(HỨA ĐÔ, ĐÀI ĐỒNG TƯỚC, MỘ CHU DU, MIẾU KHỔNG MINH, XÍCH BÍCH Phụ lục thơ PHAN HUY ÍCH, ĐOÀN NGUYỄN TUẤN, NGÔ THỜI NHẬM, TÀO THỰC, TÔ ĐÔNG PHA) TS Phạm Trọng Chánh NGUYỄN DU ĐẾN HỨA ĐÔ VIẾT VỀ TÀO THÁO Nguyễn Du trên đường đi sứ năm Quý Dậu (1813) từ … Tiếp tục đọc
Tagged with Phạm Trọng Chánh …
Nhạc Dương Lâu – Hồ Động Đình qua thi ca sứ thần Việt Nam: Nguyễn Du, Đoàn Nguyễn Tuấn, Phan Huy Ích, Nguyễn Tông Khuê, Hồ Sĩ Đống, Ngô Thì Nhiệm, Ngô Thì Vị,…
TS Phạm Trọng Chánh Đi sứ không phải là chuyện các thi sĩ một mình một ngựa bầu rượu túi thơ ngâm vịnh phong cảnh đi qua, cũng không phải là chuyện anh lái buôn đi giao hàng. Đoàn đi sứ trung bình gần 30 người, lần đông nhất là 158 người thời Tây … Tiếp tục đọc
Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên
TS Phạm Trọng Chánh Nguyễn Du đi qua nước Sở, quê hương Khuất Nguyên nhiều lần. Năm 1788- 1790 trong thời tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc lượt đi và về và năm 1813-1814 làm Chánh Sứ sang Bắc Kinh lượt đi và về đều đi theo sông Tương từ Quảng Tây qua … Tiếp tục đọc
Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần nước Nam: Nguyễn Du, Phạm Sư Mạnh, nguyễn Trung Ngạn, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Tông Khuê, Lê Quý Đôn, Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Thời Vị, Phan Thanh Giản
TS Phạm Trọng Chánh Hoàng Hạc Lâu được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223 do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc Giang Nam có bờ đá lớn, ông cho xây lầu cao làm đài quan sát. Về sau đời Đường có … Tiếp tục đọc
Nguyễn Du (1766-1820) và Ngô Thời Vị (1774-1821) hai tài năng danh tiếng đồng thời
Trong kho tàng văn học cổ điển nước ta bằng chữ Hán, thơ Ngô Thời Vị là một đỉnh cao đáng trân trọng và lưu ý để tìm hiểu tư tưởng tiền nhân nước ta. Mong Viện Hán Nôm sớm công bố toàn bộ thơ văn Ngô Thời Vị. Một tài năng được đương thời, trọng dụng và đánh giá ngang hàng với đại thi hào Nguyễn Du không thể để mãi trong quên lãng. Tiếp tục đọc
Quế Hiên Nguyễn Nể (1761-1805) – Đỉnh núi cao thi trận nước Nam thời Tây Sơn
Tiếc thay, như bao danh nhân nước ta, ngày xưa phần nhiều đều viết thơ bằng chữ Hán. Điều đó ngày xưa cần thiết để đối thoại, trao đổi với sứ thần các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản.. Tiền lệ đó sánh với Âu Châu có những thời đại họ dùng chữ Hy Lạp, chữ La Tinh hay tiếng Pháp trong triều đình. Do đó không thể phủ nhận, một ngàn năm người Việt dùng chữ Hán, không phải là văn hóa của người Việt Nam. Con cháu chúng ta ngày nay chỉ đọc qua những bản dịch nghĩa, như người đọc thơ người ngoại quốc, thì chẳng thấy mặn mà gì với di sản tiền nhân. Các bản dịch thơ Nguyễn Nể, chưa đạt được tầm mức kiệt tác , nên có lẽ vì thế ta chưa thấy hay. Các cụ yêu thích dịch thơ Đường lần lượt ra đi, các bản dịch mới chỉ dịch nghĩa.. Thi ca ngày xưa có tầm quan trọng trong ngoại giao, chứng tỏ mình là một nước có văn hóa, văn hiến không thua kém Trung Quốc. Nhà thơ không phải làm thơ để giải sầu tiêu khiển, bầu rượu túi thơ một mình, mà là Thi tướng trên Mặt trận Văn hóa, Ngoại giao. Trong bài này tôi xin dịch lại các bài thơ Nguyễn Nể, để thưởng thức những bài thơ tuyệt tác của Thi tướng, đỉnh cao Thi trận thời Tây Sơn.. Tiếp tục đọc
Nguyễn Hành (1771-1824)- Minh Quyên Thi Tập: Tiếng chim Quyên kêu bi thương
TS Phạm Trọng Chánh Nguyễn Hành cùng với chú là thi hào Nguyễn Du, năm người hay thơ nhất nước Nam « An Nam Ngũ Tuyệt ». Trong bốn dòng họ thơ văn danh tiếng nước Nam. Họ Nguyễn Tiên Điền có hai người. Họ Nguyễn Trường Lưu có Nguyễn Huy Tự, họ Phan Huy gốc … Tiếp tục đọc
Nguyễn Hành (1771-1824) nhà thơ tài hoa trong An Nam ngũ tuyệt
TS Phạm Trọng Chánh Nguyễn Hành được người đời đánh giá là một trong An Nam Ngũ Tuyệt, năm nhà thơ lớn tuyệt diệu Việt Nam trong thời đại cùng với chú ông là Đại thi hào Nguyễn Du (1766-1820) tác giả Đoạn Trường Tân Thanh. Ba người còn lại không ai khác hơn … Tiếp tục đọc
Nguyễn Khản (1734-1786)- Quan thượng thư tài hoa họ Nguyễn Tiên Điền
Phạm Trọng Chánh Ngày nay chúng ta chỉ còn biết đến Nguyễn Khản, là anh cả Đại thi hào Nguyễn Du và không còn biết đến tác phẩm thi ca nhà thơ một thời lừng lẫy, mỗi bài thơ ông làm ra ca kỹ, giáo phường đua nhau truyền tụng « Án phách tân truyền Lại … Tiếp tục đọc
Yên Đài Thu Vịnh- Sứ thần Đoàn Nguyễn Tuấn (1750- ?): 28 bài thơ tuyệt tác viết về mùa thu tại Bắc Kinh
Đoàn Nguyễn Tuấn đi sứ Trung Quốc năm 1790 trong sứ bộ Tây Sơn. Sau trận Đống Đa, nhà Thanh phải vất vả, hao tổn khá nhiều vàng bạc để tiếp rước, phục dịch ông vua Quang Trung giả, do người cháu vua là Phạm Công Trị đóng vai, và hoàng tử Nguyễn Quang Thùy. Một sứ bộ 158 người đông đảo chưa từng thấy trong lịch sử, có cả một ban hát 10 người và cống phẩm còn có hai con voi đực. Các đoàn sứ bộ bình thường chỉ khoảng 30 người. Thời xưa quan niệm thời chiến dùng Võ, thời bình dùng Văn. Trên trận tuyến Thi Ca, Đoàn Nguyễn Tuấn là một Thi tướng tài năng dưới trướng Chánh sứ Phan Huy Ích, khiến các quan Trung Quốc nể phục. Thơ Đoàn Nguyễn Tuấn được chép trên vách Hoàng Hạc Lâu. Không ngại ngùng trước bài thơ kiệt tác Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, mà thi hào Lý Bạch phải thán phục: “Trước mắt có cảnh không tả được, Vì thơ Thôi Hiệu ở trong đầu”. Đoàn Nguyễn Tuấn viết luôn bốn bài Vịnh Hoàng Hạc Lâu
Tiếp tục đọc