Nguyễn Kim Lâm.
Hà Nội tháng 4 năm 2026
Hồ Quý Ly (1336 – 1407), tên chữ Nhất Nguyên, quê ở Đại Lại, Vĩnh Lộc (nay là Hà Đông, Hà Trung, Thanh Hóa) ,là vị hoàng đế đầu tiên của nhà nước Đại Ngu trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi vị Hoàng đế từ năm 1400 đến năm 1401 tự xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng, sau đó giữ ngôi Thái thượng hoàng từ năm 1401 đến năm 1407 nhà Hồ bị mất. Ông được xem là một nhà cải cách trong lịch sử Việt Nam và cũng là một nhân vật gây tranh cãi với những luồng ý kiến khen chê khác nhau. Tuy tồn tại ngắn ngủi nhưng nhà Hồ đã đề ra những cải cách về hành chính, giáo dục khoa cử, kinh tế, quân sự, trong đó bao gồm việc phát hành tiền giấy và đã chuyển kinh đô từ Thăng Long về Thanh Hóa…
Về mặt chính trị, Hồ Qúy Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400,khi đó ông đang là Tể Tướng và có quyền lực gần như tuyệt đối trong triều.Tuy nhiên khi ta xem lại các tài liệu lịch sử ,thì nhà Trần tuy đã mọt ruỗng và suy yếu nhưng trong lòng nhân dân,một triều đại với nhiều anh hùng dân tộc,với những võ công hiển hách(ba lần chiến thắng Nguyên Mông)… thì thời điểm đó có lẽ là chưa đủ uy tín để nhà Hồ thay thế được.Vì thế Hồ Quí Ly nếu vẫn tiếp tục giữ vua Trần dưới hình thức : “nắm thiên tử để ra lệnh chư hầu” và chờ thời điểm thích hợp cho thay đổi triều đại có lẽ hay hơn chăng? Một dẫn chứng dễ thấy là khi quân Minh xâm lược nước ta,chúng đã đánh lừa nhân dân ta bằng khẩu hiệu : “phù Trần diệt Hồ” đã đem lại nhiều hậu quả rất tai hại… Hiển nhiên sau khi lên ngôi Hồ Quí Ly phải dần xóa bỏ phương thức sử dụng người của hoàng thất trong nắm giữ các chức vụ chỉ huy quân sự cao cấp, đưa lực lượng trẻ vào nắm quyền,nhưng thực chất mục đích là loại bỏ tôn thất nhà Trần ra khỏi bộ máy chính trị. Để chia nhỏ thế lực của giới quý tộc, Hồ Quý Ly ban hành chính sách “hạn điền” và “hạn nô”. Các chính sách này có mặt lợi là gần như ngay lập tức nó đánh quỵ nền tảng kinh tế, xã hội của những tàn dư triều đại cũ, giúp cho nhà Hồ nhanh chóng ổn định quyền lực, tránh khỏi những nguy cơ nội chiến tiềm tàng. Nhưng chúng cũng đã động chạm vào những nhóm lợi ích cơ bản của xã hội Đại Việt bấy giờ, làm cho nhà Hồ mất đi sự ủng hộ của các tầng lớp nắm giữ tài lực, cũng là tầng lớp có uy tín, có thế lực nhất trong đất nước.Phải chăng vì biết chưa có được nhân tâm ở nhiều tầng lớp nhân dân nên Hồ Quí Lý có thể đã phạm sai lầm nghiêm trọng? Khi ông đã quyết định từ bỏ Thăng Long(Hà Nội ngày nay),trung tâm lớn nhất về mọi mặt của đất nước để dời đô về Thanh Hóa với mục đích phòng vệ về an ninh và quân sự.
Sách Khâm Định Việt Sử Thông giám cương mục cũng ghi “Thiếu bảo Vương Nhữ Chu đề nghị đổi lại chế độ. Quý Ly nghe theo, mới định chế độ tiền giấy như sau: loại 10 đồng vẽ rau rong; loại 30 đồng vẽ thủy ba; loại một tiền vẽ đám mây, loại hai tiền vẽ con rùa; loại ba tiền vẽ con lân; loại 5 tiền vẽ con phượng; loại một quan vẽ con rồng. Người nào làm giả phải tội tử hình, tịch thu điền sản sung công. Khi tiền giấy đã in xong, hạ lệnh cho dân được đem tiền thực đổi lấy tiền giấy: cứ một quan tiền thực chất đổi lấy tiền giấy một quan hai tiền”. Việc tiền giấy được tung ra trên cơ sở thu hồi tiền đồng thông qua trao đổi. Theo các nhà sử học, mục đích thu hồi là để có đồng làm vũ khí và đúc súng đại bác. Tuy nhiên theo các nguồn thông tin khác, Hồ Quý Ly còn cho phát hành tiền đồng Thánh Nguyên Thông Bảo khi lên ngôi. Hai chữ Thánh Nguyên tương ứng với niên hiệu của triều đại mới, được sử dụng thông dụng trong lưu thông. Nếu tính thêm yếu tố này, có thể biết thêm là nhà Hồ đã cho sử dụng song song cả hai loại tiền đồng và tiền giấy. Một phần thu hồi tiền đồng cũ đã được dùng để đúc ra tiền đồng Thánh Nguyên Thông Bảo. Phần còn lại được sử dụng làm vũ khí…Hiển nhiên nếu phát hành tiền giấy với ưu điểm gọn, nhẹ,dễ dàng lưu thông…đồng thời đáp ứng được những yêu cầu của kinh tế, xã hội thì đây quả là một thành tựu vượt thời đại.Về nguyên tắc trong kinh tế mọi thời đại thì việc đảm bảo giá trị cho đồng tiền phát hành có một vai trò quan trọng mang tính quyết định.Tất nhiên là điều này phải phù hợp với tâm lý nhân dân và điều kiện chính trị.kinh tế, xã hội thời đại đó.Vì nó sẽ giúp tạo ra và giữ nguyên lòng tin vào công cụ thanh toán tiền tệ trong thời đại đó. Nếu giá trị tiền càng ít phụ thuộc vào vật liệu làm tiền, thì lại càng cần thiết phải phụ thuộc nhiều vào cơ chế đảm bảo của chính quyền thời đại đó bù đắp lại. Đây là điểm sống còn đối với tiền giấy,khi vật liệu thì rẻ và việc in tiền không có được công nghệ khác biệt và độc quyền. Sách Đại Việt sử ký viết « Bấy giờ, người buôn bán phần nhiều chê tiền giấy. Lại lập điều luật để xử tội không tiêu tiền giấy, bán giá cao, đóng cửa hàng, bao che giúp nhau“. Vậy là đồng tiền giấy đầu tiên của Việt nam đã được lưu hành nhờ can thiệp vũ lực của Nhà nước. Như vậy nhà Hồ đã không có cơ chế đảm bảo giá trị lòng tin cho tiền giấy mà mình phát hành,mà chỉ có biện pháp trấn áp bằng hình phạt. Lý do quan trọng nhất là tiền Thông bảo hội sao của nhà Hồ rất dễ làm giả vì chưa có các công nghệ chống làm tiền giả phức tạp… Ví dụ, Nguyễn Nhữ Cái nổi loạn ở núi Thiết Sơn đã chế tạo tiền giả để tiêu dùng… Ngoài ra, mực in tiền thời đó cũng không đạt yêu cầu, chỉ cần dính mưa, dính nước là nhòe không tiêu được nữa, người chủ coi như mất tài sản (so với tiền kim loại thì không sợ ướt như vậy). Mặt khác theo sử gia Phan Huy Chú đã nhận định trong sách Lịch triều hiến chương loại chí: “Giấy sao chỉ là miếng giấy vuông chừng 1 thước, chỉ đáng giá năm ba đồng tiền, mà đem đổi lấy những vật giá năm sáu trăm đồng của người ta, đã không hợp lý, lại làm cho người ta cất giữ, thì dễ rách nát. Kẻ làm giả mạo thì không thể bắt hết; như vậy không thể làm cho vật giá trung bình mà dân thông dụng được. Quý Ly không xét đến sự lợi hại, chỉ mộ cái hư danh là sáng tác, làm ra tiền giấy, rồi cũng úng tắc ngay, không lưu thông được, chỉ làm cho dân xôn xao, không phải là chế độ để làm cho nước được bình trị” .Việc dùng tiền giấy thời đó đã đi ngược nguyên tắc phát hành tiền tệ, đó là phải có đủ cơ sở để nhân dân tin tưởng vào giá trị giao dịch của đồng tiền. Một lượng lớn tiền giả được tung ra tất yếu dẫn tới việc tiền giấy bị mất giá, tức là lạm phát. Ngoài ra,mục đích ở đây là triều đình lạm dụng việc in tiền giấy để bù đắp thiếu hụt ngân khố thì lạm phát càng nghiêm trọng. Tuy làm ra tiền giấy, nhưng bản thân nhà Hồ lại không tin vào tiền giấy. Bằng chứng là triều đình không dự trữ tiền giấy, mà song song vẫn cho phát hành tiền đồng Thánh Nguyên Thông Bảo để dùng ngay từ đầu. Như vậy nhà Hồ không phải in tiền với mục đích làm lợi cho dân, hay cho phát triển kinh tế của đất nước, ngõ hầu nhằm theo đuổi nhiều chính sách và tham vọng chi tiêu của triều đình trong một khoảng thời gian ngắn.
Sách Đại Việt sử ký chép, “Triều trước, mỗi mẫu thu 3 thăng thóc, nay thu 5 thăng. Bãi dây, triều trước thu mỗi mẫu 9 quan hoặc 7 quan tiền, nay thu hạng thượng đẳng mỗi mẫu 5 quan tiền giấy, hạng trung đẳng mỗi mẫu 4 quan tiền giấy, hạng hạ đẳng 3 quan tiền giấy. Tiền nộp hằng năm của đinh nam trước thu 3 quan, nay chiếu theo số ruộng, người nào chỉ có 5 sào ruộng thì thu 5 tiền giấy; từ 6 sào đến 1 mẫu thì thu 1 quan;1 mẫu 1 sào đến 2 mẫu thu 2 quan; từ 2 mẫu 1 sào đến 2 mẫu 5 sào thu 2 quan 6 tiền; từ 2 mẫu 6 sào trở lên thu 3 quan. Đinh nam không có ruộng và trẻ mồ côi, đàn bà góa, thì dẫu có ruộng cũng thôi không thu”. So sánh với chính sách thuế khóa thời Trần có thể thấy đây là chính sách thuế nhà Hồ khá tiến bộ.Nhà Hồ muốn tạo ra một hệ thống thuế hiệu lực, hiệu quả nhằm nâng cao sức mạnh bộ máy nhà nước. Đồng thời những thứ thuế tăng lại tập trung đánh vào những người giàu có nhiều ruộng đất. Tuy nhiên khi nghiên cứu kỹ thấy có thứ tăng có thứ giảm.Nhưng lại tăng ở các khoản thu bằng hiện vật như thóc và chỗ giảm là khoản thu về tiền giấy…Đây cũng là nhược điểm mất lòng dân của chính sách thuế thời nhà Hồ.
Về quân sự, Hồ Qúy Ly cho xây dựng hệ thống quân sự vững mạnh và được cho là có số lượng hùng mạnh nhất trong lịch sử nước ta. Có lần Hồ Quý Ly nói với các quan rằng: “Làm sao để có 100 vạn quân để chống giặc Bắc?”. Chiến lược lấy quân số đông của nhà Hồ có vẻ không thích hợp với truyền thống nghệ thuật quân sự của nước ta trong mọi thời kỳ.Càng không hợp lý là khi đem cạnh tranh và so sánh về tương quan số lượng với kẻ địch phương Bắc.Hơn nữa thay vì quan tâm đến tinh thần quân đội thì nhà Hồ lại quá chú trọng và ỷ vào vũ khí mà mình cải tiến được. Nên Hồ Nguyên Trừng đã phải nói rằng: “thần không sợ đánh mà chỉ sợ lòng dân không theo”.
Ngoài ra nhà Hồ còn có nhưng cải cách về luật pháp,văn hóa,thi cử…Chúng ta cũng không có gì để nói nhiều. Bởi phần vì nhà Hồ tồn tại qua ngắn , phần vì những cải cách này chỉ có thể thành công nếu đặt chúng trong những thành công về cải cách chính trị , kinh tế xã hội nếu có.
Tình hình nước ta cuối thế kỷ XIV đặt ra những yêu cầu phải có những thay đổi cơ bản.Hồ Quí Lý xuất hiện đáp ứng những đòi hỏi lịch sử đó. Lịch sử nhìn nhận ông là nhà cải cách táo bạo và quyết đoán với quyết tâm thay đổi cơ bản chính trị, kinh tế, xã hội…cho đất nước.Thế hệ sau này thì cũng có nhiều ý kiến khen hay chê đủ cả. Nhưng lịch sử có những chữ “nếu” để nói về những điều đáng tiếc cho Hồ Quí Ly.Những cải cách của ông đã gặp phải quá nhiều thách thức trên mọi bình diện cả về chủ quan lẫn khách quan để có thể cho chúng ta ngày sau nhìn thấy được kết quả rõ nét hơn. Ngày nay di sản nhà Hồ để lại cho thế hệ chúng ta thành công rõ nét nhất là Thành Đá Nhà Hồ và ngôi vị số một cho súng Thần Cơ khi đem so sánh với trình độ công nghệ vũ khí của thế giới thời bấy giờ. Bài viết này tôi chỉ có ý định nhìn lại ở một góc độ quan điểm cá nhân những cải cách của nhà Hồ, ở chỗ có hay và có dở mà thôi. Và phải chăng thấy được phần nào nguyên nhân sự tồn tại ngắn ngủi của nhà Hồ cũng phần nào chịu ảnh hưởng liên quan đến từ những cải cách đó. Nền tảng xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta luôn là: “Bài học của lòng dân”. Nhà Hồ đã đánh mất vị thế chiến lược này trong dòng chảy lịch sử khi không có được điều đó. Xin được trích và mượn lời đánh giá tổng kết thời kỳ nhà Hồ của anh hùng dân tộc,nhà tri thức,văn hóa lớn,Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo như sau:
“Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận”.
Trân trọng,
Tài liệu tham khảo:
– Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 2011 (Tt)
– Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 2009
– Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo Dục, năm 1998
– Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb. Thuận Hóa, năm 2005 (Vsl)
– Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nxb. TP Hồ Chí Minh, năm 1993
– Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 1997 (Tb)
– Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú,Wikipedia
– Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt: Một lối nhìn khác, năm 2002,