Dinh Chiêm (Dinciam) ở đâu?

Tác Giả: Nguyễn Đình Nam

Ngày 24 Tháng 10 Năm 2023

Trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi đến nay, chúng tôi vẫn dành hết thì giờ tìm hiểu cuộc đời ngắn ngủi của Giáo Sĩ (G.S.) Francisco de Pina (1585-1625)[1], một Linh Mục dòng Tên[2] mà chúng tôi rất kính ngưỡng. Hiện nay, ai ai cũng công nhận rằng ngài là người tiên phong trong việc phát triển chữ Quốc Ngữ. Đây là một công trình rất vĩ đại mà ngài đã dành cho chúng tôi, những con dân người Việt. Vì thế, bài viết này ngoài việc tìm hiểu về cuộc sống của ngài ở ngoại thành Dinh Chiêm (Dinciam) bắt đầu từ năm 1620, chúng tôi muốn chứng tỏ sự cảm ơn từ đáy lòng của chúng tôi đối với ngài.

Trong 8 năm tận tụy ở Đàng Trong – từ  1617 đến 1625, đi theo lời kêu gọi của Thượng Đế, vị G.S. quí mến này đã hy sinh cả cuộc đời để phục vụ người dân tộc Việt Nam trong nhiều địa phương khác nhau như Hội An ở Dinh Quảng Nam[3], lúc ngài bắt đầu trên con đường giảng đạo ở Đàng Trong, cho đến tận chân trời xa tại Nước Mặn ở Dinh Qui Nhơn. Trước khi mất, ngài dành rất nhiều thì giờ phục vụ giáo dân tại thành phố Dinh Chiêm, cách Hội An khoảng 9 km về phía tây.

Tuy hiện tại, chúng tôi có thể tìm hiểu rất nhiều về Huế và Hội An từ sách vở và tài liệu trong mạng và thư viện, nhưng lại không biết gì về hai nơi như Nước Mặn và Dinh Chiêm mà ngài thường lui tới. Vì thế, bài nghiên cứu này chúng tôi sẽ dành riêng để thỏa mãn sự tò mò ham học hỏi của chúng tôi về thành phố Dinh Chiêm, một nơi mà G.S. Pina dành rất nhiều thì giờ quí báu của ngài trong việc phát triển chữ Quốc Ngữ bằng cách dùng ký âm Việt chuyển qua những mẫu tự chữ Bồ Đào Nha. Dựa theo lịch sử, tại đây, ngài cũng đã thành lập một nhà thờ và mở trường dạy học tiếng Việt đầu tiên ở Đàng Trong cho hai vị giáo sĩ trẻ Alexandre de Rhodes (1593 -1661) và Antonio Fontes (1592 – sau 1655) khi họ mới đặt chân lên Đàng Trong cuối năm 1624.

Bối Cảnh

Ở đầu thế kỷ 17, nền kinh tế Đàng Trong đang phát triển rất mạnh mẽ do sự buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa ba quốc gia Nhật Bản, Trung Quốc và Đàng Trong. Vì Nhà Minh ở Trung Quốc cắt đứt bang giao và buôn bán với Nhật Bản, nhưng lại rất cần kim loại hiếm như vàng và bạc trong tiền tệ. Ngược lại, Nhật Bản rất ương chuộng những tấm lụa mềm mại của Trung Quốc và đồ gốm, gỗ thơm của Đàng Trong nên thương nhân cả ba quốc gia không ngần ngại thành lập Hội An, ở Đàng Trong thành một nơi trao đổi hàng hóa. Mỗi năm thuyền buồm theo mùa gió bấc thổi xuống từ phía đông-bắc, các thuyền buôn Trung Quốc và Nhật Bản lần lượt tụ họp ở Hội An trong vòng bốn tháng[4]. Trong số các nước Âu Châu, trong thế kỷ 16, Bồ Đào Nha hầu như chiếm độc quyền buôn bán ở Á Châu. Riêng ở Đàng Trong, Chúa Nguyễn và dân chúng Đàng Trong rất ưa chuộc sản phẩm của họ, như kim may vá, áo sơ-mi, v.v… Quan trọng hơn nữa, Đàng Trong rất cần các khẩu súng thần công đúc bằng đồng từ quốc gia này. Vì thế, giữa Đàng Trong và Bồ Đào Nha cũng đã bang giao rất mật thiết.

Dưới đời chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613), Dinh Quảng Nam[5] là một trong hai dinh trấn ở Đàng Trong – Dinh trấn thứ nhất là Dinh Thuận Hóa. Nơi đây, một cơ sở hành chánh trung ương đã được gầy dựng vào đầu thế kỷ 17 với công việc chính là quản lý và thu thuế từ các thuyền bè tụ họp buôn bán, trao đổi hàng hóa hàng năm tại thương cảng Hội An. Dựa theo phong tục chính quyền Đàng Trong, các thương nhân ngoại quốc tạm dừng chân tại Hội An; sau đó họ theo phép lịch sự đều phải ghé thăm Trấn Thủ Quan đóng đô tại thành Dinh Chiêm, cách Hội An không xa. Để được dễ dãi trong công việc buôn bán, họ thường gửi gấm lễ tiến[6] từ đất nước họ. Riêng các thương gia Nhật Bản còn đóng vai trò tùy viên ngoại giao cho Mạc Phủ Nhật Bản. Đôi lúc, họ mang thư từ qua lại giữa Mạc Phủ và Chúa Nguyễn. Thường thường tàu bè ngoại quốc mỗi năm dừng chân tại Cù Lao Chàm để đăng ký và chuẩn bị đóng thuế nhập cảnh cho Đàng Trong. Thuế má hàng hóa đều tùy thuộc vào chiều dài của chiếc thuyền buôn. Trong khoảng thời gian (1600-1635), các thương nhân từ Nhật Bản phải mang theo giấy phép thông hành gọi là Châu Ấn Trạng mà chính quyền Nhật Bản cung cấp trước khi nhập cảnh vào Đàng Trong. Trong những năm chiến sự giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài (1627-1672), Dinh Chiêm còn đóng vai trò căn cứ quân sự trừ bị cho quân đội Đàng Trong. Vì thế, chúng tôi nghĩ thành trì Dinh Chiêm rất rộng lớn bao gồm những nơi quân đội bộ binh lẫn thủy quân tập dượt, bến thuyền bè, chuồng ngựa, voi, kho vũ khí, v.v…

Đồng hành với các thuyền buôn Bồ Đào Nha đến Đàng Trong là các giáo sĩ nhà dòng mà nổi tiếng nhất là dòng Tên lúc ấy. Trong khoảng thời gian này, họ có cơ sở vững chắc tại bán đảo Macao ở Trung Quốc. Theo chúng tôi nhận thấy, mặc dù, từ những ảnh hưởng lan tràn đến từ Nhật Bản trong việc cấm đạo Ki Tô Giáo bắt đầu vào năm 1614, Chúa Nguyễn có lẽ lúc ban đầu cũng đã e dè sự ảnh hưởng của Ki tô giáo đối với xã hội Đàng Trong, nhưng sự đe dọa về mặt quân sự của Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài khiến Chúa Nguyễn không có sự lựa chọn nào khác, nên đã đồng ý, cho phép dòng Tên bắt đầu hoạt động kể từ năm 1615.

Dinh Chiêm Trong Lịch Sử

Vào đầu thế kỷ 17, dưới quyền lãnh đạo của Chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613), Hội An là một thương cảng rất thịnh hành ở vùng Đông Nam Á, đó là không kể các thương cảng nổi tiếng như Manila của Phi Luật Tân, Ayutthaya của Siam (Thái Lan), hay Longvek của Cam Bốt vào thời ấy. Để thâu thập ngoại tệ từ giao thương với các quốc gia trong việc canh tân đất nước, nhất là chuẩn bị bảo vệ lãnh thổ dưới mối đe dọa của Chúa Trịnh ở phương bắc, vào năm 1602, Chúa Nguyễn Hoàng bắt đầu đổi tên Trấn Quảng Nam[7] từ đời nhà Hậu Lê thành Dinh Quảng Nam  mà lỵ sở của nó ở xã Cần Húc , thuộc về huyện Duy Xuyên[8] (về sau, năm 1806, xã Cần Húc được đổi tên thành xã Văn Đông, thuộc huyện Diên Khánh)[9] và trao Dinh Quảng Nam cho Công Tử Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) chức Trấn Thủ Quan nắm giữ quân quyền  – Lúc này, Dinh Quảng Nam bao gồm 3 phủ[10] [11]: Thăng Hoa[12] ,Tư Nghĩa (còn có tên Tư Ngãi; nay Quảng Ngãi) và Hoài Nhân (còn có tên Hoài Nhơn; nay Bình Định)[13]. Điều này cho thấy, vào đầu thế kỷ 17, lãnh thổ Dinh Quảng Nam kéo dài từ bờ nam Thu Bồn[14], chạy xuống Quảng Ngãi, xuống tận Bình Định hiện nay. Trước đó, vào năm 1600, ngài trích huyện Điện Bàn bao gồm 5 xã: Tân Phúc, An Nông, Hòa Vinh, Diên Khánh và Phú Châu từ phủ Triệu Phong của Dinh Thuận Hóa và cập nhật nó thành phủ Điện Bàn, sau đó sát nhập phủ mới này vào với Trấn Quảng Nam.[15]

Dinh Quảng Nam thường được dân gian gọi là Dinh Chiêm [16] [17] [18]. Trong lịch sử Đàng Trong, “Dinh”[19] đồng nghĩa với “Xứ”, “Thừa Tuyên”, “Trấn” và đồng cấp với “Tỉnh” sau này. Tuy nhiên, cái tên “Dinh Quảng Nam” hay “Dinh Chiêm” ngày xưa cũng biểu hiện thành phố trực thuộc kinh sư (Dinh Cát hay Huế)[20], nơi Trấn Thủ Quan làm việc vào thời ấy. Đối với người tây phương đến giảng đạo, nhà thám hiểm hay buôn bán vào đầu thế kỷ 17, họ chỉ hiểu cái tên Dinh Chiêm theo ý nghĩa thứ hai này.

Lúc ban đầu, Chúa Nguyễn Hoàng đặt lỵ sở Dinh Chiêm ở Cần Húc (1602). Cho đến năm 1776, Lê Quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục vẫn cho biết Cần Húc vẫn còn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam.[21] Tuy nhiên, Lê Quang Định viết trong trong Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí (1806) rằng đến đời vua Gia Long, lỵ sở Dinh Quảng Nam đã dời về xã Thanh Chiêm.[22] [23] Đồng thời, Cần Húc xưa kia được đổi tên thành Văn Đông.[24] [25] Ngoài ra, Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 còn cho biết thêm rằng Cần Húc “tiếp giáp xã Thanh Chiêm”.[26] Câu này nói lên rằng Cần Húc và xã Thanh Chiêm khác nhau hoàn toàn tuy nằm kế cận nhau. Nhưng trong mục “Thành Trì”, Đại Nam Nhất Thống Chí lại viết “Đầu bản triều dựng dinh trấn ở xã Thanh Chiêm thuộc huyện Diên Phước.”[27] Thoạt đầu, hai câu này có vẻ mâu thuẫn với nhau. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, từ cái tên “Diên Phước” nói lên rằng câu này được viết sau 1822, vì trong năm đó, vua Minh Mạng (1792-1841) mới bắt đầu đổi tên huyện Diên Khánh ra Diên Phước. Điều này có nghĩa là sau 1822, triều đình vua Minh Mạng công nhận lỵ sở của Dinh Quảng Nam, như đời vua Gia Long trước đây, ở xã Thanh Chiêm thuộc huyện Diên Phước.

Một số nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng vào đầu thế kỷ 17, chúa Nguyễn Hoàng dời lỵ sở Dinh Chiêm khỏi Cần Húc, nhưng họ vẫn thắc mắc về vị trí mới của ly sở Dinh Chiêm thay thế cho Cần Húc. Kể từ 2002 cho đến nay, trong cả hai lần hội thảo, các học giả đã có nhiều bàn cãi sôi nổi về câu trả lời[28]. Thêm vào nữa, trong Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 có nhắc đến Cần Húc và viết rằng xã này đã về sau được đổi tên ra là Văn Đông[29], nhưng lại thêm chi tiết là xã Văn Đông thuộc về Huyện Diên Khánh (sau đổi thành Diên Phước)[30] chứ không phải là Huyện Duy Xuyên nữa. Vậy thì Cần Húc (Văn Đông) đặt vị trí ở đâu, bao giờ thì lỵ sở Dinh Quảng Nam bị dời đổi và quan trọng hơn nữa là vì lý do gì?

Nhưng đối với nhà nghiên cứu như Phạm Đình Khiêm, Phan Khoang, Phan Du và Li Tana, họ cho rằng xã Cần Húc (Văn Đông) về sau này có tên mới là xã Thanh Chiêm[31]. Nhưng một số học giả khác như Ngô Văn Minh và Lê Duy Anh, lại cho rằng Dinh Chiêm luôn luôn trú ngụ tại xã Cần Húc, Huyện Duy Xuyên, nay thuộc xã Mỹ Xuyên và không hề bị dời về xã Thanh Chiêm bao giờ. Ngoài ra, họ cho rằng địa điểm của xã Cần Húc luôn nằm về phía nam sông Câu Lâu thuộc về xã Mỹ Xuyên hay Thị Trấn Nam Phước hiện nay.[32] Cũng có một số nhà nghiên cứu, như Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Phước Tương, Trương Quốc Bình, Nguyễn Thiếu Dũng, Huỳnh Công Bá[33] và Nguyễn Đình Đầu có một suy nghĩ khác và cho rằng, trong vài năm đầu, lỵ sở của  Dinh Chiêm chính nằm trong xã Cần Húc, nhưng sau đó được dời về xã Thanh Chiêm vào năm 1604.[34]

Mặc dù trong cả hai lần hội thảo (2002 và 2016), các học giả Việt Nam đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau về những câu hỏi trên, nhưng cuối cùng có lẽ, theo thời gian cho đến nay, mọi người đều đồng ý với Giáo Sư (GS) Nhật Bản Kikuchi Seiichi, thuộc trường nữ đại học Showa, Tokyo sau khi kiểm nghiệm kỹ lưỡng bức tranh cuộn Chaya Shinroku Kochi toko zukan (bắt đầu từ điểm này, chúng tôi xin gọi là Tranh Chaya – hãy xem Hình 19) và xác nhận rằng cơ sở hành chánh của Dinh Chiêm vào đầu thế kỷ 17 hiện diện trên phường Điện Phương, Thị xã Điện Bàn ngày nay.[35] Nhưng đối với chúng tôi, sự khám phá đầy thú vị này vẫn chưa đủ vì ý nguyện của chúng tôi là muốn tìm hiểu sâu xa hơn thế nữa; chúng tôi muốn tìm ra chi tiết rõ hơn về cố dinh đô Dinh Chiêm từ thuở thành lập cho hết cuối đời nhà Nguyễn. Trước đây lỵ sở nó ở Cần Húc, sau này đi về đâu? Ngoài ra, chúng tôi cũng muốn đi tìm vị trí không những của căn nhà ngang đồ sộ Trạm Thương Khách mà Tranh Chaya cho biết nằm sát bên bờ sông Chợ Củi (Thu Bồn), mà còn thành trì Dinh Chiêm nữa. Chúng tôi cũng muốn tìm hiểu sự lớn mạnh của thành phố Dinh Chiêm vào đầu thế kỷ 17. Chúng tôi không nghĩ nó chỉ giới hạn trong phạm vi thành Dinh Chiêm hay Cần Húc.

Còn một điều nữa cũng rất thú vị là trong Đại Nam Nhất Thống Chí khi trình bày về Phủ Điện Bàn[36] đã nhắc rằng vào năm 1822 dưới đời Vua Minh Mạng, huyện Diên Khánh trong phủ Điện Bàn được đổi tên thành huyện Diên Phước (Diên Phúc). Không lâu sau, Vua Minh Mạng sát nhập địa phận của huyện Duy Xuyên vào với phủ Điện Bàn (1836)[37].

Nói tóm lại, dựa theo Đại Nam Nhất Thống Chí 2006, thành Dinh Chiêm cũ là một cơ sở hành chánh đồ sộ, đắp bằng đất, với chu vi 1,410 m (300 trượng)[38]; còn vị trí lỵ sở của nó nằm ở đâu còn cần nhiều khảo cứu và khám phá mới biết được. Nhưng Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 cũng cho biết thêm rằng Vua Minh Mạng, vào năm 1833, sau khi xây cất xong thành Điện Bàn, từ bỏ thành Dinh Chiêm cũ và dời thành về xã La Qua[39].

Để thống nhất các dữ kiện lịch sử có liên quan đến Dinh Chiêm, chúng tôi tóm tắt những chi tiết vào Bảng 1 như sau:

Năm Biến Cố Ghi Chú
1600 Chúa Nguyễn Hoàng trích huyện Điện Bàn bao gồm 5 xã Tân Phúc, An Nông, Hòa Vinh, Diên Khánh và Phú Châu từ phủ Triệu Phong của Dinh Thuận Hóa, lập thành phủ Điện Bàn và sát nhập phủ mới này vào Trấn Quảng Nam. Ngài cũng đổi tên huyện Hy Giang của phủ Thăng Hoa thành huyện Duy Xuyên; đổi huyện Tư Nghĩa thành huyện Quảng Nghĩa và phủ Hoài Nhơn thành phủ Qui Nhơn. Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quí Đôn, 1776, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 54-55.Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 388, cho biết đến năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng mới chính thức thực hiện những công việc này.Tương tự như vậy, Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Tiền Biên, quyển 1, trang 36, cho biết những chuyện này được thực hiện vào năm 1604.

Kết luận: Vì Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn ra đời sớm hơn các tài liệu lịch sử khác (1776), chúng tôi phải dựa theo những dữ kiện mà Lê Quí Đôn để lại.

1602 Chúa Nguyễn Hoàng đặt Dinh Quảng Nam bao gồm ba phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn. Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, 2006, trang 388.
Lỵ sở Dinh Quảng Nam được đặt ở xã Cần Húc (hay còn gọi là Cần Hào), huyện Duy Xuyên. Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, 2006, trang 431; Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, trang 152 và 185. Vào năm 1776, Lê Quí Đôn vẫn gọi “Cần Húc” hay “Cần Hào”, thuộc huyện “Duy Xuyên” – Thanh Chiêm lúc này chưa được nhắc đến.  Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Q. 1, trang 39 cũng cho biết như vậy. Vào năm 1806, Lê Quang Định viết trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí nhắc đến xã Văn Đông (trang 221).
Chúa Nguyễn Hoàng trao Dinh Quảng Nam cho con thứ sáu Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) trấn giữ. Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quí Đôn, 1776, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 63.
1806 Vua Gia Long đặt tên mới cho Dinh Quảng Nam thành Trực Lệ Quảng Nam Dinh, lệ vào Kinh sư (Huế). Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 388.
Lỵ sở dinh Quảng Nam được dời về xã Thanh Chiêm, huyện Diên Khánh, Phủ Điện Bàn Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 218. Điều này cũng là một cột mốc quan trọng. Bắt đầu từ đây, Dinh Quảng Nam (Dinh Chiêm) có lỵ sở nằm ở xã Thanh Chiêm. Trước đó vào năm 1776, Lê Quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục cho biết lỵ sở dinh Quảng Nam vẫn còn ở xã Cần Húc, trang 152 và 185.Giống như Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Q. 33, trang 758 cũng cho biết như vậy.
Cần Húc bị đổi tên thành Văn Đông, nay lệ thuộc huyện Diên Khánh. Khoảng cách giữa xã Văn Đông và xã Thanh Chiêm là 632 m (316 tầm). Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 431; Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 221, cho biết Văn Đông cách xã Thanh Chiêm 316 tầm. 1 Tầm = 2 m (ibid, trang 13)
Khoảng 1810 Giữa đời Gia Long, thành cũ Quảng Nam (Dinh Chiêm) ở Thanh Liêm được sửa sang đắp bằng đất. Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 432. Đây có phải là lỗi chính tả không?
1812 Trực Lệ Quảng Nam gồm 2 phủ Điện Bàn và Thăng Hoa. Phủ Điện Bàn bao gồm 2 huyện Diên Khánh, Hòa Vang; phủ Thăng Hoa gồm 3 huyện Duy Xuyên, Hà Đông và Lê Dương.Địa bạ Dinh Quảng Nam được thực hiện trong năm này. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Dinh Quảng Nam I (Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), NXB, Đại Học Quốc Gia, 2010. Trang 62.Ibid, trang 59.
1822 Vua Minh Mạng đổi tên huyện Diên Khánh thành huyện Diên Phước.  Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 389.
1827 Vua Minh Mạng đổi Quảng Nam Trực Lệ làm Trấn Quảng Nam; trích tổng Tân An, thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa vào huyện Duy Xuyên, phủ Thăng Hoa. Ibid, trang 388.Ibid, trang 390.
1832 Vua Minh Mạng đổi Trấn Quảng Nam thành Tỉnh Quảng Nam. Ibid, trang 388.
1833 Sau khi xây xong thành Điện Bàn ở xã La Qua, Vua Minh Mạng chuyển lỵ sở Dinh Quảng Nam về đây. Thành cũ bị bỏ.Thành Điện Bàn chu vi 489 trượng (2,298 km) ; cao 1 trượng 2 thước linh (5,64 m); hào rộng 4 trượng 5 thước (21,15 m ), sâu 7 thước linh (3,29 m). ibid, trang 432.Ibid, trang 396.
1836 Vua Minh Mạng thuyên chuyển và sát nhập huyện Duy Xuyên, thuộc phủ Thăng Hoa cho vào Phủ Điện Bàn. Nhà vua trích ra 4 tổng từ huyện Duy Xuyên và tạo thành huyện mới Quế Sơn. Ibid, trang 390-391.Ibid, trang 391.

Bảng 1– Dinh Chiêm trong Quá Trình Lịch Sử

Kết Luận

Trải qua gần 300 năm, bắt đầu từ Chúa Nguyễn Hoàng cho đến 1776, khi Lê Quí Đôn viết Phủ Biên Tạp Lục, Dinh Quảng Nam (tỉnh Quảng Nam hiện nay), được dân gian gọi là Dinh Chiêm, có lỵ sở ở xã Cần Húc, huyện Duy Xuyên. Nhưng thật sự chữ “Dinh” đồng nghĩa với “Trấn” hay “Tỉnh” và có nghĩa là tên của một đơn vị hành chánh rất lớn. Vì thế, Dinh Chiêm cũng có nghĩa là Dinh Quảng Nam mà sau này đến đời vua Minh Mạng được gọi là Tỉnh Quảng Nam. Nhưng đối với các giáo sĩ tây phương hay các nhà vẽ bản đồ, Dinh Chàm hay Dinh Chiêm chỉ là một thành trì lớn hay đô thị  quan trọng thuộc về Dinh Quảng Nam ở Đàng Trong. Điều này được phản ảnh trên các bản đồ của họ.

Sau khi phục quốc và thống nhất đất nước vào năm 1802, vua Gia Long quyết định đặt lỵ sở Dinh Quảng Nam ở xã Thanh Chiêm, thuộc huyện Diên Khánh, Phủ Điện Bàn (1806). Đồng thời, Dinh Quảng Nam trở thành trực lệ kinh sư. Lúc này, cái tên Cần Húc hầu như biến mất, trở thành Văn Đông (1806) mà lỵ sở lại bị sát nhập vào huyện Diên Khánh. Vua Minh Mạng đổi tên huyện Diên Khánh thành huyện Diên Phước (1822). Sau khi thành Quảng Nam mới được dựng lên bằng gạch, ngài dời lỵ sở tỉnh Quảng Nam về xã La Qua (1833) và cuối cùng, sát nhập huyện Duy Xuyên vào với phủ Điện Bàn (1836). Điều này cho thấy, để tránh hoang mang trong sử sách sau này, có lẽ vua Minh Mạng quyết định gom góp hai huyện Diên Phúc và Duy Xuyên vào một phủ vì cả hai, nay đều thuộc về phủ Điện Bàn.

Thêm vảo nữa, sự sát nhập của làng xã từ huyện này qua huyện khác đã gây ra hoang mang trong lịch sử, thí dụ xã Cần Húc, trước kia lệ thuộc huyện Duy Xuyên (trước 1776), sau bị đổi tên thành Văn Đông (1806) và chuyển qua huyện Diên Khánh (1812). Trong khi đó, ngược lại, các xã nằm giữa biên giới giữa hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh, như Câu Lâu, Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, Gia Tịnh, Lang Châu và Bàn Thạch trước đó lệ thuộc vào huyện Diên Khánh (trước 1776); sau đó chuyển về lại với huyện Duy Xuyên (1812)[40]. Đó là không kể chuyện đổi tên huyện từ “Diên Khánh” sang “Diên Phước” (1822), cũng như sự thiếu sót những tài liệu về địa bạ, tên tuổi và ranh giới các làng, xã, tổng, huyện trong các thế kỷ trước đây. Nhất là sau hơn 30 năm nội chiến, Trịnh Nguyễn phân tranh và Tây Sơn nổi dậy, chúng tôi nghĩ những tài liệu lịch sử bị thất lạc hay đốt cháy rất nhiều. Đối với các sử gia hiện đại hay nhà nghiên cứu, để tìm hiểu và tháo gở ra nắm bùi nhùi này thật là một chuyện tương đối rất khó khăn.

Phương Pháp Nghiên Cứu

Bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ được chia làm bốn phần chính:

Phần 1 – Vị Trí của Dinh Chiêm trong Các Bản Đồ Cổ

Trong phần này, chúng tôi sẽ sưu tầm 6 tấm bản đồ cổ. Ngoại trừ tấm bản đồ của Cantelli-Rossi xuất bản năm 1683, chúng tôi sẽ tham khảo các bản đồ bắt đầu trong thế kỷ 19 trở lên. Vì chúng tôi cho rằng trước thế kỷ 19, các bản đồ trước đây đều thiếu độ chính xác về kinh độ. Chúng tôi sẽ loại bỏ những bản đồ cổ xuất bản trước thế kỷ này. Những bản đồ được lựa chọn đều ghi rõ vị trí của thành phố Dinh Chiêm. Sau khi ghi nhận và phân tích tọa độ của thành phố Dinh Chiêm từ các bản đồ cổ, chúng tôi sẽ loan báo và so sánh khoảng cách giữa Dinh Chiêm và Hội An với dữ kiện lịch sử mà các giáo sĩ, ngoại giao hay thám hiểm đã viết lại trong sách vở của họ.

Phần 2 – Cần Húc Ở Đâu?

Công việc thứ hai mà chúng tôi dự định thực hiện là tìm cho ra vị trí của xã Cần Húc trong bản đồ hiện đại mà dưới đời vua Gia Long đổi tên nó thành Văn Đông. Đây là một việc tương đối quan trọng vì là cột mốc để xem như là việc bắt đầu trong công cuộc đào xới lịch sử nhà Nguyễn. Tuy câu trả lời lúc đầu có vẻ khó khăn, như những nhà nghiên cứu tiên phong cũng đã từng trải qua, chúng tôi nghĩ mình đã tìm ra hai cách để tìm hiểu ra vị trí thực thụ của xã Cần Húc, đó là vì chúng tôi tìm ra một tấm bản đổ dưới thời Pháp thuộc (1907-1916) có ghi rõ vị trí của xã Văn Đông tức Cần Húc (Hình 7). Cách thứ hai là dùng Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí do Lê Quang Định viết năm 1806 để tính toán ra vị trí của trạm nghỉ Thanh Chiêm, xã Thanh Chiêm, xã Văn Đông và đầm Thanh Hà. Từ đầm Thanh Hà là nơi địa điểm bắt đầu và cố định, chúng tôi theo Google Map để tìm ra vị trí của các làng xã khác – trong quyển địa lý này, tất cả tên tuổi và khoảng cách của chúng đều được viết rất rõ ràng bằng đơn vị đo chiều dài “tầm”[41].

Trong Phần 2, chúng tôi cũng nghiền ngẫm một ý tưởng mới lạ đưa ra trong bài viết của Ngô Văn Minh với tựa đề “Về Vị Trí Lỵ Sở Quảng Nam Năm 1602” đăng trên tập san Nghiên Cứu Lịch Sử, số 1.2004. trong bài viết, ông đã nêu lên một thí dụ lịch sử mà chúng tôi cho là rất quí báu từ gia phả tộc Nguyễn Văn sống trong xã Câu Lâu, đó là một dòng chữ “Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc, Diên Khánh huyện, Uất Lũy tổng, hậu cải Duy Xuyên huyện, Quảng Nam tỉnh”. Trong phần đầu “Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc…” mang hai ý nghĩa nói rằng Cần Húc ngày xưa không chỉ là một xã tầm thường mà là một châu thổ do phù sa bồi bổ và lắng đọng tại cửa sông do sự giao thông giữa sông Cầu Mống và một con sông cổ. Đồng thời, Cần Húc cũng là tên của một thuộc – thuộc là một đơn vị hành chánh tương đối to lớn tương đương với tổng dựa theo nghề nghiệp và trực lệ kinh sư Huế – bao gồm lãnh thổ của chính nó và, tối thiểu, có xã Câu Lâu là thành viên. Nếu đã lệ vào cùng thuộc Cần Húc, trong quá khứ cả hai đều đã từng lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên vì trước 1776, xã Cần Húc trực thuộc huyện Duy Xuyên.  Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu và phân tích về hai dữ kiện thú vị liên quan đến Cần Húc như trên.

Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ dùng sử liệu mang đến từ Đại Nam Nhất Thống Chí. Nhưng ngay cả một số chi tiết nhỏ trong các bản dịch Đại Nam Nhất Thống Chí cũng không thống nhất cho lắm vì có sự khác biệt, tuy nhỏ nhặt, nhưng khiến cho độc giả hoang mang trong các bản dịch ra từ đời vua Tự Đức ấn hành vào năm 2006 so sánh với bản từ đời vua Duy Tân ấn hành vào năm 1964, thí dụ như trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006 viết xã Cần Húc nằm gần xã Thanh Chiêm, nhưng trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 1964 có chỗ lại cho rằng xã Thanh Chiêm chính là lỵ sở Dinh Chiêm lúc ban đầu triều Nguyễn mà không nhắc nhở gì đến xã Cần Húc.[42] Có nhiều chi tiết diễn tả trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006 nhưng lại thiếu trong bản dịch 1964. Ngay cả các chi tiết trong các bản dịch Phủ Biên Tạp Lục do Lê Quí Đôn viết cũng có khúc mắc. Vì thế, khi cần, chúng tôi sẽ dùng một ấn bản mà thôi, rồi cố gắng tìm tòi các sử liệu khác, cùng thời để giải tỏa các khiếm khuyết này.

Theo chúng tôi nghĩ, có một số chi tiết quá cô đọng viết trong Đại Nam Nhất Thống Chí đã gây hoang mang và nhiều tranh cãi trong giới trí tức tại Quảng Nam và cả nước, thí dụ như cái tên “Dinh Chiêm”. Có một số nhà nghiên cứu gọi Dinh Quảng Nam là Dinh Chiêm, còn một số khác muốn gọi nó là Dinh Trấn Thanh Chiêm. Để nhấn mạnh cái tên tục Dinh Chiêm như đã được các giáo sĩ dòngTên[43] thường dùng trong đầu thế kỷ 17, chúng tôi sẽ dùng từ “Dinh Chiêm” để ấn định Dinh Quảng Nam mà cũng là cái tên tục của thành phố Quảng Nam (Quinam). Còn cái tên Cần Húc hay Văn Đông thì sao? Vị trí của chúng và quá trình lịch sử của chúng là như thế nào? Hay nói một cách khác là tại sao cách Chúa Nguyễn lại chuyển cơ sở hành chánh dinh trấn đi nơi khác để cuối cùng xây dựng một thành lũy kiên cố Dinh Chiêm ở miền nam Điện Bàn. Vậy thì vị trí thành Dinh Chiêm ở đâu? Có phải là nó tọa ngự tại xã Thanh Chiêm hay không? Tuy Tranh Chaya cho chúng ta biết vào năm 1640, căn nhà Thương Khách nằm sát bên bờ Sông Chợ Củi, nhưng vị trí của nó ở đâu trong phường Điện Phương nay vẫn còn là một nghi vấn. Nếu tìm ra vị trí ngôi nhà này, chúng tôi hy vọng sẽ tìm thấy thành Dinh Chiêm vì chúng tôi nghĩ chúng nằm rất gần nhau. Một câu hỏi không kém quan trọng là lỵ sở Dinh Chiêm, trong lịch sử nhà Nguyễn, là Cần Húc (Văn Đông) được sát nhập vào với Huyện Duy Xuyên, nhưng trong một thời gian dài sau đó, nó lại thuộc về huyện Diên Khánh (Diên Phước). Sự kiện này khiến chúng tôi, những nhà nghiên cứu hiện đại phải chóng mặt, hoa mắt. Tuy vậy, chúng tôi không bao giờ cho rằng các sử quan nhà Nguyễn đã viết một cách sai lầm hay Lê Quí Đôn lầm lẫn. Chúng tôi chỉ nghĩ rằng sau khi học hỏi về sự thay đổi của sông ngòi ở miền nam Điện Bàn, nhất là hai con sông Câu Lâu và Cầu Mống[44], những câu trả lời thích đáng sẽ hiện ra để giải tỏa sự ham muốn tìm hiểu sự thật trong lịch sử.

Ngoài Đại Nam Nhất Thống Chí, để đưa ra những nhận xét và kết luận xác đáng, chúng tôi sẽ cần rất nhiều tài liệu lịch sử khác như Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806) do Lê Quang Định viểt; Phủ Biên Tạp Lục (1776) và Kiến Văn Tiểu Lục Toàn Tập do Lê Quí Đôn viết và cả Đại Nam Thực Lục (1821-1909). Sau đó, chúng tôi sẽ sưu tầm trong mạng hầu hết các bản đồ cổ liên quan đến Hội An; chúng tôi sẽ chú tâm nhất vào vùng nam Điện Bàn và các phụ cận về hướng nam của nó vì vùng đất này, nói chung là dinh đô của Trấn Quảng Nam – Dinh đô này bắt đầu vào năm 1602, khi Chúa Nguyễn Hoàng ghé qua Cần Húc và rất hứng thú với phong cảnh nơi đây. Dựa theo ngày tháng, chúng tôi sẽ bắt đầu bằng với Tranh cổ Chaya hiện đang cất giữ tại Chùa Jomyo-ji được vẽ rất tỉ mỉ khoảng năm 1640[45] do một thương nhân Nhật từng sống nhiều năm tại Hội An –hãy xem Hình 19. Sau đó, chúng tôi sẽ sưu tầm tấm bản đồ cổ điễn Đại Việt Thiên Nam Chí Lộ Đồ Thư (1686). Đây là một tấm địa đồ cổ nhất trong lịch sử Đại Việt – hãy xem Hình 12; tấm bản đồ người Anh có tựa đề Plan of Touron Harbour do Capt. Arthur Gore và Philip Bromfield vẽ (1764) – hãy xem Hình 26;  tấm Giáp Ngọ Nguyên Bình Nam Đồ (1774) trong Hồng Đức Bản Đồ – hãy xem Hình 18[46]; tấm bản đồ nhỏ từ đời vua Đồng Khánh (1886-1888) –hãy xem Hình 23; sau đó là tấm bản đồ khá quan trọng đối với chúng tôi. Trong khoảng thời gian 1907-1916, chính quyền Pháp Thuộc bận rộn xây cất một đường xe lửa nối liền hai thành phố Đà Nẵng và Hội An. Điều mà chúng tôi cảm thấy lí thú về tấm bản đồ này (Hình 7) là nó cung cấp rất đầy đủ tên các làng, xã, huyện của các vùng chung quanh Hội An, kể cả Điện Bàn,Vĩnh Điện, v.v… Quan trọng hơn nữa là bản đồ này cho thấy vị trị của xã Văn Đông (chính là xã Cần Húc ngày xưa) nằm bên bờ bắc (tả ngạn) sông Cầu Mống – Tên con sông Cầu Mống được trích ra từ bản đồ quân sự Hoa Ky vẽ vào năm 1972-1984 (Hình 24); tiếp sau đó là hai tấm địa đồ vùng Điện Bàn được giới thiệu trong luận án Tiến Sĩ của Huỳnh Thị Bảo Châu (2012) cũng rất quan trọng đối với công việc nghiên cứu chúng tôi về địa lý và địa hình của vùng nam Điện Bàn trong đầu thế kỷ 17 và 20 – Hình 9 và 27. Rất tiếc, tấm bản đồ thuộc địa này cũng cho thấy vào năm 1930, thành Dinh Chiêm cổ xưa đã bị san bằng. Để hiểu rõ những thay đổi và tiến triển trong một gian ngắn về địa hình tại miền nam Điện Bàn, chúng tôi kết hợp hai Hình 7 và 27 vào với nhau trong Hình 28. Đồng thời, trong vòng 23 năm (1907-1930) đã có sự tiến triển vượt bực trong giao thông toàn quốc, nói chung, và nam Điện Bàn, nói riêng, dưới thời Pháp thuộc. Con đường đất mòn Thiên Lý[47] nằm bên bờ tường Dinh Chiêm cũ đã được thay thế bằng Quốc Lộ (QL) Số 1 chạy xuyên qua giữa nội thành Dinh Chiêm, khiến thành Dinh Chiêm hầu như bị phá hủy và không còn nguyên vóc dáng như xưa nữa. Tuy nhiên, thế vào đó, chính quyền Pháp đã xây dựng “Dinh ấp Thanh Chiêm” cho xã Thanh Chiêm. Điều này nói lên tầm mức quan trọng của Thanh Chiêm vào thời ấy. Khi góp nhặt chi tiết từ hai tấm bản đồ 1907 và 1930, chúng ta có thể mường tượng ra vóc dáng đồ sộ của thành Dinh Chiêm thuở nào. Từ hai tấm bản đồ này, chúng tôi nghĩ chúng tôi có thể vẽ lại sơ đồ của nội thành Dinh Chiêm cùng với vị trí của nó so với Đường Thiên Lý ngày xưa (trước khi chính quyền Pháp Thuộc xây cất Quốc Lộ Số 1).

Phần 3 – Sự Thay Đổi lệ thuộc của Các Xã giữa Huyện Duy Xuyên và Huyện Diên Khánh

Mục đích của Phần 3 là đi tìm hiểu sự liên hệ trong hành chánh giữa hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh mà trong đó, một số xã từng lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên, nhưng vì một lý do nào đó chuyển lệ sang huyện Diên Khánh. Chúng tôi muốn biết lý do gì mà triều đình họ Nguyễn lại làm như thế. Bắt đầu từ xã Cần Húc, vào thời lập quốc 1602, chúa Nguyễn Hoàng lệ thuộc nó vào với huyện Duy Xuyên. Nhưng đến năm 1776, Lê quí Đôn cho biết trong Phủ Biên Tạp Lục là xã Cần Húc vẫn giữ lệ cũ trong huyện Duy Xuyên,[48] nhưng có một số xã trong huyện Duy Xuyên lại thay đổi và lệ theo huyện Diên Khánh. Mãi sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, sau khi xã Cần Húc mới bị đổi tên ra Văn Đông (1806),[49] [50] xã Thanh Chiêm trở thành lỵ sở của Dinh Quảng Nam và lệ thuộc huyện Diên Khánh.[51]

Hiện tại, chúng tôi nghi ngờ rằng sự chuyển hướng về lỵ huyện trong hành chánh của một số xã như Câu Lâu, Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, Bàn Thạch, v.v… có liên quan đến bồi, lở của sông ngòi ở miền nam Điện Bàn. Khi quan sát một số bản đồ cổ như tranh Chaya, Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (1686) hay Giáp Ngọ Bình Nam Đồ (1774), chúng tôi nhận thấy rằng địa hình vùng nam Điện Bàn thay đổi rất nhiều trong suốt 400 năm qua. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tìm hiểu nguyên do của những thay đổi trong sông ngòi để cuối cùng có thể đưa ra một lời kết luận thích đáng.

Phần 4 – Cuộc Tìm Kiếm Thành Dinh Chiêm và Trạm Thương Khách Dưới Thời Các Chúa Nguyễn

Trước hết, chúng tôi đặt giả thiết là Chúa Nguyễn Hoàng, trước khi thành lập dinh trấn ở nam Điện Bàn sẽ khảo sát địa thế vùng đó rất kĩ càng. Dựa theo những dữ kiện sẵn biết về Dinh Chiêm như địa điểm lúc ban đầu của nó, thí dụ như vị trí của Cần Húc, Thanh Chiêm, Điện Phương Đông-Tây và nhất là con đường Thiên lý chạy thẳng về phía tây nam trong vùng nam Điện Bàn, chúng tôi sẽ dùng website www.floodmap.net để thu thập cao độ của những nơi này. Từ website www.floodmap.net, dữ kiện mà chúng tôi muốn thu lượm là độ cao của một hay nhiều điểm trên tuyến đường Thiên Lý và các vùng chung quanh vì chúng tôi nghĩ, đất đai cao độ thì xác suất sẽ có phần cao hơn để Chúa Nguyễn xây dựng thành Dinh Chiêm hay Trạm Thương Khách trên đó. Chúng tôi cũng nghĩ rằng sau khi tìm ra dinh thự, chúng tôi sẽ tìm thấy Trạm Thương Khách hay ngược lại vì chúng có khả năng nằm rất gần nhau.

Dựa vào tin tức mới về sự khám phá của các nhà bác học vào năm 2015 về dấu tích của hệ thống sông ngòi ngầm dưới những bãi sa mạc trong vùng Sahara ở Phi Châu bằng cách chụp hình vệ tinh, chúng tôi cũng đặt lên một giả thuyết mới rằng tương tự như thế, chúng tôi hy vọng dùng những hình ảnh vệ tinh tải xuống tư Google Map, chúng tôi có thể nhận diện hầu hết các vùng sình lầy, sông ngòi, đầm hồ hay ruộng vườn trong vùng nam Điện Bàn được bồi đắp hay sạt lở trong vòng mấy trăm năm nay. Một trong những mục đích chính của chúng tôi là hy vọng tìm ra được bờ sông Chợ Củi nằm gần sát thành Dinh Chiêm trong thế kỷ 17.  Ngoài ra, qua kết quả thâu lượm từ www.floodmap.net chúng tôi cũng mong muốn tìm thấy tiềm năng của một vài vùng đất cao chung quanh miền nam Điện Bàn mà chúng có thể được dùng trong việc xây cất căn nhà thương khách đồ sộ nằm bên bờ sông Chợ Củi như trong tranh Chaya. Dựa vào lịch trình tiến hóa và biển đổi của sông ngòi chung quanh nam Điện Bàn, nhất là của bốn dòng sông Chợ Củi, Câu Lâu,  Dưỡng Chân và Cầu Mống. Chúng tôi lựa chọn bốn dòng sông quan trọng này để học hỏi là vì sự thay đổi về chiều rộng của các bờ sông, lẫn chiều hướng chảy của chúng trong quá trình lịch sử phản ảnh trên các bản đồ cổ có thể sẽ cho chúng tôi những khám phá thích thú. Chúng tôi đặt ra giả thuyết rằng chính sự thay đổi của những dòng sông này, có lúc bồi, có lúc sạt lở, và cũng có lúc khô cạn sẽ đưa ra những câu trả lời xác đáng về những dữ kiện lịch sử, thí dụ như trong lịch sử xã Câu Lâu hay Mỹ Xuyên có lúc thuộc về huyện Duy Xuyên, nhưng theo thời gian sau đó, lại có khi chúng thuộc về xã Diên Khánh[52]. Nói một cách tổng quát, chúng tôi muốn trở về quá khứ để nhận diện ra địa hình của các con sông như Cầu Mống, Câu Lâu, Thu Bồn, Dưỡng Chân, Bà Rén, v.v… nhất là sau những mùa lụt lội trong lịch sử nam Điện Bàn. Sau khi nhận dạng ra chúng trong hình chụp vệ tinh, dựa vào các sách vở lịch sử cùng với các bản đồ cổ, chúng tôi hy vọng sẽ khám phá ra vị trí, địa thế và địa hình xưa kia của làng, xã, thôn như Cần Húc (Văn Đông),Thanh Chiêm, thành Dinh Chiêm, Phú Chiêm, Đông An, Chợ Củi v.v… trong nhiều thế kỷ trước. Sau đó, để đưa đến nhưng phần kết luận chính xác về chúng trong mỗi thời gian, chúng tôi sẽ sưu tầm hầu như tất cả các bản đồ xưa vẽ vào nhiều thế kỷ trước có liên quan đến Hội An, Dinh Chiêm hay Đà Nẵng. Chúng tôi hy vọng một trong những bản đồ cổ sẽ chứa đựng nhiều dữ kiện về thành Dinh Chiêm và trạm thương khách. Sau khi tìm ra dữ liệu trong các bản đồ cũ, chúng tôi sẽ đối chiếu và minh định những dữ kiện này trong các sách sử như Đại Nam Nhất Thống Chí, Phủ Biên Tạp Lục, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Đại Nam Thực Lục hay chính trong Tranh Chaya. Ngoài ra, chúng tôi cũng không quên tra cứu những tài liệu hữu ích từ các danh nhân, nhà thám hiểm đã từng đặt chân đến Hội An, thành phố Dinh Chiêm hay các vùng phụ cận như Quán Sứ Hà Lan Jeronimus Wonderaer (1602),  G.S. Alexandre de Rhodes (1640), William Dampier (1688), Thiền Sư Thích Đại Sán (1695) và Charles Chapman (1778). Dùng nhiều dữ kiện khác nhau nhưng chỉ điểm cùng phương hướng, chúng tôi hy vọng rằng cuối cùng chúng tôi sẽ thành công trong việc nhận dạng thành Dinh Chiêm và Trạm Thương Khách trên bản đồ nam Điện Bàn.

Phần 1

Vị Trí của Thành Phố Dinh Chiêm trong Các Bản Đồ Cổ

Mục đích chính của chúng tôi trong Phần 1 là để tìm hiểu một cách tổng quát về vị trí của thành Dinh Chiêm (còn gọi là Dinh Chàm, hay Caciam (Kẻ Chàm)) dưới ánh mắt của người ngoại quốc qua những tấm bản đồ cổ. Dựa theo nhiều nhân chứng lịch sử kể cả Quán Sứ Hà Lan Jeronimus Wonderaer (1602)[53]  G.S. Alexandre de Rhodes (1640)[54], Thiền Sư Thích Đại Sán (1695)[55], Charles Chapman (1778)[56], Phạm Đình Khiêm (1958)[57], v.v… tất cả đều cho biết thành Dinh Chiêm nằm rất gần Hội An ở phía tây, hay chính xác hơn, một số họ còn cho biết hai thành phố này cách xa nhau khoảng 9 km (6 miles) bằng đường thủy. Vì thế, chúng tôi sẽ dùng con số này và so sánh với những kết quả từ 6 cái bản đồ cổ mà chúng tôi sưu tầm trong mạng.

Trong lúc lựa chọn các bản đồ cổ, ngoại trừ tấm bản đồ cổ do Cantelli-Rossi vẽ năm 1683 – chúng tôi lựa chọn nó vì nó có vẻ chính xác và tương đối có nhiều chi tiết về địa hình của Hội An và Dinh Chiêm, chúng tôi sẽ loại bỏ các bản đồ cổ xưa hơn trong thế kỷ 16, 17 và 18. Lý do là vì cho đến đầu thế kỷ 19, các nước như Anh và Pháp mới sở hữu những phương thức tính toán kinh độ một cách chính xác trên hàng hải. Cho mãi đến năm 1884, cả thế giới mới công nhận đường kinh tuyến chính 0º chạy dài qua thành phố Greenwich, Anh Quốc là tiêu chuẩn quốc tế. Vì thế, trong một số bản đồ cổ, chúng tôi phải thay đổi hệ thống kinh tuyến của các quốc gia khác sang vị trí tại Greenwich.

Trên mỗi bản đồ, nếu có thể được, chúng tôi sẽ dùng nhãn quang để đọc tọa độ của ba thành phố: Đà Nẳng, Hội An và Dinh Chiêm – tuy vẫn biết rằng cách đo đạc tọa độ từ các bản đồ cũ, đôi khi rách nát, hay nhăn nheo có thể sẽ đưa đến những địa điểm thiếu chính xác, nhưng chúng tôi vẫn phải cố gắng tận sức mình. Sau đó, chúng tôi sẽ tính khoảng cách chim bay giữa Hội An và Dinh Chiêm để xem nó có chính xác hay không khi so sánh với con số 8-9 km trong các tài liệu lịch sử. Một điều quan trọng nữa là chúng tôi muốn biết vị trí tương cận của hai thành phố này, đó là chúng nằm cùng một bên phải (hữu ngạn) hay trái (tả ngạn) bên bờ sông Thu Bồn.

  1. Bản Đồ Cantelli-Rossi 1683

Hình 1  – Bản Đồ Cantelli-Rossi, 1683

Năm 1683 (Cantelli-Rossi)
Vĩ Độ Kinh Độ
Hội An 15,625 108,328
Đà Nẳng 15,857 108,09
Dinh Chàm 15,732 107,664
  1. Bản Đồ của Rigobert Bonne, 1771

Hình 2– Bản Đồ Rigobert Bonne, 1771

1771 (Rigobert Bonne)
Vĩ Độ Kinh Độ
Hội An 15,70 107,933
Đà Nẳng 15,875 107,68
Dinh Chàm 15,575 107,7
  1. Bản Đồ của John Cary, 1801

Hình 3– John Cary, 1801

Năm 1801 (John Cary)
Vĩ Độ Kinh Độ
Hội An 15,778 108,0867
Đà Nẳng 15,98 107,947
Dinh Chàm 15,542 107,615
  1. Bản Đồ của Philippe Vandermaelen, 1827

Hình 4 – Philippe Vandermaelen, 1827

Năm 1827 (Philippe Vandermaelen)
Vĩ Độ Kinh Độ
Hội An 15,99 108,25
Đà Nẳng 16,10 108,09
Dinh Chàm 15,889 108,007
  1. Bản Đồ của John Arrowsmith, 1844

Hình 5 – John Arrowsmith, 1844

Năm 1844 (John Arrowsmith)
Vĩ Độ Kinh Độ
Hội An 15,83 108,00
Đà Nẳng 16,00 107,84
Dinh Chàm 15,64 107,625
  1. Bản Đồ của John Dower, 1844

Hình 6 – John Dower, 1844

Năm 1844 (John Dower)
Vĩ Độ Kinh Độ
Hội An 15,87 108,03
Đà Nẳng 16,05 108,00
Dinh Chiêm 15,68 107,67

Kết Quả

Sau đây là một vài nhận xét của chúng tôi sau khi tra cứu rất kỹ lưỡng những bản đồ trên:

  1. Tất cả các bản đồ đều cho biết Hội An và thành Dinh Chiêm nằm cùng bên bờ bắc (tả ngạn) của sông Thu Bồn. Đây là kết luận của các nhà nghiên cứu đương thời sau buổi hội thảo vào năm 2016. Chúng tôi đồng ý với họ về điểm này.
  2. Tọa độ của ba thành phố Đà Nẵng, Hội An và Dinh Chiêm từ các bản đồ cổ (Hình 1-6) không chính xác. Kết quả từ các bản đồ cổ cho thấy khoảng cách giữa Dinh Chiêm và Hội An là từ 28 km đến 72 km, xa hơn 8-9 km mà chúng tôi ghi nhận từ sách vở của các giáo sĩ Ki tô Giáo, các nhà ngoại giao hay nhà thám hiểm vào thời xưa. Tuy nhiên, từ những bản đồ xưa, chúng ta biết vị trí liên đới giữa những thành phố này rất mật thiết với nhau. Hãy xem Bảng 2 với những kết quả được tóm tắt sau đây:
Số Bản Đồ Khoảng Cách từ Hội An đến Dinh Chiêm (Km/Miles) Dinh Chiêm Vĩ/Kinh Độ
 1 Cantelli-Rossi 1683 72 45 (15,732,107,664)
2 Rigobert Bonne, 1771 28 18 (15,575,107,700)
3 John Cary, 1801 56 35 (15,542,107,615)
4 Philippe Vandermaelen, 1827 28 18 (15,889,108,007)
5 John Arrowsmith, 1844 45 28 (15,640,107,625)
6 John Dower, 1844 44 27 (15,680,107,670)

Bảng 2 – Khoảng Cách Đường Chim Bay giữa Dinh Chiêm và Hội An từ Các Bản Đồ Xưa

Mặc dù tấm bản đồ Cantelli-Rossi 1683[58] xa xưa nhất, nhưng lại cho thấy nhiều chi tiết nhất. Trên bản đồ này, chúng ta có thể thấy đầm Thanh Hà nằm giữa Hội An và Dinh Chiêm. Chi tiết này trên tấm bản đồ Cantelli-Rossi thật rõ. Ngoài ra, chúng tôi còn có thể nhận ra được Phú Chiêm nằm về phía đông của Dinh Chiêm. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Hội An và Dinh Chiêm có phần lệch lạc, cách xa nhau khoảng 72 km.

Cả hai tấm bản đồ Rigobert Bonne, 1771 và Philippe Vandermaelen, 1827 cho ra cùng một kết quả kề cận nhất, đó là 28 km. Nhưng so với 8-9 km như mong muốn, con số này vẫn còn rất cao và không chính xác.

 

Phẩn 2

Cần Húc Ở Đâu?

Đây là câu hỏi khúc mắc trong nhiều năm nay mà các nhà nghiên cứu thường băn khoăn, bứt rứt hơn 60 năm nay. Ngoài ra, xưa nay các nhà nghiên cứu cũng muốn biết sự quan hệ giữa Cần Húc ở huyện Duy Xuyên và Thanh Chiêm ở huyện Diên Khánh. Thoáng nhìn hai cái tên cho thấy dường như chúng là hai đia địa phận riêng biệt vì chúng lệ vào hai huyện hoàn toàn khác nhau. Nhưng các nhà nghiên cứu thường tự hỏi phải chăng chúng là chỉ là một địa phương, nhưng có hai tên khác nhau? Nhưng nếu Cần Húc chính là Thanh Chiêm thì tại sao lại có sư thay đổi trực lệ từ huyện Duy Xuyên qua huyện Diên Khánh? Bắt đầu vào năm 1958, nhà nghiên cứu Phạm Đình Khiêm ra tận Thanh Chiêm, tỉnh Quảng Nam để điều tra và tìm hiểu thêm về cái chết của Thầy Giảng Anrê Phú Yên. Sau khi trở về, ông loan báo là Thanh Chiêm chính là sử danh của Cần Húc xưa kia. Dĩ nhiên, có một số nhà nghiên cứu không đồng ý với quan điểm này và vì vậy họ tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi để đưa đến câu trả lời thích đáng. Đến năm 1995, Sử Gia Huỳnh Công Bá, sau khi tốn nhiều thì giờ điều tra, đã kết luận rằng Cần Húc không phải là Thanh Chiêm mà hơn nữa, sau này đến đời vua Tự Đức (1829-1883), nó đổi tên thành “Cồn Úc”, một xứ trong xã Văn Đông.  Riêng nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Duy lại nghĩ rằng Cần Húc là ký âm của “Kan Hu”; trong tiếng Chăm có nghĩa là lò luyện đúc đồng. Chúng tôi đồng ý với sự suy nghĩ này của hai nhà nghiên cứu Huỳnh Công Bá và Nguyễn Sinh Duy, và sẽ tìm cách định vị xã Cần Húc vào đầu thế kỷ 17.

Dựa vào lịch sử chúng tôi biết rằng xã Cần Húc vẫn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam trong thời nội chiến giữa nhà Nguyễn và Tây Sơn (1773-1802)[59]. Trong đời vua Gia Long, vào năm 1806, Lê Quang Định trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí bắt đầu giới thiệu hai cái tên Văn Đông[60]và Thanh Chiêm trong sử sách và quan trọng hơn, cho biết xã Cần Húc không còn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam nữa. Bắt đầu từ đó, xã Thanh Chiêm chính thức trở thành lỵ sở của Dinh Quảng Nam.[61] Trong Địa Bạ Quảng Nam viết năm 1812, Nguyễn Đình Đầu cho biết diện tích của xã Văn Đông là 11.1.11.6.1 (khoảng 5 ha)[62] so với xã Thanh Chiêm (248.8 4.1 – khoảng 121 ha).[63] Điều này cho thấy tầm mức quan trọng của xã Thanh Chiêm đối với ngoại thương dưới thời vua Gia Long và cho chúng ta thấy rằng trong lịch sử xã Cần Húc (nay trở thành xã Văn Đông) không phải là xã Thanh Chiêm. Tuy đã hiểu nhiều hơn về cả hai xã riêng biệt này, chúng tôi vẫn muốn biết vị trí của chúng ở đâu trong Dinh Quảng Nam vì chúng tôi vẫn thắc mắc tại sao chúng lại lệ thuộc vào hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh hoàn toàn khác nhau như vậy.

Hiện tại, chúng tôi đã nghĩ ra 2 cách để tìm ra vị trí của xã Văn Đông (tức là xã Cần Húc vào đầu thế kỷ 17).

Cách 1 – Hãy xem Hình  7 – Thành Dinh Chiêm Tồn Tại dưới Thời Pháp Thuộc (1907-1916). Giữa hình, cái tên xã Văn Đông được vẽ và bao lại trong vòng tròn đỏ. Đó là vị trí xã Văn Đông (tức là xã Cần Húc vào đầu thế kỷ 17-19) ở phía tây nam của xã Phú Chiêm, đối diện với xã Câu Dẫn (ngày xưa là xã Câu Lâu), cách nhau qua con sông Cầu Mống. Diện tích xã Văn Đông vào năm 1812 rất bé nhỏ, chỉ khoảng 5 ha.[64]

Hình 7 – Thành Dinh Chiêm Tồn Tại dưới Thời Pháp Thuộc (1907-1916); Nguồn: Alamy.com

Cách 2 – Chúng tôi sẽ dùng những khoảng cách giữa các xã như xã Thanh Chiêm, xã Văn Đông và trạm nghỉ Thanh Chiêm đến đầm Thanh Hà đều được cung cấp trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí do Lê Quang Định viết năm 1806. Sau đó, dùng đầm Thanh Hà như là một cột mốc vì nó tương đối không thay đổi với chiều rộng là 138 m, chúng tôi sẽ dùng Google Map để đo khoảng cách giữa bến đò Thanh Hà và xã Văn Đông (2.270 m)[65];  giữa xã Văn Đông và xã Thanh Chiêm (632 m)[66] và giữa xã Thanh Chiêm và Trạm Nghỉ Thanh Chiêm (846 m).[67] – các khoảng cách đều được đổi ra từ tầm ra mét (1 tầm = 2 mét). Cuối cùng, chúng tôi sẽ tìm ra vị trí và tọa độ của xã Văn Đông, xã Thanh Chiêm and trạm nghỉ của nó. Nhưng chúng tôi muốn lưu ý rằng trong việc tính toán toạ độ của các vị trí lịch sử này, chúng tôi sẽ đặt ra giả thiết rằng tuyến đường Nguyễn Du chính là con đường đất bọc theo phía nam thành Dinh Chiêm ra đến Văn Đông (Hình 7) mà Phạm Đình Khiêm đã nhắc đến khi ông ra Thanh Chiêm tìm hiểu về thành phố Dinh Chiêm.[68] Mặc dù, đường Nguyễn Du không phải là con đường đất ngày xưa, nhưng chiều dài và đường hướng của chúng, chúng tôi nghĩ, cũng không cách biệt cho lắm. Hãy xem kết quả ghi nhận trên Google Map (Hình 8) sau đây.

Hình 8 – Cần Húc (Văn Đông) ở Đâu? Nguồn: Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806) và Google Map

Kết quả:

Những dữ kiện trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806), Địa Bạ Quảng Nam (1812) liên quan đến Văn Đông (xưa kia là Cần Húc) và xã Thanh Chiêm được vẽ trên Hình 8 cho thấy hai xã này nằm tiếp cận nhau trên con đường Nguyễn Du hướng về Hội An; khoảng cách giữa hai địa phương này là 632 m (hơn nửa cây số)[69]. Chỉ cần dùng Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806), nay chúng tôi có thể xác định một cách rõ ràng rằng xã Cần Húc và xã Thanh Chiêm không phải là một. Có lẽ nhiều năm trước, các sử quan trong các đời sau nhà Nguyễn không thể tìm ra vị trí của Cần Húc (Văn Đông) nữa, hay cho rằng hai xã Cần Húc và Thanh Chiêm nằm quá gần nhau nên mới gán hai xã này với nhau. Giả thiết này có vẻ phù hợp và phản ảnh trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006, nhưng lại không trùng hợp với thống kê địa lý của hai xã vào năm 1806 do Lê Quang Định thực hiện trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi đồng ý với Lê Quang Định viết vào năm 1806 và tán thành lối kết luận của các nhà nghiên cứu thâm niên Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Phước Tương, Trương Quốc Bình, Nguyễn Thiếu Dũng, Huỳnh Công Bá và Nguyễn Đình Đầu (rằng xã Cần Húc và xã Văn Đông nằm ở hai vị trí khác nhau và cách nhau khoảng nửa cây số).[70]

Khi dùng Địa Bạ Quảng Nam để tìm hiểu diện tích Văn Đông vào năm 1812, chúng tôi nhận thấy rằng địa phận của nó rất nhỏ, chỉ còn khoảng 5 ha, trong khi diện tích của xã Thanh Chiêm to lớn hơn nó hơn 24 lần (121 ha). Điều này cho thấy dưới đời vua Gia Long và các vị vua kế tiếp, Cần Húc, bấy giờ đổi tên thành Văn Đông, không còn giá trị trong lãnh vực thương mại hay quốc phòng. Có lẽ lúc nội chiến xảy ra giữa Tây Sơn, nhà Nguyễn và Trịnh, Cần Húc đã bị tàn phá không còn nhận diện được nữa sau 30 năm chiến tranh. Vì thế, sau cuộc nội chiến, mọi dịch vụ thuế má và ngoại thương với các nước ngoài đều được dọn về xã Thanh Chiêm. Bắt đầu từ đời vua Gia Long, lịch sử cho thấy xã Thanh Chiêm biến thành lỵ sở thực thụ của Dinh Quảng Nam.

Còn trạm nghỉ Thanh Chiêm nằm ngoài phạm vi thành Dinh Chiêm, nhưng vẫn trong xã Thanh Chiêm. Khoảng cách giữa trạm nghỉ và trung tâm xã Thanh Chiêm là 846 m (gần một cây số)[71]. Điều này cho biết tầm mức quan trọng của xã Thanh Chiêm với nền kinh tế Phủ Điện Bàn, nói riêng, và toàn thể Đàng Trong, nói chung. Trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Lê Quang Định diễn tả dọc đường phố Thanh Chiêm rất thịnh vượng;  “quán xá đông đúc”[72]; dân tình có vẻ ấm no.

Từ nội thành Dinh Chiêm, nằm sát bên tuyến đường Thiên Lý, đến xã Văn Đông là hơn 2 km. Khi so sánh vị trí Văn Đông tìm ra từ Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí và trong bản đồ trong thời Pháp Thuộc 1907-1916 (Hình 7), chúng tôi nhận thấy kết quả từ hai tài liệu rất tương xứng; vì vậy, chúng tôi có thể cho rằng vị trí xã Văn Đông trên hai bản đồ đều rất chính xác. Ngoài ra, để kiểm chứng địa điểm xã Văn Đông thêm một lần nữa, nếu chúng ta chú ý trên tranh Chaya (Hình 19), nằm bên bờ bắc sông Cầu Mống có vẽ một gian nhà ba gian, hai chái và một cây dừa cao đứng sừng sửng bên đứng bên cạnh; gần đó bên phải là một bến đò. Chúng tôi nghĩ mái nhà lá tượng trưng cho xã Cần Húc xưa kia. Vị trí căn nhà này rất phù hợp với xã Văn Đông trong hai tài liệu trước.

Dùng những dữ kiện trích ra từ Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí và Google Map, chúng tôi đã tìm ra vị trí của xã Văn Đông (tức xã Cần Húc xưa kia) nằm trên đường Nguyễn Du[73], bên bờ sông Cầu Mống với tọa độ (15,87737 độ Vĩ, 108,27691 độ Kinh), bên cạnh T-Tattoo – Xăm Nghệ Thuật Quảng Nam. Còn trung tâm của xã Thanh Chiêm vào năm 1806 cũng nằm trên đường Nguyễn Du hiện nay với tọa độ (15,87535 độ Vĩ, 108,27175 độ Kinh), bên cạnh Quán Lẫu Bò 152. Trạm nghỉ Thanh Chiêm ngày xưa cũng nằm trên đường Nguyễn Du, với tọa độ (15,870509 độ Vĩ, 108,266211 độ Kinh), cách xa Đình Làng Thanh Chiêm và Tượng Phật Bà Bằng Đá Trắng hiện nay khoảng 200 m về phía đông bắc.

 

Địa Phận Châu Thổ Cần Húc

Trong gia phả của tộc Nguyễn Văn mà gia đình ông Nguyễn Ngọc Lan, người xã Câu Lâu đã cung cấp cho biết rằng Cần Húc đã có một thời là châu thổ mà trong đó, xã Câu Lâu cũng từng lệ thuộc vào nó. Trong gia phả, gia đình ông đã ghi nhận như sau:

“Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc, Diên Khánh huyện, Uất Lũy tổng, hậu cải Duy Xuyên huyện, Quảng Nam tỉnh”[74].

Trước hết, khi đọc các tên các địa phận trên, chúng tôi bỗng nhiên cảm thấy cái tên “Cần Húc” quen thuộc nổi bật vì qua lịch sử, chúng tôi được biết kể từ năm 1806, cái tên “Cần Húc” không còn trong sách vở lịch sử nhà Nguỳễn nữa. Thế vào đó là cái tên “Văn Đông”. Khi đọc kỹ càng hơn, chúng tôi nhận thấy lối trình bày của những địa danh này là từ nhỏ đến lớn, bắt đầu từ xã Câu Lâu và chấm dứt tại tỉnh Quảng Nam. Nếu dựa theo tiêu chuẩn viết tên của các địa danh từ Điạ Bạ Quảng Nam viết vào năm 1812 , chúng tôi nghĩ chúng ta có thể viết lại dòng chữ trên từ lớn đến bé theo thứ tự như sau: “Tỉnh Quảng Nam, Phủ Điện Bàn, huyện Diên Khánh (hậu cải huyện Duy Xuyên), tổng Uất Lũy[75], thuộc châu thổ Cần Húc, Câu Lâu xã”. Chú ý khi đọc đến “huyện Diên Khánh (hậu cải Duy Xuyên huyện), tổng Uất Lũy…, chúng ta nên hiểu rằng tổng Uất Lũy luôn luôn thuộc huyện Diên Khánh, chứ không phải thuộc về huyện Duy Xuyên. Chúng tôi nghĩ viết lại gia phả trên theo tiêu chuẩn mà Nguyễn Đình Đầu nêu lên và thêm vào hai dấu ngoặc nơi “hậu cải Duy Xuyên” sẽ dễ đọc và hiểu hơn.

Hiện tại, chúng tôi tìm tòi được hai hình ảnh (hãy xem Hình 9 và 10) tượng trưng cho hình ảnh sông ngòi Điện Bàn vào năm 1602 khi Chúa Nguyễn Hoàng ghé qua Cần Húc[76] lần đầu tiên và hai năm sau, quyết định đặt dinh trấn Quảng Nam tại nơi này. Hình 9 được bổ túc dựa vào công trình nghiên cứu của các nhà địa chất Vũ Văn Phái và Đặng Văn Bào – chúng tôi ghi thêm tên các địa danh trên bản đồ. Tin tưởng vào sự chính xác của hai nhà địa chất chuyên môn, chúng tôi phải đặt giả sử rằng địa mạo của nam Điện Bàn trong hình phản ảnh quang cảnh địa thế vùng nam Điện Bàn vào đầu thế kỷ 17. Hình 9 vẽ rất rõ hệ thống sông ngòi ở đây. Ở miền nam Điện Bàn, ngay ngã tư mà bốn con sông nhập làm một, hai dòng đi lên từ nguồn, đó là Sông Chợ Củi cùng với Sông Dưỡng Chân (Sông Bà Rén) nhập làm một dồn dập chảy về hướng đông-đông bắc. Không bao lâu, dòng nước lũ này lại chia đôi khi tiến vào địa phận xã Cần Húc và xã Câu Lâu; Sông Cầu Mống nằm ở phía bắc có khuynh hướng chảy về phía đông bắc – đông tách rời xã Cần Húc và xã Câu Lâu ra hai miền riêng biệt – tả ngạn có xã Cần Húc và xã Câu Lâu nằm ở hữu ngạn. Còn dòng Sông Câu Lâu ở phía nam chảy về hướng đông bao bọc xã Câu Lâu. Nằm giữa hai sông Câu Lâu và Cầu Mống, nó nay trở thành một gò nổi, trông giống như một cái lá cây non nằm trên mặt nước, nghiêng nghiêng về hướng đông bắc vậy. Khi chú ý kỹ hơn, trên vùng đất Cần Húc cũng có một dòng sông cổ ngoằn ngoèo chạy thẳng từ bắc xuống nam, cắt Cần Húc ra làm hai miền đông-tây trước khi đổ ra sông Cầu Mống.

Hình 9 – Sông Thu Bồn ở Đầu Thế Kỷ 17. Nguồn: VŨ Văn Phái, ĐẶNG Văn Bào – Université de Hà Nôi, La ville ancienne Hội An, 1991; trích ra từ Thi Bao Chau Huynh. Patrimoinearchitectural, urbain, aménagementettourisme: ville HôiAn – ViêtNam. Géographie. Université Toulousele Mirail -ToulouseII, 2011. Français. NNT: 2011TOU20062. tel-00717654, trang 42.

Hình 10, là một hình chụp vệ tinh trích ra từ kênh viamichelin.com cho biết con sông cổ này phát nguồn từ sông Vĩnh Điện. Khi nhìn kỹ địa mạo của bên trái xã Văn Đông (xưa kia là xã Cần Húc) trên cả hai bản đồ, chúng tôi bây giờ mới cảm nhận ra rằng ngay vị trí của xã Cần Húc nằm sát bờ sông Cầu Mống có một hình tam giác (delta)  – trong địa chất học, tam giác này gọi là châu thổ. Chi chít trong châu thổ là các nhỏ nhỏ, chảy qua lại; tất cả đều chảy ra phía cửa sông tại vị trí phía tây xã Cần Húc. Đo đạc bằng Google Map, chúng tôi xác nhận ra rằng châu thổ này rộng khoảng 150-200 m nằm bên bờ bắc sông Cầu Mống nằm phía tây của xã Cần Húc.

Hình 10– Châu Thổ Cần Húc vào Đầu Thế Kỷ 17 Phỏng Theo Bản Đồ Vệ Tinh; nguồn: trích từ Michelin Map

Vì sông Cầu Mống tương đối hiền hòa chảy chậm nên phù sa từ con sông cổ này tạo thành nhiều lớp trầm tích dưới đáy sông và dần dần tạo thành châu thổ Cần Húc. Có lẽ trong thế kỷ 18, con sông cổ này bắt đầu bị khô cạn vì sông Vĩnh Điện giờ đây cũng bị bế tắc – vì thế, vua Minh Mạng mới phải nới sâu và rộng nó ra hai lần vào năm 1822 và 1826. Vả lại, lịch sử cho thấy bãi bồi đắp bởi phù sa tại châu thổ Cần Húc nay cũng bịt kín con sông cổ ở cửa sông nên chúng tôi có thể khẳng định rằng con sông này đã không còn tồn tại nữa. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ hình vệ tinh trong Michelin Map (Hình 10), chúng tôi vẫn nhận ra châu thổ hình tam giác tại cửa sông Cầu Mống.

Để kiểm điểm lại giả thuyết về châu thổ Cần Húc, chúng tôi dùng kênh floodmap.net để tìm kiếm châu thổ hình thành bên bờ bắc sông Cầu Mống. Quả nhiên chúng tôi nhận diện ra một bãi bồi ngay bên sát bên cạnh sông Cầu Mống tại vị trí gần Cần Húc. Điều này nói lên rằng xưa kia xã Cần Húc, lúc vẫn còn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam, bao gồm địa phận của châu thổ Cần Húc và xã Văn Đông dưới thời vua Gia Long. Hãy xem kết quả trong Hình 11.

Hình 11 – Châu Thổ Cần Húc (2023). Nguồn: Kênh floodmap.net.

Nói tóm lại, Hình 9,10 và 11 đã chứng minh cho thấy có một dòng sông cổ chảy từ bắc xuống nam ngang qua địa phận Cần Húc. Dòng sông này khi đưa ra cửa sông hiền hòa Cầu Mống đã mọc nhiều nhánh, rể thành các kênh rạch khác nhau và từ từ đổ ra cửa sông tạo thành châu thổ (delta) nằm phía tây của thành phố Cần Húc xưa. Dựa theo sự suy nghĩ của chúng tôi hiện giờ, dòng chữ “…châu thổ Cần Húc thuộc” trong gia phả tộc Nguyễn Văn rất là tương xứng và cho chúng tôi biết rằng vùng đất châu thổ thuộc về xã Cần Húc xưa kia trong đầu thế kỷ 17 – diện tích xã Cần Húc, chúng tôi nghĩ, xưa kia tương đối rộng bao gồm địa thể của châu thổ tại cửa sông cổ nối liền với sông Cầu Mống (khoảng 16 ha[77]) cộng với xã Văn Đông (5 ha) mà tên Cần Húc được đổi ra sau này (1806). Vì thế, diện tích tổng quát của xã Cần Húc vào đầu thế kỷ 17 có thể lên đến khoảng 21 ha. Tuy nhiên, con số này cho thấy địa phận xã Cần Húc xưa kia vẫn còn rất eo hẹp so với xã Thanh Chiêm (121 ha) dưới đời vua Gia Long.

Thuộc Cần Húc

Vào năm 1688, nhà thám hiểm William Dampier (1651-1715) trên hành trình đến Úc Châu đã ghé chân qua Đàng Trong, đã đến thăm một thành phố mà ông gọi là “City of Quinam” (Thành phố Quảng Nam). Trong sách mà ông truyền lại, trước hết chiếc thuyền buôn của ông cập bến tại Cù Lao Chàm[78]:

Sau ông kể thêm rằng gần các đảo ngoài khơi này, trên thềm lục địa có một dòng sông lớn chảy ra biển mà thành phố lớn Quảng Nam (Quinam) ở Đàng Trong nằm cả hai bên bờ sông.[79]

Lời diễn tả này cho thấy các khách tây phương đều hiểu Dinh Quảng Nam là một thành phố chứ không phải là một dinh, trấn hay tỉnh. Điều đáng ngạc nhiên mà William Dampier cho biết thêm là thành phố Quảng Nam nằm cả hai bên bờ sông. Nhưng rất tiếc là ông không nói tên của dòng sông này mà chỉ viết rằng nó là một dòng sông lớn đổ ra biển (cửa Đại). Suy diễn một cách khoa học cho thấy dòng sông mà William Dampier nhắc đến là sông Thu Bồn. Nếu quả thật như thế thì ông có lẽ đặt chân ngay bến đò sông Câu Lâu[80] sau khi ghé thăm Hội An và đón ghe bầu đến thăm thành phố Quảng Nam. Trước hết, hãy xem và kiểm nghiệm Hình 12 – Bản Đồ Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư vẽ hai năm trước khi ông Dampier ghé ngang thành phố Quảng Nam (1686).

Trong Hình 12, có một ô vuông rất lớn vẽ thành Dinh Chiêm; bên cạnh nó là một ô vuông khác nằm bên phải chỉ về thành phố Hội An. Thành Dinh Chiêm lúc bấy giờ nằm trên một gò nổi rất lớn; phía đông của nó giáp với Đầm Thanh Hà thông ra cả sông Chợ Củi nằm bên phía tây của gò. Cả gò nổi có hình tượng như một trái xoài mà phần mũi ở phía nam là xã Câu Lâu vào thời ấy. Để dễ dàng quan sát, chúng tôi vẽ thêm một dòng suối (màu xanh dương nhạt) chảy ngang chia cắt xã Câu Lâu và xã Cần Húc ra làm hai phần nam-bắc. Đó là sông Cầu Mống nay đã khô cạn và biến thành chỉ một dòng suối. Nằm bên tả ngạn (phía bắc) suối Câu Mống là xã Cần Húc; còn hữu ngạn (phía nam) Cần Húc thuộc về gò nổi xã Câu Lâu.

Hình 12– Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (1686) . Nguồn: trích từ Mạng.

Có thể vì vào năm 1688, sông Cầu Mống đã khô cạn biến thành một dòng suối nên ông Dampier không thể đáp ghe trên dòng suối Cầu Mống từ Hội An được. Có thể ông phải đón ghe từ Hội An trên sông Câu Lâu để rồi cập bến tại bến đò trên bờ bắc sông (tả ngạn) Câu Lâu. Tại bến đò, có lẽ một người địa phương dẫn đường đã chỉ tay qua bờ sông Câu Lâu ở phía nam và cho ông biết rằng nơi ông đang đứng là địa phận của thành phố Quảng Nam kể cả bờ sông bên phía nam nữa. Vì thế, khi về lại Anh Quốc, ông mới có thể quả quyết rằng thành phố Quảng Nam nằm cả hai bên bờ sông. Nếu đúng như vậy đúng như lời ông Dampier kể lại thì thành phố Quảng Nam, ngoài Cần Húc và thành Dinh Chiêm ra – trong khoảng thời gian này xã Thanh Chiêm có lẽ chưa tồn tại – còn phải bao gồm luôn xã Câu Lâu nữa. Sau khi cập bến, vậy thì thành phố kế tiếp mà ông đến thăm là thành phố nào?

Chúng tôi cho rằng ông đã ghé thăm Cần Húc vì Cần Húc một thành phố riêng biệt đã được thành lập gần một trăm năm nay kể từ 1602. Nơi đây chính là dinh đô của toàn Dinh Quảng Nam. Nhưng muốn đến Cần Húc, từ bến đò nằm phía bắc sông Câu Lâu, ông phải tiếp tục đi theo đường bộ tiến về phía bắc, qua khỏi xã Câu Lâu và dòng suối Cầu Mống. Vì thế, chúng tôi nghĩ, Cần Húc trong thời gian này cũng nhộn nhịp không kém gì Hội An, nhưng rất thơ mộng và vì thế chúa Nguyễn Hoàng mới quyết định lập dinh cư tại đây. Để tìm hiểu thêm sự liên hệ giữa xã Cần Húc và xã Câu Lâu, chúng tôi sẽ bàn luận về từ “thuộc” trong gia phả tộc Nguyễn Văn.

Trong gia phả tộc Nguyễn Văn có nhắc đến một từ mà chúng tôi cho rằng khá quan trọng và cần được để ý đến, đó là từ “thuộc” được gán liền với châu thổ Cần Húc trong dòng chữ ‘Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc”. Ngoài ý tưởng về thuộc, gia phả tộc Nguyễn Văn còn cho biết rằng xã Câu Lâu – hiện nay là phường Điện Phương Đông – lệ thuộc vào châu thổ Cần Húc. Từ đó, chúng tôi có thể suy luận thêm rằng, ít nhất, cả hai xã Câu Lâu và Cần Húc đều nằm trong địa hạt của “thuộc Cần Húc”.[81] Đồng thời, cũng như quan niệm của William Dampier, chúng tôi đồng ý và cho rằng thuộc Cần Húc xưa kia rất rộng bao gồm không những thành trì Dinh Chiêm, xã Cần Húc, xã Thanh Chiêm mà còn xã Câu Lâu nữa. Dựa theo địa bạ Quảng Nam, chúng tôi sẽ cố gắng toán định diện tích của thuộc Cần Húc.

Tiếp đến chúng tôi sẽ nhờ cậy sự giúp đỡ của sử gia Nguyễn Đình Đầu trong quyển Địa Bạ Quảng Nam viết dưới đời vua Gia Long vào năm 1812[82]. Trong địa bạ, Nguyễn Đình Đầu cho biết địa phận xã Câu Lâu rất rộng (209 ha)[83] và nằm cả hai bên bờ sông Câu Lâu – ông miêu tả rằng sau khi qua khi sông Câu Lâu, địa phận xã Câu Lâu kéo dài qua khỏi bờ nam sông Câu Lâu khoảng “Đường Thiên lý hai đoạn”[84]. Bổ tục thêm vào lời tuyên bố của William Dampier, điều này cho biết xã Câu Lâu sở hữu cả nam và bắc (tả ngạn và hữu ngạn) hai bờ trên sông Câu Lâu.

Bây giờ chúng tôi đặt thêm giả thuyết nói rằng vì toàn thể xã Câu Lâu lệ thuộc Cần Húc mà ngày xưa, địa phận của xã Câu Lâu bao gồm cả hai bên bờ sông Câu Lâu. Vì vậy, kết quả cuối cùng là địa phận thuộc Cần Húc cũng nằm hai bên bờ sông Câu Lâu.

Sau đây chúng tôi sẽ lập lại và dùng gia phả của tộc Nguyễn Văn mà gia đình ông Nguyễn Ngọc Lan[85], người xã Câu Lâu đã cung cấp để chứng minh những điểm chính trong giả thuyết trên là chính xác.

“Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc, Diên Khánh huyện, Uất Lũy tổng, hậu cải Duy Xuyên huyện, Quảng Nam tỉnh”.

Trong phần đầu, gia phả này cho biết xã Câu Lâu lệ thuộc vào “châu thổ Cần Húc thuộc”. Điều này cho thấy trong lịch sử Dinh Quảng Nam, thời các chúa Nguyễn, xã Câu Lâu đã được thành hình, nhưng lệ thuộc vào miền châu thổ Cần Húc. Cách gọi này của Cần Húc nói lên rằng địa thổ Cần Húc ngày xưa rộng lớn và được tạo thành bởi một châu thổ. Hơn nữa, chữ “thuộc” xuất hiện nơi cuối của dòng chữ này nói lên nó là đơn vị hành chánh đặc biệt tương đương với “tổng” bao gồm các làng xã theo đuổi một tiểu công nghiệp truyền thống như nhau trong một huyện, thí dụ như các nghề truyền thống đóng thuyền, may lưới đánh cá, hay dệt tơ lụa, v.v… Trong tính cách nghề nghiệp, chúng ta có thể xét đoán rằng trong quá khứ xa xưa xã Câu Lâu và châu thổ Cần Húc được lệ chung vào “thuộc Cần Húc”. Nhưng khi chúng tôi tìm hiểu thêm về các thuộc dưới các triều đại họ Nguyễn trong các sử sách xưa như Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên[86], hay Địa Bạ Dinh Quảng Nam (1812), chúng tôi rất thất vọng vì không thể tìm ra được thuộc “Cần Húc” ở bất cứ nơi nào. Thí dụ, vào năm 1776, Lê Quí Đôn cho biết nhà Nguyễn, trong huyện Duy Xuyên, lúc ấy có các thuộc như sau: Chu Tượng (đóng thuyền)[87], Nội Phủ Kim Hộ (đãi vàng)[88], Hoa Châu (dệt vãi lụa)[89], Võng Nhị (làm lưới)[90], Hà Bạc (đánh cá; làm mắm, muối)[91], Thương Nhân Hội (buôn bán)[92], Võng Nhị Phụ Quảng[93], Kiều Cư Lậu Dân[94], Võng Nhị Phúc An[95], Biệt Nạp Hà Hồng[96], Sơn Điền[97], Xuân Xưởng[98], Phụ Nguyên[99], Sỹ Thần[100], Mới Phúc An[101] và Biệt Nạp[102]. Nhưng đến đời vua Gia Long, vào năm 1812, ở huyện Duy Xuyên, ngoài 6 tổng, chỉ còn giữ lại 4 thuộc: Chu Tượng, Hà Bạc, Hoa Châu và Liêm Hộ[103] mà thôi.[104] Riêng huyện Diên Khánh chỉ còn một thuộc mà thôi, đó là thuộc Phú Châu. Đến đời vua Minh Mạng (1791-1841), tất cả các thuộc liên quan đến nghề nghiệp trong các huyện đều bị bãi bỏ. Trở về lại Cần Húc, đến đời vua Tự Đức (1829-1883), Cần Húc xưa kia trở thành xứ Cồn Úc thuộc xã Văn Đông.[105] Riêng xã Câu Lâu, vào năm 1812, trong Địa Bạ Quảng Nam lại thuộc về tổng Mậu Hòa Trung, huyện Duy Xuyên[106] chứ không lệ vào thuộc nào cả. Điều này có nghĩa rằng những dữ kiện trực hệ giữa xã Câu Lâu và xã Cần Húc đước ghi nhận trên gia phả tộc Nguyễn Văn đã xảy ra nhiều năm trước 1812, và có thể xa hơn trong quá khứ  trước 1776, vì chính Lê Quí Đôn cũng không biết gì về sự liên quan của hai đơn vị hành chánh Câu Lâu và Cần Húc qua thuộc nghề nghiệp gọi là thuộc Cần Húc. Có lẽ đây là một điều bí mật nghiêm trọng mà khi viết xuống trong sử sách có thể ảnh hưởng đến sự an nguy của Đàng Trong trong cuộc chiến với chúa Trịnh trong thế kỷ 17 và 18 nên các chúa Nguyễn đều giữ bí mật về các xã có liên quan đến thuộc Cần Húc. Vì thế, chúng tôi càng cương quyết muốn tìm ra sự thật về “Cần Húc thuộc” này hơn.   

Vậy thì những người dân trong huyện Duy Xuyên có chung một nghề nghiệp gì để chúa Nguyễn gom họ vào trong thuộc Cần Húc? Đó là nghề đúc đồng. Hai chữ Cần Húc, dựa theo nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Duy, là lối phát âm trong tiếng Việt từ “Kan Hu” từ tiếng Chăm và có nghĩa là “lò đúc đồng”.[107] Lối suy luận có vẻ rất đúng lý. Ngoài ra, vào đầu thế kỷ 17, Đàng Trong lúc ấy đang tham dự cuộc chiến với Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn nhập cảng nhiều nguyên liệu đồng từ các đồng tiền xu cổ từ nước Nhật Bản hay Trung Quốc để chế tạo các súng thần công dựa theo kỹ thuật của người Bồ Đào Nha. Lúc ấy, lịch sử cho biết lúc ban đầu, Đàng Trong chưa học được kỹ thuật đúc súng đồng từ người Bồ Đào Nha vì hàng năm, các chúa thường gửi hàng vạn tiền xu đồng và nhờ cậy các vị giáo sĩ Dòng Tên mua súng thần công cho họ khi trở về Macao. Nhưng sau này, dưới đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), vào khoảng 1658-1661, chúa Hiền đã mời được chuyên gia đúc súng đồng João da Cruz (1610?-1682), người Bồ Đào Nha lai Ấn Độ, về làm việc tại làng Phường Đúc tại Huế.[108] Từ đó, Đàng Trong đã sở hữu kỹ thuật đúc súng đại bác đồng. Sau này, hàng năm, triều đình thường kêu gọi các thuộc đúc đồng từ các huyện gửi các chuyên gia đúc đồng thay phiên nhau ra Huế làm việc trong Phường Đúc ít nhất ba tháng trong năm.[109] Vì thế, suy luận một cách rộng rãi, chúng tôi cho rằng chế tạo súng thần công đồng nặng hơn cả ngàn kg mỗi khẩu cần rất nhiều công sức của các thợ đồng này và João da Cruz để dùng trong quốc phòng chống lại Đàng Ngoài, nên chúng tôi dự đoán, những dự án này cần giữ rất bí mật; ngay cả các danh sách tên của các xã trong thuộc đúc đồng cũng không được viết trong sử sách. Chúng tôi nghĩ, riêng cái tên của “thuộc Đúc Đồng” cũng phải dấu kín và dùng tên Chăm “Cần Húc” (Kan Hu) để che dấu chương trình tối mật khổng lồ này, thay vì dùng một cái tên Hán-Việt. Nếu không, một khi Đàng Ngoài nhận diện ra dự án trọng đại này họ có thể sẽ tìm cách phá hoại. Dựa theo lịch sử, từ đời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), sở dĩ cuộc nam tiến từ Phú Yên đến Hà Tiên và tranh đấu với chúa Trịnh thành công là, chúng tôi nghĩ, cũng nhờ vào sức mạnh của các khẩu thần công chế tạo từ Đàng Trong. Hiện nay, trước cửa bộ quốc phòng ở Bangkok, Thái Lan còn trưng bày hai khẩu thần công đúc ra từ Phường Đúc, gần Huế. Cả hai đều được Phường Đúc và João da Cruz chế tạo vào năm 1667.[110] Vì cơ sở đúc đồng cần không những nguyên liệu như than củi, đồng, đất sét mà còn rất nhiều nước nữa, vì thế, chúng tôi không có gì ngạc nhiên khi nhận ra rằng các cơ xưởng đúc đồng trong huyện Duy Xuyên đều nằm gần các bờ sông như Cầu Mống và Câu Lâu. Khi tập hợp các chi tiết từ Nguyễn Sinh Duy và giả phả tộc Nguyễn Văn, chúng ta mới khám phá ra rằng Cần Húc chính là cái tên của một thuộc mà cũng là địa phận của một châu thổ tên là Cần Húc – vị trí của nó nằm bên bờ bắc sông Cầu Mống, nhìn qua sông bên bên bờ nam là xã Câu Lâu. Còn Câu Lâu chỉ là một gò nổi nằm giữa hai con sông chính Cầu Mống và Câu Lâu và lệ thuộc vào thuộc Cần Húc. Một số người dân trú ngụ tại xã Câu Lâu làm nghề đúc đồng cũng giống như một số dân sống ở xã Cần Húc vậy. Hiện tại, tại phường Điện Phương có hai xưởng đúc đồng còn hoạt động kể từ thế kỷ 17, đó là Làng Đúc Phước Kiều (nằm phía tây bắc thành Dinh Chiêm cũ, gần tuyến đường Thiên Lý xưa) và Đồng Phước Kiều (nằm trên gò nổi Câu Lâu ngày xưa, gần sông Cầu Mống). Điều này cho thấy dữ kiện mà gia phả tộc Nguyễn Văn cung cấp rất đáng tin cậy. Tuy nhiên, càng nghĩ kỹ về dự án đức súng thần công dưới thời các chúa Nguyễn, có lẽ công trình bí mật chế tạo súng thần công bắt đầu dưới đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635)[111] và chấm dứt trong thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần. Tuy chưa sưu tầm tài liệu lịch sử nào về chương trình đúc đồng của nhà Nguyễn, chúng tôi cảm thấy giả thuyết của mình khá vững chắc với lập trường căn bản, nhưng hiện tại, ngoài một vài dữ kiện từ lịch sử từ gia phả tộc Nguyễn Văn, chúng tôi chưa nắm thêm được các bằng chứng xác đáng về sự tồn tại của thuộc Cần Húc để công bố cả.

Sau khi cập nhật huyện Điện Bàn thành phủ va sát nhập nó vào Dinh Quảng Nam (1600), chúa Nguyễn Hoàng xây dựng một số cơ sở hành chánh dinh tại Cẩn Húc và thành trì Dinh Chiêm bên bờ sông Chợ Củi, cách Cần Húc khoảng 2 km về hướng tây nam và bổ nhiệm Công Tử Nguyễn Phúc Nguyên làm Trấn Thủ Quan (1602). Thuộc Cần Húc bành trướng về hướng ấy. Dân số bắt đầu nâng cao vì sự thịnh vượng đưa đến từ Hội An. Nằm giữa hai nơi, xã Thanh Chiêm lúc này có lẽ chỉ là một đường phố ngoại ô phụ thuộc về thuộc Cần Húc, lúc đầu chưa có một cái tên và cuối cùng trở thành một làng xã mới[112]. Cuối thế kỷ 18, suốt thời gian gần 30 năm nội chiến, nước Đại Việt hầu như không có một chính quyền trung ương và vì thế, chúng tôi nghĩ, Cần Húc vẫn tiếp tục là lỵ sở của Dinh Quảng Nam, lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên cho đến sau năm 1806, sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, ngài chuyển lỵ sở Dinh Quảng Nam về xã Thanh Chiêm, chính thức đổi tên Cần Húc thành Văn Đông và thuyên chuyển các cơ sở và hệ thống hành chánh dinh Quảng Nam về xã Thanh Chiêm (1806).[113] Chúng tôi cho rằng vì Cần Húc sau cuộc nội chiến, dân số thưa thớt; cảnh vật rất điêu tàn.

Nhắc lại xã Câu Lâu, vào năm 1776, Lê Quí Đôn cho biết nó lệ thuộc vào huyện Diên Khánh[114] trước đó. Vì thế, gia phả tộc Nguyễn Văn viết “Diên Khánh huyện” không có gì lạ, nhưng vào năm 1812, địa bạ Quảng Nam cho thấy xã Câu Lâu trở về lại huyện Duy Xuyên[115] và có thể vì thế, gia phả tộc Nguyễn Văn sửa chữa và cập nhật thêm dòng chữ “Hậu cải Duy Xuyên huyện”. Riêng câu “Quảng Nam tỉnh” được viết vào gia phả sau 1832, vì năm ấy, vua Minh Mạng đổi tên trấn Quảng Nam ra Tỉnh Quảng Nam.  

Nói tóm lại, chúng tôi cho rằng vào đầu thế kỷ 19, nếu ta đi bộ từ thành Dinh Chiêm nằm sát bờ sông Chợ Củi và tuyến đường Thiên Lý, trên con đường Nguyễn Du xưa về hướng đông bắc, đi được khoảng 2 km trên đường phố mà sau này trong thế kỷ 19 lấy tên là xã Thanh Chiêm (diện tích 121 ha [116]) – hãy chú ý đến phạm vi của xã Thanh Chiêm rất rộng; vào đầu thế kỷ 19, nó bắt đầu từ tuyến đường Thiên Lý chạy dọc theo hướng đông bắc trên đường Nguyễn Du về phía xã Văn Đông; chu vi của xã Thanh Chiêm, dựa theo địa bạ tỉnh Quảng Nam, là khoảng 4,8 km; tiếp đến là xã Văn Đông (diện tích nhỏ lại chỉ còn lại khoảng 5 ha2 sau khi đổi tên từ Cần Húc vào năm 1806[117]) nằm bên bờ bắc sông Cầu Mống.[118] Sau khi qua sông về hướng nam, tiếp đến là gò nổi rộng lớn, nhưng rất hoang vu, đó là xã Câu Lâu (diện tích 209 ha[119]). Dùng Google Map chúng tôi có thể minh định rằng gò nổi Câu Lâu chiếm hầu hết diện tích của xã Câu Lâu (khoảng 190-200 ha); nhưng địa phận phận còn lại (khoảng 10-15 ha) phải nằm bên bờ nam sông Câu Lâu (tạm gọi Nam Câu Lâu) với chiều sâu khoảng “Thiên Lý hai đoạn”[120]. Điều này đã được xác nhận trong Địa Bạ Quảng Nam (1812) và William Dampier kể lại. Vì thế, chúng tôi có thể quả quyết rằng xã Câu Lâu nằm hai bên bờ sông Câu Lâu. Để tìm ra diện tích thuộc Cần Húc, chúng ta sẽ tổng cộng diện tích của 3 xã Thanh Chiêm (1806), Văn Đông (1806) và Câu Lâu (1812) vào với nhau; từ đó, chúng ta sẽ nhận diện ra diện tích và giới phận của thuộc Cần Húc nhắc đến trong gia phả, đó là khoảng 335 ha (3,35 km2). Dùng Google map, chúng tôi vẽ ra sơ đồ của thuộc Cần Húc như sau – Hình 13 (Chúng tôi nghĩ đây cũng là địa dáng tổng quát của thành phố Dinh Chiêm ngày xưa trước năm 1776):

Hình 13– Sơ Đồ và Diện Tích Thuộc Cần Húc (trước 1776). Nguồn: William Dampier, Voyage and Description, Phần 2; Gia Phả tộc Nguyễn Văn; Ngô Văn Minh, Về Vị Trí Lỵ Sở Dinh Quảng Nam Năm 1602; Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập 1, 2; Google Map

Suy nghĩ về các nhà truyền giáo vào đầu thế kỷ 17,chúng tôi cho rằng có hai nơi mà họ muốn đến truyền đạo. Nơi thứ nhất, gần dinh thành mà quan lại trú đóng và nơi thứ hai là thị thành mà dân chúng đang sinh sống đông đúc để dễ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng đạo. Họ hy vọng rằng khi ở gần những người có địa vị trong xã hội và quần chúng, họ sẽ có cơ hội truyền bá đạo Thiên Chúa Giáo khắp nơi cho cả hoàng tộc, các quan lại trong triều đình, cùng với dân chúng để  cuối cùng sẽ gặt hái nhiều kết quả khả quan. Đây cũng một trong những lý do mà vào năm 1620, G.S. Francisco de Pina dọn lên thành phố Dinh Chiêm để giảng đạo. Lúc ấy, G.S. Pina cũng như các vị G.S. đồng đạo của ngài như G.S. Alexandre de Rhodes, dựa vào kiến thức phổ thông ở Âu Châu, họ có thể chỉ biết rằng Dinh Chiêm là một thành phố lớn, trực lệ trung ương mà thành Quảng Nam là tâm điểm và tiêu biểu cho thành phố này. Hơn nữa, thành trì này nằm bên bờ bắc sông Thu Bồn nên khi vẽ các bản đồ cổ, chúng tôi nghĩ họ chỉ chú trọng vào vị trí thành Dinh Chiêm mà thôi. Hiện giờ, chúng tôi không hiểu rõ kiến thức của họ về địa lý vùng nam Điện Bàn nữa. Vì chỉ sinh sống ở nam Điện Bàn trong một thời gian ngắn, có thể họ không thể nhận thức rằng trong một chu kỳ nào đó, sông ngòi trong miền nam Điện Bàn thay đổi đường hướng nước chảy hay trở nên khô cạn và có thể biến thành bãi bồi, thí dụ như trong thời kỳ 1640, tấm tranh Nhật Bản Chaya (Hình 19) cho thấy lòng sông Câu Lâu đã khô cạn và biến thành một bãi bồi to lớn; Những hiện tượng kể trên kéo dài theo thời gian rất lâu dài, có khi dài hơn cả một đời người nên chúng tôi không nghĩ các giáo sĩ tây phương đã có cơ hội thu thập những sự thay đổi này về địa lý. Nếu câu trả lời là không thì họ cũng không thể biết rằng địa phận thành phố Dinh Chiêm có thể kéo dài rất xa, bắt đầu từ thành Dinh Chiêm và cuối cùng gom trọn luôn cả gò nổi Câu Lâu mà địa phận của phần đất này nằm hai bên bờ bắc và nam sông Câu Lâu. Chúng tôi nghĩ chỉ có những người dân địa phương mộc mạc như gia đình tộc Nguyễn Văn sinh sống trong xã Câu Lâu mới hiểu rõ rằng xã Câu Lâu đã từng lệ thuộc vào thuộc Cần Húc mà Cần Húc chính là lỵ sở của Dinh Quảng Nam. Thật sự mà nói, nếu gia phả gia đình tộc Nguyễn Văn không nêu ra dữ kiện lịch sử này, không ai không thể ngờ rằng trong nhiều thế kỷ trước đây, địa phận thuộc Cần Húc lớn lao như thế. Nói tóm lại, nhờ gia phả tộc Nguyễn Văn, bây giở chúng tôi mới nhận thấy rằng phạm vi thành phố Dinh Chiêm vào đầu thế kỷ 17 là một thành phố đồ sộ; dân đông với phạm vi bắt đầu từ phía tây nam miền nam Điện Bàn, kéo dài về hướng đông bắc bao gồm xã Thanh Chiêm và xã Cần Húc; chạy xuống nam về hướng xã Câu Lâu và kết thúc bên bờ nam sông Câu Lâu.

Kết Luận

Đối với chúng tôi, địa bạ Quảng Nam (1812) cùng với William Dampier đích thực đã minh định rằng xã Câu Lâu và cả thuộc Cần Húc nằm cả hai bên bờ sông Câu Lâu. Một lần nữa dựa vào địa bạ, chúng tôi có thể kết luận rằng địa phận của nó bên bờ nam sông Câu Lâu không sâu rộng cho lắm, chỉ vừa “hai đoạn Thiên Lý” nhưng tương đối trải dài dọc theo bờ nam sông Câu Lâu với một diện tích khoảng 10-15 ha. Chúng tôi nghĩ có thể trước đây, địa điểm bên bờ sông nam Câu Lâu là một bến đò.[121]

Dựa vào gia phả tộc Nguyễn Văn, chúng tôi nhận thấy rằng vào đầu thế kỷ 17 địa phận xã Câu Lâu tương đối rộng lớn và nằm hai bên bờ sông Câu Lâu. Vì thế, xã Cần Húc nên được gọi là  thuộc Cần Húc cho đúng ý nghĩa vì, dựa theo gia phả tộc Nguyễn Văn, hai xã Câu Lâu và Cần Húc xưa kia trực lệ vào thuộc Cần Húc. Chúng tôi nghĩ rằng giả thiết này có vẻ hợp lý với sự suy đoán của Nguyễn Sinh Duy đã từng cho rằng Cần Húc trong tiếng Chăm có nghĩa là “lò đúc đồng”. Có lẽ thuộc này bắt đầu từ chúa Sãi khi ngài chuẩn bị tách rời tầm ảnh hưởng của chúa Trịnh ở phương bắc, cho đến đời chúa Hiền, khi dự án tối mật khổng lồ để chế tạo súng thần công đúc đồng đã thành công. Thành quả của cuộc nam tiến chiếm đóng thêm lãnh thổ của Chiêm Thành và Chân Lạp, nếu không nhờ sức mạnh vô bờ của những khẩu thần công này không thể thực hiện được.

Tuy nhiên, đã là thuộc Cần Húc thì phải lệ vào huyện Duy Xuyên vì thuộc đúc đồng Cần Húc, theo chúng tôi nghĩ, chỉ bao gồm các xã đúc đồng trong huyện Duy Xuyên mà thôi. Vì vậy, xã Cần Húc và ngay cả thuộc Cần Húc không thể bị thay đổi huyện lệ từ huyện Duy Xuyên qua một huyện khác như Diên Khánh được. Đây là lý do mà chúng ta nhận ra rằng trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quí Đôn vào năm 1776 đã từng tường trình rằng xã Cần Húc vẫn lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên,[122] trong khi các xã chung quanh như Câu Lâu, Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, Gia Tịnh, Lang Xuyến, v.v.. nằm dọc theo các bờ sông Câu Lâu, Bà Rén hay Dưỡng Chân – ngay biên giới giữa huyện Duy Xuyên và huyện Diên Khánh – đều lệ vào huyện Diên Khánh chứ không phải huyện Duy Xuyên nữa. Lúc này (1776), khi Lê Quí Đôn xuất bản quyển Phủ Biên Tạp Lục, thuộc Cần Húc có lẽ đang trên con đường bị giải tán. Vì vậy, chúng ta có thể nhận ra rằng  một thành viên trong thuộc Cần Húc, như xã Câu Lâu bắt đầu tách rời ra khỏi huyện Duy Xuyên trở về với huyện Diên Khánh. Lý do tại sao bị giải tán cần được tìm hiểu thêm. Nhưng Lê Quí Đôn cũng cho biết thêm rằng xã Cần Húc, lúc nào cũng vậy, nằm lẻ loi sát bên bờ sông Cầu Mống, giữa các xã thuộc huyện Diên Khánh, nhưng lại lệ thuộc về huyện Duy Xuyên ở phía nam. Lý do là vì dưới các triều Nguyễn, chúng tôi nghĩ, Cần Húc đóng vai trò rất quan trọng trong việc chế tạo súng thần công đúc bằng đồng để chống lại chúa Trịnh. Chỉ sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, vào năm 1806, chúng tôi cho rằng ngài hoàn toàn giải tán thuộc Cần Húc và đổi tên xã Cần Húc ra xã Văn Đông.[123] Tuy nhiên, cho đến bây giờ, ngoài gia phả tộc Nguyễn Văn, chúng tôi vẫn chưa tìm ra thêm chứng cớ lịch sử nào để chứng minh rằng thuộc Cần Húc đã từng tồn tại dưới triều các chúa Nguyễn. Và vì thế, những lời bàn luận mà chúng tôi vừa nêu lên về thuộc Cần Húc đều là giả thuyết cả.

Chúng tôi nghĩ địa phận thành phố Dinh Chiêm tương đối rộng và dài bắt đầu từ thành Dinh Chiêm, bên cạnh tuyến đường Thiên Lý và Chợ Củi, chạy dài về hướng đông bắc trên đường phố mà sau này gọi là xã Thanh Chiêm; sau đó đến xã Văn Đông và xã Câu Lâu là một gò nổi rất lớn mà địa giới bao gồm cả hai bên bờ bắc-nam sông Câu Lâu. Diện tích tổng cộng của thuộc Cần Húc vào đầu thế kỷ 17 bao gồm thành Dinh Chiêm, xã Thanh Chiêm, xã Cần Húc, và xã Câu Lâu vào khoảng 335 ha dựa theo Địa Bạ Quảng Nam (1812)  như được vẽ và tô màu trong Hình 13.

Phần 3

Sự Thay Đổi huyện lệ của Các Xã giữa Huyện Duy Xuyên và Huyện Diên Khánh

Hình 14 cho thấy một số làng xã thuộc về huyện Duy Xuyên và Diên Khánh. Vào đầu thế kỷ 17, huyện Diên Khánh rất rộng bao gồm không những miền nam Điện Bàn mà còn cả Hội An và Đà Nẳng. Riêng huyện Duy Xuyên, nó là một huyện rất cổ thuộc về phủ Thăng Hoa và được đổi tên từ Hy Giang vào năm 1600.[124]

Hình 14– Sơ Đồ của Miền Nam Điện Bàn vào Năm 1812. Nguồn: Mạng, Địa Bạ Quảng Nam .

Bắt đầu từ điểm này, chúng tôi sẽ dùng các dữ kiện trong Phủ Biên Tạp Lục do Lê Quí Đôn viết vào năm 1776 như một cột mốc quan trọng trong lịch sử. Trong đó, Lê Quí Đôn cho biết rằng huyện Diên Khánh có 2 tổng: Uất Lũy và Mông Lĩnh.

Tổng Uất Lũy bao gồm 14 xã, 5 giáp và 5 phường như sau: Uất Lũy, Cẩm Lâu, Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, Bình An, Bàn Thạch, Câu Lâu, Hoa Phố, Khúc Lũy, Gia Tịnh, Lang Xuyến, Phiên Lĩnh, Thạch Khôi, Phiên Lĩnh Thị, Lợi An, Yên Mỹ, Cẩm Bồ, Phú Triêm Nam Giáp và Đông An.[125]

Tổng Mông Lĩnh gồm có các 27 xã, 5 thôn, 1 ti, 5 phường, 3 man như sau: Mông Lĩnh, Mông Nghệ, An Lạc, An Khang, Trà Đình, Địch Khang, Liễu Trì, Phúc Trạch, Phú Khang, Tiên Đoá, Tuân Nghĩa, Cẩm Lâu, Mậu Hòa, Vân Quật, Thanh Ly, Tuân Dưỡng, Thi Lãi, Kế Xuyên, Tiên Đóa Bến Ngòi, Phú An, Xuân An, Chiêm Sơn, Tiên Đóa Diên Phúc, Tiên Đóa Diên An, Giáo Phường, Trà Đóa, Vạn Lộc Man, Cẩm An, Đặng Lương, Vân Đóa, Lạc Câu, Tân Mỹ, Phúc An Đông, Phúc An Tây, Dương Bi, Vĩnh Phúc, Tân An, Phú Quý Man và Tân An Man.[126]

Còn huyện Duy Xuyên bao gồm 10 xã, 3 thôn sau đây: La Đáp Đông, La Đáp Tây, La Đáp Trung, Chính Phố, Trà Long, Phổ Thị, Hà Hạm, Cành Mít, Xuân Phú, Đường Mông, Nhiêu Phu, Đông An và Nội Phủ Chí Ly.[127] Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, chúng tôi nghi ngờ danh sách các tên trong huyện Duy Xuyên từ Lê Quí Đôn có gì sai lạc vì theo truyền thống từ 1471, huyện Duy Xuyên mà ngày xưa được gọi là huyện Hy Giang nên tên tuổi của các xã trong huyện đều tồn tại trước 1776 cho đến năm 1812, khi địa bạ Quảng Nam được khởi xướng. Điều mà chúng tôi muốn nói là cái danh sách xã mà Lê Quí Đôn cung cấp trong Phủ Biên Tạp Lục, ngoài hai xã La Tháp Đông/Tây, không giống như trong sách địa bạ Quảng Nam (1812). Trong địa bạ viết từ đời vua Gia Long (1812) huyện Duy Xuyên bao gồm các thôn xã như sau: An Dưỡng, An Thành, Bảo Sơn, Câu Lâu, Cây Lim thôn, Chiêm Sơn Phụ Lũy, Gia Tịnh phường, Hương Sơn, La Tháp Đông, La Tháp Tây, Lang Châu, Mậu Hòa, Mậu Hòa Phụ Lũy, Mỹ Lộc, Mỹ Xuyên Đông Giáp, Mỹ Xuyên Tây Giáp, Ngân Châu, Ngọc Sơn, Phú An, Phú Đa, Phú Lộc, Phú Nham Đông, Phú Nham Tây, Phú Sơn Chính, Phú Vinh thôn, Phú Vinh, Phụ Huyện Đông An thôn, Tây An, Thạch Bàn, Thu Bồn, Trà Kiệu Đông Trà Kiệu Tây và Vân Quất.[128]

Trong Hình 14, khi chú ý một chút, chúng ta sẽ nhận thấy rằng vào năm 1776 có một số xã mà trong quá khứ thường lệ thuộc huyện Duy Xuyên như Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, Bàn Thạch, Câu Lâu, Gia Tịnh, Lang Xuyến (Lang Châu, 1812), Vân Quật và Thi Lãi nay lại lệ vào huyện Diên Khánh. Điều đáng ngạc nhiên là các xã này nằm dọc theo các bờ sông Thu Bồn ở phương bắc, sông Ba Rén ở phương nam và cả sông Dưỡng Chân chảy xuyên qua huyện Duy Xuyên từ nam lên bắc bao bọc bên ngoài huyện Duy Xuyên. Kể từ 1471, những xã nhắc đến trên đều là những làng xã rường cột trong huyện Duy Xuyên. Nhưng vì một lý do nào đó mà chúng tôi sẽ tìm hiểu sau và tìm ra những câu trả lời xác đáng, trong một khoảng thời gian nào đó, chúng lại có sự thay đổi trong huyện lệ. Khi huyện Diên Khánh sở hữu chúng có nghĩa là địa phận huyện Duy Xuyên bị ép nhỏ hẹp lại nhất nhiều. Tuy nhiên, Lê Quí Đôn cho biết vào năm 1776, chỉ riêng xã Cần Húc (lúc này vẫn còn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam) nằm một cách lẻ loi giữa địa bàn huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn, bên bờ bắc sông Cầu Mống, nhưng vẫn lệ thuộc huyện Duy Xuyên ở hướng nam.[129]

Không bao lâu sau, vua Gia Long thống nhất đất nước vào năm 1802, một trong những công việc khẩn cấp cần làm là thống kê điền thổ toàn quốc kể cả Dinh Quảng Nam. Dựa theo Nguyễn Đình Đầu, thống kê ruộng đất trong tỉnh Quảng Nam đã được thực hiện vào năm 1812.[130] Trước đó không lâu, vào năm 1806, Cần Húc nay được đổi tên thành Văn Đông[131] và lệ vào huyện Diên Khánh (1812).[132] Ngược lại, các xã nằm bên bờ các sông được nhắc đến như trên được chuyển về lại với huyện Duy Xuyên như cũ, thí dụ như xã Câu Lâu, xã Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, v.v…[133] Đây là một điều rất lạ lùng đã xảy ra trong lịch sử. Có lẽ cuộc nội chiến giữa Đàng Trong, Đàng Ngoài và Tây Sơn trong vòng 30 năm đã khiến có sự trễ nải trong công việc cập nhật địa bạ cùa các huyện xã trong toàn quốc cũng như ở Dinh Quảng Nam.

Nói tóm lại, những dữ kiện này cho thấy không chỉ xã Cần Húc là bị thay đổi huyện lệ mà địa giới các xã nằm giữa biên giới hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh cũng như vậy, nhưng chiều hướng chỉ đi trái ngược với nhau mà thôi. Vậy thì chúng ta nên tự thắc mắc là lý do gì mà dưới thời các chúa Nguyễn, Cần Húc thuộc huyện Duy Xuyên cho đến 1776, nhưng đến đời vua Gia Long lại xảy ra chuyện Cần Húc (Văn Đông) bị sát nhập vào với huyện Diên Khánh.

Chúng tôi suy nghĩ và đưa ra giả thuyết rằng chính sự thay đổi của các dòng sông như Chợ Củi Dưỡng Chân, Câu Lâu và (hay) Cầu Mống đã gây ra sự biến chuyển và thay đổi trong hành chánh của các xã – không chỉ có xã Cần Húc là bị ảnh hưởng không mà thôi – nằm sát biên giới giữa hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh. Vì thế, chúng tôi sẽ nghiên cứu, học hỏi địa lý và địa hình các con sông ở miền nam Điện Bàn qua quá trình lịch sử Đàng Trong từ đời chúa Nguyễn Hoàng cho đến Pháp thuộc. Với các bằng chứng từ sách vở lịch sử từ nhiều thế hệ trước cho đến nay và bản đồ cổ xưa từ đời Hồng Đức cũng như các nhà vẽ bản đồ Âu Châu và quân đội Hoa Kỳ, chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra câu trả lời xác đáng.

 

Phân Tích Sự Thay Đổi Địa Hình của Sông Ngòi ở Miền Nam Điện Bàn Trong 400 Trăm Năm Lịch Sử

Hình 15Sông Ngòi Chung Quanh Điện Bàn và Hội An vào Năm 1930. Nguồn: American Geographical Society

Hình 15 tiêu biểu sông ngòi ở vùng nam Điện Bàn và Hội An vào năm 1930. Hệ thống Sông Thu Bồn là một trong số sông dài nhất tỉnh Quảng Nam và miền Trung (200 Km) bao gồm hai con sông chính có tên là Sông Vu Gia (còn được gọi là Sài Thị Giang) và Sông Thu Bồn. Hai con sông này xuất phát từ miền thượng du trong dãy núi Trường Sơn. Sau khi nhập làm một tại thôn Giao Thủy[134], nhưng không bao lâu khi nó chảy đến xã Văn Ly[135], trước khi gặp Gò Nổi lại tách đôi nữa để thành nhánh Sông Thu Bồn rẻ về hướng đông bắc, còn nhánh còn lại tẻ về hướng đông nam được gọi là Sông Bà Rén (còn gọi là Sông Cái). Cả hai nhánh chảy song song về hướng đông vòng theo Gò Nổi. Khi sắp rời Gò Nổi thì nhánh sông Thu Bồn, ở phương bắc, tiếp tục chảy về hướng đông và đổi tên thành sông Câu Nghê, sau đó, thành sông Điện Bình khi qua xã Câu Nhi (hay Câu Nhí) và cuối cùng thành Sông Chợ Củi chảy dọc theo bên đường Thiên Lý ở miền nam Điện Bàn. Nhắc đến nhánh thứ hai, khi qua khỏi Đông Giáp, Sông Bà Rén lại chia làm hai nhánh phụ; nhánh lớn hơn chảy về hướng đông nam, ngoằn ngoèo để cuối cùng đổ vào vịnh Hội An trước khi ra Cửa Đại – nhánh này vẫn gọi là Bà Rén. Còn nhánh phụ nhỏ, ngắn hơn là Dưỡng Chân chảy lên hướng đông bắc; một chi nhánh của sông Dưỡng Chân đổ vào Huyện Duy Xuyên thành Sông Kẻ Thử (hay còn gọi là Kẻ Thí) đổ ra sông Câu Lâu ở phía bắc; con sông này bị tắc nghẻn từ lâu lắm rồi, nhưng nhánh lớn Dưỡng Chân hơn vẫn tiếp tục chảy lên đông bắc gặp và sát nhập với Sông Chợ Củi để cả hai đổ vào hai con sông lớn; một trong hai sông này là sông Câu Lâu (ngang Cầu Câu Lâu) chảy thẳng về hướng đông. Dòng còn lại là Sông Cầu Mống chảy vòng lên phía đông bắc bao bọc chung quanh gò nổi xã Câu Lâu (nay là Điện Phương Đông). Hiện nay, Sông Cầu Mống hầu như bị khô cạn.

Chợ Củi ngày xưa là một bãi bồi nằm bên trái đường Thiên Lý kéo dài xuống nam Điện Bàn. Buôn bán nơi đây rất thịnh vượng cho đến cuối thế kỷ 19. Chợ Củi tập trung hàng hóa từ thượng lưu Sông Thu Bồn, tải xuống Hội An buôn bán. Ngược lại, hàng ngoại quốc nhập cảng từ Hội An lại tập trung tại Chợ Củi và bán lên thượng du[136]. Vì thế, danh tiếng của Chợ Củi gần như trở thành huyền thoại đối với người dân địa phương.

Hình 15 cũng cho thấy trước khi thành sông Chợ Củi, sông Thu Bồn tách rẻ ra một nhánh sông nhân tạo lấy tên là Vĩnh Điện chảy về hướng đông bắc. Nó được đào ra ngay thôn Câu Nhi trên sông Thu Bồn chảy thẳng lên bắc-đông bắc và cuối cùng nối liền sông Cẩm Lệ ở Đà Nẳng, rồi đổ ra Cửa Hàn. Dưới đời vua Minh Mạng, nó đã được nới rộng hai lần (1822 và 1826). Điều này nói lên tầng lớp quan trọng của con sông nhân tạo này trong hệ thống sông ngòi Thu Bồn ở vùng Điện Bàn và Hội An trong lịch sử nhà Nguyễn.

Dựa theo Đại Việt Nhất Thống Chí, dịch ra và xuất bản năm 1964, dưới đời vua Gia Long, nhánh sông Chợ Củi (tức là sông Thu Bồn; ngay địa điểm này còn gọi là sông Chợ Cối[137]) thường thường còn gọi là sông nhỏ, có lượng nước thấp, nhưng sau khi vua Minh Mạng mở rộng sông Vĩnh Điện, nó trở thành sông lớn. Vì thế, đổi lại, con sông còn lại chảy song song với sông Chợ Củi là sông Bà Rén mà một trong hai chi nhánh chính của nó gọi là sông Dưỡng Chân chảy ngang qua, cắt huyện Duy Xuyên về hướng nam-bắc xưa kia xưa kia là sông lớn, nay biến thành thành sông nhỏ bắt đầu dưới đời vua Minh Mạng vì lượng nước đem đến từ nó ít đi.[138] Sau khi đọc qua những lời giải thích trong Đại Việt Nhất Thống Chí, chúng tôi có cảm tưởng rằng các sử gia trong đời Minh Mạng có lẽ muốn cho các thế hệ sau biết sự lệ thuộc của sông ngòi miền nam Điện Bàn vào sông Vĩnh Điện, sau khi nó được nới rộng. Từ những lời giải thích này, chúng ta có thể nhận thức rằng một khi sông Chợ Củi biến thành sông nhỏ hay lớn, sông Câu Lâu cũng theo vậy mà thôi vì hai sông tuy hai nhưng là một nối liền với nhau. Tương tự như thế, dựa theo Đại Việt Nhất Thống Chí, diện mạo của sông Dưỡng Chân lại trái ngược với sông Chợ Củi, nhưng tùy thuộc vào số lượng nước của sông Chợ Củi; khi sông Chợ Củi nhỏ đi, nó lại bành trướng và ngược lại. Vì sông Dưỡng Chân hầu như nối liền với sông Cầu Mống ở phía bắc, chúng tôi cũng có thể đặt thêm giả thuyết rằng mức độ nông hay sâu của sông Cầu Mống tùy thuộc vào diện mạo của sông Dưỡng Chân, đó là, khi sông Dưỡng Chân lớn mạnh, nó cũng lớn mạnh, và ngược lại.

Trải qua hơn 100 năm sau, vào năm 1958, khi Phạm Đình Khiêm, viếng thăm Thanh Chiêm, ông cho biết nay sông Chợ Củi nay trở lại thành sông nhỏ trở lại.[139] Những điều qua lại này cho thấy mặc dù lúc đầu sông nhân tạo Vĩnh Điện được nới rộng sâu hơn có thể đã thay đổi địa lý và chiều hướng nước chảy của các dòng sông lớn vùng nam Điện Bàn, nhưng sự ảnh hưởng của nó có giới hạn trong vòng hơn một trăm năm sau. Về sau này, có lẽ khi phù sa bắt đầu bồi đắp thêm dần theo thời gian, nó cạn dần; nhất là khi nó không được tu bổ, đào sâu thêm nữa. Vì thế ảnh hưởng của nó đối với hai nhánh sông chính Chợ Củi và Dưỡng Chân hầu như không còn nữa.

Trong phần trình bày “Địa Phận Châu Thổ Cần Húc” trước đó, từ hình chụp vệ tinh, chúng tôi đã khám phá ra rằng sông Vĩnh Điện và sông Cầu Mống đã được nối liền với nhau nhiều thế kỷ trước, và vì vậy, dần dần châu thổ Cần Húc được thành hình từ sự bồi đắp của phù sa từ sông Vĩnh Điện đổ ra sông Cầu Mống (Hãy xem Hình 9,10 và 11). Điều này được phản ảnh qua gia phả tộc Nguyễn Văn và hình ảnh vệ tinh. Vì thế, chúng tôi cho rằng Cần Húc thật sự là một châu thổ và cũng là lỵ sở của Dinh Quảng Nam vào năm 1602; Điều này cho thấy sông nhân tạo Vĩnh Điện không phải bắt đầu được đào dưới triều vua Minh Mạng mà đã ra đời cả mấy trăm năm trước đó; có thể bắt đầu dưới các thời đại nước Chiêm Thành.

Nhưng suy nghĩ kỹ hơn, chúng tôi nhận thấy rằng nối liền sông Vĩnh Điện với sông Cầu Mống là một lầm lỗi là vì mục đích đào sông Vĩnh Điện, theo chúng tôi nghĩ, là để quân bình số lượng nước giữa hai sông lớn chảy song song là sông Thu Bồn ở phía bắc và sông Bà Rén ở phía nam. Nói một cách khác, trong mùa nước lụt, nó sẽ rút bớt nước lũ từ sông Thu Bồn và mang ra Đà Nẳng đề rồi đổ ra cửa Hàn. Vì thế, nạn ngập lụt, sạt lở sẽ không xảy ra nữa hay sẽ bớt đi. Ngược lại, dựa theo Đại Việt Nhất Thống Chí, trong mùa khô cạn, con sông nhân tạo này tạo ra một lực có thể rút bớt nước từ sông Ba Rén để cung cấp thêm cho sông Thu Bồn. Nhưng vì một lý do nào đó, chúa Nguyễn, hay xưa hơn nữa từ đời Chiêm Thành, lại tiếp nối sông Vĩnh Điện vào với sông Cầu Mống bằng một dòng sông cổ. Sau nhiều năm, phù sa từ dòng sông cổ đã tạo ra sự bế tắc của sông Cầu Mống vì sau nhiều năm, vì có quá nhiều lớp trầm tích lắng đọng tại cửa sông Cầu Mống và dòng sông cổ, nơi châu thổ (delta) Cần Húc đã được tạo thành (hãy xem lại Hình 11). Tuy nhiên, qua nhiều năm tháng, chúng tôi nghĩ bãi bồi Cần Húc không những khiến cho dòng sông cổ bị bế tắc mà còn giảm số lượng nước chảy qua sông Cầu Mống. Chỉ tưởng tượng chúng ta có thể hình dung ra trong mùa lụt lội, dưới đời các chúa Nguyễn, vì sông Cầu Mống và Câu Lâu là hai dòng sông chính mang nước ra cửa Đại, một khi sông Cầu Mống bị bế tắc, sông Câu Lâu sẽ gánh hết số lượng nước rất lớn. Chỉ cần nghĩ đến điều này thôi, chúng tôi đã hình dung ra được cảnh lụt lội khắp nơi kể cả các miền thượng lưu lẫn hạ lưu của sông ngòi miền nam Điện Bàn.

Sau đây là một sơ đồ tượng trưng cho hệ thống sông Thu Bồn khi nó đi ngang qua miền nam Điện Bàn rồi chảy về hướng Hội An, và cuối cùng, đổ ra Cửa Đại:

Hình 16 – Sơ Đồ Sông Ngòi Miền Nam Điện Bàn (2023)

Hình 16 cũng cho thấy rằng xã Câu Lâu[140] nằm giữa hai dòng nước chảy của sông Cầu Mống ở phía bắc và sông Câu Lâu ở hướng nam. Nó nằm bên bờ sông bắc Câu Lâu; còn bờ nam là huyện Duy Xuyên. Về mặt bắc, xã này nằm sát cạnh xã Cần Húc cách ngăn bởi con sông Cầu Mống.

Hiện nay (2023), sông ngòi miền nam Điện Bàn tương đối vẫn còn giống vào năm 1930, nhưng sông Chợ Củi nay là sông lớn nối liền với sông Câu Lâu chảy ra cửa Đại. Nhưng ngược lại, sông Dưỡng Chân lại nông cạn đi, nhất là sông Cầu Mống nay chỉ còn lại là một dòng suối nhỏ chảy quanh phường Điện Phương Đông. Hãy xem bản đồ sau đây phản ảnh sông ngòi nam Điện Bàn hiện nay (Hình 17).

Hình 17 – Sông Ngòi Nam Điện Bàn Hiện Nay (2023). Nguồn: Viêtbando, 2011

Trong đầu thế kỷ 17, sông Cầu Mống và sông Câu Lâu mở rộng (Hình 9); thương thuyền qua lại rất đông từ cửa Đại và Hội An đến thành Thanh Chiêm mà lỵ sở là Cần Húc nằm bên bờ bắc sông Cầu Mống; bên bờ phía nam sông Cầu Mống là xã Câu Lâu – nay là phường Điện Phương Đông. Nhưng trong tranh Chaya (Hình 19) vẽ khoảng 1640 do các thương gia Nhật Bản, hình ảnh sông ngòi lẫn địa hình miền nam Điện Bàn đã thay đổi. Tranh Chaya cho thấy lòng sông Câu Lâu nay đã biến thành một bãi bồi khổng lồ nối liền với huyện Duy Xuyên ở phía nam. Trong hai dòng sông chính Chợ Củi và sông Dưỡng Chân giao nhau đổ về hướng đông. Dòng sông còn lại để nhận lấy số lượng nước lớn từ nguồn này là sông Cầu Mống; nay được nới rộng hơn xưa rất nhiều. Và vì thế, chúng tôi sẽ đặt ra giả thiết rằng vào năm 1640, cả hai địa phận xã Cần Húc và xã Câu Lâu đều lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên vì địa phận chúng nằm sát bên huyện này. Không những thế, chúng tôi cũng nhận thấy rằng Lê Quí Đôn, khi viết Phủ Biên Tạp Lục năm 1776, cũng còn công nhận rằng cả xã Cần Húc vẫn lệ vào huyện Duy Xuyên[141], trong khi xã Câu Lâu đã thuộc về huyện Diên Khánh từ lâu.[142]

Giả Thuyết về Sông Ngòi Nam Điện Bàn

Nhưng điều quan trọng hơn mà chúng tôi muốn tìm hiểu thêm là trong quá trình lịch sử, sự thay đổi, chuyển hướng của những con sông chính trong miền nam Điện Bàn đã ảnh hưởng đến phân chia ranh giới của các xã trong hai huyện như Duy Xuyên và Diên Khánh. Thêm vào nữa, chúng tôi cũng muốn tìm hiểu sự lệ thuộc của hai sông hạ lưu Câu Lâu và Cầu Mống từ hai dòng sông thượng Chợ Củi và Dưỡng Chân. Vì thế, chúng tôi đặt ra một số giả thuyết mới bao gồm 4 điều kiện hay trường hợp sau đây:

  1. Trong lịch sử nhà Nguyễn ở miền nam Điện Bàn, khi sông Chợ Củi trở thành sông lớn, sông Câu Lâu cũng biến thành sông lớn như vậy. Ngược lại, khi sông Chợ Củi biến thể thành sông nhỏ, sông Câu Lâu cũng như vậy.
  1. Trong lịch sử nhà Nguyễn ở miền nam Điện Bàn, khi sông Dưỡng Chân trở thành sông lớn, sông Cầu Mống cũng biến thành sông lớn như vậy. Ngược lại, khi sông Dưỡng Chân biến thể thành sông nhỏ, sông Cầu Mống cũng như vậy.

Ghi chú: Diện mạo hai sông Chợ Củi và Dưỡng Chân thường trái ngược với nhau. Khi sông Chợ Củi lớn, sông Dưỡng Chân nhỏ lại. Đây là dữ kiện được quan sát dưới đời vua Minh Mạng và nhắc đến trong Đại Việt Nhất Thống Chí.[143]

  1. Khi sông Câu Lâu trở thành sông nhỏ, trong khoảng thời gian sau đó, nó có thể khô cạn và trở thành một bãi bồi (tạm gọi là bãi bồi Câu Lâu – nên nhớ rằng khi hiện tượng này xảy ra, bãi bồi Câu Lâu thường rất rộng lớn vì khoảng cách giữa hai bờ sông bắc-nam rất rộng, khoảng 1 km[144]). Đồng thời về phương diện hành chánh, bãi bồi Câu Lâu vì nằm sát cạnh huyện Duy Xuyên nên nó sẽ được sát nhập vào huyện này. Tương tự như thế, xã Câu Lâu[145] vì là gò nổi nằm phía bắc bờ bãi bồi Câu Lâu, sẽ trở thành một phần địa phận của huyện Duy Xuyên. Suy diễn ngược lại, khi xã Câu Lâu lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên, điều này có nghĩa là sông Câu Lâu đã khô cạn đi hay biến mất thành bãi bồi và nối liền với huyện Duy Xuyên.
  1. Khi sông Cầu Mống trở thành sông nhỏ, lòng sông sẽ cạn dần. Lúc ấy, nó không còn quan trọng trong giao thương trên đường thủy nữa. Vì thế, sông Cầu Mống trở thành nông cạn và có thể thành một bãi bồi, xã Câu Lâu, trong thời gian nào đó, sẽ nằm sát bên lề hai xã Thanh Chiêm và Văn Đông hơn và vì thế, sẽ có khuynh hướng lệ thuộc vào huyện Diên Khánh (hay Diên Phước), hơn là huyện Duy Xuyên. Suy diễn ngược lại, khi xã Câu Lâu thuộc về huyện Diên Khánh, điều này có nghĩa là sông Cầu Mống đang cạn dần và có thể trở thành bãi bồi (giống như ngày nay).

Nhưng trước khi biện minh cho những giả thuyết trên, chúng tôi sẽ phân tích những sự thay đổi  sông ngòi chung quanh vùng Điện Bàn trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cho rằng chúng thay đổi theo  những quá trình nhất định. Nguyên do và tiến trình của những sự thay đổi này có thể xếp đặt theo ba trường hợp thứ tự như sau:

Chu Kỳ 1 – Sông Câu Lâu và Sông Cầu Mống Rộng Mở

Hãy xem Hình 9, tượng trưng cho hình ảnh sông ngòi Điện Bàn vào năm 1602 khi Chúa Nguyễn Hoàng ghé qua Cần Húc[146] lần đầu tiên và hai năm sau, quyết định đặt dinh trấn Quảng Nam tại nơi này. Tuy hình ảnh này được vẽ lại dựa vào công trình nghiên cứu của các nhà địa chất Vũ Văn Phái và Đặng Văn Bào, theo chúng tôi phải đặt giả sử rằng địa mạo của nam Điện Bàn trong hình phản ảnh quang cảnh địa thế vào thời ấy. Vào đầu thế kỷ 17, ngay ngã tư mà bốn con sông nhập làm một, hai dòng đi lên, đó là Sông Chợ Củi cùng với Sông Dưỡng Chân (Sông Bà Rén) nhập làm một dồn dập chảy về hướng đông bắc. Không bao lâu, dòng nước lũ này lại chia đôi khi tiến vào địa phận thuộc Cần Húc; Sông Cầu Mống[147] ở phía đông bắc tách rời xã Cần Húc ra hai miền nam và bắc (nằm phía bắc là xã Cần Húc và phía nam là xã Câu Lâu). Còn dòng Sông Câu Lâu chảy ở hướng nam bao bọc xã Câu Lâu và biến nó thành một gò nổi nằm chơi vơi giữa dòng Sông Câu Lâu và Cầu Mống.

Nếu chú ý hơn trên Hình 9, như chúng tôi đã trình bày trong các phần trước, có một nhánh sông cổ, nhỏ ngoằn ngoèo cắt đôi xã Cần Húc ra làm hai phần, tây và đông. Khi dùng hình vệ tinh từ Michelin map (Hình 10), chúng tôi nhận ra rằng nhánh sông nhỏ, ngoằn ngoèo này bắt ngưồn từ sông nhân tạo Vĩnh Điện; sau khi cung cấp một số lượng nước cho thành Điện Bàn, nó cuối cùng chảy xuôi về hướng nam, ra xã Cần Húc, chia đôi xã Cần Húc ra làm đôi. Phía tây xã Cần Húc là một châu thổ (delta). Thật đúng như lời diễn tả trong gia phả tộc Nguyễn Văn tại xã Câu Lâu.

Trong lịch sử, tương tự như vào đầu thế kỷ 17, Giáp Ngọ Bình Nam Đồ (Hình 18) trong tập bản đồ cổ Hồng Đức mà Bùi Thế Đạt đã vẽ và dâng lên Chúa Trịnh vào năm 1774 cho thấy địa lý sông ngòi trong vùng nam Điện Bàn vào thời khắc lịch sử này phản ảnh địa hình trong Hình 9 . Để bắt đầu trong công việc phân tích, chúng tôi tạm gọi đây là thời kỳ biến hóa của sông ngòi trong Chu Kỳ 1. Hãy xem Giáp Ngọ Bình Nam Đồ sau đây.

Hình 18– Giáp Ngọ Bình Nam Đồ (1774). Nguồn: Hồng Đức Bản Đồ, Tập 3; Tạp Chí Nghiên Cứu và Phát Triển, số 2 (109), 2014, trang 98-99

Nhìn trong Giáp Ngọ Bình Nam Đồ, về hướng đông nam của vùng Điện Bàn, chúng ta sẽ thấy môt gò nổi nho nhỏ nổi lềnh bềnh trên Sông Câu Lâu. Cái gò này chính là xã Câu Lâu – chính là Điện Phương Đông hiện nay. Ở phía bắc của nó có Sông Cầu Mống lượn quanh, còn ở phía nam, Sông Câu Lâu chảy từ tây sang đông, sát giữa gò nổi Câu Lâu và xã Mỹ Xuyên ở Huyện Duy Xuyên. Ở bên trái của gò nổi Điện Phương Đông là bãi nổi Chợ Củi mà sau này vào khoảng cuối thế kỷ 19 bị chìm dưới lòng sông Thu Bồn. Điều này chứng tỏ vào năm 1774, địa hình phía nam Điện Bàn cho thấy sông ngòi chảy hiền hòa từ tây sang đông để cuối cùng đổ ra biển Đông.

Tuy Giáp Ngọ Bình Nam Đồ là một bản đồ vẽ bằng tay, chúng ta có thể nhận thấy rằng tất cả các sông Chợ Củi, Câu Lâu, Cầu Móng, Dưỡng Chân đều rộng mở; tuy vậy, kích cở của hai sông Chợ Củi và Câu Lâu dường như rộng lớn hơn hai sông Cầu Mống và Dưỡng Chân. Dựa theo lời diễn tả của nhà thám hiểm người Pháp Camille Paris (1856-1908), vào năm 1889, chiều rộng của sông Câu Lâu nhìn từ bờ Mỹ Xuyên (nay thị trấn Nam Phước) qua bờ Chợ Củi rất rộng, khoảng 1 km.[148]

Kết Luận

Vì thế, chúng tôi có thể kết luận rằng, Hình 9 – Sông Thu Bồn ở Đầu Thế Kỷ 17 và Hình 18 – Giáp Ngọ Bình Nam Đồ phản ảnh địa thế sông ngòi miền nam Điện Bàn trong những năm 1602 và 1774; các sông như Chợ Củi, sông Dưỡng Chân, sông Câu Lâu và sông Cầu Mống đều mở rộng; nước sông chảy điều hòa. Đây là hình ảnh của êm đềm, lý tưởng mà sông ngòi ở miền nam Điện Bàn đưa lại. Chúng tôi gọi sông ngòi miền nam Điện Bàn trong những năm này đang nằm trong Chu Kỳ 1.

Trong Chu kỳ 1, sông Chợ Củi và Câu Lâu là sông lớn; còn hai sông Dưỡng Chân và Cầu Mống là hai sông nhỏ hơn. Những dữ kiện này cho thấy những điều kiện trong điều khoản 1 và điều khoản 2 trong giả thuyết về Sông Ngòi Nam Điện Bàn là đầy đủ và chính xác. Cũng vì là sông nhỏ, sông Cầu Mống cạn dần và vì thế, xã Câu Lâu nằm gần xã Cần Húc hơn và cuối cùng được sát nhập vào huyện Diên Khánh, như Lê Quí Đôn đã cho biết trong Phủ Biên Tạp Lục (1776). Do đó, điều kiện trong điều khoản 4 cũng được chứng minh là sự thật.

Chu Kỳ 2 – Sông Câu Lâu Bồi; Sông Cầu Mống Lở (1640)

Hình 19 – Tranh Chaya Shinroku Kochi toko zukan vẽ vào đầu thế kỷ 17. Nguồn: Trần Đức Anh Sơn

Tranh Chaya diễn tả khung cảnh tấp nập của một thương thuyền Nhật Bản sắp cặp bến vào thương cảng Hội An vào năm 1640[149] – Hình 19 và 20. Sau khi tiến vào Cửa Đại, ba chiếc ghe nhỏ kéo thẳng nó vào bờ. Trong hình cũng cho thấy một căn nhà dài, mái nhà tươm tất lợp rơm. Lối kiến trúc của mái nhà và sàn nhà cho biết nó là một ngôi nhà Nhật Bản, được các thương nhân Nhật Bản dựng lên và hiến tặng cho Chúa Nguyễn[150]. Đây là lối trang bị của một căn nhà nông thôn nōka với một mái nhà rơm theo kiểu irimoya ở đầu thế kỷ 17 dưới chế độ Mạc Phủ Tokugawa. Đàng sau nhà có một cột gác cao, hướng về phía bờ sông. Toàn bộ khu nhà nằm sát bên bờ sông; cây cối xén gọn; trông rất tươm tất. Về hướng đông, không xa căn nhà khách cho lắm là một con đường đất, hai bên trồng cây thẳng lối, chạy về hướng tây. Đó là Hội An, nơi hội chợ để trao đổi thương vật giữa các thương nhân Đàng Trong, Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha hay Hà Lan. Căn nhà đồ sộ mà chúng tôi đặt tên một cách nôm na là Trạm Thương Khách nằm về hướng tây nam Điện Bàn là nơi Công Tử Nguyên (1602-1613), con trai trưởng của ngài Công Tử Kỳ (1613-1631), hay con trai út Công Tử Anh (1631-1635) tiếp cận các thương nhân ngoại quốc vào đầu thế kỷ 17.

Tiểu Sử Tranh Chaya

Tranh Chaya (Hình 19) miêu tả cuộc hải hành của một chiếc thuyền buôn thuộc gia đình Chaya Shirojiro đến Hội An. Gia đình này rất nổi tiếng ở Nhật Bản và là một trong số vài thương gia được Mạc Phủ Tokugawa ưu đãi và cấp giấy thông hành mỗi năm gọi là Châu Ấn Trạng[151] đến Hội An mua lụa và các sản phẩm khác.

Sự thật thì cái tên họ Chaya (có nghĩa là “quán nước trà” trong tiếng Nhật Bản) không phải là tên họ thật của dòng họ quí phái này – “Shirojiro” mới là thật. Câu chuyện kể lại trong thời vua Tenbun (1532-1554), một hiệp sĩ mang tên họ Nakajima, thuộc địa phận Lãnh Chúa Shirojiro trong tỉnh Yamashiro mở một quán trà ở Tokyo. Hàng ngày, vì quá yêu thích mùi vị trà của quán này, Mạc Phủ Ashikaga Yoshiteru thường không quên ngừng chân thưởng thức vị thơm của trà Nakajima. Bắt đầu từ đó, dòng họ này lấy tên là Chaya và cái họ Nakajima bị quên lãng đi. Sau này Lãnh Chúa Shirojiro của tỉnh Yamashiro phục tòng Mạc Phủ tướng quân Tokugawa Iyeyasu và trong cuộc nội chiến sau đó lập rất nhiều chiến công. Sau khi chiến thắng trong cuộc nội chiến, dòng họ Shirojiro được Iyeyasu ban ơn huệ buôn bán lụa nhập cảng tử Đàng Trong. Khi đến Đàng Trong trong nhiều năm, nhà buôn lụa này được gọi là Chaya Shirojiro[152].

Hình 20 – Tranh Chaya – Điện Bàn (1640). Nguồn: Hình CI.5 – Thi Bao Chau Huynh. Patrimoinearchitectural, urbain, aménagementettourisme: ville HôiAn – ViêtNam. Géographie. Université Toulousele Mirail -ToulouseII, 2011. Français. NNT: 2011TOU20062. Tel-00717654, trang 32.

Nhìn Hình 20 – Tranh Chaya Điện Bàn (1640) một cách tổng quát, chúng ta có cảm tưởng một cảnh vui nhộn, nhưng không kém êm đềm giữa người và nước non bao la. Một điều nên lưu ý là sông Thu Bồn khi đổ về hướng thành phố Hội An lúc ấy rộng bao la. Trong khi đó, cũng như trong Tranh Chaya, Huyện Duy Xuyên trông giống như một thoi nhọn chọc thẳng hướng về góc quẹo quanh của Sông Cầu Mống. Nằm trên cùng mũi thoi là xã Câu Lâu (Hiện nay là Điện Phương Đông). Tranh Chaya cho thấy xã Câu Lâu có một cái chợ rất lớn bao gồm ba dãy sập dài tiếp nối với nhau và xếp gọn thành chữ U. Để tránh mưa, che nắng ở phía trên là mái nhà lợp bằng rơm. Vùng bãi bồi Câu Lâu nằm giữa xã Câu Lâu và xã Mỹ Xuyên đông và tây.

Sau đây là sự suy nghĩ của chúng tôi hiện giờ chỉ dựa vào Tranh Chaya.

Càng quan sát tỉ mỉ cảnh vật trong Tranh Chaya khiến chúng tôi hình dùng cảnh thơ mộng của ngày nào, chúng tôi càng cảm thấy cảm khoái hơn. Non nước Việt Nam ngày xưa rất đẹp một cách thiên nhiên, hùng vĩ. Chỉ cần tưởng tượng chính mình đang đứng bên bờ nam Sông Chợ Củi nhìn về hướng bắc chỉ có thể cảm thấy con người quá nhỏ bé vì chúng tôi không nhìn rõ cảnh vật bên bờ kia. Có thể chúng tôi chỉ cảm nhận bằng trực giác mấy lá cờ bay trắng lẫn đỏ bay lất phất, xa xa trên chiếc thuyền buồm Nhật mới cập bến. Nằm bên cạnh nó là Trạm Thương Khách, đồ sộ, cất lên bằng thanh gỗ tròn, vĩ đại, dài thườn thượt dựng cao ngất trời. Chúng tôi cũng tưởng ra được nụ cười niềm nở trên mặt của Công Tử Kỳ, vị trai trưởng của Chúa Sãi độ tuổi 40 đang ngồi ghế trên bục cao, nhìn xuống và niềm nở đón tiếp đón một vài vị khách Nhật Bản quì dưới sàn đất vào đầu thế kỷ 17. Chúng tôi ước gì mình được trở về quá khứ để được hưởng thụ giây phút thần tiên này.

Những Thay Đổi từ Chu Kỳ 1 qua Chu Kỳ 2

Để dễ dàng hình dung ra hình thù sông ngòi chung quanh Điện Bàn và địa mạo đất đai vào năm 1640, cũng như sự thay đổi từ 1602 đến 1640, sau đây là hình ảnh của Tranh Chaya vẽ chồng lên địa phận và thủy phận của vùng Điện Bàn vào đầu thế kỷ 17 – Hãy xem Hình bên dưới.

Hình 21 – Tranh Chaya (1640) Vẽ Chồng Lên Địa Hình Hội An Vào Đầu Thế Kỷ 17

Chúng tôi nghĩ, Hình 20 phản ảnh địa lý xác thực của miền nam Điện Bàn và đầm Hội An khi G.S. Pina dọn nhà về Dinh Chiêm từ Nước Mặn, Qui Nhơn vào khoảng hè năm 1620.

Khác với những năm trước kia, sông Câu Lâu mà trong Chu Kỳ 1 đã từng chảy cuồn cuộn thẳng ngang qua huyện Duy Xuyên tách rời xã Câu Lâu (hãy trở lại xem Hình 9) ra khỏi huyện Duy Xuyên, nay đã biến thành một bãi bồi rất rộng lớn (dựa theo tên của nhánh sông, chúng tôi tạm thời gọi nó là bãi bồi Câu Lâu). Nối liền với bãi bồi Câu Lâu, ở phía nam là hai xã Mỹ Xuyên Tây và Đông.[153] Ở phía bắc, nằm trên vòm vẫn là địa phận của xã Câu Lâu (gò nổi hình như chiếc lá). Cũng như trước đây, sông Cầu Mống mở rộng hơn trước nhiều; nó được cung cấp bởi hai sông Chợ Củi (sông Thu Bồn ở miền thượng du) và sông Dưỡng Chân và nay sát nhập thành một. Đây là sự thay đổi rõ rệt trong Chu Kỳ 2 mà vùng nam Điện Bàn đã trải qua. Tuy nhiên, vì tranh Chaya chỉ tượng trưng cho một đốm sáng trong lịch sử vào khoảng 1640, chúng tôi hoàn toàn không biết Chu kỳ 2 đã bắt đầu từ khi nào. Nhưng giống như tranh Chaya, qua các bản đồ cổ khác, hiện tượng này cũng đã xảy ra nhiều lần trong những năm 1859 (Hình 22), 1886 (Hình 23) và khoảng 1907-1916 (Hình 7). Vào những thời điểm này, địa thế của nam Điện Bàn đã thay đổi nhiều, có lẽ những năm trứớc có nhiều hạn hán liên tiếp. Vào năm ấy 1617, lịch sử Đàng Trong cho biết mùa màng và ruộng mương khô héo.[154] Có lẽ sau nhiều năm như thế, sông Câu Lâu, một phần bị bồi dưỡng quá nhiều bởi phù sa nay đã bị cạn nước và cuối cùng biến thành một bãi bồi to lớn. Đây là một lối suy nghĩ của chúng tôi để giải thích tại sao sông Câu Lâu lại biến đổi như thế. Còn lý do thật sự là gì, chúng ta phải cần thêm sự giúp đỡ của nhà địa lý học, địa chất học hay khảo cổ học sau này.

Ở phía nam của xã Câu Lâu, nay Sông Câu Lâu đã bị bít kín, vì thế, cả hai dòng nước từ Sông Chợ Củi và Sông Dưỡng Chân chảy đổ dồn về hướng Sông Cầu Mống khiến nó dâng cao và bành trướng rộng hơn; chỉ tưởng tượng chúng ta cũng có thể nhận thức rằng trong những mùa lụt lội, nước sông bỗng nhiên dâng cao rất nhanh chóng và cuốn đi nhà cửa hai bên bờ sông; đất đai hai bên bờ bắt đầu lở sập. Không những thế, các miền thượng lưu bắt đầu từ sông Chở Củi trở lên, vì số lượng nước quá lớn và bị ứ đọng, cũng bị ảnh hưởng trầm trọng trong mùa lụt lội. Chỉ cần tưởng tượng thôi cũng đủ thấy thiên tai lụt lội, sạt lở chắc chắn phải kinh hoàng vì rất nhiều nhà cửa, nhân mạng bị nước cuốn ra biển. Có lẽ bị sạt lở thường xuyên nên hai bên bờ con sông Cầu Mống trong Chu Kỳ 2 có vẻ mở rộng hơn trước rất nhiều. Chúng tôi nghĩ có thể lụt lội là một trong những lý do chính mà Chúa Nguyễn quyết định dời lỵ sở Cần Húc về hướng tây nam tiến về xã Thanh Chiêm và cũng vì vậy mà thành trì Dinh Chiêm được xây dựng trong địa phận nam Điện Bàn hướng về Sông Chợ Củi. Nơi đây dòng Sông Chợ Củi rộng lớn; mạch nước chảy hiền hòa, rất tiện lợi cho thủy, thương vận trên sông.

Trong Chu Kỳ 2 này, chúng tôi nghĩ lãnh thổ của huyện Duy Xuyên bành trướng rất rộng bao trùm luôn các xã đã từng lệ thuộc về huyện vào huyện Diên Khánh như  Câu Lâu, Đông An, Phú Chiêm, Mỹ Xuyên đông, Mỹ Xuyên tây, v.v… vì các xã này nằm gần huyện Duy Xuyên hơn là Diên Khánh. Nếu đây là lý do xác thực thì địa lý sông ngòi và địa mạo vùng nam Điện Bàn trong chu kỳ này khác hẳn năm 1776, khi Lê Quí Đôn xuất bản sách Phủ Biên Tạp Lục.

Hình 22 – Nam Điện Bàn 1859; nguồn trích từ Wikipedia

Hình 23 – Nam Điện Bàn trong thời vua Đồng Khánh (1886); Nguồn: Thi Bao Chau Huynh. Patrimoinearchitectural, urbain, aménagementettourisme: ville HôiAn – ViêtNam. Géographie. Université Toulousele Mirail -ToulouseII, 2011. Français. NNT: 2011TOU20062. tel-00717654, trang 46.

Kết Luận

Từ tranh Chaya vào đầu thế kỷ 17, chúng ta có thể kết luận rằng tình trạng thay đổi của hai sông Câu Lâu và Cầu Mống tiếp diễn theo Chu Kỳ 2, đó là sông Cầu Mống trở thành sông lớn, còn lòng sông Câu Lâu bị khô cạn và trở thành bãi bồi khổng lồ. Chu kỳ này có thể thấy bắt đầu nhiều năm trước 1640 như trong Tranh Chaya đã vẽ, nhưng mãi đến hơn 200 năm sau (1859) – Hãy xem Hình 22, nó mới trở lại trong lịch sử sông ngòi tại nam Điện Bàn. Tiếp tục hiện tượng này, chúng ta sẽ thấy chu kỳ này tiếp tục trong đời vua Đồng Khánh (1886) – Hình 23, và nhất là qua tấm bản đồ thời Pháp thuộc (1907-1916) – Hình 7 cho thấy địa phận nam Điện bàn đã thay đổi rất nhiều và rất giống như trong tranh Chaya.

Trong Chu Kỳ 2, huyện Duy Xuyên có lẽ bành trướng lớn rộng ra bao gồm luôn cả xã Câu Lâu, vùng đất mầu mỡ bãi bồi Câu Lâu và một số xã nằm giữa biên giới hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh như Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, Bình An Thượng, Thạch Bàn, v.v.. Dĩ nhiên, trong Chu Kỳ này, huyện Diên Khánh bị nhỏ đi vì mất đi các xã này.

Nhưng dưới đời vua Gia Long, địa bạ Quảng Nam (1812) cho thấy xã Câu Lâu lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên.[155] Ngoài ra, sông Câu Lâu lúc đó cũng là sông nhỏ,[156] nên chúng ta có thể suy luận thêm là sông Chợ Củi lúc này cũng là sông nhỏ (vì hai nhánh sông chính này nối liền với nhau). Nhưng ngược lại sông Dưỡng Chân, dưới đời vua Gia Long, lại là sông lớn.[157] Quang cảnh này rất giống như được diễn tả trong tranh Chaya – sông Cầu Mống cũng là sông lớn. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng vào thời vua Gia Long (1762-1820) và chúa Sãi (1563-1635), sông ngòi vùng nam Điện Bàn đang nằm trong Chu Kỳ 2. Và cũng vì thế, những điều kiện trong điều khoản 3, cùng với điều khoản 2 trong Giả Thuyết về Sông Ngòi Nam Điện Bàn đều phản ảnh sự thật. Dựa vào tranh Chaya, xã Câu Lâu có thể lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên vì nằm sát bên cạnh huyện này, cách nhau bởi bãi bồi Câu Lâu.

Riêng về xã Cần Húc, kể từ đầu thế kỷ 17, chúng tôi nghĩ nó lúc nào cũng lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên vì Cần Húc biểu hiện cho thuộc đúc đồng Cần Húc mà thuộc này luôn luôn là sở hữu của huyện Duy Xuyên. Lịch sử nam tiến trong thời chúa Hiền (1620-1687) đã chứng minh rằng không những các thuộc Đúc Đồng đã tồn tại mà dự án đúc súng thần công cũng thành công trọn vẹn dưới đời vị chúa này. Vì thế, xã Cần Húc không thể bị đổi về huyện Diên Khánh được cho đến khi thuộc Cần Húc bị bãi bỏ. Dựa theo lịch sử, chúng tôi phỏng đoán rằng sau năm 1806, khi xã Cần Húc bị đổi tên thành Văn Đông thì thuộc Cần Húc không thể tồn tại được nữa. Chúng tôi tiện đây cũng muốn nhắc nhở rằng Lê Quí Đôn, vào năm 1776, còn cho biết rằng lúc ấy, xã Cần Húc vẫn lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên.[158]

Chu Kỳ 3 – Dòng Sông Cầu Mống Khô Cạn; Sông Câu Lâu Khôi Phục

Mặc dù tấm bản đồ cũ kỹ này được vẽ thời chiến tranh Việt Nam (1972-1984) – Hình 24 biểu tượng cho địa hình và chiều hướng  sông ngòi trong miền nam Điện Bàn hiện nay (2023), nó vẫn còn giá trị để học hỏi. Sông ngòi  miền nam Điện Bàn hiện nay biểu hiện cho Chu Kỳ 3.

Hình 24 – Sông Ngòi Chung Quanh Điện Bàn (1972-1984). Nguồn: US Army, University of Texas, Austin

Những Thay Đổi từ Chu Kỳ 2 Sang Chu Kỳ 3

Để hiểu rõ những sự thay đổi trong địa hình miền nam Điện Bàn xảy ra từ Chu Kỳ 2 sang Chu Ky 3, chúng tôi có thể lấy Hình 24 và vẽ chồng lên Tranh Chaya (1640) thì sau đây là  những điều bổ ích mà chúng tôi nhận thấy như sau:

Hình 25 – Địa mạo Điện Bàn Ngày Nay (2023) Vẽ Chồng Lên Tranh Chaya (1640)

Vào năm 1640, sông Cầu Mống rất rộng, nhưng hai bên bờ có hình dáng cong cong nói lên rằng con sông này tương đối hiền hòa vì cạnh bờ sông không có những cạnh sắc, nhọn. So với quá khứ, Sông Cầu Mống ngày nay (2023) đã ngoằn ngoèo hơn nhiều, ăn sâu vào nội địa hơn so với 400 trăm năm về trước, nhưng con sông này đã gần như khô cạn và bây giờ chỉ là một con suối nhỏ mà thôi. Điều này cho thấy rằng trong quá khứ, vào những năm lụt lội, áp suất nước trên sông Cầu Mống mạnh mẻ, tàn phá những vùng đất đai mềm nên chiều hướng sông Cầu Mống thay đổi và có khuynh hướng chảy thẳng về phía bắc, nhưng không thể lấn sâu hơn nên phải quành lại về hướng đông vì đất đai tại Cần Húc có vẻ vững chắc và có độ cao. Ngược lại, ở hướng nam, bãi bồi Câu Lâu xảy ra vào năm 1640 nối liền với xã Mỹ Xuyên, thuộc Huyện Duy Xuyên nay đã biến mất vì bị sông Thu Bồn nuốt trọn. Ở trong đầm Hội An, gò nổi mới, cũ bắt đầu hình thành, thí dụ như gò nổi Kim Bồng, Cẩm Bồng, hay Trà Nhiễu,v.v… được phù sa bồi đắp rất nhiều. Còn con sông Cầu Mống cũ (1640) hình cong cong ngày nào cũng đã biến mất và phần lớn trở thành bãi đất bồi màu mở thuận tiện cho trồng trọt. Huyện Duy Xuyên xưa kia trong Chu Kỳ 2, không những mất đi bãi bồi Câu Lâu rộng lớn mà nay cũng mất đi một phần đất ở phía bắc vì xã Câu Lâu không còn thuộc vào nó nữa. Hãy xem Hình 25.

Trong bài tường trình với nhan đề “Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc – Bà Chúa Tàm Tang Trong Sự Nghiệp Phát Triển Nghề Tơ Tằm Xứ Quảng”, tác giả Nguyễn Phước Tương cho biết trong quá khứ, vào năm 1680[159] đã có một trận đại hồng thủy cuốn đi nhà thờ phượng Bà Hiếu Chiêu Hoàng Hậu[160] ở Làng Đông Yên, Huyện Duy Xuyên. Chúng tôi nghĩ trong mùa lụt năm ấy, nước lũ đã cuốn đi đất đai, sụp đổ không biết bao nhiêu nhà cửa dân chúng và cũng có thể thay đổi chiều hướng sông ngòi một lần nữa. Có lẽ vì thế mà Sông Câu Lâu và Sông Cầu Mống đã trao đổi địa mạo cho nhau. Trong trường hợp này, cũng có thể con sông Cầu Mống sẽ hẹp lại trong khi Sông Câu Lâu sẽ khôi phục lại sự hùng vĩ của nó. Nếu muốn biết sự thật, chúng tôi sẽ dùng Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư của Đỗ Bá vẽ vào năm 1686 (Hình 12) để khảo nghiệm vì tấm bản đồ này được vẽ ra chỉ 6 năm sau cơn lụt này.

Trái ngược với những thập niên trước 1686, Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư cho thấy Sông Câu Lâu và Sông Cầu Mống có sự thay đổi trầm trọng. Sông Cầu Mống hầu như bị cạn hết nước (nên không được vẽ lên bản đồ) và dần dần trở thành bãi bồi. Ngược lại Sông Câu Lâu bành trướng lớn hơn trước rất nhiều và trở nên đường giao thông bằng đường thủy chính yếu giữa Chợ Củi và Hội An. Có lẽ bắt đầu từ đây, Chu Kỳ 2 được xem là chấm dứt và nhường chỗ cho Chu Kỳ 3.

Đặc biệt hơn nữa là điạ hình phương bắc Huyện Duy Xuyên nay đã thay đổi mà trước đây nó giống như một thỏi dùi nhìn về hướng xã Cần Húc, nay biến ra một mặt nhẵn, phẳng phiu. Điều này nói lên rằng xã Câu Lâu và bãi bồi Câu Lâu không thuộc về nó nữa. Khi so sánh Hình 12  với Hình 24 – Sông Ngòi Chung Quanh Điện Bàn (1972-1984), chúng tôi nghĩ, địa hình của miền nam Điện Bàn trong những giai đoạn này phản ảnh tình trạng sông ngòi hiện nay (2023) ở nam Điện Bàn.

Gần một trăm năm sau, khi hai sĩ quan người Anh Captain Arthur Gore và Philip Bromfield ghé ngang thành phố Hội An vào năm 1764, địa hình hai con sông Cầu Mống và Câu Lâu cũng chưa thay đổi từ Chu Kỳ 3. Hãy xem Hình 26 sau đây:

Hình 26 – Sông Ngòi Chung Quanh Nam Điện Bàn (1764). Nguồn: Đại Úy Arthur Gore và Philip Bromfield trên Tàu Chiến, Hải Quân Anh Quốc

Hình 27 cũng phản ảnh bản đồ nam Điện Bàn vào năm 1930 vẫn trong Chu Kỳ 3. Trong khoảng thời gian này, Cần Húc (sau này là Văn Đông) đã không còn trên bản đồ mà chỉ còn xã Thanh Chiêm mà thôi. Bản đồ này cũng cho thấy thành trì Dinh Chiêm cũ đã bị phá hũy, nhưng thành Điện Bàn xây bằng gạch, vẫn còn nằm gần đường Thiên Lý trong xã La Qua.

Hình 27– Nam Điện Bàn Dưới Thời Pháp Thuộc (1930); Nguồn: Thi Bao Chau Huynh. Patrimoine architectural, urbain, aménagement et tourisme : ville Hôi An – Viêt Nam. Géographie. Université Toulouse le Mirail – Toulouse II, 2011. Français. ‌NNT : 2011TOU20062‌. ‌tel-00717654

Kết Luận

Nói tóm lại, Chu Kỳ 3 phản ảnh sự trái ngược về địa thế và địa hình của hai con sông Câu Lâu và Cầu Mống trong Chu Kỳ 2. Trái với Chu Kỳ 2, sông Câu Lâu nay đã khôi phục vẻ hùng vĩ của nó như trong Chu Ky 1, trong khi sông Cầu Mống trở nên khô cạn thành một bãi bồi hay chỉ còn là một con suối nhỏ. Chỉ trong Chu Kỳ 3, xã Câu Lâu được thống nhất với xã Văn Đông để lệ thuộc huyện Diên Khánh một cách trọn vẹn – cũng giống như hiện nay, cả hai vùng đất xưa góp lại với nhau thành phường Điện Phương trong thị xã Điện Bàn. Tương tự như thế, chúng tôi nghĩ các xã nằm gần biên giới giữa hai như Văn Đông, Câu Lâu, Đông An, Mỹ Xuyên đông, và Mỹ Xuyên Tây đều được sát nhập vào huyện Diên Khánh. Mất đi các xã này, cùng với bãi bồi Câu Lâu, huyện Duy Xuyên trở nên nhỏ hẹp đi rất nhiều. Dựa vào một số bản đồ cổ được thu thập gần đây, Chu Kỳ 3 xảy ra trong những năm 1668, 1764, 1930 và hiện nay (2023).

Tóm Tắt Hệ Thống Sông Ngòi miền Nam Điện Bàn

Trong vùng Hội An, những dòng nước lũ từ dãy núi Trường Sơn tràn ngập đầm hầu như xảy ra mỗi năm trong mùa mưa. Vì thế, mỗi lần thời tiết nổi cơn mưa gió bắt đầu tháng 9, địa hình sông ngòi ở Hội An, nói chung, hay Điện Bàn, nói riêng, hay thưòng thay đổi. Chung quanh thành Dinh Chiêm, phía nam Địa Bàn, được bao bọc bởi bốn con sông chính; sông Chợ Củi nối liền với sông Câu Lâu; sông Dưỡng Chân chảy thẳng lên hướng bắc cung cấp một phần năng lượng cho sông Cầu Mống; sông Câu Lâu nối với sông Thu Bồn ở hướng đông chảy ra cửa Đại. Còn sông Cầu Mống chảy xuyên qua Cần Húc (nay là phường Điện Phương Tây) và xã Câu Lâu (nay là phường Điện Phương Đông) về hướng đông bắc. Sau khi khám nghiệm các bản đồ xa xưa bắt đầu từ đời Chúa Nguyễn Hoàng chúng tôi mới khám phá ra rằng địa hình Dinh Quảng Nam từ năm 1602 cho đến nay 2023 thay đổi tùy thuộc vào cá chất của bốn con sông này mà sự thay đổi của chúng dựa theo định luật chu kỳ – mỗi sông, có lúc khô cạn, có khi thành sông nhỏ, nhưng có khi trở thành con sông cái đầy rẩy nước non. Mỗi khi xảy ra có nơi chúng bồi đắp, nhưng có nơi lại khiến đất lở gây thiên tai cho dân chúng trong vùng. Sau đây là những dữ kiện lịch sử bắt đầu từ 1600 cho đến nay mà chúng tôi lượm nhặt được trong các bản đồ cổ:

Năm Chu Kỳ S. Chợ Củi S. Câu Lâu S. Dưỡng Chân S. Cầu Mống Xã Câu Lâu lệ thuộc huyện (phỏng đoán) Chú thích
1600 1 lớn lớn Tương đối lớn Tương đối lớn Diên Khánh[161] Hình 9 – Tranh phác họa do các nhà địa chất vẽ.
1640 2 nhỏ Bãi bồi lớn lớn Duy Xuyên Hình 19 – Chi tiết từ Tranh Chaya. Vào năm 1640, xã Câu Lâu có thể lệ thuộc huyện Duy Xuyên vì địa phận của nó nối liền với bãi bồi Câu Lâu và xã Mỹ Xuyên thuộc huyện Duy Xuyên ở phía nam.
1686 3 lớn lớn nhỏ con suối Diên Khánh Hình 12 – Đỗ Bá: Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư;. Địa hình giống như ngày nay (2023).
1764 3 lớn lớn nhỏ con suối Diên Khánh Hình 26 – Arthur Gore, Philip Bromfield –. Địa hình giống như ngày nay (2023) – Hình 11, 14, 16, 23 và 26 .
1774 1 lớn lớn Tương đối lớn Tương đối lớn Diên Khánh Hình 18 – Bùi Thế Đạt – Giáp Ngọ Bình Nam Đồ –. Dữ kiện từ Lê Quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục cho biết xã Câu Lâu trực lệ huyên Diên Khánh (Phủ Biên Tạp Lục, trang 107-108).
1802-1820 2 nhỏ Bãi bồi lớn lớn Duy Xuyên Đây là những chi tiết trích ra từ Đại Nam Nhất Thống Chí dưới đời vua Gia Long (1802-1820) – Chữ viết bằng mực đỏ là lối suy diễn của chúng tôi. Dữ kiện từ Nguyễn Đình Đầu trong Địa Bạ Quảng Nam (1812) cho biết xã Câu Lâu lệ thuộc huyện Duy Xuyên (Tập 1, trang 44).
1822-1826 3 lớn lớn nhỏ con suối Diên Khánh Đây là những chi tiết trích ra từ Đại Nam Nhất Thống Chí dưới đời vua Minh Mạng (1820-1841) – Chữ viết bằng mực đỏ là lối suy diễn của chúng tôi.
1859 2 nhỏ Bãi bồi lớn lớn Duy Xuyên Hình 22 – Nam Điện Bàn 1859.
1886 2 nhỏ Bãi bồi lớn lớn Duy Xuyên Hình 23 – Nam Điện Bàn dưới Thời vua Đồng Khánh.
1907-1916 2 nhỏ Bãi bồi lớn lớn Duy Xuyên Hình 7. Giống như địa thế trong tranh Chaya.
1930 3 lớn lớn nhỏ con suối Diên Khánh Hình 27. Nam Điện Bàn Dưới Thời Pháp Thuộc (1930); Địa hình giống như ngày nay (2023).
1972-1984 3 lớn lớn nhỏ con suối T.X. Điện Bàn Hình 24 – Quân lực Bộ binh Hoa Kỳ. Nguồn University of Texas. Địa hình giống như ngày nay (2023).
Ngày nay 2023 3 lớn lớn nhỏ con suối T.X. Điện Bàn Hình 17 – Google Map hay Google Earth. Đây là địa hình ngày nay (2023).

Bảng 3 – Sự Thay Đổi của Sông Ngòi Chung Quanh Điện Bàn trong Quá Trình Lịch Sử

Giả sử sông ngòi vùng Điện Bàn bắt đầu thay đổi từ thế kỷ 17, nhìn vào Bảng 3 chúng ta sẽ nhận thấy sự thay trong nhiều thế kỷ. Trong Chu Kỷ 1, hai con sông Cầu Mống và Câu Lâu đều hiền hòa rộng mở cho tàu bè qua lại từ Sông Chợ Củi đến Sông Thu Bồn ở Hội An. Nhưng chẳng bao lâu sau, khi người Nhật Bản và người Minh Hoa tụ tập buôn bán ở Hội An (đầu thế kỷ 17), qua Tranh Chaya (1640), chúng ta có thể quan sát sự thay đổi rõ rệt khi Sông Câu Lâu dần dần khô cạn và biến thành một bãi bồi khổng lồ – sự thay đổi không thể xảy ra một sớm, một chiều mà trong một khoảng thời gian dài, nhất là trong những năm hạn hán, thí dụ dựa theo lịch sử Dòng Tên ở Đàng Trong vào mùa hè 1617, G.S. Buzomi bị giam lỏng tại bãi biển Đà Nẳng. Dựa theo giáo sử của Dòng Tên, trong năm ấy, hạn hán rất lâu. Sông Cầu Mống bành trướng thành một sông lớn, nhưng hai bên bờ có dấu hiệu sạt lở so với Chu Kỳ 1. Đó là dấu hiệu thuyên chuyển qua Chu Kỳ 2.  Còn Chu Kỳ 3 có lẽ khởi xướng khi trận đại hồng thủy ập xuống Điện Bàn vào năm 1680. Trong vòng 6 năm sau, Đỗ Bá, qua Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, cho biết hai con sông Câu Lâu và Cầu Mống lại đổi vị trí cho nhau. Lần này, Sông Câu Lâu lại tràn ngập nước. Đổi lại, Sông Cầu Mống nhỏ dần từ một dòng sông lớn ra một dòng sông nhỏ bé hay chỉ còn là một rạch nước nhỏ. Vào năm 1774, thông qua Giáp Ngọ Bình Nam Đồ, chúng ta có thể nhận thấy trạng thái sông ngòi ở Điện Bàn quay trở lại Chu Kỳ 1. Tiếp sau đó, chúng ta có thể thấy được rằng Chu Kỳ 2 trở lại, giống như trong tranh Chaya, vào những năm từ 1859 cho đến 1907-1916. Trong vòng 14 năm sau, tại cột mốc thời gian 1930, chúng ta nhận thấy Chu Kỳ 3 lại bắt đầu cho đến ngày nay 2023. Điều thích thú, chúng tôi nghĩ, nên chú ý là địa mạo của bốn sông Chợ Củi, Câu Lâu, Dưỡng Chân và Cầu Mống, sau đến khoảng 175 năm (bắt đầu từ 1600) có nhiều thay đổi, và cuối cùng trở về chu kỳ đầu tiên. Nhưng sự thay đổi của bốn dòng sông này đều đi theo một luật tuần hoàn nhất định, đó là theo chu kỳ 1, 2, 3 rồi trở lại chu kỳ 1.

Trong Chu Kỳ 1 và Chu Kỳ 3, trong cùng hệ thống sông Thu Bồn, cả hai sông Chợ Củi và Câu Lâu là hai sông lớn nối liền với nhau, trong khi Dưỡng Chân và Cầu Mống nhỏ đi rất nhiều, nhất là trong Chu Kỳ 3. Khi dòng nước Cầu Mống gần như khô cạn, xã Câu Lâu nằm gần hai xã Thanh Chiêm và xã Cần Húc hơn và cách xa huyện Duy Xuyên. Có thể vì thế có thể mà nó sẽ trực thuộc vào huyện Diên Khánh. Ngược lại, trong Chu Kỳ 2, xã Câu Lâu nẳm trên đỉnh đầu mảnh đất hình mũi dùi tượng trưng cho huyện Duy Xuyên mới được bành trướng – hãy xem Hình 19. Vì thế, xã Câu Lâu sẽ lệ thuộc vào Huyện Duy Xuyên.

Kiểm nghiệm lại sách vở lịch sử, Lê Quí Đôn cho biết, vào năm 1776, xã Câu Lâu lệ thuộc huyện Diên Khánh. Bản đồ cổ Giáp Ngọ Bình Nam Đồ (1774) cũng cho thấy cả hai sông Chợ Củi và Câu Lâu là hai sông lớn nối liền với nhau, trong khi Dưỡng Chân và Cầu Mống nhỏ đi rất nhiều, nhưng vẫn mở rộng cho tàu bè qua lại, đó là chu kỳ 1. Trong khoảng thời gian này, xã Câu Lâu nằm trong địa phận huyện Diên Khánh và cách xa huyện Duy Xuyên một khoảng cách khoảng 1 km, đó là chiều rộng của lòng sông Câu Lâu trong mùa nước lũ.

Không lâu sau, dưới đời vua Gia Long, vào năm 1812, địa bạ Quảng Nam cho thấy xã Câu Lâu lệ thuộc huyện Duy Xuyên trở lại.[162] Lịch sử cho biết lúc này, hai sông Câu Lâu và Chợ Củi là hai sông nhỏ[163] – riêng sông Câu Lâu dần dần có thể không tồn tại nữa; nó có thể biến thành bãi bồi, giống như trong tranh Chaya đã vẽ, trong khi hai sông Dưỡng Chân và Cầu Mống bành trướng hơn trước rất nhiều. Trong trường hợp này, xã Câu Lâu nằm trên cùng mảnh đất nối liền với địa phận bãi bồi Câu Lâu và huyện Duy Xuyên cũ. Vì thế, trong chu kỳ này huyện Duy Xuyên mới mở rộng lên phía bắc và tây vì các xã dọc theo sông Dưỡng Chân vả Câu Lâu, kể cả xã Câu Lâu đều lệ thưộc vào nó. Địa bạ Quảng Nam (1812) đã chứng minh cho điều này.

Riêng xã Cần Húc, chúng tôi nghĩ, luôn luôn thuộc về huyện Duy Xuyên – nhưng chỉ khi nào nó còn tồn tại trong thuộc Cần Húc. Khi thuộc Cần Húc bị bãi bỏ (có lẽ dưới triều vua Gia Long),  cái tên Cần Húc cũng lùi vào dĩ vãng và trở thành xã Văn Đông (1806), vùng đất nhỏ nhoi này mới trực lệ huyện Diên Khánh. Địa bạ Quảng Nam đã xác nhận điều này vào năm 1812.[164]

Phần 4

Cuộc Tìm Kiếm Thành Dinh Chiêm Dưới Thời Các Chúa Nguyễn

Tiêu Chuẩn Trong việc Tìm Kiếm Thành Dinh Chiêm

Trong cuộc tìm kiếm thành Dinh Chiêm trên các bản đồ và tài liệu xưa, chúng tôi sẽ dựa vào hai chi tiết quan trọng được cung cấp từ Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 do Sử Quán nhà Nguyễn viết rằng thành Quảng Nam cũ có chu vi 300 trượng (1410 m) và Kiến Văn Tiểu Lục Toàn Tập  do Lê Quí Đôn cho biết rằng để xây cất lỵ sở của một trấn, chiếu theo luật lệ đương thời, diện tích của nó không quá 5 mẫu (25 ha).

Thêm vào đó, vào đầu thế kỷ 17, địa hình của miền nam Điền Bàn được biều hiện trong Hình 9 mà trong đó, cả hai con sông Cầu Mống và Câu Lâu đều rộng mở để nước cuồn cuộn chảy ngang qua từ sông Chợ Củi và sông Dưỡng Chân. Ở phía đông nam, nằm giữa hai sông Cầu Mống và Câu Lâu là gò nổi Câu Lâu. Lúc này, dựa theo gia phả tộc Nguyễn Văn cả hai xã Câu Lâu và Cần Húc trực lệ thuộc Cần Húc. Thêm vào đó, Cần Húc đã từng là một châu thổ (delta) cắt ngang bởi một nhánh sông nhỏ. Riêng Địa Bạ Quảng Nam (1812) (và có thể William Dampier) cho biết xã Câu Lâu có địa phận cả hai bên bờ sông nam-bắc Câu Lâu.

Sau đây là những dữ kiện mà chúng tôi mới khám phá về Dinh Quảng Nam hay còn gọi là Dinh Chiêm:

Lúc Ban Đầu

Vào năm 1602, vào lúc ban đầu dựng quốc ở Đàng Trong, Chúa Nguyễn Hoàng chọn xã Cần Húc (sau này là Văn Đông (1806)), thuộc Huyện Duy Xuyên làm lỵ sở của Dinh Quảng Nam mà nó có tên tục là Dinh Chiêm.

Chúng tôi nghĩ vào đầu thế kỷ 17, mặc dù đất đai trù phú, mênh mông nhưng dân số rất thưa thớt. Ở vùng nam Điện Bàn, chúng tôi nghĩ phần lớn chung quanh xã Cần Húc vào lúc ấy chỉ là rừng rú hoang vu, chưa khai thác, không một bóng người. Vì thế, địa phận xã Cần Húc có thể rộng rãi kéo dài từ bờ sông Cầu Mống cho đến bờ sông Chợ Củi (trong vòng 2 cây số) về hướng tây nam. Về phía nam Cần Húc, sau khi qua sông Cầu Mống là miền gò nổi rộng lớn Câu Lâu mà phía nam tiếp giáp với sông Câu Lâu. Gia phả tộc Nguyễn Văn và địa bạ Dinh Quảng Nam (1812) cho thấy địa phận xã Câu Lâu ngày xưa cũng thuộc về thuộc Cần Húc và nằm hai bên bờ sông Câu Lâu.[165] Có lẽ, về sau cảnh đất lở và lụt lội chung quanh Cần Húc khiến Chúa Nguyễn Hoàng quyết định dời thành Quảng Nam về hướng tây nam dọc theo con đường đất xuống bờ sông Chợ Củi, đó là hiện thân của đường Nguyễn Du hiện nay. Sau khi bắt đầu xây dựng thành Quảng Nam dọc theo tuyến đường Thiên Lý ngay bờ sông Chợ Củi, nhất là khi thương mại vươn lên tại Hội An, chúng tôi nghĩ có một cuộc di dân từ các vùng đất khác đến Hội An, Dinh Chiêm và Cần Húc sinh sống để gầy dựng một tương lai sáng lạng cho Đàng Trong. Cộng với sự di dân của người Minh Hương và Nhật Bản, dân số người Việt ở Hội An, nói chung, bắt đầu tăng vụt. Vì thế, các làng xã mới mẻ, như Thanh Chiêm, Phú Chiêm, Đông An, Cẩm Pho, Phước Kiều, v.v… mới mọc lên và nằm sát gần nhau. Dựa theo sự lịch trình tiến hóa của con người, sau mấy trăm năm, một số làng xã cũ như Cần Húc bị quên lãng và dần dần biến mất. Thay vào đó chúng ta mới thấy xã Thanh Chiêm vào đầu thế kỷ 19 vươn lên và vượt trội Cần Húc. Tuy nhiên, thành trì Dinh Chiêm xưa cổ vẫn trụ trì trên mảng đất ngày nào nhưng nay thuộc về một làng xã khác có cái tên hiền hòa, thanh bình “Thanh Chiêm”.

Những Sự Thay Đổi

Trong cuộc nghiên cứu, chúng tôi tìm thấy một bản đồ trong thời Pháp thuộc cho biết không những cho biết vị trí mà còn hình dáng tổng quát của tường thành Dinh Chiêm ngày xưa nữa. Ngoài ra, vị trí của xã Văn Đông ( Cần Húc) được in trên bản đồ này rất rõ nét. Hãy xem Hình 7.

Trước nhất, khi quan sát kỹ lưỡng tấm bản đồ này, chúng tôi nhận thấy, giống như trong đầu thế kỷ 17 trên tranh Chaya, địa lý miền nam Điện Bàn vào lúc đó khác với hiện nay. Con sông Câu Lâu chảy ngang qua huyện Duy Xuyên bỗng nhiên biến mất. Thay thế vào đó là một bãi bồi rộng mênh mông nối liền gò nổi Câu Dẫn – Chúng tôi nghĩ đây là lỗi chính tả hay cái tên “Câu Lâu” bị đổi tên thành “Câu Dẫn”? Nay là một phần của phường Điện Phương – ở phía bắc và huyện Duy Xuyên nằm ở hướng nam. Điều thứ hai mà chúng tôi chú ý là, mất đi sông Câu Lâu, sông Cầu Mống nay là con sông chính còn lại chuyên chở khối lượng nước rất lớn hàng năm đến cửa Đại. Nhưng nhìn kỹ chiều rộng của sông Cầu Mống mặc dù đã mở rộng, nhưng cũng chỉ bằng khoảng nửa của sông Chợ Củi hay sông Câu Lâu trước đây mà thôi. Điều này nói lên hầu như chắc chắn rằng trong mùa mưa hay lụt, dung tích của sông Cầu Mống, một mình, không thể nào chất chứa được số lượng nước lớn như thế. Vì thế, chỉ cần tưởng tượng trong đầu nghĩ về quá khứ, chúng ta cũng có thể cảm nhận được cảnh lụt lội và đất lở đã xảy ra khắp nơi dưới thời Pháp thuộc trong khoảng thời gian 1907-1916 cũng như những thập niên 1600. Có lẽ đây là lý do chính mà dòng sông nhân tạo Vĩnh Điện được nới rộng để dẫn làn nước lũ chảy bớt ra cửa Hàn, thay vì để nước lũ dồn dập tràn ngập vào sông Cầu Mống gây ra lụt lội khắp nơi. Nhiều địa danh trước đây như Chợ Củi, Đông An và Phú Chiêm là những vùng được phù sa bồi bổ và cũng là những nơi dễ bị bị nuốt trọn bởi sông Thu Bồn trong những mùa lụt. Để nhìn thấy rõ hơn những hình ảnh này, hãy chú ý đến những nơi trước đây là đất đai mà bây giờ bị sập lở xuống sông Thu Bồn và ngược lại, những nơi được bồi bổ như chính dòng sông Cầu Mống, vùng Kim Bồng, An Phước hay Cẩm Phô trong Hình 28.

Hình 28 – Những Thay Đổi trong Địa Hình vùng Nam Điện Bàn Kể Từ 1907-1916 Cho Đến Nay (2023). Nguồn: Bản Đồ Pháp thuộc 1907-1916 và bản đồ Nam Điện Bàn từ Google Map (2023).

Theo chúng tôi nhận xét thì lụt lội là một trong những lý do chính mà Chúa Nguyễn Hoàng quyết định dời trụ sở Dinh Chiêm về hướng tây nam, về hướng sông Chợ Củi từ thuộc Cần Húc. Là một nhà lãnh đạo Đàng Trong, ngài rất cần ngoại tệ từ các quốc gia khác để canh tân đất nước. Nhưng ngài không thể làm ngơ trước cảnh ngập nước, nhà trôi, người nổi trên sông Cầu Mống, nhất là khi có các thương nhân từ các quốc gia quan trọng trong nền kinh tế Đàng Trong như Nhật Bản, Bồ Đào Nha hay Trung Quốc ghé thăm Công Tử Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) ở Dinh Chiêm. Trong những năm khi cả hai con sông Câu Lâu và sông Cầu Mống đều mở rộng để nước lụt thông ra cửa Đại (chu kỳ 1), lúc ấy, sự cần thiết của sông Vĩnh Điện không còn nữa.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Giáo Sư Huỳnh Công Bá là có lẽ sự bành trướng của Dinh Quảng Nam về hướng Chợ Củi xảy ra trước năm 1604. Cùng với tranh Chaya, bản đồ Pháp thuộc 1907-1916 (Hình 7) cũng cho thấy như thế. Trong bản đồ, theo ý chúng tôi trong những năm đầu thế kỷ 17, các cơ sở hành chánh đã được dựng lên một cách hoàn hảo nằm sát bờ sông Chợ Củi. Tuy nhiên, trong thời gian đầu, chúng tôi cho rằng chỉ có nội thành là được xây dựng trước khi cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh bắt đầu (1627). Lúc sau đó, ngoại thành mới được xây dựng thêm vào để bảo vệ cho nội thành và các vùng phụ cận chung quanh kể cả các xã Thanh Hiểm (nay là Phước Kiều), Đông An và Thanh Chiêm. Tuy chỉ thiếu Trạm Thương Khách, nơi các công tử họ Nguyễn đón tiếp cách thương gia ngoại quốc, bản đồ này vẽ đầy đủ chi tiết về ngoại hình và hào sâu bao chung quanh thành trì của nội thành, cùng với các đường giao thông giữa nó và các thị trấn quan trọng như Cần Húc (Văn Đông), Phú Chiêm và Hội An.

Kể từ 1602, cả Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) và con trai trưởng của ngài, Công Tử Nguyễn Phúc Kỳ (1582-1631) đều lần lượt trấn thủ tại nội thành. Chúng tôi cho rằng thành Quảng Nam (cũ) vẫn tọa ngự nơi đây gần 200 năm, cho đến khi Chúa Trịnh mang quân vào chiếm kinh thành Phú Xuân vào năm 1774. Sau khi quân Đàng Ngoài vì bệnh tật rút về Phú Xuân, Tây Sơn chiếm đóng thành Dinh Chiêm.

Trong thời gian này (1778), chính quyền Anh Quốc cử ông Charles Chapman (1752-1809) đến Đàng Trong để thương lượng việc buôn bán trong tương lai. Nhưng khi ông đến Đàng Trong thì tình hình Đàng Trong rất hổn loạn. Chiến tranh xảy ra khắp nơi. Trong lúc này, thủ đô Huế đã bị quân Đàng Ngoài chiếm đóng. Năm trước, Chúa Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777) cùng cháu Nguyễn Phúc Dương (?-1777) đã bị Tây Sơn giết chết. Lúc ấy, thành Dinh Chiêm cùng Trấn Quảng Nam rơi vào tay Tây Sơn và Đàng Ngoài. Trong bài tường trình của ông viết về tình hình ở Đàng Trong, ông cho biết cả khung cảnh Hội An và Dinh Chiêm rất điêu tàn. Riêng ở Dinh Chiêm ông diễn tả rất tỉ mỉ về thành quách ngoại thành ở đó như sau:[166]

“Ngày hôm sau, chúng tôi đến thăm Trấn Thủ Quan: Ông cư ngụ tại cung điện của các vị vua Đàng Trong, cách thị trấn (Hội An) mà tôi đã đến hơn sáu dặm (Anh).[167]Abbé Raynal cho chúng tôi biết chu vi của nó khoảng một lý,[168] và chung quanh tường thành xếp hàng ngàn khẩu thần công. Có lẽ ông ta đã phóng đại ra hơi nhiều: bản thân tôi đã đến thăm nó vài lần và một người đi cùng tôi đã tìm có cơ hội để xem xét toàn bộ. Thành trì là một hình chữ nhật; chiều dài khoảng nửa dặm Anh[169], chiều rộng khoảng hai phần ba của chiều dài. Nó được hình thành bởi một bức tường chắn, đằng sau đó là một bờ đất cao 10 (3 m) hoặc 11 feet (3.3 m) được dựng lên, với các bậc thang leo lên thuận tiện cho việc phóng tên lửa. Nó không có lỗ pháo ngay trên tường chắn cao mà mà chỉ có các lỗ đục dưới đáy tường thò nòng súng thần công ra ngoài. Số súng thần công gắn chung quanh thành là khoảng 60 khẩu; súng chín pao (lbs) đạn là lớn nhất. Đối với những nơi sáu hoặc tám feet không có tường, người ta cắm những cây tre nhọn ngắn, dài từ sáu đến mười hai inch,[170]xiên xuống đất; bên ngoài những thứ này là một con hào rộng 8 feet (2.4 m), và sâu nhiều cở, được rào bằng những bụi tre đang mọc mà phía bên ngoài nối tiếp bởi một loạt hàng tre nhọn đóng xuống lòng đất, và toàn bộ thành trì bên ngoài được bao bọc bởi hàng rào thấp kẻ ô vuông đan bằng các tấm tre chẻ vào với nhau. Bên trong thành trì được chia ra làm nhiều ngăn vuông xây bằng gạch, các góc cạnh vuông vắn với nhau. Một số là chợ, kho gạo, trại lính, chuồng ngựa, hay chuồng voi. Tất cả thành trì nơi nào cũng cần nhiều sửa chữa.

Toàn thể cung điện xứng đáng với cái tên gọi tòa lâu đài với các phòng thấp. Toàn bộ cung điện chia ra làm nhiều phòng ở và phòng khách thoáng khí rộng rãi. Tại một trong những phòng khách, tôi gặp ông Trấn Thủ Quan; khi vào phòng, tôi thấy ông ta đang nằm đong đưa trên chiếc võng mà hai đầu của nó treo lên một cái cột nhà và bức tường gỗ thấp…”

Có lẽ lúc giao tranh giữa nhà Nguyễn và Tây Sơn trong vòng 24 năm sau đó, bức tường ngoại thành mà ông Chapman diễn tả trong bài tường trình về Bengal (Bangladesh ngày nay) đã bị phá hủy. Các chân móng tường, vì đắp bằng đất nay cũng không còn. Quan sát kĩ trong bản đồ Pháp thuộc 1907-1916 (Hình 7), chúng tôi không còn thấy những gì ông Chapman kể lại, ngay cả một nét vẽ của tường thành chữ nhật cũng chẳng còn chút di tích nào. Nhưng những bức tường của nội thành cũ, hình lưỡi liềm, từ thế kỷ 17, vẫn còn ghi rất rõ nét. Rất tiếc, mười bốn năm sau (1930), trong bản đồ Pháp thuộc khác, nội thành Dinh Chiêm dường như cũng bị phai nhòa, chỉ còn phảng phất nét vẽ của bờ tường thành ngày xưa mà thôi. Hãy xem thêm Hình 27.

Vào năm 1802, Vua Gia Long (1802-1820) tiêu diệt Tây Sơn và thống nhất đất nước, nhưng Dinh Chiêm nay đã điêu tàn vì chiến tranh. Vua Gia Long quyết đình dời lỵ sở dinh Quảng Nam về Hội An trong một thời gian ngắn. Trong lúc đó, thành Dinh Chiêm được trùng tu trở lại như xưa. Năm 1806, Vua Gia Long đặt lỵ sở Dinh Quảng Nam ở xã Thanh Chiêm.[171] Có lẽ bắt đầu từ đây, lỵ sở xã Thanh Chiêm trở nên một nơi đồng nghĩa với Dinh Quảng Nam, và để rồi cái tên Cần Húc hay Văn Đông bị lu mờ dần trong tiếng gọi nhân gian. Nhưng vài năm sau, vua Gia Long ra lệnh trùng tu Dinh Chiêm cũ, nhưng có lẽ ngài không tu bổ ngoại thành mà ông Chapman từng chứng kiến vào năm 1778 vì kể từ đó, không ai có thể nhận diện ra nó được nữa.

Đến đời vua Minh Mạng, ngài cho xây xong Thành Điện Bàn bằng gạch (1833) tại xã La Qua. Lúc ấy, ngài dời Dinh Quảng Nam về đó. Trong tấm bản đồ Pháp thuộc 1907-1916, dinh trấn cũ kể cả nội thành và thành trì mới Điện Bàn đều được biểu hiện rất rõ nằm bên cạnh tuyến đường Thiên Lý. Sau năm 1833, thành Dinh Chiêm cũ đã hoàn toàn bị bỏ hoang. Theo thời gian, chúng tôi suy đoán, vào thời Pháp thuộc, khoảng năm 1925, chính quyền thuộc địa xây cất Quốc Lộ (QL)-1 cũ, hiện nay là QL-1A ở nam Điện Bàn. Trong chương trình xây cất, tất cả nội thành Dinh Chiêm cũ đã bị san bằng nhường đất đai cho QL-1 chạy xuyên qua nó. Hãy xem vào Hình 27 – Nam Điện Bàn Dưới Thời Pháp Thuộc (1930) thì sẽ rõ.

Ngay trong thời Pháp thuộc, trong vòng 14 năm kể từ 1916, sự thay đổi về địa lý cũng rất rõ ràng. Hãy xem hai Hình 29 sau đây gom gọn hai Hình 7 (bên phải) và Hình 27 (bên trái) và xếp chúng gần bên nhau. Mục đích chính là để dễ bề quan sát sự thay đổi trong địa hình của vùng nam Điện Bàn, nhất là khi hai con sông Câu Lâu và Cầu Mống đổi dạng trong vòng 14 năm trời.

Hình 29 – Dinh Chiêm dưới thời Pháp Thuộc 1930 so với (1907-1916). Nguồn: Thi Bao Chau Huynh. Patrimoine Architectural, Urbain, Aménagement et Tourisme: Ville HôiAn, – ViêtNam. Géographie, Université Toulouse le Mirail- ToulouseII, 2011. Français. NNT: 2011TOU20062. Tel-00717654, trang 57 và Alamy.com.

Nhìn hình bên phải, sau khi hai dòng sông Chợ Củi và Dưỡng Chân nhập làm một và đổ dồn vào sông Cầu Mống, nó uốn người lượn về hướng đông bắc và trở ngược về đông nam. Lúc này, sông Câu Lâu đã biến thành một bãi bồi nối liền xã Mỹ Xuyên (nay Thị Trấn Nam Phước) với gò bồi “Câu Dẫn”[172] (hay Câu Dần) (nay là phường Điện Phương Đông). Nhắc nhở về quá khứ xa xưa hơn nữa khi những thương nhân Nhật Bản đáp thuyền xuống Hội An và vẽ lại trong Tranh Chaya vào năm 1640, sông Câu Lâu và Cầu Mống đã thay đổi vị trí cũng giống như trong hình trên bên phải (1907-1916) vậy. Nhưng trong một thời gian ngắn (Hãy xem hình bên trái vào năm 1930 trên) sông Câu Lâu đã khôi phục được sự hùng vĩ của nó và chọc thẳng xuyên qua huyện Duy Xuyên, cắt rời huyện này ra hai mảnh. Miền đất Câu Dẫn nay trở thành một gò bồi ở phía bắc gọi là Điện Phương (Đông) và huyện Duy Xuyên ngày nay nằm ở phương nam sông Thu Bồn. Riêng sông Cầu Mống, kể từ đó, vì lý do nào đó, lượng nước trên sông rút xuống dần và từ từ, đến ngày nay, chỉ còn là một con suối nhỏ mà thôi. Từ đó, hai miền đông, tây phường Điện Phương nhập lại thành một, nhưng vẫn bị cắt ngang bởi một con rạch nhỏ chảy dài từ tây nam lên đông bắc.

Miêu Tả Thành Dinh Chiêm

Đối với chúng tôi, thành Dinh Chiêm bắt đầu từ thế kỷ 17 cho đến 1778 bao gồm hai phần: nội thành và ngoại thành. Chúng tôi cũng giả sử nội thành được xây dựng bởi Chúa Nguyễn Hoàng trước năm 1602 – năm ấy, sau khi xây xong thành Quảng Nam, ngài gửi Công Tử Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) làm Trấn Thủ Quan. Còn bức tường thành hình chữ nhật như ông Chapman diễn tả trong bài tường trình của ông sau chuyến thăm viếng Đàng Trong vào năm 1778, chúng tôi nghĩ, là ngoại thành bao bọc nội thành, nhưng được xây sau, có lẽ trong thời gian Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627-1772).

Nội Thành Dinh Chiêm

Dựa theo Hình 7, nội Thành Dinh Chiêm ở đầu thế kỷ 17 trông giống như một mảnh trăng lưỡi liềm nằm gọn giữa hai con đường đất. Tương đối nội thành Dinh Chiêm rất dài và hẹp – chiều dài đo từ đầu đường ngay THCS Nguyễn Du đến tuyến đường Thiên Lý là nửa cây số; chiều rộng nhất khoảng 160 m. Hai đầu thành thu hẹp như hai đầu võng. Bờ tường phía tây nam giáp sát tuyến đường Thiên Lý. Cửa thành được đặt bốn hướng vì theo ảnh hưởng thành trì Trung Quốc, nhưng cửa thành nam và tây nam hướng về sông Chợ Củi và sông Câu Lâu, chúng tôi nghĩ, là cửa chính; còn về phía tây bắc, hai con sông nhỏ chắn ngang trước mặt thành làm thành hàng rào thiên nhiên kiên cố. Những nơi không tiếp giáp với sông đều được bao bọc hào sâu che chở. Tường thành được xây cất bằng đất[173] đắp lên khung tre cao khoảng 3-5 m[174] với chu vi khoảng 300 trượng linh[175] (1,410 Km) và diện tích không quá 25 ha[176].

Một nơi cũng rất đáng chú ý là ở phía tây bắc thành có một khu đất lõm vào. Dường như khi xây thành trì, nơi đây đã là đầm lầy hay hồ nước nên khi xây tường nội thành họ phải vòng theo bờ hồ. Có một hào thiên nhiên như thế rất tốt trong việc phòng thủ.

Sau đây là vóc dáng của nội thành Dinh Chiêm trích ra từ Hình 7 và được đặt vào Google Map (Hình 30). Khi vẽ vóc dáng thành Dinh Chiêm dựa theo bản đồ Pháp thuộc 1907-1916, chúng tôi rất lưu ý về hai tiêu chuẩn quy định trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006 và Kiến Văn Tiểu Lục Toàn Tập do Lê Quí Đôn viết, đó là thành có chu vi 1,41 km và diện tích không quá 25ha.

Hình 30 – Vị Trí và Kích Thước Nội Thành Dinh Chiêm vào Đầu Thế Kỷ 17. Nguồn: Google Map Vẽ theo bản đồ thời Pháp thuộc 1907-1916

Kết Luận

Cuối cùng, rất may mắn, chúng tôi đã tìm ra tấm bản đồ dưới thời Pháp thuộc (1907-1916) vẽ một cách tổng quát hình ảnh của nội thành Dinh Chiêm mà chúng tôi nghĩ đã được xây cất vào đầu thế kỷ 17 (kích thước ước lượng 40 m x 140 m x 220 m x 340 m x 40 m x 420m x 220 m). Theo đó chúng tôi vẽ lại diện mạo của nội thành Dinh Chiêm trên Google Map. Tuy không tìm được kích thước chính xác của thành quách xưa, dựa theo những tiêu chuẩn mà chúng tôi đã nêu lên, nhất là nội thành đã có chu vi chính xác 1.41 km. Dùng tính năng đo diện tich trên bản đồ Google map cho biết thành nội thành Dinh Chiêm xưa có diện tích khoảng 22 ha, vẫn dưới 25 ha cần thiết tối đa khi xây cất một thành trì cho tỉnh lỵ. Điều quan trọng nữa là mặt thành tây nam chạy dọc theo tuyến đường Thiên Lý. Qua đường là tiếp giáp với sông Chợ Củi. Sau bao nhiêu năm vắng bóng, hiện nay chúng tôi có thế hình dung ra thành trì Dinh Chiêm, hình thù của một lưỡi liềm hay chiếc võng, nằm ngay bờ sông Chợ Củi, nơi buôn bán rất phồn thịnh trước thời nội chiến giữa nhà Nguyễn và Tây Sơn (1773).

Ngoại Thành Dinh Chiêm

Dựa theo bài tường trình của ông Chapman, ngoại thành trông giống như một ô hình chữ nhật. Chiều dài khoảng ½ mile (800 m) với chiều rộng chỉ bằng 2/3 chiều dài (khoảng 500 m). Tường thành tương đối rất thấp từ 10 feet đến 11 feet (3 m – 3,3 m). Vào năm 1778, lỗ chỗ có nhiều nơi tường thành bị sụp nên phải trồng hay cắm tre vào chỗ trống. Bên ngoài vòng theo tường thành là hào sâu, rộng khoảng 8 feet (2,4 m) – không được rộng cho lắm. Nói chung thì tình trạng ngoại thành rất thảm thương và suy đồi sau nhiều trận đánh giữa nhà Nguyễn với nhà Trịnh từ phương bắc và quân Tây Sơn. Tuy nhiên, ông Chapman không cho biết vị trí của tường thành này mà cũng không nhắc đến nội thành Dinh Chiêm. Vì thế, chúng tôi suy diễn ra rằng lúc ông diện kiến Trấn Thủ Quan do Đàng Ngoài phái đến, ông không được đón tiếp một cách long trọng như một đại sứ của một cường quốc vậy – vì ông không được mời vào chính điện mà chính điện mới có khả năng ở trong nội thành.

Mặc dù những dữ kiện mà ông Chapman cho biết tương đối đầy đủ, nhưng ông không minh định vị trí ngoại thành Dinh Chiêm so với nội thành nên chúng tôi ban đầu đã gặp nhiều trở ngại vẽ ra bức tường ngoại thành. May mắn thay! Khi chúng tôi dựa vào địa lý vùng nam Điện Bàn vào đầu thế kỷ 17 chúng tôi mới có thể hình dung ra bức tường thành này. Vào lúc này, bờ sông Thu Bồn chạy song song và sát bên cạnh tuyến đường Thiên Lý chạy dài từ tây bắc xuống đông nam miền Câu Lâu. Ngoài ra, rất có khả năng một trong nhiều lý do mà Chúa Nguyễn xây ngoại thành là để bảo vệ nội thành. Vì vậy, vì cạnh tây nam của nội thành chạy song song với tuyến đường Thiên Lý, một cạnh của ngoại thành cũng sẽ như thế. Nhưng ngoại thành không thể bao gồm luôn cả tuyến đường Thiên Lý mà phải chừa nó ra cho việc giao thông. Thêm vào nữa, khi vẽ hình ngoài thành, mặt thành tây bắc không thể bao gồm nhà thờ Phước Kiều[177] được mà phải loại bỏ nó ra ngoài thành. Ngoài ra, dựa theo tỉ lệ xây thành quách vào thời vua Gia Long trở về sau, tỉ lệ giữa hai cạnh ngắn-dài là khoảng 0.67 cho đến 1, thí dụ kinh thành Huế bắt đầu dưới đời vua Gia Long hay Thành Gia Định xây dựng dưới đời vua Minh Mạng cũng có tỉ số tương tự như thế.

Để hội đủ các điều kiện trên, chiều rộng ngoại thành rất có khả năng khoảng 500 m – đó là chiều dài trên khúc quẹo tuyến đường Thiên Lý để bao phủ luôn cả nội thành. Sau khi cho vào tỉ số mà ông Chapman đưa ra, đó là chiều rộng bằng 2/3 chiều dài. Vì thế, chiều dài có thể lên đến 750 m. Dùng Google Map, ngoại thành Dinh Chiêm có thể giống như sau – hãy xem Hình 31.

Hình 31 – Nội Thành và Ngoại Thành Dinh Chiêm. Nguồn: Google Map và Bài Tường Trình của ông Chapman (1778). Nguồn: Google Map và JSTOR, http://www.jstor.org/stable/41505510.

Bây giờ, muốn biết diện tích và chu vi của ngoại thành Dinh Chiêm mà Google Map mới vẽ như trên có hợp lý hay không, chúng ta nên so sánh vài dữ kiện của nó với thành Điện Bàn được xây cất do vua Minh Mạng vào năm 1833.

Phân Bố Ngoại Thành Dinh Chiêm (DC) Thành Điện Bàn (ĐB) Ghi Chú
 Dài (m) x Rộng (m) 750 x 500 598 x 564 Dữ kiện của ngoại thành D.C. từ ông Chapman (1778), đó là chiều rộng bằng khoảng 2/3 chiều dài; dữ kiện của thành ĐB được đo từ Google Map.
Chu vi (km) 2,4 2,3 Chu vi thành ĐB được trích ra từ Đại Nam Nhất Thống Chí, Q7, 2006, trang 396. Chu vi ngoại thành DC đo bởi Google Map. Hai dữ kiện rất tương ứng.
Diện Tích (ha) 37,5 33,7 Diện tích = Dài x Rộng; Hai dữ kiện rất tương ứng.
Tường cao (m) 3-3,3 5,64 Tường cao thành ĐB được trích ra từ Đại Nam Nhất Thống Chí, Q7, 2006, trang 396. Tường ngoại thành DC rất thấp so với một tòa thành. Nguồn: Chapman, 1778.
Hào rộng (m) 2 21 Hào thành ĐB được trích từ Đại Nam Nhất Thống Chí, Q7, 2006, trang 396. Hào ngoại thành DC rất hẹp; vì thế sẽ dễ bị tấn công. Nguồn: Chapman, 1778.

Bảng 4 – So Sánh Vài Dữ Kiện về Thành Dinh Chiêm (1778) và Thành Điện Bàn (1833)

Kết quả từ Bảng 4 cho thấy ngoại thành Dinh Chiêm, tuy xây bằng đất, rất tương xứng với thành Điện Bàn được xây sau này vào năm 1833 – thí dụ, chu vi của ngoại thành Dinh Chiêm là 2,4 km so với 2,3 km của thành Điện Bàn.

Ngoài ra, khi chúng tôi đặt vị trí của trạm nghỉ Thanh Chiêm tìm ra trong Phần 2, “Cần Húc ở Đâu?” trong Hình 8 vào Hình 31, chúng tôi nhận thấy rằng trạm nghỉ Thanh Chiêm nằm sát bên ngoài bờ tường đông bắc của ngoại thành Dinh Chiêm. Điều này cho thấy vị trí của tường thành và trạm nghỉ Thanh Chiêm rất tương đồng và hợp lý vì trạm nghỉ là nơi các quan lại và nhà ngoại giao ngoại quốc tạm nghỉ chân trước khi vào yết kiến Trấn Quan Quảng Nam. Trạm nghỉ này, vì thế, tuy gần tường thành, nhưng vẫn phải nằm ngoài phạm vi ngoại thành.

Kết Luận

So sánh với những phân bố từ thành Điện Bàn, kích thước của ngoại thành Dinh Chiêm vào năm 1778 mà chúng tôi dùng Google Map vẽ có vẻ thích hợp với lời tường trình của Charles Chapman. Ngoại thành Dinh Chiêm là một hình chữ nhật mà chiều rộng giáp với bức tường của nội thành chạy song song bên cạnh đường Thiên Lý với khoàng cách 500 m từ hướng tây bắc xuống đông nam; chiều dài ngoại thành chạy song song với đường Nguyễn Du hướng lên phía đông bắc – mặt ngoại thành đông bắc cắt ngang đường Nguyễn Du tại tọa độ khoảng 15,870625 độ Vĩ, 108,66489 độ Kinh. Từ mặt tây nam thành, nhìn ra khoảng 100 m là nhà thờ Phước Kiều. Còn làng Đúc Đồng Phước Kiều nằm gọn trong ngoại thành gần nhà thờ Phước Kiều, cách nhau bởi bức tường đất cao khoảng 3 m – hãy xem lại Hình 31.

Mặc dầu ông Chapman cho biết một số ô vuông xây bằng gạch. Hiện nay chúng tôi không rõ chợ, kho gạo, trại lính, chuồng ngựa, hay chuồng voi mà ông nhắc đến nằm ở góc cạnh nào trên bản đồ. Những điều này sẽ cần nghiên cứu thêm để được sáng tỏ.

Tuy nhiên, sau cuộc chiến mà nhà Nguyễn thất bại trong việc bảo vệ Phú Xuân và Dinh Chiêm, chúng tôi không khỏi ngẩm nghĩ và ngao ngán về việc để việc phòng thủ ngoại thành Dinh Chiêm xuống mức quá tệ hại, đó là vì tường thành quá thấp; hào rộng và sâu không đủ. Nhà Nguyễn vào đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765), nghĩ cho cùng, quá thật lơ là trong việc quốc phòng lại phóng túng quá độ triều cương để rồi Trương Phúc Loan lộng quyền.

Hiện nay, chúng tôi không rõ lý do gì mà vua Gia Long, sau chiến tranh, khi sửa chữa thành Dinh Chiêm lại không bao gồm ngoại thành mà chỉ có nội thành mà thôi. Có lẽ là vì cuộc nội chiến nam-bắc đã chấm dứt. Điều này được phản ảnh trong bản đồ Pháp thuộc (1907-1916) – Hình 7 dưới đời vua Duy Tân. Nhưng rất tiếc, trong những năm sau đó (khoảng 1925), chính quyển Pháp thuộc cũng đã phá hủy di tích của nội thành luôn để xây đường QL-1– hãy xem hình 27.

Cuộc Tìm Kiếm Vị Trí của Trạm Thương Khách trên Bờ Sông Chợ Củi

Công cuộc kế tiếp của chúng tôi là đi tìm kiếm vị trí của Trạm Thương Khách bên bờ Sông Chợ Củi mà vào năm 1640, các thương nhân Nhật Bản ghé thăm Trấn Quan Quảng Nam. Nhìn vào Tranh Chaya, chúng ta sẽ thấy căn nhà ngang rộng lớn này nằm sát bên bờ sông tiếp giáp với Đường Thiên Lý. Trong nhiều thế kỷ trước, ở phía tây nam Sông Chợ Củi, con đường đất Thiên Lý chạy dọc sát theo bờ sông phía tây nam. Nằm trên bờ sông, con thuyền Châu Ấn Nhật Bản thả neo gần Trạm Thương Khách. Tuy nhiên, qua nhiều năm tháng dài, Tranh Chaya không được hoàn toàn vì bị mất hai nơi. Nói chung, bức tranh bị rách giữa Khúc Lũy và cửa sông Điện Bình nên chúng tôi phải tìm cách bổ khuyết vào chỗ trống cho hợp lý (Hãy xem Hình 36).

Phương Pháp Tìm Kiếm

Vào khoảng năm 2015, chúng tôi đã đọc một bài báo nói rằng các nhà khoa học dùng vệ tinh nhân tạo chụp hình, vừa khám phá ra một hệ thống sông ngòi cổ nằm dưới lớp cát vàng trong sa mạc Sahara ở Phi Châu. Hệ thống sông ngòi này đã hiện hữu khoảng 2.000 đến 5.000 năm về trước. Nếu chụp hình bình thường, các nhà bác học không thể tìm ra điều nhiều kinh ngạc và thú vị như thế này. Cũng vì thế, chúng tôi nảy ra một ý nghĩ, đó là dùng hình satellite từ Google hay Google Earth, chụp trong vùng nam Điện Bàn với hy vọng rằng chúng tôi có thể nhận dạng ra bờ sông nơi con tàu buôn Nhật Bản thả neo bên cạnh tòa nhà Trại Thương Khách trước năm 1640. Tuy không chắc chắn, chúng tôi tin tưởng rằng mình có thể khám phá ra nhiều điều mới mẻ và bổ ích vì hình chụp từ vệ tinh có thể xuyên thấu qua nước và bùn lầy; các địa phận cao sẽ có màu nâu hay xam xám, còn các địa phận thấp như đồng ruộng, đất trũng sẽ có màu xanh lá cây. Riêng các vùng thật thấp sẽ có màu nâu hay đen đậm. Từ đó, chúng tôi có thể nhận dạng ra các sông ngòi cổ, đầm, hồ, cồn, gò, bãi bồi do đất phù sa tạo ra. Sau khi loại bỏ các địa điểm thấp bồi bổ từ phù sa trong quá khứ, chúng tôi hy vọng sẽ có một khái niệm tổng quát về địa hình của nam Điện Bàn trong nhiều thế kỷ trước. Thường thường sau nhiều thế kỷ, phù sa bồi đắp bờ sông theo thứ tự thời gian và qua nhiều lớp trầm tích chồng chất lên khác nhau. Chúng tôi hy vọng sẽ thấy rõ những đường lớp phù sa rõ rệt nằm bên bờ sông Chợ Củi, nơi Trạm Thương Khách được xây lên. Sau đó, chúng tôi sẽ dùng những chi tiết trong Tranh Chaya và so sánh với hình ảnh vệ tinh của Google để mong nhận diện ra bờ sông Chợ Củi.

Nhìn vào Hình 17 chúng tôi nhận thấy rằng địa hình Nam Điện Bàn và sông ngòi hiện nay (2023) đang trong Chu Kỳ 3 – Hãy xem Bảng 3. Trong chu kỳ này, Sông Cầu Mống gần như khô cạn. Số lượng nước chảy từ Sông Câu Lâu và Dưỡng Chân chảy vào nó rất it ỏi. Hình 17 cũng cho thấy hai con đường Quốc Lộ (QL) xưa và nay. Đường đất Thiên Lý (còn gọi là đường Cái Quan) là tuyến đường cũ kĩ nhất nằm cuối cùng gần bờ sông Chợ Củi nhất; tuyến đường thứ hai là đường Nguyễn Hoàng trước đây là QL-1 được xây cất từ thời Pháp thuộc vào khoảng 1925; còn con đường QL-1A được xây cất trong khoảng thời gian gần đây (sau 2000). Trong công cuộc tìm kiếm Trạm Thương Khách, chúng tôi chỉ muốn để ý đến con đường cổ Thiên Lý mà thôi vì hai tuyến đường Quốc Lộ được xây dựng và chỉ tồn tại về sau này.

Chúng tôi cũng tiên đoán rằng vị trí của Trạm Thương Khách rất gần nội thành Dinh Chiêm. Vì tránh lụt lội, nó có thể cũng được xây trên một nền đất cao hơn chung quanh. May thay, chúng tôi đã tìm thấy một website lấy tên là www.floodmap.net cho biết độ cao của đất đai cả thế giới bao gồm cả Việt Nam. Khi chúng tôi vào website và  đặt chiều cao của mặt nước sông là 11 m, hầu hết cả vùng nam Điện Bàn đầu nằm dưới mặt nước, ngoại trừ một vài nơi như Thành Điện Bàn, dọc tuyến đường Thiên Lý và xã Đông An. Điều này cho thấy rất có thể Trạm Thương Khách nằm dọc theo tuyến đường Thiên Lý vì, theo chúng tôi nghĩ, trong đầu thế kỷ 17, con đường đất này nằm sát theo bờ sông Chợ Củi. Hơn nữa, trạm khách này nằm kế bên cạnh các con đường đường bộ nếu đi bằng xe ngựa. Sau đây là các vùng đất cao ở miền nam Điện Bàn mà website này cho biết (Hình 32):

Hình 32 – Độ Cao của Đất Đai Trong Vùng Nam Điện Bàn khi Mặt Nước Sông Dâng Lên Đến 11 m. Nguồn: www.floodmap.net

Kế tiếp, vẫn dùng website này, chúng tôi tăng mực nước lên đến 12 m với mục đích là để xem đâu là điểm cao nhất trên tuyến đường Thiên Lý. Kết quả là hầu hết nam Điện Bàn đều nằm dưới mặt nước, ngoại trừ một vài nơi. Riêng trên tuyến đường Thiên Lý, có hai địa điểm cao đáng kể mà có thể là nơi lập Trạm Thương Khách được. Hãy xem địa điểm 1 và 2 trên Hình 33 sau đây:

Hình 33 – Hai Địa Điểm Cao Nhất trên Đường Thiên Lý (2023). Nguồn: http://www.floodmap.net

Bắt tay vào công việc chính, chúng tôi tìm kiếm một bản đồ chụp từ vệ tinh trong Google Map cho miền nam Điện Bàn (Hãy xem Hình 34) và bắt đầu công việc tìm ra những đầm, hồ và sông. Điều ngạc nhiên là hình dáng các sông ngòi xưa và nay hiện ra rất rõ, kể cả các đầm lầy và hồ ao. Từ hình vệ tinh, chúng tôi có thể thấy phường Điện Phương bị chia ra hai phần đông và tây bởi con sông Cầu Mống. Cũng giống như những gì vẽ trong Tranh Chaya (1640), sông ngòi ngày xưa rất rộng kể cả sông Cầu Mống, sông Câu Lâu và sông Chợ Củi. Chúng tôi cũng nhận thấy hình chụp vệ tinh rất ăn khớp với hình ảnh lấy ra từ floodmap.net. Nói chung là miền nam Điện Bàn ngày xưa loang lổ đầm lầy với gò bồi khắp nơi. Muốn tìm kiếm một nơi cao ráo để dựng một dinh thự lại gần bờ sông và đường bộ cho thuận tiện lưu thông thật khó khăn. Nghĩ về Chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613) khi đi ngang qua Cần Húc có lẽ rất hài lòng về địa thế vùng này vì nó nằm trên một vùng đất cao, lại gần sông Cầu Mống, cách Hội An không xa (khoảng 5, 6 cây số) nên cuối cùng quyết định đặt lỵ sở dinh trấn Quảng Nam tại đây. Nơi đây chính là xã Cần Húc. Có lẽ điều ngài không thể ngờ là nạn lụt lội ở miền nam Điện Bàn xảy ra rất thường xuyên. Có khi nước lủ kéo đến phá bờ sông, chọc thủng đất đai, thay đổi đường hướng trước kia của sông Cầu Mống. Và chính vì lý do này, theo chúng tôi nghĩ, ngài mới di dần Dinh Chiêm về phía tây nam đi theo con đường đất chạy đến bờ sông Chợ Củi.

Hình 34 – Sông Ngòi Nam Điện Bàn (2023) Chụp từ Vệ Tinh Lọc Bỏ Phù Sa từ 400 Năm Qua. Nguồn: Google Map

Công việc kế tiếp là tìm kiếm bờ sông Chợ Củi nằm phía tây nam Điện Bàn, gần tuyến đường Thiên Lý chạy song song theo bờ sông. Xem xét kỹ lưỡng các cồn bồi nằm phía bên trái tuyến đường Thiên Lý, chúng tôi nhận thấy một đường ranh giới mờ nhạt do phù sa bù đắp. Theo đó, chúng tôi dùng mực xanh lá cây vẽ theo và tẩy sạch các gò bồi ngoài con đường ranh giới này. Chúng tôi tin tưởng rằng mình đã tìm ra bờ sông Chợ Củi đầu thế kỷ 17. Hãy xem Hình 35.

Hình 35 – Bờ Sông Chợ Củi lọc ra từ Hình Vệ Tinh Google Map

Bây giờ hãy ghi nhận Chi Tiết B, C, D và E trong Tranh Chaya rồi so so sánh từng vị trí một với hình vệ tinh Google Map:

Hình 36 – So Sánh Các Chi Tiết trong Tranh Chaya và Hình Vệ Tinh Google Map của Nam Điện Bàn

Để định rõ vị trí của Trạm Thương Khách, chúng tôi sẽ dùng những chi tiết của Hình 34, 35 và kết nối với Hình 36. Sau khi quan sát kỹ lưỡng và tỉ mỉ cả ba hình, chúng tôi cho rằng trạm đón khách có thể nằm trên mảnh đất cao (mảnh đất số 1 trên Hình 33) với chiều dài khoảng 40-50 m, và chiều rộng khoảng 20-25 m, sát bên bờ sông Chợ Củi, bên trái tuyến đường Thiên Lý – nó nằm sát cạnh Khu Thể Thao Đông Phương 1 hiện nay ở phía nam.

Trạm Thương Khách là một tòa nhà ngang làm bằng gỗ tương đối rất đồ sộ. Quan sát kỹ cho thấy rằng có hai sàn nhà cao, thấp được thiết kế theo lối nhà người Nhật Bản. Sàn nhà cao là nơi chủ nhà ngồi tiếp khách. Trước khi vào nhà, quan khách đi qua một sân rộng; trước là cửa chính. Nằm hai bên bên cửa, dọc theo hàng rào tre là 4 khẩu thần công đúc bằng đồng chổng đầu lên không trung như trông chờ đón khách vậy. Bên bờ sông hiền hòa có con tàu buôn shuinsen Nhật Bản đang thả neo; cờ đỏ bay phất phới theo chiều gió. Căn nhà này đối diện với góc tường thành bắc-tây bắc của nội thành. Chúng tôi nghĩ, để vào thành, phái đoàn thương nhân phải ra tuyến đường Thiên Lý đi về phía đông nam, chạy võng hay ngựa theo con đường trước cửa thành chính nằm ở góc tây nam – Các thành trì ở Trung Quốc hay Đại Việt đều có cửa chính đặt ở phía nam thành. Chúng tôi nghĩ đặt Trạm Thương Khách trước mặt thành, ngay bờ sông Chợ Củi là đúng cách. Mảnh đất số 2 trên Hình 33, nằm ngay ngã ba tuyến đường Thiên Lý và Nguyễn Du nay, không thích hợp vì quá chật hẹp. Nếu chú ý một chút, chúng ta sẽ thấy chòi canh cao nhìn về hướng sông nằm đàng sau trạm khách. Để bảo vệ sự an toàn cho các thương nhân và Công Tử Kỳ, căn nhà đều bao kín bởi ba mặt sông ngòi và thành trì. Đó là không kể lính canh gác cầm kiếm dài đứng khắp nơi. Hãy xem Hình 37.

Hình 37 – Vị Trí Nội Thành Dinh Chiêm và Trạm Thương Khách ở Đầu Thế Kỷ 17

Nếu chú ý thêm một chút, chúng ta sẽ nhận thấy cơ sở Đúc Đồng Phước Kiều nằm bên cửa tây bắc của nội thành Dinh Chiêm cách cửa thành khoảng 100 m mà vị trí nó nằm giữa hai con sông chắn ngang mặt thành bắc của Dinh Chiêm. Ngoài ra, nhà thờ Công Giáo Phước Kiều (Andre Phú Yên) mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là ngôi nhà thờ mà G.S. Francisco de Pina đã xây dựng vào năm 1623 nằm cách mặt thành không xa, khoảng 300 m về hướng tây bắc. Còn Chợ Tổng nổi danh ở Thanh Chiêm cũng hiện diện trong hình, nhưng đối với nội thành Dinh Chiêm, nó quá mới mẻ vì được xây dựng vào khoảng 1945. Dựa theo bản đồ thời Pháp Thuộc (1907-1916) – hình 7, khu chợ này có thể nằm dọc theo mặt nam của nội thành Dinh Chiêm hoặc nằm hẳn trong nội thành. Nếu nhìn về góc đông bắc trên mặt thành, nếu đứng từ vị trí này chúng ta có thể nhìn qua đường Nguyễn Du xưa và thấy được trường THCS Nguyễn Du hiện nay.

Khoảng Cách Giữa Dinh Chiêm và Hội An

Mặc dù đây là phần cuối trong bài nghiên cứu này của chúng tôi, nhưng nó rất quan trọng vì, trong thâm tâm, chúng tôi bao giờ cũng muốn tìm hiểu cuộc sống hàng ngày của G.S. Pina ở thành phố Dinh Chiêm. Nhớ lại trong lá thư ngài viết và muốn gửi đến G.S. Bề Trên João Rodrigues Giram (1558-1633), nhưng chưa có dịp thuận tiện để gửi đi hay ngài đã đổi ý, G.S. Pina cho biết rằng từ Nước Mặn, Dinh Qui Nhơn, ngài đã dọn lên thành phố Dinh Chiêm để giảng đạo và đồng thời học hỏi, sưu tầm thêm tiếng Việt từ những người trí thức. Lúc này, trong thâm tâm, ngài đang nghĩ đến chuyện viết một quyển ngữ pháp cho tiếng Việt. Chúng tôi cũng biết ngài thường xuyên trở lại Hội An để giảng đạo và, thỉnh thoảng ngài ra đảo Cù Lao Chàm để lấy vật liệu cung cấp cho nhà thờ mà ngài mới khánh thành tại Dinh Chiêm[178]. Vào năm 1622, đóng vai trò của một nhà thông dịch cho phái đoàn Macao, ngài tháp tùng G.S. Bề Trên Manuel Fernandes và phái đoàn ra Huế ra mắt Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635). Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhà thờ Phước Kiều (Đền Thánh Andre Phú Yên) chính do tay G.S. thành lập vào năm 1623. Đầu năm 1625, ngài cùng G.S. Alexandre de Rhodes ra Huế rửa tội cho Bà Minh Đức Vương Thái Phi[179]. Nói chung, Cuộc sống G.S. Pina vào thời đó rất bận rộn và vất vả. Vì ngày nay chúng tôi đã tìm ra vị trí của nội thành Dinh Chiêm, từ nhà thờ Phước Kiều, chúng tôi có thể liên tưởng thấy G.S. Pina bôn ba trên con đường đất phía nam thành đi về hướng Hội An. Nhìn vào những bản đồ xưa, trong thập niên 1620, muốn ra Hội An từ nhà thờ Phước Kiều, chúng tôi nghĩ ngài có hai cách:

Cách Đi bằng Đường Bộ

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư có vẽ lờ mờ hai con đường đất chạy song song từ phía nam Điện Bàn thẳng về góc đông bắc hướng Hội An. Chúng tôi nghĩ nếu sống vào năm 1668, G.S. Pina có thể dùng một trong hai con đường này chạy thẳng đến đó, nhưng ngài phải qua đầm  Thanh Hà rồi mới đến Hội An. Tương tự như thế, chúng tôi cũng thấy trong Giáp Ngọ Bình Nam Đồ cũng có hai con đường đất, nhưng chúng không chạy song song với nhau; hầu như cả hai chạy thẳng góc với nhau. Một con có vẻ là tuyến đường Thiên Lý chạy từ bắc xuống nam, còn con kia chạy từ phía nam Điện Bàn lên hướng đông bắc về Hội An, nhưng phải qua đầm Thanh Hà trước.

Bản đồ Pháp Thuộc (1907-1916) chỉ đường dẫn rõ ràng nhất (Hình 7) với ba tuyến đường đất. Tại mặt bắc thành Dinh Chiêm, chúng ta có thể thấy một tuyến đường chạy dọc theo bờ tường thành phía bắc đâm thẳng lên hướng đông bắc đến một ngã ba bắt sang con đường đông-tây bắt đầu từ thành Điện Bàn, rồi nối tiếp đến đầm Thanh Hà để tiếp tục ra Hội An. Tuyến đường thứ hai ôm bờ thành mặt nam, chạy song song với con hào sâu nằm sát bên mống tường nam đi về hướng đông bắc nhắm hướng xã Phú Chiêm. Còn tuyến tuyến đường thứ ba, đặt song song với tuyến đường thứ hai về phía nam, chạy dọc theo bờ sông Cầu Mống hướng về xã Cần Húc (sau đổi thành xã Văn Đông) và cuối cùng đến Hội An. Chúng tôi cho rằng hai tuyến đường thứ hai và ba là hiện thân của đường Nguyễn Du hiện nay. Cả ba tuyến đường được vẽ đậm trong Hình 37 – Hai Con Đường Đất Dẫn Đến Hội An (1907-1916). Vào đầu thế kỷ 20, chúng tôi nghĩ cả hai con đường đất dẫn đến Phú Chiêm và Cần Húc dần dần được thay thế chỉ bằng một con đường Nguyễn Du trong thời Pháp thuộc sau 1917. Ngày xưa, chúng tôi nghĩ, cả hai tuyến đường hai và ba đều có thể dẫn thẳng đến Hội An cả.

Hình 38 – Hai Con Đường Đất Dẫn Đến Hội An (1907-1916)

Trở lại với G.S. Pina, nếu ngài đi bộ từ nhà thờ Phước Kiều ra đường Thiên Lý, ngài có thể dùng tuyến đường thứ ba chạy song song với mặt nam thành đi về hướng đông đến Cần Húc (tức Văn Đông). Đi thêm một quảng nữa tại bến đò Thanh Hà, ngài chờ chuyến ghe qua đầm hướng về Cẩm Phô và cuối cùng đến Cầu Chùa. Con đường này có vẻ ngắn nhất và được ghi vào Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806). Nếu không đi bộ, ngài có thể mướn võng. Hai người vác võng sẽ khiêng ngài đến Cầu Chùa.

Để thỏa mãn sự tò mò của chúng tôi, chúng tôi sẽ dùng những dữ kiện trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí để tìm hiểu chiều dài của những khúc đường ngắn mà G.S. Pina phải đi qua – nay là đường Nguyễn Du nối liền với đường Phạm Phán, sau đó đường Duy Tân trước khi đến Cầu Chùa. Sau đó, dùng Google map cộng với và các dữ kiện trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, chúng tôi sẽ khám phá ra con đường mòn và chiều dài của nó mà G.S. Pina đã thường rảo bước đến Hội An từ nhà thờ Phước Kiều vào đầu thế kỷ 17. Tiếp đến, chúng tôi sẽ so sánh kết quả trên với khoảng cách chỉ dùng bằng Google map để tìm hiểu xem những dữ kiện trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí chính xác như thế nào.

Cách Đo Lường 1 – Đường Bộ Đi từ Nhà Thờ Phước Kiều đến Chùa Cầu Đo Lường Bằng Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806)[180]

Từ Đến Khoảng Cách Ghi Chú
Nhà thờ Phước Kiều Ngã ba Đ. Thiên Lý và Đ. Nguyễn Du 500 m Đo từ Google Map
Ngã ba Đ. Thiên Lý và Đ. Nguyễn Du Trạm nghỉ Thanh Chiêm 680 m Dùng đầm Thanh Hà làm cột mốc, chúng tôi tìm ra khoảng cách giữa Trạm Nghỉ Thanh Chiêm (3.748 m) với đầm Thanh Hà và vẽ lên Google Map để lấy tọa độ của trạm nghỉ này (15.870509,108.266211). Sau đó, chúng tôi dùng Google Map để đo khoảng cách từ tuyến đường Thiên Lý đến Trạm Nghỉ Thanh Chiêm (680 m). Hãy xem Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806), trang 221-222.
Trạm nghỉ Thanh Chiêm Đi qua phố phường Thanh Chiêm 846 m Ibid; 423 tầm; 1 tầm = 2 m[181]
Phố phường Thanh Chiêm xã Văn Đông bên bờ sông Cầu Mống 632 m Ibid; 316 tầm; dọc theo bờ sông; cái tên Văn Đông còn gọi là “Cần Húc” từ thời G.S. Pina, 1620.
xã Văn Đông Bến đò Thanh Hà 2,270 m Ibid; 1.135 tầm không kể chiều rộng của đầm Thanh Hà 69 tầm.
Thanh Hà Cẩm Phô 1,484 m Ibid, trang 222; 742 tầm; đi qua Lò gốm, lò nấu vôi và miếu Bát Vị.
Cẩm Phô Cầu Chùa 1,300 m Ibid, trang 222; 650 tầm; còn gọi Cầu Lai Viễn,
Tổng Cộng 7,90 Km Cộng thêm 138 m, chiều rộng của đầm Thanh Hà.

Bảng 5 – Đường Bộ từ Nhà Thờ Phước Kiều đến Cầu Chùa, Hội An dựa theo Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806)

Cách Đo Lường 2 – Đường Bộ Đo Lường Bằng Google Map

 

Hình 39 – Đường Bộ (vẽ màu đen) và Đường Thủy (vẽ màu cam) từ Nhà Thờ Phước Kiều đến Cầu Chùa, Hội An trong Thế Kỷ 17; Đo Bằng Google Map

Kết Quả:

So sánh kết quả từ Bảng 5 và Hình 38 cho thấy những dữ kiện đo lường khoảng cách trên con đường cái trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806) và Google Map rất tương xứng với nhau (Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí – 7,90 Km so với Google Map – 8,34 Km). Điều này cho thấy khi G.S. Pina quyết định đi bộ đến Cầu Chùa từ nhà thờ Phước Kiều, ngài phải cất bước theo con đường đất chạy ven theo bờ sông Thu Bồn và phải đón ghe bầu[182] từ bến đò qua đầm Thanh Hà. Con đường đất này dài khoảng 8 km (khoảng 5 miles). Nếu đi bộ, ngài sẽ tốn khoảng hơn 1 tiếng mới đến nơi.

Cách Đi Bằng Đường Thủy

Hãy xem Hình 38 – Đường Bộ (Vẽ Màu Đen) và Đường Thủy (Vẽ Màu Cam) từ Nhà Thờ Phước Kiều đến Cầu Chùa, Hội An Đo Bằng Google Map.

Nếu đi bằng đường thủy, G.S. Pina phải ra bến đò nằm ngay bờ sông Chợ Củi, cách nhà thờ Phước Kiều khoảng 200 m băng qua tuyến đường Thiên Lý; bến đò này nằm ở phía tây nam của thành Dinh Chiêm. Thuận chiều gió, chiếc ghe bầu chở hành khách theo chiều gió ven theo bờ sông Chợ Củi xuống phía nam Điện Bàn; ở phía đông nam Điện Bàn, nó bắt vào sông Cầu Mống dọc theo bờ Đông An lên hướng bắc, đông bắc. Khi chiếc ghe bầu ra khỏi Cần Húc, sông Thu Bồn mở rất rộng (hãy xem Tranh Chaya – Hình 19). Chiếc ghe tiếp tục hành trình qua khỏi sông Thanh Hà. Cuối cùng, nó rẽ vào cái rạch sát bờ gò nổi An Hội để đến Cầu Chùa.[183] So với đường bộ, đường thủy tuy dài hơn một chút (khoảng 9 Km)[184] nhưng có lẽ phổ thông cho thường dân hơn.

Kết Luận

So sánh với đường thủy, ở đầu thế kỷ 17, đường bộ đi từ nhà thờ Phước Kiều đến Hội An ngắn hơn khoảng 1 km. Nhưng hồi tưởng lại các sách vở viết vào thời ấy, có lẽ mọi người, kể cả G.S. Pina thường dùng đường thủy ra Hội An từ thành Dinh Chiêm. Có lẽ phương tiện di chuyển trên sông tiện lợi và phổ thông hơn là đường bộ. Nếu đi bằng đường bộ, người khách có thể đi bộ một mình hoặc mướn một cuốc võng có hai thợ khiêng, nhưng khi đi đến Thanh Hà, người khách này cũng phải tốn ít thì giờ chờ đò để được qua sông, mặc đầm này rất hẹp (69 tầm – khoảng 138 m).

Tổng Kết

Sáu tấm bản đồ cổ của các thợ vẽ Âu Châu vào các thế kỷ trước cho thấy thành phố Dinh Quảng Nam thường được gọi là thành phố Quảng Nam (Quinam), Dinh Chiêm hay Kẻ Chàm, nằm cùng một bên bờ tả ngạn sông Thu Bồn (bờ bắc) như các nhà nghiên cứu đã đồng ý trước đây trong buổi hội thảo vào năm 2016 ở Đà Nẳng. Tuy nhiên, tọa độ của Dinh Chiêm trích ra từ các bản đồ cổ này không được chính xác cho lắm. Vào năm 1688, William Dampier ghé thăm thành phố Quảng Nam (Quinam) và cho biết thành phố này nằm hai bên bờ sông (Câu Lâu).

Sông ngòi miền nam Điện Bàn thường thay đổi rất bất chợt tùy theo thời tiết thay đổi hàng năm, nhưng những sự thay đổi này tuân theo luật chu kỳ hẳn hòi. Suốt 400 năm qua, sự thay đổi sông ngòi trong miền này được biểu hiện bởi bốn dòng sông Chợ Củi, Dưỡng Chân, Cầu Mống và Câu Lâu; có lúc chúng bồi bổ phù sa cho các gò cồn nằm trong đầm Hội An, nhưng lại có lúc gây sạt lở hai bên bờ sông khiến lụt lội khắp nơi. Quan trọng hơn nữa là có những chu kỳ mà một số trong một trong những con sông này (qua nhiều năm) thay phiên nhau biến thành bãi bồi rộng lớn khiến địa lý các xã, huyện bên cạnh nó cũng biến dạng, thí dụ như vào đầu thế kỷ 17, khoảng 1859-1917 và đời vua Gia Long cho thấy địa thế huyện Duy Xuyên được bành trướng vì nó kết hợp các xã cũ lẫn mới, như xã Câu Lâu trước kia thuộc huyện Diên Khánh nay thu nhập vào huyện Duy Xuyên, bãi bồi rộng lớn do lòng sông Câu Lâu khô cạn tạo ra và cả xã Cần Húc (về sau gọi là Văn Đông); tất cả đều xảy ra trong Chu Kỳ 2. Vì thế, vào thời điểm lịch sử như 1602, có thể vì thế mà xã Cần Húc được thu thu nhập vào huyện Duy Xuyên – Lúc ấy, phía bắc huyện Duy Xuyên trông giống như một thoi nhọn. Nhưng dưới đời vua Minh Mạng, vào năm 1822, huyện Duy Xuyên lại mất đất cho huyện Diên Phước (trước kia là Diên Khánh) vì con sông Câu Lâu nay trở về dạng nguyên thủy của nó, trong khi sông Cầu Mống trở nên khô cạn như hiện nay trong Chu Kỳ 3 vậy. Trong trường hợp này,Văn Đông và xã Câu Lâu bây giờ hầu như trở thành một và không còn chia cắt bởi sông Cầu Mống nữa. Và vì thế, dưới thời vua Minh Mạng, một số thôn xã trước kia thuộc về huyện Duy Xuyên, như Văn Đông, Mỹ Xuyên, Câu Lâu, Hoa Phố (nay Hội An), Đông An, v.v… nay được sát nhập vào huyện Diên Phước trở lại. Vì thế, nói chung một cách tổng quát, các xã nằm giữa biên giới hai huyện Duy Xuyên và Diên Phước thường thay đổi huyện lệ tùy theo sự chuyển hướng và sạt lở từ bốn con sông chính ở miền nam Điện Bàn. Trong suốt 400 năm qua, các xã này có lúc nằm sát bên huyện Duy Xuyên, nhưng có lúc nằm gần huyện Diên Khánh. Thông qua khảo cứu rất kỹ lưỡng và tỉ mỉ, chúng tôi mới đưa ra kết luận này.

Từ các bản đồ cổ thời Pháp thuộc 1907-1916 và tài liệu của ông Chapman (1752-1809), chúng tôi đã xác nhận ra nội và ngoại thành Dinh Chiêm. Nội thành Dinh Chiêm có lẽ là cơ sở hành chánh và thâu thuế do Chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613) gầy dựng trước bắt đầu vào năm 1602. Nó trông giống như một lưỡi liềm mà một cạnh thành tây nam chạy dọc theo tuyến đường Thiên Lý. Toàn bộ thành trì hầu như nằm ven theo đường Nguyễn Du bắt đầu từ ngã ba tuyến đường Thiên Lý và Nguyễn Du đi lên phía đông bắc chấp dứt cạnh trường THCS Nguyễn Du. Dựa vào chu vi 1.42 km trích ra từ Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006, chúng tôi uớc đoán nội thành Dinh Chiêm có kích thước 40 m x 140 m x 220 m x 340 m x 40 m x 420m x 220 m và diện tích khoảng 22 ha.

Còn ngoại thành, theo lối chúng tôi vẽ lại trên Google Map, tương đương với thành Điện Bàn mà vua Minh Mạng khánh thành vào năm 1833. Nó có chu vi khoảng 2.4 km và ước lượng diện tích 348 ha theo hình chữ nhật với chiều rộng khoảng 500 m và chiều dài khoảng 750 m. Chu vi thành bao gọn nội thành Dinh Chiêm và các vùng phụ cận kể cả một phần xã Thanh Chiêm trước đời vua Gia Long (nếu muốn thêm chi tiết, hãy xem Hình 31). Chúng tôi nghĩ địa hình ngoại thành mà chúng tôi vẽ dựa theo lời kể lại từ Charles Chapman tương đối chính xác vì vị trí trạm nghỉ Thanh Chiêm cung cấp bởi Lê Quang Định vẫn nằm bên ngoài tường thành, nhưng sát bên cạnh mặt thành đông bắc. Bên trong ngoại thành, dựa theo lời ông Chapman kể lại, các kho vũ khí, lương thực, chuồng ngựa, chuồng voi, hay doanh trại đều được bố trí theo hình vuông hay chữ nhật mà các cạnh thẳng góc với nhau. Thành trì được đắp bằng đất cao khoảng 3-3.3 m. Chung quanh là hào nước rộng khoảng 2 m. Hiện nay không ai rõ chuyện gì xảy ra cho nó sau chuyến viếng thăm của ông Chapman mà bây giờ bóng dáng của nó cũng không còn nữa. Có lẽ sau cuộc chiến giữa vua Gia Long và Tây Sơn, nó đã tàn lụi theo với các chiến sĩ Tây Sơn.

Còn Trạm Thương Khách, chúng tôi nghĩ, nằm bên bờ sông Chợ Củi, cách góc thành tây bắc thành Dinh Chiêm chỉ khoảng 100 m, ngay bên bờ sông Chợ Củi. Vị trí này hiện nay là vùng đất nằm sát, phía nam, Khu Thể Thao Đông Phương 1. Tòa nhà ngang này rất lớn mà chúng tôi phỏng đoán, có chiều dài, rộng khoảng 40-50 m x 20-25 m. Kiến trúc của mái và sàn nhà cho biết các thương gia Nhật Bản đã viện trợ tài chính và kỹ thuật trong việc xây dựng căn nhà to lớn này.

Với sự trợ giúp của Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806) và Google Map, chúng tôi đã tìm thấy vị trí thật sự của vài địa danh như Văn Đông, Thanh Chiêm và dịch quán Thanh Chiêm nằm trên đường Nguyễn Du trong thời vua Gia Long và vua Minh Mạng. Bảng sau đây tóm tắt những kết quả này:

Tên Vĩ Độ Kinh Độ Ghi Chú
xã Văn Đông 15,87737 108,27691 Nằm trên đường Nguyễn Du giữa Tạp Hóa Ngọc Lâm và T-Tattoo – Xăm Nghệ Thuật Quảng Nam.
xã Thanh Chiêm 15,87535 108,27175 Nằm trên đường Nguyễn Du bên cạnh Quán Lẫu Bò 152
Trạm Nghỉ Thanh Chiêm 15,870509 108,266211 Nằm trên đường Nguyễn Du; cách xa Đình Làng Thanh Chiêm và Tượng Phật Bà Bằng Đá Trắng khoảng 200 m

Dựa theo Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, xã Văn Đông và xã Thanh Chiêm cách nhau không xa, chỉ có hơn nửa cây số trên đường Nguyễn Du ngày nay (632 m). Từ Trạm Nghỉ Thanh Chiêm đến xã Thanh Chiêm, khoảng cách là 846 m. Điều này cho thấy xã Thanh Chiêm dài hơn một cây số nằm dọc theo đường Nguyễn Du (1.162 m).[185] Sau khi lỗi thời và bị sa thải vào năm 1806, xã Cần Húc được đổi tên là xã Văn Đông. Lỵ sở của Dinh Quảng Nam cũng được chuyển về xã Thanh Chiêm. Trên gò nổi xã Câu Lâu (nay là phường Điện Phương Đông) như được vẽ trong tranh Chaya vào đầu thế kỷ 17, có một cái chợ hình chữ U rất lớn và nhộn nhịp.

Vào khoảng thời gian từ 1620-1625, khi G.S. Pina đang định cư tại Dinh Chiêm, giả sử như nhà thờ Phước Kiều là nơi ngài trú ngụ thì khi ngài muốn dùng đường bộ về Hội An, ngài có thể đi bộ hay mướn võng và sẽ đi khoảng 8 cây số. Còn nếu ngài đón ghe bầu đi dọc theo bờ sông Thu Bồn, con đường thủy có lẽ sẽ phổ thông hơn và vì thế, giá cả rẽ hơn, nhưng đường đi sẽ dài hơn khoảng một cây số. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi đã xác nhận khoảng cách giữa nội thành Dinh Chiêm và Hội An là 9 km đi bằng đường thủy mà các giáo sĩ hay nhà thám hiểm thường nhắc đến trong sách vở của họ.

Chúng tôi phỏng đoán rằng vào đầu thế kỷ 17, Dinh Quảng Nam bao gồm cả nội thành, ngoại thành, đường phố mà sau nay lấy tên là xã Thanh Chiêm và xã Cần Húc (và có thể bao gồm cả xã Câu Lâu – nay là phường Điện Phương Đông). Đối với các thương nhân ngoại quốc và nhân gian, cái tên tục Dinh Chiêm cho thành phố Quảng Nam rất thịnh hành vào thời ấy. Trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn (1776), trước đời vua Gia Long, vẫn nhắc nhở rằng lỵ sở của nó vẫn nằm ở xã Cần Húc, mặc dù vị trí của Cần Húc và nội thành Dinh Chiêm cách xa nhau hơn hai cây số. Vì thế, chúng ta có thể khẳng định rằng Dinh Chiêm vào đầu thế kỷ 17 có chiều dài khoảng 2 km,[186] đi theo con đường đất bắt đầu từ tuyến đường Thiên Lý dẫn đến Cần Húc (Hinh 37). Nếu bao gồm luôn xã Câu Lâu như trong lời tường trình của William Dampier (1688) và gia phả tộc Nguyễn Văn thì địa phận Dinh Chiêm tiếp nối thêm một đoạn qua đến mãi bờ nam sông Câu Lâu.

Vào thời ấy, Xã Cần Húc bị chia cắt bởi một con sông cổ. Nhưng trong khoảng thời gian mà G.S. Pina đang trú ngụ tại Dinh Chiêm, có lẽ nó đã khô cạn, nhưng ảnh hưởng vẫn còn đó qua sự thành hình của châu thổ Cần Húc. Dựa qua các hình vệ tinh chụp được từ các kênh Google Map, viamichelin.com và floodmap.net, chúng tôi nhận thấy phía tây xã Cần Húc đã có một thời là một châu thổ (delta) tương đối lớn mà phù sa nhận được và bồi đắp từ dòng sông nhân tạo Vĩnh Điện. Điều này cũng được nhắc qua trong gia phả tộc Nguyễn Văn từng sinh sống tại xã Câu Lâu.

Dựa theo gia phả tộc Nguyễn Văn, hai xã Cần Húc và Câu Lâu xưa kia trực thuộc vào thuộc đúc đồng Cần Húc. Địa phận thuộc tương đối rất rộng (335 ha) bao gồm luôn, ít nhất, hai xã Cần Húc và Câu Lâu và được gán vào huyện Duy Xuyên. Địa phận thuộc nối tiếp qua bờ sông nam Câu Lâu – dựa theo lời tường trình của William Dampier (1688) and địa bạ Quảng Nam (1812). Thuộc đúc đồng Cần Húc có lẽ là một chương trình quốc phòng rất bí mật dưới nhiều triều họ Nguyễn với chủ trương là chế tạo súng thần công dựa theo kỹ thuật của người Bồ Đào Nha. Mãi dưới thời chúa Hiền (1620-1687), lịch sử cho thấy dự án này đã thành công. Hiện nay, trưng bày trước bộ quốc phòng ở Bankok có hai khẩu thần công ký tên João da Cruz (1610?-1682), kỹ viên đúc súng đồng người Bồ Đào Nha và các chuyên viên Phường Đồng ở Huế chế tạo. Ông là người Bồ Đào Nha mang thêm dòng máu Ấn Độ, được chúa Hiền về mời tham dự (có lẽ bị bắt buộc thì đúng nghĩa hơn) nắm giữ chức vụ quan trọng trong phường đúc đồng ở Huế. Tuy nhiên, ngoài gia phả tộc Nguyễn Văn tại xã Câu Lâu, hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy một chứng cớ lịch sử hay tài liệu nào để tìm hiểu thêm chi tiết về thuộc đúc đồng Cần Húc và chương trình tối mật chế tạo súng thần công mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên có thể đã bắt đầu thực hiện.

Phần Phụ Lục

Đơn Vị Đo Đạc Ruộng Đất Đầu Thế Kỷ 20 ở Quảng Nam

Diện Tích[187]

1 Mẫu              = 10 Sào          = 4.865 m2 (khoảng ½ ha)

1 Sào               = 15 Thước     = 486,5 m2

1 Thước           = 10 Tấc          = 32,4333 m2

1 Tấc               = 10 Phân        = 3,2433 m2

1 Phân             = 10 Ly            = 0,32433 m2

1 ha                 = 10.000 m2

1 km2               = 100 ha

Chiều Dài

1 Dặm             = 216 Tầm       = 1.080 Thước[188] =432 m (Toàn Quyền Đông Dương, 1897)[189]

1 Tầm              = 5 Thước = 2 m

1 Thước           = 0,4m (Toàn Quyền Đông Dương, 1897)[190]

1 dặm Anh       = 1,6 km

1 trượng          = 4,7 m (cho miền Trung; trích từ mạng)

Thí dụ:

Tên Xã (1812) Diện Tích viết theo Các Đơn Vị Cổ [191] Diện Tích (ha) Ghi Chú
Xã Câu Lâu 428.8 6.0.1 209 Bắc sông Câu Lâu – Gò Nổi: 185-190 ha (từ Google Map); nam sông Câu Lâu:10-15 ha (phần còn lại)
Xã Mỹ Xuyên Đông 601.4.3.6.1 293
Xã Mỹ Xuyên Tây 387.8.9.1 189
Xã Phú Chiêm 723.7.11.0.7 352
Xã Thanh Chiêm 248.8.4.1 121
Xã Văn Đông 11.1.11.6.1 5

 

Cách Đọc: Diện tích xã Câu Lâu 428.8 6.0.1 được đọc là 428 mẫu; 8 sào; 6 thước; 0 tấc; 1 phân. Dấu chấm giữa các số được dùng phân chia các đơn vị cho dễ đọc và theo dõi.


Tài Liệu Tham Khảo

  1. Christopher Borri, An Account of Cochin-China, Part II, A Collection of Voyages and Travels, Volume II, London, 1704
  2. Camille Paris (1856-1908), Voyage d’Exploration de Hue en Cochinchine, Ernest Deroux, Paris, 1889.
  3. J.K.J Dejong, De Opcomst Van net Nederlandsch Gezag in Oost-Indie (1595-1610), Tweede Deel, 1864
  4. Đại Nam Nhất Thống Chí, Quyển 5, Quảng Nam, Nguyễn Tạo dịch, Nhà Văn Hóa – Bộ Quốc Gia Giáo Dục, VNCH, 1964
  5. Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006
  6. Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Tiền Biên, quyển 1
  7. William Dampier, Voyages and Descriptions, Tập II, Phần 1, 1688
  8. Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền, Dinh Trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, NXB Tổng Hợp, TP Hồ Chí Minh, 2020
  9. www.floodmap.net
  10. Huỳnh Công Bá, Về Địa Điềm và Địa Danh Cần Húc Trên Đất Quảng Nam, Nghiên Cứu Lịch Sử, Số 6.2002
  11. Huỳnh Công Bá, Điện Bàn Phủ dưới Thời Tiên Chúa Nguyễn Hoàng, trích từ https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/72115/1/274%281994-3%29%2810%29.pdf
  12. Thi Bao Chau Huynh. Patrimoine Architectural, Urbain, Aménagement et Tourisme: Ville HôiAn– ViêtNam. Géographie, Université Toulouse le Mirail- ToulouseII, 2011. Français. NNT: 2011TOU20062. tel-00717654
  13. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chính Biên, Q. 22
  14. Lamb, Alastair. “British Missions to Cochin China: 1778-1822.” Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society, vol. 34, no. 3/4 (195/196), 1961, pp. i–248. JSTOR, http://www.jstor.org/stable/41505510
  15. Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch
  16. Lê Quí Đôn, Kiến Văn Tiểu Lục Toàn Tập, Tập II, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977
  17. Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Luc, 1776, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Viện Sử Học dịch, Nhà Xuất Bản Văn Hóa – Thông Tin, 1976
  18. Nguyễn Đình Đầu, Địa Chí Quảng Nam, Tập I, II NXB, Đại Học Quốc Gia, 2010.
  19. Ngô Văn Minh, Về Vị Trí Lỵ Sở Dinh Quảng Nam Năm 1602, Nghiên Cứu Lịch Sử Số 1.2004
  20. Nguyễn Duy Sinh, Quảng Nam và Những Vấn Đề Sử Học, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2005
  21. Nguyễn Minh Phương, Nghề Đúc Đồng Phước Kiều dưới Triều Nguyễn, Tạp Chí Khoa Học Đại Học Huế, Tập 126, Số 6B, 2017.
  22. Nguyễn Phước Tương, Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc – Bà Chúa Tàm Tang Trong Sự Nghiệp Phát Triển Nghề Tơ Tằm Xứ Quảng, trích từ http://vietlandmarks.com/upload/html/31864897b24a6f0f2088ed6a54f76354.html
  23. Nguyễn Văn Đăng, Mai Văn Được, Vài Nét về Địa Danh và Địa Giới Hành Chính Quảng Nam, Nghiên Cứu-Trao Đổi Phát Triển Kinh Tế Đà Nẳng
  24. http://nonnuocbinhkhe.blogspot.com/2015/07/huyen-dien-khanh-phu-ien-ban-quang-nam.html
  25. Phạm Đình Khiêm, Việt Nam Khảo Cổ Tập San, Số 1, Bộ Quốc Gia Giáo Dục Sài Gòn, 1960
  26. Phạm Đình Khiêm, Người Nhân Chứng Thứ Nhất, NXB Tinh Việt Văn Đoàn, SG, 1959
  27. William A. Redfern III, Hoi An in the Seventeenth and Eighteenth Centuries: An International Entrepot, Master Thesis, 2002
  28. Kikuchi Seiichi, Nguyên Cứu Đô Thị Cổ Hội An từ Quan Điểm Khảo Cổ Học Lịch Sử, 2010
  29. Thích Đại Sán, Hải Ngoại Ký Sự, 1695
  30. Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư và Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ, 1774, Tạp Chí Nghiên Cứu và Phát Triển, Số 2 (109), 2014
  31. Trần Đức Anh Sơn, Xứ Thuận – Quảng trên hai tranh cuộn Nhật Bản thời Edo, website “Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia”, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/68874/xu-thuan-quang-tren-hai-tranh-cuon-nhat-ban-thoi-edo.html
  32. Trần Văn Hảo, Đôi Dòng Lịch Sử về Làng Mỹ Xuyên Tây, http://duyxuyenrt.vn/tin-tc/dat-va-nguoi/doi-dong-lich-su-ve-lang-my-xuyen-tay.html
  33. Alexei Volkov, Evangilization, Politics and Technology Transfer in 17th -Century Cochinchina: The Case of João da Cruz, Center for General Education and Institute of History, National Tsing Hua University, Taiwan trong sách Europe and China: Science and the Arts in the 17th and 18th Centuries, Editor Luís Saraiva, World Scientific Publishing, 2013
  34. Charles Wheeler, A maritime Logic to Vietnamese History Littoral Society in Hoi An’s Trading World c. 1530-1840

Chú thích:

[1] G.S. Francisco de Pina được chào đời vào năm 1586 ở thành phố Guarda, một thành phố nằm về phía đông bắc, trên địa phận núi non (cao độ 1.056 m) gần biên giới giữa nước Bồ và nước Tây Ban Nha – cao nhất so với các thành phố khác ở nước Bồ. Thành phố này được sáng lập năm 1197 để chống lại sự xâm lấn của người Hồi Giáo. Nói một cách tổng quát, người dân Guarda rất ngoan đạo thời đó. Dân số ở đây thưa thớt. Không bao gồm các vùng ngoại ô, trong thành phố Guarda, dân số chỉ có khoảng 2.300 người (thống kê năm 1755). Cho đến nay, không ai rõ gia thế của ông, nhưng dòng họ Pina ở Guarda rất nổi tiếng trong thành phố này, nhất là Rui de Pina (1440-1522). Vào năm 1497, Hoàng Đế Manuel I phong chức Rui de Pina làm Biên Sử Quan và hưởng lộc vua khi về hưu ở Guarda.  Trước đó, nhà vua bổ nhiệm ngài làm chức Thư Ký (Secretary) trong phái đoàn được gửi qua Barcelona điều đình với chính quyền Tây Ban Nha. Kết quả là hiệp ước Tordesillas đã ra đời vào năm 1494.

Vào năm 1605, lúc 18 tuổi, G.S. Pina đã nộp đơn xin gia nhập vào nhà Dòng Giêsu và đã được chấp thuận. Có lẽ lúc đang học đại học ở trường Coimbra, ngài đã bắt đầu ngưỡng mộ nhà Dòng Giêsu và đã quyết định gia nhập vào đó. Vào năm đó, ngài từ giã gia đình và nội trú trong trường đại học College de Jesus tại Coimbra. Sau hai năm nội trú ở Nhà Tập, Pina gửi đơn xin phép giảng đạo ở Nhật Bản và đã được chấp thuận. Vào năm 1608, từ Lisbon, con thuyền có tên là Vencimento mang ngài đến Goa, Ấn Độ. Nhưng cuộc hành trình cam go, đầy dẫy chết chóc vì bệnh tật khiến khiến ngài và phái đoàn Dòng Giêsu phải chờ đến sang mùa xuân sang năm, 1609 mới hiện diện tại Goa.  Sau ba năm học xong lớp triết lý, vào năm 1612, Pina rời Goa, cùng người bạn học Manuel Borges (1584-1633) đón thuyền đến Macao (Manuel Teixeira, Macau e a Sua Diocese, Vol XIV, As Missiões Portuguesas No Vietnam, 1977, pp. 296-297). Trong bốn năm trời ở Macao đang theo đuổi lớp thần học, ngài được chứng kiến cảnh dân tị nạn người Nhật Bản theo đạo Gia Tô ồ ạt đáp thuyền lên bán đảo Macao bởi vì họ bị chính quyền Nhật trục xuất (1614).  Sự kiện này khiến Pina không thể qua Nhật giảng đạo được nữa. Sau khi nhập chức Linh Mục ở Malacca vào năm 1616, ngài trở về Macao chờ đợi bề trên giao công việc mới. Vào đầu năm 1617, Pina được gửi đến Đàng Trong để phụ giúp giáo sĩ Francesco Buzomi (1576-1639); trong lúc này, Chúa Nguyễn bị áp lực từ triều đình, sư sãi và dư luận trục xuất G.S. Buzomi và tu huynh Dias trở về Macao, nhưng trong mùa gió Bấc đang nổi lên, ngài và tu huynh Dias hầu như đang bị cầm tù trên bãi biển Đà Nẵng bởi vì con thuyền không thể đi ngược chiều gió và sự cản trở của chính quyền địa phương cấm đoán các ngài không cho vào đất liền. Không may, thời tiết năm ấy rất khắc nghiệt. Mùa mưa năm nay đợi hoài nhưng chẳng đến mà chỉ thấy nắng cháy chan hòa khắp nơi. Rất tiếc, dân tình Đàng Trong rất mê tín và đổ lỗi cho các ngài về nạn hạn hán đang lan tràn khắp nơi. Trong lúc này, trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, nhưng cũng nhờ nhờ sự giúp đỡ tích cực của các tín hữu, G.S. Buzomi mới chống chọi được cơn bệnh đang hoành hành và cái nóng gay gắt ngoài bãi biển Đà Nẵng. May mắn thay, cuối cùng, G.S. Buzomi cũng được Tuần Phủ Khám Trần Đức Hòa cứu giúp về Nước Mặn chữa bệnh. Vào khoảng hè 1617, ngài đón thuyền trở về lại Macao để được thăng cấp làm giáo sĩ với 4 lời thề. Từ đây, ngài chính thức trở thành giáo sĩ Bề Trên ở Đàng Trong – Sau khi biết được tình trạng khốn khổ của G.S. Buzomi, G.S. Pina gửi bài tường trình tình trạng khốn khổ của G.S. Buzomi về Macao. Với sự giúp đỡ của các người Nhật, G.S. Pina trở lại Hội An tạm thời lánh mặt và đồng thời giảng đạo cho khoảng 300 người Nhật ở đó – Sau 1614, có một số người Nhật tha phương chọn Hội An làm làm quê hương thứ hai của họ.

Đầu năm 1618, hai giáo sĩ Christoforo Borri và Pêro Marques cập bến Đà Nẵng. Sau đó, G.S. Marques thẳng tiến về Hội An, còn G.S. Borri và G.S. Pina gặp lại G.S. Buzomi. Cả ba đón thuyền về Nước Mặn theo lời mời của Tuần Phủ Khám Trần Đức Hòa. Ở Nước Mặn, các giáo sĩ Dòng Giêsu được đối đãi rất tử tế.  Ông Trần đức Hòa, một thời gian ngắn sau, xây một ngôi nhà thờ đồ sộ cho ba ngài. Nhưng tiếc thay, sau chỉ một gian ngắn, cuối hè năm ấy, ông ấy qua đời. Cả ba giáo sĩ tiếp tục cư ngụ tại Nước Mặn. G.S. Buzomi chăm lo các giáo đồ, còn G.S. Borri, G.S. Pina và tu huynh Dias nghiên cứu dùng ký âm Việt đổi ra chữ viết Rômen (Romance) mới gọi là Quốc Ngữ từ người dân Nước Mặn. Nhưng vào năm 1620, Pina dọn nhà lên Thanh Chiêm với mục đích tiếp tục nghiên cứu và phát triển chữ viết QN, đồng thời vừa giảng đạo cho quan lại và dân chúng địa phương. Vào năm 1623, trong thư gửi về Macao, Pina loan báo đã thành công trong việc soạn thảo  xong một quyển từ vựng bằng chuyển ký âm Việt bao gồm  thanh điệu dùng chữ viết Bồ Đào Nha. Cũng trong mùa hè năm đó, G.S. Pina được gọi về Macao để giúp đỡ các giáo sĩ sắp đến hành đạo ở Đàng Trong và dạy họ tiếng Việt; trong số đó có G.S. Alexandre de Rhodes và Antonio Fontes sau này là hai học trò đầu tiên và cũng là cuối cùng của ngài ở Đàng Trong. Vào cuối năm 1624, khi G.S. de Rhodes và G.S. Fontes đến Thanh Chiêm,G.S. Pina đã mở lớp dạy học tiếng Việt cho hai vị giáo sĩ này ở Dinh Chiêm.

Cuối năm 1625, ngài mướn một chiếc thuyền bầu ra đảo Cù Lao Chàm để đón một chuyến thuyền buôn từ Macao mang các thực phẩm và đồ dùng hàng năm. Từ bãi biển Cù Lao Chàm, khi ra khơi đón thuyền lớn, một cơn gió mạnh thổi đến, con thuyền nhỏ của ngài bị lật và chìm.  Ngài mất vào ngày đó.

[2] Dòng Tên là tên tục của dòng Chúa Giêsu được sáng lập bởi ông Thánh Inhaxiô Loyola và được Đức Giáo Hoàng chấp nhận vào năm 1539.

[3] Dinh Chiêm là tên tục của Dinh Quảng Nam.

[4] Christopher Borri, An Account of Cochin-China, Part II, A Collection of Voyages and Travels, Volume II, London, 1704, trang 808.

[5] Vào đời Hậu Lê năm 1471, Dinh Quảng Nam được gọi là Thừa Tuyên Quảng Nam; sau đó, được đổi thành Xứ Quảng Nam (1490); đến năm 1509, được đổi thành Trấn Quảng Nam; vào năm 1602, trở thành Dinh Quảng Nam mà tục gọi là Dinh Chiêm; trở lại thành Trấn Quảng Nam (1827) và cuối cùng Tỉnh Quảng Nam (1832) – Hãy xem http://nonnuocbinhkhe.blogspot.com/2015/07/huyen-dien-khanh-phu-ien-ban-quang-nam.html trích ra vào ngày 16/8/2023.

[6] Hãy xem Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 292.

[7] Theo thứ tự trong lịch sử, tên Dinh bắt đầu từ “Thừa Tuyên”; sau đó được đổi thành “Xứ” (1490);  Xứ được đổi thành “Trấn” (1509), rồi mới đến “Dinh” (1602). Thừa Tuyên có nghĩa là tuân mệnh trời dạy dỗ dân; Trấn có nghĩa là thành thị; còn Dinh/Doanh có nghĩa là nơi trú quân của lính. Hãy xem Nguyễn Văn Đăng, Mai Văn Được, Vài Nét về Địa Danh và Địa Giới Hành Chính Quảng Nam, Nghiên Cứu-Trao Đổi Phát Triển Kinh Tế Đà Nẳng, trang 31.

[8] Vào năm 1776, huyện Duy Xuyên bao gồm 10 xã, 3 thôn sau đây: La Đáp Đông, La Đáp Tây, La Đáp Trung, Chính Phố, Trà Long, Phổ Thị, Hà Hạm, Cành Mít, Xuân Phú, Đường Mông, Nhiêu Phu, Đông An, Nội Phủ Chí Ly (Hãy xem Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 111).

[9]  Sự thay đổi tên từ Cần Húc sang Văn Đông được nhắc trong Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 431. Nhưng vào đời vua Gia Long (1806), Lê Quang Định viết trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí đã nhắc đến xã Văn Đông (trang 221), nhưng cũng cho biết chính xã Thanh Chiêm mới là lỵ sở của dinh Quảng Nam (trang 218). Đến năm 1807, xã Văn Đông chính thức không còn là lỵ sở của Dinh Chiêm nữa (hãy xem Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Q. 33, Tái Bản Lần Thứ Nhất, trang 758).

[10] Hãy xem Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 54. Cũng xem Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 388.

[11] Hãy xem Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chính Biên, Q. 22, trang 526.

[12] Điều này có nghĩa là địa phận phủ Thăng Hoa là hiện thân của tỉnh Quảng Nam ngày nay và bao gồm các huyện: Hy Giang (nay là huyện Duy Xuyên), Lê Giang (nay là huyện Thăng Bình và Quế Sơn ) và Hà Đông (nay là  huyện Tam Kỳ). Trong lúc này, 1602, huyện Điện Bàn chưa được đổi thành phủ Điện Bàn và vẫn thuộc về phủ Triệu Phong, Dinh Thuận Hóa.

[13] Nhưng đến năm 1803, Quảng Nam bao gồm chỉ còn hai phủ là phủ Điện Bàn và phủ Thăng Hoa (Hãy xem Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 388).

[14] Trước kia, 1471, vùng đất nam sông Thu Bồn có tên là Chiêm Động mà vua Lê Thánh Tông thu hồi từ nước Chiêm Thành. Còn Quảng Ngãi trước kia là phần đất gọi là Cổ Lũy. Từ Cổ Lũy đến đèo Cù Mông sau này là tỉnh Bình Định.

[15] Trong Phủ Biên Tạp Lục, trang 54, Lê Quí Đôn viết rằng “Thời Trung hưng, năm đầu Hoằng Định…lấy huyện Điện Bàn phủ Triệu Phong dựng làm phủ, quản 5 huyện, lệ vào xứ Quảng Nam.” Năm đầu Hoằng Định có nghĩa là 1600 – năm trước đó vua Lê Kính Tông lên ngôi lấy hiệu Thuận Đức, nhưng năm sau đổi thành Hoằng Định. Vì thế, trong việc đổi huyện Điện Bàn thành phủ xảy ra vào năm 1600, chứ không phải chờ đến bốn năm sau (1604).

[16] Tên chữ Hán  “Dinh Chiêm” được trích từ Giáp Ngọ Bình Nam Đồ (1774). Đôi khi cũng được gọi là Dinh Chàm (Caciam, Caciaam hay Cachong).

[17] Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 431. Nhưng khi dùng Đại Nam Nhất Thống Chí làm tham khảo, chúng ta nên cẩn thận vì Đại Nam Nhất Thống Chí hiện tại có hai bản dịch, 1964 do Tu Trai Nguyễn Tạo dịch và 2006 do Phạm Trọng Điềm dịch. Tuy hai bản dịch hầu hết giống nhau về nội dung, nhưng dịch bản 1964 không nhắc gì đến hai phần ngắn có tựa đề “Lỵ sở cũ của Dinh Chiêm” và “Thành cũ Quảng Nam”. Hãy xem những dòng sau đây trích ra từ Đại Nam Nhất Thống Chí 2006, trang 431-432:

Nhưng trong bản dịch 1964, có nhắc rằng “Quốc- triều ban đầu dựng trấn dinh ở xã Thanh -Triêm huyện Diên- Phuớc”, chứ không phải là ở Cần Húc, huyện Duy Xuyên.  Vào năm 1803, vua Gia Long dời lỵ sở Dinh Quảng Nam về lại Thanh Triêm (trang 16). Nhưng trong bản dịch 2006 lại không nhắc nhở gì điều này.

[18] Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 152 và 185.

[19] Dinh cũng có nghĩa là chỗ cho quân lính trú ngụ. Hãy xem Nguyễn Văn Đăng, Mai Văn Được, Vài Nét về Địa Danh và Địa Giới Hành Chính Quảng Nam, Nghiên Cứu-Trao Đổi Phát Triển Kinh Tế Đà Nẳng, trang 31.

[20] Có nghĩa là thành phố Quảng Nam trùng tên với dinh, trấn hay tỉnh Quảng Nam.

[21] Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 152 và 185.

[22] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 218.

[23] Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Q. 33, Tái Bản Lần Thứ Nhất, trang 758, cho biết vua Gia Long đổi lỵ sở Quảng Nam đến xã Thanh Chiêm, huyện Diên Khánh vì lỵ sở Hội An quá chật hẹp (1807).

[24]   Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 431-432.

[25] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 221, cho biết xã Văn Đông và xã Thanh Chiêm cách cách xa nhau 636 tầm.

[26] Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 431.

[27] Ibid, trang 396.

[28] Hãy xem Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền, Dinh Trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, NXB Tổng Hợp, TP Hồ Chí Minh, 2020, trang 30-44.

[29] Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 431.

[30]ibid

[31] Hãy xem Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền, Dinh Trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, NXB Tổng Hợp, TP Hồ Chí Minh, 2020, trang 33.

[32] Ngô Văn Minh, Về Vị Trí Lỵ Sở Dinh Quảng Nam Năm 1602, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 1.2004, trang 67-72.

[33] Huỳnh Công Bá, Về Địa Điểm và Địa Danh Cần Húc trên Đất Quảng Nam, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 6.2002, trang 80-84.

[34] Hãy xem Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền, Dinh Trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, NXB Tổng Hợp, TP Hồ Chí Minh, 2020, trang 31-33 và Huỳnh Công Bá, Về địa Điểm và Địa Danh “Cần Húc” trên Đất Quảng Nam, Nghiên Cứu Lịch Sử, Số 6.2002, trang 83.

[35] Trần Đức Anh Sơn, Xứ Thuận – Quảng trên hai tranh cuộn Nhật Bản thời Edo, website “Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia”, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/68874/xu-thuan-quang-tren-hai-tranh-cuon-nhat-ban-thoi-edo.html, trích vào ngày 6 tháng 5 năm 2023 .

[36] Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 389-390.

[37] ibid

[38] 1 trượng = 4.7 m; nguồn: vi.wikipedia.org trích vào ngày 26 tháng 7, 2023.

[39] Ibid, trang 432.

[40] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập I, trang 59. Nguyễn Đình Đầu cho biết địa bạ các tỉnh Quảng Nam được viết vào năm 1812.

[41] 1 tầm bằng 2 m.

[42] Đại Nam Nhất Thống Chí, Quyển 5, Quảng Nam, Nguyễn Tạo dịch, Nhà Văn Hóa – Bộ Quốc Gia Giáo Dục, VNCH, 1964, trang 16.

[43] Dòng Tên là tên tục do các giáo hữu Kitô giáo gọi dòng Giêsu vì húy kị không muốn gọi thẳng tên Chúa Giêsu.

[44] Cái tên “Câu Móng” được trích ra từ bản đồ quân sự Hoa Ky vẽ vào năm 1972-1984. Nguồn: US Army, University of Texas, Austin. Nhưng dựa theo phong tục địa phương, con sông này đã thường được gọi là sông Cầu Mống, vì thế, chúng tôi sẽ gọi theo phong tục địa phương.

[45] Hãy xem Thi Bao Chau Huynh. Patrimoine architectural, urbain, aménagement et tourisme : ville Hôi An – Viêt Nam. Géographie. Université Toulouse le Mirail – Toulouse II, 2011. Français. ‌NNT : 2011TOU20062‌. ‌tel-00717654, trang 50.

[46] Hãy xem Tạp Chí Nghiên Cứu và Phát Triển, Số 2 (109) . 2014 – Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư và Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ, trang 98-99.

[47] Ngày xưa tuyến đường Thiên Lý còn được gọi là đường Cái Quan.

[48] Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 152 và 185.

[49] Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 431.

[50] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 221.

[51] Ibid, trang 218.

[52] Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 107-108.

[53] J.K.J Dejong, De Opcomst Van net Nederlandsch Gezag in Oost-Indie (1595-1610), Tweede Deel, 1864, trang 247.

[54] Phạm Đình Khiêm, Đi Tìm Di Tích và Hai Thành Cổ Quảng Nam và Phú Yên Đầu Thế Kỷ XVII, Việt Nam Khảo Cổ Tập San, 1960, trang 84.

[55] Thích Đại Sán, Hải Ngoại Ký Sự, 1695, trang 274.

[56] Lamb, Alastair. “British Missions to Cochin China: 1778-1822.” Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society, vol. 34, no. 3/4 (195/196), 1961, pp. i–248. JSTOR, http://www.jstor.org/stable/41505510. Accessed 2 Aug. 2023.

[57] Phạm Đình Khiêm, Đi Tìm Di Tích và Hai Thành Cổ Quảng Nam và Phú Yên Đầu Thế Kỷ XVII, Việt Nam Khảo Cổ Tập San, 1960, trang 84.

[58] Tấm bản đồ này trông rất giống tấm bản đồ mà của G.S. Alexandre de Rhodes (1651) đã vẽ.

[59] Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quí Đôn, 1776, Ngô Lập Chí dịch, Trường Đại Học Tổng Hợp, Hà Nội, trang 152, 185.

[60] Hãy xem Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 221.

[61] Ibid, trang 218;  Cũng hãy xem Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Q. 33, Tái Bản Lần Thứ Nhất, trang 758.

[62] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập 2, mục 71, trang 346.

[63] Ibid, mục 660, trang 364.

[64] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập 2, mục 71, trang 346, vào năm 1812, diện tích của xã Văn Đông là 11.1.11.6.1 (khoảng 5 ha).

[65] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806), trang 221. Khoảng cách giữa Văn Đông và đầm Thanh Hà là 1.135 tầm (2.270 m).

[66] Ibid. Khoảng cách giữa Văn Đông và Thanh Chiêm là 316 tầm (632 m).

[67] Ibid. Khoảng cách giữa Thanh Chiêm và Trạm nghỉ Thanh Chiêm là 423 tầm (846 m).

[68] Phạm Đình Khiêm, Đi Tìm Di Tích và Hai Thành Cổ Quảng Nam và Phú Yên Đầu Thế Kỷ XVII, Việt Nam Khảo Cổ Tập San, 1960, trang 77.

[69] 316 tầm; hãy xem Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 221.

[70] Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền, Dinh Trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, NXB Tổng Hợp, TP Hồ Chí Minh, 2020, trang 31-33.

[71] 423 tầm; ibid

[72] ibid

[73] Dùng đường Nguyễn Du, chúng tôi đặt ra giả thiết là con đường này chính là con đường đất nối liền thành Dinh Chiêm với xã Cần Húc vào đầu thế kỷ 17 (hãy xem Hình 37). Chúng tôi tin tưởng giả thiết này chính xác.

[74] Hãy xem Ngô Văn Minh, Về Vị Trí Lỵ Sở Dinh Quảng Nam Năm 1602, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 1.2004, trang 67-72.

[75] Theo sự hiểu biết của chúng tôi,

[76] Vị trí của Xã Cần Húc được tìm ra trong Hình 7 – Thành Dinh Chiêm Tồn Tại dưới Thời Pháp Thuộc (1907-1916). Bản đồ này cho thấy Xã Văn Đông – xưa kia là xã Cần Húc – nằm trên bờ bắc sông Cầu Mống (tả ngạn). Dựa theo Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 trang 432, Văn Đông là tên mới của Cần Húc và cũng được nhắc đến trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, trang 221.

[77] Chúng tôi dùng Hình 11 và Google Map để tìm ra diện tích của châu thổ này.

[78] William Dampier, Voyages and Descriptions, Tập II, Phần 1, Chương 1, trang 6.

[79] Ibid, trang 7.

[80] Sông Câu Lâu là tên địa phương của sông Thu Bồn, khi nó chảy ngang qua xã Câu Lâu.

[81] Dưới các triều nhà Nguyễn, thuộc là đơn vị hành chánh tương đương với một tổng. Trong một thuộc bao gồm các thôn, xã mà dân chúng có chung một nghề nghiệp, thí dụ như thuộc Chu Tượng (đóng thuyền), Nội Phủ Kim Hộ (đãi vàng), Hoa Châu (dệt vãi lụa), v.v… Nhưng những thành viên xã này trong thuộc này phải nằm trong một huyện riêng biệt, thí dụ, huyện Duy Xuyên hay Diên Khánh, chứ không thể hiện diện trong cả hai huyện được. Hiện nay, chúng tôi không rõ là ngoài hai xã Cần Húc và Câu Lâu, thuộc Cần Húc còn bao gồm các xã khác hay không.

[82] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập 2, trang 48.

[83] Ibid, Tập 2, mục 820, trang 369. Diện tích xã Câu Lâu vào năm 1812 là 428.8 6.0.1 (khoảng 209 ha).

[84] Ibid, Tập 2, trang 48.

[85] Hãy xem Ngô Văn Minh, Về Vị Trí Lỵ Sở Dinh Quảng Nam Năm 1602, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 1.2004, trang 67-72.

[86] Q. 9, trang 150, cho biết vào năm 1726, phủ Thăng Hoa có 15 thuộc trong khi phủ Điện Bàn có 4 thuộc.

[87] Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 114.ết

[88] Ibid

[89] Ibid, trang 116.

[90] Ibid, trang 117.

[91] Ibid

[92] Ibid, trang 118.

[93] Ibid

[94] Ibid, trang 120.

[95] Ibid

[96] Ibid

[97] Ibid, trang 121.

[98] Ibid

[99] Ibid

[100] Ibid

[101] Ibid

[102] Ibid, trang 122.

[103] Chữ “Liêm” được viết thay cho chữ “Kim” vì chạm tên húy của Nguyễn Kim.

[104] Hãy xem Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập 1, trang 22.

[105] Huỳnh Công Bá, Về Địa Điểm và Địa Danh Cần Húc trên Đất Quảng Nam, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 6.2002, trang 84.

[106] Ibid, trang 44.

[107] Hãy xem Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền, Dinh Trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, NXB Tổng Hợp, TP Hồ Chí Minh, 2020, trang 35. Tại trang 35, Đinh Trọng Tuyên đã trích ra vài hàng trong sách Nguyễn Duy Sinh, Quảng Nam và Những Vấn Đề Sử Học, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2005, như sau: “Cần Húc là âm sắc thông tục dân gian thừa tiếp gọi một xứ ở của cư nhân cũ có tên là Kan Hu, có nghĩa là lò luyện đúc đồng. Ngữ dạng Cần Húc chẳng qua là cách phiên âm từ tiếng Chăm, một phương thức xưng hô địa danh phổ biến như đã từng xảy ra trong quá trình Nam tiến của dân tộc Đại Việt từ thế kỷ XV trở về sau.” Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền cũng cho rằng giả thuyết của Nguyễn Duy Sinh rất hợp lý.

[108] Ngày nay nó là Phường Đúc, nằm về phía tây nam kinh đô Huế. Hãy xem Alexei Volkov, Evangilization, Politics and Technology Transfer in 17th -Century Cochinchina: The Case of João da Cruz, Center for General Education and Institute of History, National Tsing Hua University, Taiwan trong sách Europe and China: Science and the Arts in the 17th and 18th Centuries, Editor Luís Saraiva, World Scientific Publishing, 2013, trang 31-67.

[109] Nguyễn Minh Phương, Nghề Đúc Đồng Phước Kiều dưới Triều Nguyễn, Tạp Chí Khoa Học Đại Học Huế, Tập 126, Số 6B, 2017, Tr. 61–70. Nguyễn Minh Phương cho biết các thợ đúc đồng Phước Kiều được mời ra Huế để đúc cách vật dùng trong triều đình và hoàng gia, như đúc tiền xu, thẻ bài, ấn triện, cồng chiêng, thanh la, chuông, hay khánh.

[110] Hãy xem Alexei Volkov, Evangilization, Politics and Technology Transfer in 17th -Century Cochinchina: The Case of João da Cruz, Center for General Education and Institute of History, National Tsing Hua University, Taiwan trong sách Europe and China: Science and the Arts in the 17th and 18th Centuries, Editor Luís Saraiva, World Scientific Publishing, 2013, trang 60.

[111] Ibid, trang 43.

[112] Sự thành hình của xã Thanh Chiêm cần được nghiên cứu thêm vì nó quan trọng trong lịch sử.

[113]  Hãy xem Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 218.

[114]  Hãy xem Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang, trang 107-108.

[115]   Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập 1, trang 59.

[116] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập 2, mục 660, trang 364. Diện tích xã Thanh Chiêm vào năm 1812 là 248.8 4.1 (121 ha). Con số 248.8 4.1 đại diện cho 248 mẫu, 8 hào, 4 thước và 1 tấc.

[117] Ibid, Tập 2, mục 71, trang 346. Diện tích xã Văn Đông vào năm 1812 là 11.1.11.6.1 (khoảng 5 ha)

[118] Hai dữ kiện này cũng đủ nói lên rằng xã Thanh Chiêm và xã Văn Đông là hai xã riêng biệt; sau này cả hai lệ thuộc vào huyện Diên Khánh.

[119] Ibid, Tập 2, mục 820, trang 369. Diện tích xã Câu Lâu vào năm 1812 là 428.8 6.0.1 (khoảng 209 ha).

[120] Ibid, Tập 2, trang 48. Chúng tôi hiện giờ không hiểu, “hai đoạn” là dài khoảng bao nhiêu mét.

[121] Hãy xem Camille Paris (1856-1908), Voyage d’Exploration de Hue en Cochinchine, Ernest Deroux, Paris, 1889, trang 82. Tại địa điểm mà tuyến tuyến đường Thiên Lý giao tiếp bờ sông Câu Lâu ở xã Mỹ Xuyên, Camille Paris cho biết có một bến phà. Từ đó, chúng tôi mới suy luận thêm ra rằng ở điểm này, ngày xưa là một bến đò.

[122] Hãy xem Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 152 và 185.

[123] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 221.

[124] Hãy xem Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 54.

[125] Ibid, trang 107-108.

[126] Ibid

[127] Ibid, trang 111.

[128] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập I, trang 44.

[129] Hãy xem Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 152, 185.

[130] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam, Tập 1, trang 59.

[131] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 221.

[132] Haỹ xem Nguyễn Đình Đầu, Địa Chí Quảng Nam, Tập 2, Phần 2, NXB Đại Học Quốc Gia, 2010, trang 346. Hãy xem mục 71 cho thấy “Văn Đông Xã” lệ thuộc huyện Diên Khánh, có diện tích 11.1.11.6.1 (khoảng 5 ha). Chính Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Q. 33, Tái Bản Lần Thứ Nhất, trang 758, viết rõ hơn rằng lỵ sở Dinh Quảng Nam đã được dời về xã Thanh Chiêm thuộc huyện Diên Phước. Trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Lê Quang Định cũng cho biết rằng xã Thanh Chiêm nay là lỵ sở của Dinh Quảng Nam (trang 218) và nhắc đến Văn Đông trên trang 221.

[133] Ibid, trang 368, 369, 370.

[134] Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 420.

[135] ibid

[136] William A. Redfern III, Hoi An in the Seventeenth and Eighteenth Centuries: An International Entrepot, Master Thesis, 2002, trang 97.

[137] Hãy xem Đại Nam Nhất Thống Chí, Tập 5 Quảng Nam, do Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xương, Trần Xán dịch, Nha Văn Hóa – Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH, 1964, trang 38-39.

[138] Ibid, trang 39.

[139] Phạm Đình Khiêm, Đi Tìm Di Tích và Hai Thành Cổ Quảng Nam và Phú Yên Đầu Thế Kỷ XVII, Việt Nam Khảo Cổ Tập San, 1960, trang 78.

[140] Hiện nay là phương Điện Phương Đông.

[141] Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 152, 185.

[142] Ibid, trang 107.

[143] Hãy xem Đại Nam Nhất Thống Chí, Tập 5 Quảng Nam, do Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xương, Trần Xán dịch, Nha Văn Hóa – Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH, 1964, trang 39.

[144] Hãy xem Camille Paris (1856-1908), Voyage d’Exploration de Hue en Cochinchine, Ernest Deroux, Paris, 1889, trang 82.

[145] Xã Câu Lâu vào đầu thế kỷ 19 chính là phường Điện Phương Đông ngày nay.

[146] Vị trí của Xã Cần Húc được tìm ra trong Hình 7 – Thành Dinh Chiêm Tồn Tại dưới Thời Pháp Thuộc (1907-1916). Bản đồ này cho thấy Xã Văn Đông nằm trên bờ sông Cầu Mống phía bắc. Dựa theo Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 trang 432, Văn Đông là tên mới của Cần Húc và cũng được nhắc đến trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, trang 218.

[147] Cái tên “Cầu Mống” được trích ra từ bản đồ quân sự Hoa Ky vẽ vào năm 1972-1984. Nguồn: US Army, University of Texas, Austin. Trong bản đồ quân sự này, quân đội Hoa Kỳ gọi con sông này là Câu Móng; có lẽ họ bỏ thiếu dấu. Hãy xem Hình 24.

[148] Hãy xem Camille Paris (1856-1908), Voyage d’Exploration de Hue en Cochinchine, Ernest Deroux, Paris, 1889, trang 82.

[149] Hãy xem Thi Bao Chau Huynh. Patrimoine Architectural, Urbain, Aménagement et Tourisme: Ville HôiAn

– ViêtNam. Géographie, Université Toulouse le Mirail- ToulouseII, 2011. Français. NNT: 2011TOU20062. tel-00717654, trang 50. Nhưng Charles Wheeler trong bài viết “A maritime Logic to Vietnamese History Littoral Society in Hoi An’s Trading World c. 1530-1840” cho rằng Tranh Chaya được vẽ vào năm 1645.

[150] GS. Kikuchi Seiichi viết trong sách lấy tựa đề “Nguyên Cứu Đô Thị Cổ Hội An từ Quan Điểm Khảo Cổ Học Lịch Sử” ấn hành năm 2010: “Theo Chaya Giao Chỉ mậu dịch độ hải đồ, dinh trấn này được phác họa là một công trình kiến trúc nằm bên bờ sông do toàn sứ giả Chaya Shinroku xây tặng hoàng Công Tử”; trích ra từ https://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/pho-co-va-cau-truc-khong-gian-khu-vuc-hoi-an-624.html vào ngày 4, tháng 6, 2023.

[151] Mỗi năm bắt đầu từ 1593, chấm dứt 1634, Mạc Phủ Iyeyasu chỉ cấp Châu Ấn Trạng cho một số thương nhân mà ngài ưa chuộng thôi. Thương nhân nào mà không lãnh được ơn huệ này không thể mang thuyền đến các nước Á Châu buôn bán được.

[152] Hãy xem Péri Nöel. Essai sur les relations du Japon et de l’Indochine aux XVIe et XVIIe siècles. In: Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient. Tome 23, 1923. pp. 1-104;

doi : https://doi.org/10.3406/befeo.1923.5932; https://www.persee.fr/doc/befeo_0336-1519_1923_num_23_1_5932)

[153] Dựa theo gia phả họ Mạc ở Trà Kiều, xã Mỹ Xuyên đã bị tách rời ra làm hai Mỹ Xuyên Đông và Mỹ Xuyên Tây từ lâu lắm rồi, trước năm 1642. Hãy xem Trần Văn Hảo, Đôi Dòng Lịch Sử về Làng Mỹ Xuyên Tây, http://duyxuyenrt.vn/tin-tc/dat-va-nguoi/doi-dong-lich-su-ve-lang-my-xuyen-tay.html trích ra ngày 10/9/2023.

[154] Trong lịch sử của Dòng Tên, vào năm 1617, G.S. Buzomi bị trục xuất ra khỏi Đàng Trong vì dân chúng phản đối ngài cho rằng ngài là phù thủy và đã gây ra hạn hán khắp nơi.

[155] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Dinh Quảng Nam I (Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), NXB, Đại Học Quốc Gia, 2010, trang 44. Chúng tôi dùng Xã Câu Lâu như là một thí dụ để chứng minh điều khoản 3 trong giả thuyết về Sông Ngòi Nam Điện Bàn.

[156] Hãy xem Đại Nam Nhất Thống Chí, Tập 5 Quảng Nam, do Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xương, Trần Xán dịch, Nha Văn Hóa – Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH, 1964, trang 38-39.

[157] Ibid, trang 39.

[158] Hãy xem Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, trang 152 và 185.

[159] Nguyễn Phước Tương, Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc – Bà Chúa Tàm Tang Trong Sự Nghiệp Phát Triển Nghề Tơ Tằm Xứ Quảng, trích từ  http://vietlandmarks.com/upload/html/31864897b24a6f0f2088ed6a54f76354.html vào ngày 18/6/2023.

[160] Hiếu Chiêu Hoàng Hậu là mẹ của Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần.

[161] Cái tên Diên Khánh được đổi thành Diên Phước (hay Diên Phúc) dưới đời vua Minh Mạng vào năm 1822.

[162] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Dinh Quảng Nam II (Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), NXB, Đại Học Quốc Gia, 2010, trang 44. Nguyễn Đình Đầu cho biết vào năm 1812, trong Địa Bạ Quảng Nam, xã Câu Lâu lệ thuộc huyện Duy Xuyên, tổng Mậu Hòa Trung.

[163] Hãy xem Đại Nam Nhất Thống Chí, Tập 5 Quảng Nam, do Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xương, Trần Xán dịch, Nha Văn Hóa – Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH, 1964, trang 38-39.

[164] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Dinh Quảng Nam II (Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), NXB, Đại Học Quốc Gia, 2010, trang 346 và 405.

[165] Hãy xem Ngô Văn Minh, Về Vị Trí Lỵ Sở Dinh Quảng Nam Năm 1602, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 1.2004, trang 67-72.

[166] Lamb, Alastair. “British Missions to Cochin China: 1778-1822.” Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society, vol. 34, no. 3/4 (195/196), 1961, pp. i–248. JSTOR, http://www.jstor.org/stable/41505510. Accessed 2 Aug. 2023.

[167] 1 dặm Anh = 1.6 km; 6 dặm Anh = 9 km; đó là khoảng cách giữa Hội An và Dinh Chiêm đi bằng thuyền, giống như các giáo sĩ, các nhà thám hiểm hay nhà nghiên cứu đã từng nêu lên.

[168] 1 lý (league) = 4.8 km; www. dictionary.cambridge.org; Khi dùng diện tích của xã Thanh Chiêm (121 ha) được cung cấp bởi Địa Bạ Quảng Nam (1812) vẽ lên Google Map, kết quả cho thấy chu vi của xã Thanh Chiêm trên Google map là 4,8 km (hãy xem Hình 13). Phải chăng đây là sự tình cờ vì chu vi xã Thanh Chiêm vẽ từ địa bạ Quảng Nam (1812) thật giống với những gì Abbé Raynal đã trình bày với Charles Chapman vào năm 1778; cũng là 4,8 km. Có lẽ lời nói Abbé Raynal với Charles Chapman cho thấy ngoại thành Dinh Chiêm sau này trở thành địa giới của xã Thanh Chiêm chăng?

[169] 1 dặm Anh = 5.280 ft; Khoảng 800 m

[170] 1 inch = 2,54 cm

[171] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 218.

[172] Dưới đời vua Gia Long, đây chính là xã Câu Lâu.

[173] Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006, trang 432.

[174] Chiều cao 5 m là của Thành Điện Bàn được xây sau vào năm 1832. Hãy xem Đại Nam Nhất Thống Chí, 1964, trang 16. Chúng tôi cho rằng thành Dinh Chiêm cũ lúc ban đầu cũng có cùng một chiều cao. Con số 3 m chiều cao là do Charles Chapman (1752-1809) quan sát tường thành khi ông đến Dinh Chiêm để điều đình việc buôn bán giữa Đàng Trong và Anh Quốc vào năm 1778.

[175] Đại Nam Nhất Thống Chí 2006, trang 432; 1 trượng Trung Kỳ = 4.7 m.

[176] Lê Quí Đôn, Kiến Văn Tiểu Lục Toàn Tập, Tập II, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977, trang 162. Lê Quí Đôn viết: “Khoảng niên hiệu Hồng đức định thể lệ dinh thự các quan tam ti và phủ ở Trị sở ngoài các đạo như sau: Trị sở của ti Trấn thủ, dựng dinh thự ở khu đất rộng 5 mẫu, bốn chung quanh đắp tường bằng đất;” Dựa theo Lê Quí Đôn, đó là những quy cách chỉ rõ trước khi một dinh trấn được xây cất; 1 mẫu = 5.000 m2 (miền Trung) hay nói một cách khác, 1 mẫu = 0,5 ha; 1 ha = 10.000 m2.

[177] Nhiều nhà nghiên cứu đương thời cho rằng nhà thờ Phước Kiều chính là ngôi nhà thờ của G.S. Pina ngày xưa vào đầu thế kỷ 17.

[178] Trong lần cuối cùng trong cuộc đời, G.S. Pina cùng chiếc ghe bầu ra khơi từ bãi biển của một trong những đảo trong quần đảo Cù Lao Chàm để khuân chuyển vật dụng hàng năm cho ngài ở Dinh Chiêm. Rất tiếc, một cơn gió lốc nổi lên bất chợt khiến ghe ngài bị lật. Là một người sinh ra ở vùng núi non như Guarda, Bồ Đào Nha, có lẽ ngài không biết bơi nên đã chết đuối vào ngày 15/12/1625.

[179] Bà Minh Đức Vương Thái Phi là người vợ trẻ và cuối cùng của Chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613). Họ sinh ra Công Tử Nguyễn Phúc Khê, một vị công thần rất giỏi dang phò trợ Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) và Chúa Hiền Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) rất đắc lực.

[180] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Phan Đăng dịch, NXB Thuận Hóa, 2003, trang 221.

[181] Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí trên trang 13 cho biết 1 dặm có 216 tầm, tức là 1080 thước mà 1 thước bằng 0,40 m. Từ đó, chúng ta có thể đổi từ tầm ra thước, rồi cuối cùng ra m; vì vậy, 1 tầm = 5 thước = 2 m.

[182] Có lẽ bắc ngang đầm Thanh Hà cũng có một cây cầu gỗ.

[183] Cầu Chùa còn được gọi là Lai Viễn Kiều.

[184] Con số 9 Km này rất thích hợp với những gì nhà nghiên cứu Phạm Đình Khiêm viết trong sách Người Chứng Thứ Nhất, Chương 10, Ý Nghĩa Một Cái Chết, NXB Tinh Việt Văn Đoàn, SG, 1959, trang 119-121 (cũng nên xem ghi chú số 20, trong Huỳnh Công Bá, Điện Bàn Phủ dưới Thời Tiên Chúa Nguyễn Hoàng, trích từ https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/72115/1/274%281994-3%29%2810%29.pdf ngày 21/7/2023, trang 65). Thêm nữa, vào năm 1778, trong bài tường trình gửi về Bengal (Bangladesh), ông Charles Chapman (1752-1809) cũng cho biết khoảng cách từ thành Dinh Chiêm ra Hội An là 6 miles (9 km). Hãy xem Lamb, Alastair. “British Missions to Cochin China: 1778-1822.” Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society, vol. 34, no. 3/4 (195/196), 1961, pp. i–248. JSTOR, http://www.jstor.org/stable/41505510. Accessed 2 Aug. 2023.

[185] 632 m/2 + 846 m = 1.162 m

[186] Đinh Trọng Tuyên và Đinh Bá Truyền cũng nghĩ rằng “Cần Húc xưa kéo dài từ làng Văn Đông hiện nay lên đến Phước Kiều.” Hãy xem Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền, Dinh Trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, NXB Tổng Hợp, TP Hồ Chí Minh, 2020, trang 58.

[187] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Dinh Quảng Nam I (Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), NXB, Đại Học Quốc Gia, 2010, trang 47. Xin lưu ý rằng 1 Mẫu= 4.865 m2 chỉ ở Quảng Nam; 1 Mẫu ở miền Bắc = 3.600 m2;  1 Mẫu ở miền Trung = 4.970 m2; 1 Mẫu ở miền Nam = 10.000 m2.

[188] Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 13.

[189] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Dinh Quảng Nam I (Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), NXB, Đại Học Quốc Gia, 2010, trang 46.

[190] Ibid

[191] Ibid, Tập II, các mục 820, 866, 798, 887, 660 và 71 trong các trang 369, 370, 368, 371 và 364.

3 thoughts on “Dinh Chiêm (Dinciam) ở đâu?

  1. Pingback: “Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng Trì Trì, mlồi/mlồ, Chiêm Thành – Cham và *Lâm (Ấp)” (phần 41) | Nghiên Cứu Lịch Sử

  2. Trong hàng trăm bài tham luận, sao không thấy ai bàn về vị trí “sông nhỏ Bảo Toán” mà lê Quý Đôn ghi ở Phủ biên tạp lục? Tôi biết dấu tích dòng sông ấy ở Tiệm Rượu, nên Dinh Chiêm năm 1602 không thể ở trên đất Xuyên Đông, Tiệm Rượu, Hạt Toán được.

    Thích

    • Tôi là tác giả bài “Dinh Chiêm ở Đâu?”, nhưng tôi không biết con sông nhỏ Bảo Toán (cùng với sông Kẻ Thử) trong PBTL nằm ở đâu. Xin Ông cho lời giải thích thêm được không? Nếu tôi gửi cho ông bản đồ chi tiết có sông ngòi chung quanh Xuyên Đông, ông có thể đánh dấu cho tôi biế̉t các địa danh như Tiệm rượu nằm gần sông Bảo Toán (để phân biệt với Tiệm Rượu ở Xã Xuyên Đông) được không? Email của tôi là mainam@gmail.com. Cám ơn Ông.

      Thích

Bình luận về bài viết này