam từ đầu công nguyên, hoặc giả như đến thế kỷ 18 nó mới bắt đầu xuất hiện (như giọng người dân thành phố Đà Nẵng nay) thì các dẫn chứng bằng tư liệu lịch sử của chị có ý nghĩa gì nữa?

Những dẫn chứng lịch sử của GS Andrea Hòa Phạm đã được Brian Wu điểm  phần lớn là những tư liệu thứ cấp, lại cắt xén nhiều nên Brian Wu bảo là “hời hợt và đáng ngờ”(Fb bài 3, ngày 20/1/23). Tác giả Võ Văn Thắng trong bài của mình cũng bảo đó là “xuất phát từ cách nhìn nhận về tình hình người Chăm theo các sử liệu truyền thống quen thuộc. Những kết quả nghiên cứu mới cho thấy số người của vương quốc Champa ở lại khu vực bắc và nam đèo Hải Vân, từ sau năm 1306, không phải quá ít ỏi và cô lập như chúng ta thường nghĩ do bị ám ảnh bởi các sử liệu cũ”.

Vậy thực sự những dẫn chứng lịch sử của cuốn “Nguồn gốc và sự hình thành giọng Quảng Nam” là như thế nào? Cứ cho là những tư liệu thứ cấp đó và bị cắt xén mà tác giả AHP sử dụng là có thể chấp nhận được đi thì liệu các tư liệu đó có ủng hộ cho giải thuyết chính những cư dân Thanh Nghệ đã tạo nên âm sắc giọng Quảng Nam như hiện nay?

Tài liệu lịch sử “Nam tiến” mà AHP đã dẫn gần như liệt kê tất cả các sự kiện mà Đại Việt đã thâu tóm được các phần đất của Chiêm Thành và sau đó là những tư liệu về di dân.

Hai sự kiện đầu tiên 1069, rồi đến 1075 , khi các vùng đất Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình và một phần Quảng Trị nay) thuộc Đại Việt.

Sự kiện quan trọng nhất của giai đoạn này là năm 1152, vua Lý sai Lý Mông đem 5 ngàn quân Thanh – Nghệ hộ tống đưa Ung Minh Tạ Điệp về làm vua Chiêm Thành (Cương mục, 170). Một sự kiện sử chép như thế không hiểu sao chị lại dẫn tác giá Đặng et al để bảo 5 ngàn quân này ở lại đâu đó tận Trà Bàn Bình Định ! Có logic nào để bảo 5 ngàn binh làm việc “hộ tống” nhưng đã ở lại? Họ tội gì để đi đày chăng? Tôi nghĩ sự kiện này cũng nên bỏ ra khỏi vùng cần để suy xét chuyện hình thành giọng Quảng đang bàn.

Giai đoạn này “đất Quảng Nam” còn chưa thuộc về Đại Việt, tận 231 năm sau mới nhập vào Đại Việt thì chuyện xét giai giai đoạn lịch sử này tôi nghĩ không cần thiết. Cần chăng thì đó là vùng Quảng Bình, vùng Cao Lao Hạ cũng có giọng nói trứ danh mà ai làm ngôn ngữ cũng nhắc đến, và GS Nguyễn Văn Lợi cùng bảo là nó có cơ tằng tiếng Chăm mà sách chị có dẫn.

Và mốc quan trọng nhất là 1306, khi vùng đất Nam Hải Vân, Bắc Thu Bồn (gồm các tp/huyện Đà Nẵng, Hòa Vang, Hội An, Điện Bàn, Đại Lộc nay; Duy Xuyên là vùng đệm xét sau) thuộc vào Đại Việt, và là vùng đất có âm a-oa “trứ danh” mà GS Andrea Hòa Phạm đang xét, thì ta xem tác giả “Nguồn gốc…” nói gì về giai đoạn này.

Đầu tiên chị dẫn tất cả các tư liệu bất kể những tư liệu thứ cấp hay cả những bài báo vu vơ để ủng hộ việc giai đoạn này số người Việt vào định cư ở khu vực Nam Hải Vân, Bắc Thu Bồn này chưa quan trọng. Vì cố tìm những dẫn chứng có liên quan đến người Thanh Nghệ, mà tư liệu giai đoạn này lại không đề cập đến Thanh Nghệ nên chị đã sử dụng những tư liệu rất hời hợt cho giai đoạn sau 1306 rất quan trọng này.

1306-1402. 100 năm hình thành giọng Quảng?

Đầu tiên, khi bàn về những ai đã theo Huyền Trân vào Nam chị đã dẫn các tư liệu thứ cấp và viết ở trang 120: “Đặng et al (1994) cho rằng khi công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành hẳn có đem theo một số người Việt. Có lẽ là nhiều cung nữ và lính hộ vệ đã tháp tùng cô công chúa bé nhỏ về quê chồng. Con số này ước hàng trăm. Nhưng liệu có dân thường đi theo không, chẳng hạn vợ con của những người lính và người nhà của các cung nữ? Không thấy chính sử nói gì về di dân người Việt vào hai châu Thuận và Hoá trong thời kỳ này. Rồi sau đó, có thêm đợt di dân nào vào vùng đất được hiến tặng này không? Cuốn Địa lý của Nguyễn K. N. và Phạm Đ. T. (1987) dành hẳn một mục nói về vấn đề di dân, từ lúc Chiêm Thành dâng đất hai châu Ô và Rí đến tận thế kỷ thứ 20. Thế mà về giai đoạn này, các tác giả cũng ghi vắn tắt rằng người Chàm lúc ấy “bỏ đi, đi vào phía Nam đèo Hải Vân (tức ra khỏi phạm vi hai châu Thuận và Hoá), nên nhà Trần phải đưa người Việt vào lập nghiệp ở hai châu này” (tr. 195). Các tác giả cũng không dẫn nguồn tài liệu, và không nói đưa người Việt từ đâu vào.

Nếu các tác giả Đặng et at ( gồm Đặng Thu, Nguyễn Danh Phiệt, Phan Đại Doãn, Cao Văn Biền) và chị, Andrea Hòa Phạm có đọc “Có 500 năm như thế”  bản in năm 2012 (chị chỉ có bản in lần đầu) thì chị đã thấy chương “Dân Kinh Cựu” được bổ sung, và hẳn không bỏ qua được chi tiết quan trọng này ở  ở trang 187 tôi dẫn ở Đại Nam Thực Lục: “Tương truyền xưa kia nhà Trần gả con gái cho vua Chiêm Thành, hơn 10 người thân thuộc đi theo, về sau lấy người Chiêm Thành sinh con đẻ cháu đời đời ở đấy. Lại nữa, đầu bản triều ta (tức Nguyễn Hoàng), khi đánh lấy được Chiêm Thành, phái lính Kinh đến đồn thú đất ấy, gián hoặc có người ở lại, không về, sau lấy vợ Chiêm Thành, sinh con cháu, đều gọi là dân Kinh cựu”.

Tư liệu là không thiếu đâu thưa chị, chỉ là không có Thanh Nghệ thôi. Trang 191 sách “Có 500 năm…” tôi viết: “Nói đến những người Việt vào sớm này Lý Tử Tấn trong sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi (1435) cũng có một cách mô tả khá ấn tượng như sau: “Dân vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm, tính hung hãn, quen khổ sở. Triều trước (nhà Trần) dùng họ để ngừa người Chiêm” (Dư Địa chí của Nguyễn Trãi). Ghi chép này của Lý Tử Tấn mặc dù câu chữ có phần miệt thị nhưng vẫn cho ta thấy vai trò không hề nhỏ của “dân Kinh cựu”.

Một chi tiết quá hay phải không chị Andrea Hòa Phạm? Nó cho thấy người Việt đã vào và đã đặt quyền cai trị của mình lên cộng đồng người Cham ở đây, họ gieo tiếng nói giọng nói tiếng Việt cho những người vợ người chồng Chàm của họ, buộc những người Chàm phải nói tiếng Việt khi giao tiếp với các “quan lớn” người Việt. Chị tin rằng họ, người Chàm nói tiếng Việt lưu loát như người Việt sao?

Chỉ vì không xác định được giai đoạn này người Thanh Nghệ là chính nên chị viết ở trang 121: “Sự kháng cự của dân các thôn La Thuỷ, Tác Hồng và Đà Bồng (sau 1306) chứng tỏ rằng người Chiêm ở các châu đó cũng không vui vẻ gì chuyện sáp nhập vào Đại Việt, và di dân Việt không được đón tiếp vồn vã. Vùng đất này do đó vẫn chưa yên ổn cho nên số người Việt sống tại những châu này, bao gồm cả các huyện phía Bắc tỉnh Quảng Nam hiện nay, lúc ấy có lẽ còn rất ít”. Và sau đó là nhảy hẳn đến giai đoạn 1402. Điều đó thật đáng tiếc. 100 năm này là giai đoạn rất quan trọng để hình thành giọng nói tiếng Việt của người Quảng Nam.

Tư liệu cho ta hình dung rằng đến cuối giai đoạn này, 1402, thì người Việt đã ở đây đông đúc, kết thân sui gia, đã tạo nên một kiểu nói tiếng Việt không giống với đất Bắc, là những chi tiết trong Phan tộc phổ chí, một cuốn phổ chí của một tộc người Chiêm Thành ở lại cùng với người Việt  (anh Võ Văn Thắng đã sưu tầm và công bố).

Chúng ta đọc một vài đoạn trong cuốn phổ chí hiếm hoi này để hình dung không gian dân cư vùng đất này trước 1407, năm nhà Hồ tan và người Chiêm thu lại đất Bắc Hải Vân Nam Thu Bồn, nơi có a-oa này. 

Tiên công ta tự nghĩ rằng nước ta Chúa đã chết, tướng làm phản, đất hẹp, dân nghèo, thế khó tự chủ nên theo lời vua Trần. Vua Trần phong cho Tiên công chúng ta chức Đô chỉ huy kinh lược chiêu dụ xử trí sứ, coi trong 13 châu. Ông lãnh chỉ đi chiêu dụ, quân dân các châu động đều quy thuận. Ông trở về xin (vua Trần) cấp trâu bò, dụng cụ làm nông, đồng thời xin một số dân Giao Chỉ đã thuần thục nghề nông và hiểu biết chữ nghĩa. Vua Trần cho ông trông coi các xứ, thiết lập trang trại chia nhau để ở, dạy cho thổ dân chúng ta học hành và cày cấy… Về dân số thì dân Giao Chỉ và dân địa phương cùng chung một ngạch tịch... Trong số các dân địa phương có người còn chấp nê tập tục cũ, không thuận theo sự khai hóa ấy thì chia ra ở riêng”.

Khi đọc thấy những người dân Giao Chỉ lần đầu xuất hiện trên thư tịch ở vùng đất này tôi đã nổi gai ốc từng luồng.

Trang 44 tôi viết khảo sát : “Phan tộc phổ chí” còn cho ta biết nhiều bà vợ người Việt có chồng tộc Phan trong bốn đời đầu tiên, những người được ghi rõ là “triều Trần phong chức…” (khả năng trước 1402) gồm có các bà: Trần Ngọc Lãng (công chúa nhà Trần, chưa thể kiểm chứng), Phạm Thị Xuân Quang, Phùng Thị Đính, Nguyễn Thị Thông, Nguyễn Thị Phước Chỉ, Nguyễn Thị Dung, Lê Thị Tài, Lê Thị Ngọc Mỹ, Phạm Thị Hoài, Ngô Thị Huy, Ung Thị Thận, Đỗ Thị Nhựt Tân… Như vậy là ta có chí ít các họ Việt như Phạm, Phùng, Nguyễn, Lê, Đỗ… là sui gia với tộc Phan Đà Sơn. Bên cạnh đó Phan tộc phổ chí cũng còn cho biết các tộc Việt cùng ở trên mảnh đất Đà Sơn như: Phan, Nguyễn, Kiều, Đỗ(2). Điều đó có nghĩa lúc ấy, trước 1402, ở vùng đất thuộc Đà Nẵng nay nhiều tộc họ người Việt đã định cư và ở bên cạnh người Chàm một cách thân thiết, mối quan hệ thông gia trai Chàm lấy vợ Việt và trai Việt lấy vợ Chàm không hề là một trở ngại cho các đôi nam nữ khác dân tộc

Cộng đồng Cham Việt (rất nhiều họ Việt) ấy ở vùng Đà Nẵng dùng ngôn ngữ gì để giao tiếp với nhau thưa chị?

(1). Họ, những người Việt đó phải nói tiếng Cham ?

(2). Những người Cham khu vực này bắt đầu nói tiếng Việt bằng cái giọng họ gắng phát âm theo tiếng Việt, thành ra những âm chưa giống với tiếng Việt mà cũng không có trong tiếng Cham? Cùng với những lát cắt phân kỳ, giọng nói này đã thành số đông và đã áp đặt lên cả những người đến sau? 

Tùy chị và bạn đọc tự chọn cho mình một hình dung thôi. Tôi không việc gì phải chứng minh, tôi chỉ nói chị sai ở những điểm tôi có thể nhìn thấy. Còn chuyện giọng Quảng Nam là giọng người Cham nói tiếng Việt tôi chỉ nêu lên như một giả thuyết thôi. Chuyện chứng minh nó lúc này là chưa thể vì nhiều lý do như tôi đã nói trong sách “Có 500 năm…”: Ít nhất là vì ta  chưa biết người Cham lúc đó ở vùng đất Đà Nẵng mở rộng đến Thu Bồn là người Cham nào.

Liệu đã có thể kết luận được chưa rằng lúc này, dù không biết từ nguồn nào, nhưng  giọng Quảng Nam đã hình thành và định hình ở vùng đất này?

Câu chuyện HÓA NGỮ.

Có một chi tiết sử liệu nữa giúp ta biết được khả năng (2) là giọng Quảng Nam nay chứ không phải là giọng Huế hay giọng miền Nam nào khác. Đó là sách “Ô Châu cân lục” của Dương Văn An viết năm 1553, sách này Dương Văn An nhiều lần đề cập đến giọng châu Hoan của người ở hai phủ Tân Bình và Thuận Hóa, tức đèo Ngang đến sông Thu Bồn. Ở phần về phong tục tổng luận Dương Văn An viết giọng nói người dân ở hai phủ này: “tiếng nói tựa miền châu Hoan”. Châu Hoan là Nghệ An Hà Tĩnh nay. Và vùng Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên Huế nay cũng cùng một phương ngữ giọng nói này. Chuyện như thế sẽ không có gì đáng bàn nếu Dương Văn An không vô tình hạ bút:

化語占裳俗尤 (Hoá ngữ Chiêm thường tục vưu), Dịch nghĩa là : tiếng Hoá, váy Chiêm, tục lạ . Theo câu văn hiện đại là phải có dấu phẩy giữa hai sự kiện “Hóa ngữ” và “thường Chiêm”. Cả hai thứ ấy đều là tập tục lạ thường.  Thầy Nguyễn Khắc Thuần đã dịch thành ra là “tiếng Huế áo Chiêm thói hư” là chưa ổn. Thường Chiêm tức váy Chiêm, đàn bà mặc váy thì có gì lạ đâu; ở đây, trong mắt Dương Văn An đàn ông mặc váy mới là chuyện dị thường. Và đó là đàn ông Chàm với chiếc váy kama phổ biến trên khắp vùng Nam Á.

Vấn đề còn lại để chúng ta xét là “Hóa ngữ”, tiếng châu Hóa sao lại bị xem là dị thường lạ lùng ?

Trước hết ta chỉ thấy có một làng Lại Thị có Hóa ngữ. Còn giọng châu Hoan thì được DVA xác định trên diện rộng của cả hai phủ Triệu Phong, Thuận Hóa. Tại sao cả hai phủ nói giọng châu Hoan, giọng Nghệ, giọng khu 4 cũ lại có một làng nói giọng châu Hóa?

Trong chữ Hán và chữ Nôm, Hóa và Huế đều dùng một ký tự giống nhau,  化, tùy ngữ cảnh đọc là Huế cũng được mà đọc là Hóa cũng được. Liệu có thể hiểu Lại Thị nói giọng Huế (như Nguyễn Khắc Thuần dịch) được không ? Tôi nghĩ là không. Về địa danh thì có thể chứ về giọng thì Huế là thuộc giọng châu Hóa. Sau khi kinh đô nhà Nguyễn đóng ở đây thì giọng Huế có khác so với giọng khu 4 chút ít, chứ lúc đó khu vực Huế nay giọng không khác Quảng Trị Quảng Bình, tức không khác Hà Tĩnh. Về phương ngữ đó vẫn là phương ngữ giọng Nghệ An, Hà Tĩnh. Liệu DVA phân biệt được giọng châu Hoan và giọng Huế là khác nhau? Đó là chưa nói theo nhiều nhà nghiên cứu thì từ “Huế” chỉ xuất hiện lần đầu tiên trên các văn bản chữ La Tinh của người phương Tây thế kỷ 17 (Trong hồi ký của Pierre Poivre, một thương nhân người Pháp đến Phú Xuân vào năm 1749 tên Huế xuất hiện nhiều lần dưới dạng hoàn chỉnh là Hué).

Chúng ta chỉ có thể hiểu được vấn đề khi đặt giọng châu Hóa là cái gì đó khác hoàn toàn với giọng châu Hoan. Trong khu vực này không có bất cứ giọng Bắc, giọng Thái Bình hay giọng Phú Thọ, Hưng Yên, Hải Dương…  nào được gọi là giọng châu Hóa cả ngoại trừ khả năng giọng vùng bắc Quảng Nam, thuộc cực Nam châu  Hóa lúc đó. Và DVA gọi hiện tượng giọng châu Hóa đó là tập tục là kỳ (tục vưu).

Lại Thị thuộc huyện Tư Vinh, cực nam  Thừa Thiên Huế nay, rất gần với Đà Nẵng nay. Chưa xác định chính xác Lại Thị nay là xã nào nhưng ta biết khu vực huyện Tư Vinh nay hiện có làng Mỹ Lợi, nói giọng Quảng giữa một vùng giọng Huế. Cùng như Dương Văn An, nhiều người ngạc nhiên với giọng Mỹ Lợi (trong đó có chị), một giọng Quảng Nam (phương ngữ Nam) giữa vùng đất giọng Huế (phương ngữ Trung). Và nếu viết thì ai cũng như DVA sẽ bảo đó là chuyện lạ (tục vưu).

Tôi nghĩ những sự kiện này đủ cho ta kết luận đặc trưng giọng Quảng Nam đã được ghi nhận từ 1553, và dĩ nhiên nó đã hình thành từ trước đó rất xa nữa, với số đông người dùng, để có thể được Dương Văn An đặt tên là giọng châu Hóa.

Kết hợp với tư liệu của Phan tộc Phổ chí ta có thể tin rằng giọng Quảng Nam đã định hình từ trước 1402, từ thời những người Việt vào theo Huyền Trân, và những di dân không xác định quê quán đã vào vùng đất mới sau khi nó thuộc về người Việt.

Chính vì vậy, việc chị AHP dẫn rất nhiều các tư liệu di dân vào nam ở các thời kỳ sau 1471 và dưới thời các chúa Nguyễn để xét về “nguồn gốc hình thành” giọng Quảng là vô nghĩa. Và trên Facebook tôi bảo phần dẫn chứng lịch sử này đáng vứt bỏ, là vì vậy.

Giọng nói khi đã định hình rồi thì những người vào sau dĩ nhiên bao giờ cũng là số ít và phải nói theo giọng nói của đám đông cư dân ở đó. Người nơi khác vào Sài Gòn rồi dần dần sau vài thế hệ chuyển sang giọng Sài Gòn, logic cuộc sống là như vậy. Người Chàm ra bắc cũng vậy, họ là giọt nước trong cái biển giọng bắc thì làm sao mà họ giữ giọng Chàm cho được nhất là khi bị xem là “mọi”. Chị nêu thắc mắc này để phản biện giọng Cham nói tiếng Việt tôi thấy nó thực bao biện.

Việc nhà Hồ đưa người , có thể là gốc quê Thanh Hóa vào Thăng Hoa Tư Nghĩa chị cũng bỏ qua một cách đáng tiếc vì trường hợp này tư liệu không ủng hộ giả thuyết của chị. Trong sách “Có 500 năm…” tôi có viết về sự kiện này và nêu dấu vết người Thanh Hóa đối với giọng nói các huyện ở phía Nam Quảng Nam đến Quảng Ngãi. Xem chương “Dấu vết còn lại của cái biên giới thời Huyền Trân” để hiểu hơn đặc điểm âm sắc của giọng Quảng Nam gần gũi với giọng Thanh Hóa như thế nào.

Người Cham bị giết, bỏ đi hay ở lại với số đông?

 

Và điều quan trọng cuối cùng cần phải xác định người Chàm có bỏ chạy đi cả hay không.

Như các tài liệu vừa dẫn thì đến 1402 người Chàm vẫn ở đó, không chạy đi đâu cả. Phan tộc Phổ chí chép khi nhà Minh chiếm Đại Việt 1407, Chiêm Thành thu lại đất cũ Ô Lý, người Việt bỏ chạy về lại Bắc cả, những người  ở lại đã được ông Phan Công Thiên cưu mang không cho những người Cham cực đoan sát hại. Người Chàm ở lại đông đấy chứ.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì chép chuyện các con của Chế Bồng Nga về với Đại Việt và đã được bổ làm quan. Có giết mấy đâu. Văn xưa tả chuyện đánh thắng thì thường nói vống số người bị giết, bị chém đầu cho hoành tráng chiến thắng thôi, chứ giết mấy chục ngàn người chị tưởng dễ lắm sao?

Đông đến mức gần 100 năm sau, năm 1471 khi Lê Thánh Tông đem quan đi đánh Chiêm Thành trận cuối, đất này vĩnh viễn thuộc về Đại Việt, ĐVSKTT còn chép đến việc bắt sống tướng Cham là Bồng Nga Sa ở cửa sông Cu Đê, là viên lại giữ cửa sông Cu Đê, thuộc địa phận Đà Nẵng nay. Người Chàm ở lại rất đông thì mới có tướng Cham ở đó chứ thưa chị?

Thậm chí ở trung tâm vùng Quảng Nam là Dinh Trấn Thanh Chiêm, khi vua Lê Thánh Tông rút đi vẫn cử những người Chiêm đầu hàng  như Ba Thái, Đa Thủy, Đỗ Tử Quy, Lê Ỷ Đà… để cai trị dân ở các châu, động từ Thu Bồn đến Trà Khúc (ĐVSKTT, tập 2, trang 451). Người Chiêm không có ở đó thì Lê Thánh Tông lấy người Chiêm làm quan để làm gì? Điều này có nghĩa rằng các làng Chàm ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi vẫn còn nguyên vẹn sau sự kiện 1471, giống như tộc Phan làng Đà Sơn, Đà Ly sau 1471 họ vẫn ở Đà Nẵng và yên lành sống cho đến nay, tộc tỏa rộng ra hầu hết các phường ở Mân Thái, Nại Hiên, Cẩm Lệ, Liên Chiểu, Thanh Khê  đều có tộc Phan và vẫn về giỗ tổ hàng ngàn người hằng năm.

Nó không như chị viết ở trang 241: “Ở Quảng Nam đầu thế kỷ thứ 16, người Chăm lớp bị giết, lớp bỏ chạy về Chiêm Thành, ai còn sót lại chắc hẳn phải dè dặt che giấu thân phận, và có lẽ sống quây quần khép kín trong cộng đồng của họ”.

Và hơn nữa, cứ cho là kể từ thế kỷ 16 như chị nói chúa Nguyễn tàn sát họ thì có lẽ tàn sát đâu đó chứ ở Quảng Nam thì hầu hết người Cham đã bị đồng hóa và họ đang dần quên đi tiếng Việt. Các chúa Nguyễn tàn sát họ làm gì nữa trong khi luôn cần bổ sung binh lính?

Tôi cho rằng chị lấy các tư liệu về việc tàn sát người Cham và biện giải về sự “dè dặt che dấu thân phận, và sống quây quần khép kín” nhằm “bổ trợ” chứng minh là giọng nói người Quảng Nam “không có dây mơ rễ má gì với tiếng Chàm” (228) thôi chứ chị thử xem hai bản đồ này. Một của Alexandre de Rhodes vẽ năm 1650 và một của công ty bởi công ty Covens and Mortier Amsterdam Hà Lan năm 1760 trong đó khu vực thuộc các tỉnh như Quảng Nghĩa và Quy Nhơn được phiên âm gần đúng là Quamguia và Quingnim thì tỉnh thuộc Quảng Nam nay được ghi là Ciam và Ke Cham. Chị có nghĩ là Quảng Nam lúc đó người Cham vẫn đông đúc, và họ được phân biệt với người Việt ở chỗ đàn ông mặc váy như trong bức tranh William Alexander vẽ năm 1793 ở một làng chài bên vịnh Đà Nẵng, những người đàn ông mặc váy bên cạnh những ông quan mang thẻ bài Việt. Chị có nghĩ là họ vẫn đông đến mức các người phương Tây phải ghi đặc điểm về dân cư vùng đất này đậm dấu ấn Cham không ?

 Để bảo vệ luận điểm giọng Quảng Nam có nguồn gốc từ Thanh Hóa chị đã viết “người Chăm lớp bị giết, lớp bỏ chạy về Chiêm Thành, ai còn sót lại chắc hẳn phải dè dặt che giấu thân phận, và có lẽ sống quây quần khép kín trong cộng đồng của họ qua những tư liệu như vậy  xem ra cũng thật tội cho họ.

Tóm lại. Tôi cho rằng chỉ vì thiếu cái nhìn phân kỳ mà chị nhìn sự kiện Nam tiến nào cũng giống Nam tiến nào. Những người Việt vào theo Huyền Trân gieo mầm tiếng Việt đầu tiên ở vùng đất này cũng giống như những người Việt kéo đi từng đoàn dưới thời các chúa Nguyễn. Khi mà giọng Quảng đã định hình rồi thì việc giết người bản địa (nếu có) hay thêm những lớp Nam tiến khác nào còn có nghĩa gì nữa cho việc giải thích nguồn gốc hình thành?

Bài về tại sao cũng Chàm nói tiếng Việt mà lại Huế khác Đà Nẵng xin khất một kỳ nữa.


Bản đồ của Alexandre de Rhodes vẽ năm 1650.

Amsterdam Hà Lan năm 1760 bởi công ty Covens and Mortier

Trang Ô CHân cận lục viết về Lại thị Hóa ngữ.

Bình luận về bài viết này